Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp...9 4.2Xét về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán được ch
Trang 2MỤC LỤC
I) Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại 1
1) Khái niệm : 1
2) Chức năng của ngân hàng thương mại: 1
3) Hoạt động của ngân hàng thương mại: 6
3.1)Hoạt động huy động vốn: 6
3.2) Hoạt động tín dụng: 6
3.3)Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: 7
3.4) Các hoạt động khác: 7
II)Giới thiệu chung về thị trường chứng khoán 7
1)Khái niệm: 7
2) Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán 8
3)Vai trò của thị trường chứng khoán 8
4) Phân loại thị trường chứng khoán: 9
4.1) Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp 9
4.2)Xét về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán được chia thành thị trường tập trung , thị trường phi tập trung 11
4.3)Thị trường trái phiếu,cổ phiếu.các công cụ phái sinh 11
4.4) Nếu xét về phương thức giao dịch thì thị trường chứng khoán được chia thành thị trường giao ngay và thị trường giao sau: 12
III) Các hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán 12
1 Hoạt động phát hành chứng khoán 13
2 Hoạt động đầu tư chứng khoán 15
3 Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán 17
Trang 34 Hoạt động tư vấn chứng khoán 20
5 Hoạt động môi giới chứng khoán 21
6 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán 22
7 Các hoạt động khác 23
IV) Vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán .24 1 Trên thị trường sơ cấp 24
2) Trên thị trường thứ cấp 25
V) Kiến nghị, giải pháp để phát huy hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán: 27
Trang 4I) Giới thiệu chung về ngân hàng thương mại
1) Khái niệm :
Đầu tiên ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng trung gian Ởmỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại Ví dụ: ỞMỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp cácdịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vị tài chính Ở Pháp: ngânhàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiềncủa công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họdùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vayhay tài trợ và đầu tư Ở Thổ Nhĩ Kì: ngân hàng thương mại là hội trách nhiệmhữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụhối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượnkhác…
Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhànước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanhtiền
tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàngvới trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
2) Chức năng của ngân hàng thương mại:
a) Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại và
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xã hội,khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng nó một cáchsinh lợi sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi
Một mặt Ngân hàng Thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn
Trang 5tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thànhnguồn vốn cho vay; mặt khác trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàngcho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…của cácchủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh
tế xã hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy ngân hàng Thương mại vừa làngười đi vay vừa là người cho vay Vai trò trung gian ngày càng trở nênphong phú hơn như việc phát hành thêm trái phiếu, cổ phiếu chứng chỉ tiềngửi và hiện nay phổ biến là tiền gửi tiết kiệm…
Ngày nay, quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn
Sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện những khía cạnh khác củachức năng này Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa ngân hàng (pháthành cổ phiếu) với những nhà đầu tư; chuyển giao các mệnh lệnh trên thịtrường chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu ngân hàng Do đóngân hàng không chỉ làm trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền màcòn là trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường.Thông qua chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng Thương mại đã và đangthực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên,vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cảithiện đời sống của nhân dân
b) Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng ngân hàng là thủquỹ của các ngân hàng, tức là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoảnhay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản Công việc của người thủ quỹchính là ở chỗ làm trung gian thanh toán Ngày nay hầu hết các khoản thanhtoán chi trả về hàng hoá dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế( các ngân hàng và cánhân ) đều được chuyển giao cho ngân hàng thực hiện, việc thanh toán trở nên
Trang 6tiện lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, mọi quan hệ thanh toán được thực hiệnbằng cách các chủ thể mở tài khoản tại ngân hàng và yêu cầu ngân hàng thựchiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho ngân hàng thực hiện việc thu nhậncác khoản tiền vào tài khoản của mình.
Trong khi làm trung gian thanh toán ngân hàng tạo ra những công cụlưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyểnngân, thẻ thanh toán… ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưuthông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hànghoá Khách hàng của ngân hàng không phải chi trả với nhau bằng các bao tiềnrất tốn kém, mà chỉ cần ra lệnh cho ngân hàng thông qua các phương tiện,ngân hàng sẽ ghi nợ tài khoản người này ghi có tài khoản người kia nhanhchóng Việc làm trung gian thanh toán của ngân hàng ngày nay đã phát triểnđến tầm mức rất mức rất đa dạng không chỉ là trung gian thanh toán truyềnthống như trước mà còn quaảnlý các phương tiện thanh toán Đây là vai tròngày càng chiếm vị rí rất quan trọng phù hợp với sự phát triển và tiến bộ củakhoa học kỹ thuật
c) Chức năng tạo tiền trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Các ngân hàng có khả năng tạo ra tiền gửi khi họ cho vay hoặc đầu tư,tức là ngân hàng mở rộng cung tiền tệ bằng cho vay và đầu tư Khi một ngânhàng cho một cá nhân hoặc ngân hàng vay, nó tạo ra trên sổ sách của nó mộtkhoản tiền gửi dành cho quyền lợi của người đi vay Tương tự như vậy, khingân hàng mua trái phiếu kho bạc hoặc các loại chứng khoán khác cho danhmục của mình thì tiền gửi được tạo ra cho quyền lợi của những người bánchứng khoán này Nói cách khái quát, ngân hàng có khả năng tạo ra tiền dướichiêu bài gửi mới bằng cách cấp phát tín dụng cho khách hàng và đầu tư vàochứng khoán Tiền gửi được tạo ra qua việc cho vay và đầu tư của ngân hàngđược gọi là ”tiền gửi thứ cấp” Cũng giống như đối với tất cả các loại tiền gửi
Trang 7của ngân hàng, tiền gửi thứ cấp là những giấy nợ của ngân hàng tạo ra Tuynhiên sự khác biệt quan trọng giữa giấy nợ của một ngân hàng với giấy nợcủa các người đi vay là giấy nợ của ngân hàng được chấp nhận như là tiền.Khách hàng cảm thấy an tâm khi chấp nhận tờ giấy nợ tiền gửi của một ngânhàng hơn là những rủi ro và bất tiện khác của giấy nợ do các nhà kinh doanhkhác tạo ra.
Khả năng tạo tiền của ngân hàng Thương mại gắn liền với việc ngânhàng cung cấp một cơ chế cho việc thực hiện thanh toán dưới hình thức tiền
tệ, tài khoản séc và các phuơng tiện giao dịch khác và thường được côngchúng chấp nhận rộng rãi Không có một định chế tài chính nào khác có thểcung cấp một công cụ với khả năng không hạn chế cho việc thanh toán chocác bên thứ ba theo yêu cầu Hệ thống Ngân hàng Thương mại có một vai tròtrung tâm trong việc tạo ra quỹ khả dụng cho việc mua hàng hoá và dịch vụtrong nền kinh tế hiện đại bằng cách cung cấp tài khoản giao dịch cho kháchhàng Tài khoản giao dịch hiện vẫn còn là hình thức chính của tiền tệ ở phầnlớn các quốc gia, nó tượng trưng cho nợ (lời hứa thanh toán) của một ngânhàng, tượng trưng cho phương thức chính được công chúng ngày nay sử dụng
để thanh toán Các quỹ chảy tự do xuyên qua các biên giới địa dư và chính trị,bởi vì các ngân hàng riêng lẻ sẵn lòng thanh toán ngay lập tức bất kỳ hốiphiếu nào ký phát cho họ Toàn bộ hệ thống dựa trên niềm tin của công chúng
và sự tự nguyện chấp nhận tiền gửi ngân hàng như là một phương tiện trunggian cho việc thanh toán hàng hoá và dịch vụ Trong lịch sử, các ngân hàng làcác định chế độc nhất cung cấp tài khoản thanh toán và đáp ứng chủ yếu nhucầu của khách hàng ngân hàng Tuy nhiên tính độc nhất này đang đang dần dàbiến mất trước sự phát triển rầm rộ của những nhà cung cấp dịch vụ tài chínhđang nhảy vào thị trường người truyền thống và lôi cuốn đi những khách hàngquý giá nhất của ngân hàng Chính vì vậy rủi ro kinh doanh của ngân hàng
Trang 8ngày càng tăng đòi hỏi các ngân hàng Thương mại phải đổi mới liên tục đểtheo kịp nhu cầu của các “thượng đế”
d) Chức năng tài trợ ngoại thương, mở rộng nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Một trong những đặc điểm rõ nhất của công nghiệp ngân hàng Thươngmại là các hoạt động ngân hàng đã trở nên toàn cầu hoá do các ngân hàng đều
có các chi nhánh vượt ra khỏi nước mình và tham gia vào các trung tâm tàichính ở nước ngoài Ngày nay xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá với nhữngđặc trưng tự do hoá Thương mại và tự do hoá tài chính ngày càng rộng khắp
và mạnh mẽ đã và đang đòi hỏi ngân hàng các nước đẩy mạnh hoạt động kinhdoanh đối nội đối ngoại với các ngân hàng Thương mại ở các quốc gia khácnhau Mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại các ngân hàng Thương mại sẽthu được nhiều lợi ích: tranh thủ được các nguồn vốn trên thị trường quốc tếthông qua các ngân hàng nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nướcngoài tại trong nước để đầu tư phát triển kinh tế đất nước; có điều kiện tiếpcận và học hỏi công nghệ ngân hàng tiên tiến, nhất là ở các khâu thanh toán,kinh doanh ngoại hối, thẩm định dự án, phòng ngừa rủi ro, kiểm soát nội bộ
và giám sát tài chính; góp phần quan trọng khuyến khích mở rộng xuất khẩu,kiểm soát tốt nhập khẩu; tạo điều kiện, cơ hội mở rộng thị trường, tìm kiếmbạn hàng trên những lĩnh vực kinh doanh khác nhau
Một trong những chức năng quan trọng nhất do các ngân hàng thựchiện trong việc tham gia vào nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là tài trợ xuất nhậpkhẩu và nền Thương mại giữa các quốc gia Giống như Thương mại trongnước, hoạt động ngoại thương đòi hỏi các phương pháp tài trợ khác nhau,hoạt động ngoại thương bao gồm ứng tiền trước, tài khoản mở, uỷ thác, nhờthu và thư tín dụng, tín dụng chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, mua và bán séc
du lịch…Từ lâu, các ngân hàng chỉ liên quan đến một quá trình riêng biệt
Trang 9trong các giao dịch mậu dịch quốc tế như cung cấp một khoản tiền cho vayhoặc một L/C Nhưng từ khi tài trợ trở thành một phần không thể thiếu đốivới nhiều giao dịch Thương mại, các ngân hàng đã phát triển các dịch vụ này,kết hợp việc cho vay của ngân hàng với các nguồn bảo trợ từ các cơ quan xuấtkhẩu của chính phủ, ngân hàng thuê mua tài chính quốc tế và các nguồn tàitrợ phi ngân hàng khác, cùng với bảo hiểm rủi ro chính trị và kinh tế.
Để có thể tham gia hoạt động kinh doanh đối ngoại thì đòi hỏi cácngân hàng phải có những điều kiện hết sức ngặt nghèo, nguyên tắc chặt chẽ,phương châm linh hoạt…như: năng lực tài chính, trình độ quản lý, khả năng
tự động hoá cơ giới hoá, đội ngũ cán bộ …Đây là một đỏi hỏi nhưng cũng làmột cơ hội lớn đối với sự phát triển của các ngân hàng Thương mại
3) Hoạt động của ngân hàng thương mại:
3.1)Hoạt động huy động vốn:
_Nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức
_Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị đểhuy động vốn
_Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
_Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước
_Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật
Trang 10lãnh thực hiện hợp đồng, bằng uy tín và khả năng tài chính cảu mình đối vớingười được bảo lãnh.
_Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ cógiá ngắn hạn khác đối với tổ chức cá nhân và tái chiết khấu đối với các tổchức tín dụng khác
_Cho thuê tài chính: NHTM được phép thực hiện cho thuê tài chínhnhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính
3.3)Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp và cá nhân tổchức, NHTM lập tài khoản cho họ chính tại ngân hàng mình.Để thực hiệndịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng thương mại với nhau, các NHTM phảilập tài khoản tại ngân hàng nhà nứớc và duy trì một số lượng tiền mặt dự trữbắt buộc
3.4) Các hoạt động khác:
_Góp vốn và mua cổ phần
_Tham gia thị trường tiền tệ
_Kinh doanh thị trường ngoại hối
_Ủy thác và nhận ủy thác
_Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
_Tư vấn tài chính
_Bảo quản vật quý giá
II)Giới thiệu chung về thị trường chứng khoán
1)Khái niệm:
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn,hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hộitập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế vàChính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu
Trang 11Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua báncác loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp vàthứ cấp do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành
và trao đổi
2) Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán.
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
- Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
3)Vai trò của thị trường chứng khoán.
Tạo ra các công cụ tài chính có tính thanh khoản cao, tích tụ, tậptrung và phân phối vốn, chuyển thời hạn vốn phù hợp với yêu cầu phát triểnkinh tế
Thực hiện tái phân phối công bằng hơn, tạo hiệu quả và tăngtrưởng kinh tế, tiến tới một xã hội công bằng và dân chủ hơn
Tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanhnghiệp, tạo điều kiện kết hợp hài hòa giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lý
và người làm công
Thúc đẩy toàn cầu hóa thị trường tài chính và nền kinh tế thế giớinói chung, tăng tính lỏng và tính cạnh tranh trên thị trường tài chính quốc tế,
mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nước
Tạo cơ hội cho chính phủ huy động các nguồn tài chính màkhông tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo ra các công cụ cho việc thực hiệnchính sách tài chính tiền tệ của chính phủ
Cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong
Trang 12tương lai, tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
4) Phân loại thị trường chứng khoán:
4.1) Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
a Thị trường sơ cấp: là nơi diễn ra quá trình mua bán lần đầu cácchứng khoán mới phát hành Thị trường sơ cấp còn được gọi là thị trường cấpmột hay thị trường phát hành
Có 2 phương pháp phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp Đó làphát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
+ Phát hành riêng lẻ
Phát hành riêng lẻ là quá trình trong đó chứng khoán được bán trongphạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổchức), với những điều kiện (khối lượng phát hành) hạn chế
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnhcủa Luật công ty Chứng khoán phát hành theo phương thức này không phảI
là đối tượng giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán
+ Phát hành ra công chúng
Phát hành ra công chúng là quá trình trong đó chứng khoán được bánrộng rãi ra công chúng, cho một số lượng lớn người đầu tư, trong tổng lượngphát hành phải giành một tỷ lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ và khốilượng phát hành phải đạt được một mức nhất định
Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng được gọi là cáccông ty đại chúng
Có sự khác nhau giữa phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu racông chúng:
* Phát hành cổ phiếu ra công chúng được thực hiện theo một trong haihình thức sau:
Trang 13- Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổphiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư.
- Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp): là đợt phát hành cổ phiếu bổsung của công ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư
* Phát hành trái phiếu ra công chúng được thực hiện bằng một hìnhthức duy nhất, đó là chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp)
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối củapháp luật về chứng khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứngkhoán cấp phép Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phảithực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự giámsát riêng theo qui định của pháp luật chứng khoán
Ở Việt Nam, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tạiTrung tâm giao dịch chứng khoán phải tuân theo các qui định tại Nghị định48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trườngchứng khoán Nghị định này qui định việc phát hành chứng khoán ra côngchúng để niêm yết tại thị trường giao dịch tập trung phải được Uỷ ban chứngkhoán cấp phép trừ việc phát hành trái phiếu Chính phủ Các chứng khoánnày sau khi được phát hành ra công chúng sẽ được niêm yết tại Trung tâmgiao dịch chứng khoán
Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành (phát hành riêng lẻ
và phát hành ra công chúng như trên là nhằm có các biện pháp bảo vệ chocông chúng đầu tư, nhất là những nhà đầu tư nhỏ không hiểu biết nhiều vềlĩnh vực chứng khoán Nhằm mục đích này, để được phép phát hành ra côngchúng, tổ chức phát hành phải là những công ty làm ăn có chất lượng cao,hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng được các điều kiện do cơquan quản lý nhà nước về chứng khoán (Uỷ ban chứng khoán nhà nước) quiđịnh
Trang 14b Thị trường thứ cấp: là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán đã đượcphát hành trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp tạo điều kiện cho thịtrường sơ cấp phát triển, tăng tiềm năng huy động vốn của các tổ chức pháthành chứng khoán Trên thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thịtrường sơ cấp, vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp.
Sau khi chứng khoán mới được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng
sẽ được giao dịch trên thị trường thứ cấp Khác với thị trường sơ cấp, tiền bánchứng khoán trên thị trường thứ cấp thuộc về các nhà đầu tư và nhà kinhdoanh chứ không thuộc về các công ty phát hành chứng khoán
4.2)Xét về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán được chia thành thị trường tập trung , thị trường phi tập trung
- Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): là thị trường trong
đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tậptrung gọi là sàn giao dịch (trading floor) Các chứng khoán được niêm yết tại
Sở giao dịch thông thường là chứng khoán của những công ty lớn, có danhtiếng, đã qua thử thách của thị trường Phương thức giao dịch tại Sở giao dịch
là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua, bán được ghép với nhau đểhình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất
- Thị trường phi tập trung (OTC): là thị trường trong đó việc giao dịchmua bán chứng khoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua
hệ thống computer nối mạng giữa các thành viên của thị trường Các chứngkhoán được giao dịch trên thị trường phi tập trung là chứng khoán của cáccông ty vừa và nhỏ Phương thức giao dịch tại thị trường OTC là phương thứcthoả thuận, giá cả chứng khoán được xác định trên cơ sở thoả thuận giữa cácthành viên của thị trường
4.3)Thị trường trái phiếu,cổ phiếu.các công cụ phái sinh
a Thị trường trái phiếu( bond market)
Trang 15Là thị trường phát hành trái phiếu mới và mua đi bán lại trái phiếu cũ.
b Thị trường cổ phiếu( the stock market)
Là thị trường phát hành cổ phiếu mới và mua đi bán lại cổ phiếu cũ.Hoạt động của thị trường này gåm cả hai lĩnh vực đầu tư chứng khoán và kinhdoanh chứng khoán
c.Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua
đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền,hợp đồng quyền chọn
4.4) Nếu xét về phương thức giao dịch thì thị trường chứng khoán được chia thành thị trường giao ngay và thị trường giao sau:
1, thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tạithời điểm giao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn
ra sau dó một vài ngày theo thoả thuận
2, thị trường giao sau: Là thị trường mua bán chứng khoán theo mộtloại hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch , nhưngviệc thanh toán và giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai
III) Các hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán
Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2loại:
* Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)
Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanhđộc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham giavào hoạt động kinh doanh chứng khoán Ưu điểm của mô hình này là hạn chếrủi ro cho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trườngchứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư