MỘT SỐ KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Từ lâu văn chương đã được con người tiếp nhận, thưởng thức sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, được đưa vào nhà trường với tư cách là môn học quan trọng. Dạy học văn vốn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều người, của dư luận xã hội nhất là khi Bộ Giáo dục đổi mới hình thức thi cử hai chung trong Kì thi THPT Quốc Gia, môn văn cũng là môn chính để xét điểm vào các trường Đại học, Cao đẳng. Cũng như các bộ môn xã hội khác, văn học là một bộ môn không thể thiếu trong đời sống con người, trong giáo dục nhân cách cho học sinh cũng như góp phần nâng cao đời sống xã hội. Việc dạy học văn theo tinh thần cải cách giáo dục hiện nay đặt học sinh trước nhiều khó khăn, thử thách bởi môn văn là một môn học trừu tượng, khó tiếp thu do nó là một loại hình nghệ thuật tư duy bằng hình tượng. Muốn giỏi văn không chỉ có kiến thức văn học nhất định mà còn phải am hiểu nhiều lĩnh vực khác như địa lý, lịch sử, văn hóa, triết học…học sinh cần phải có tâm hồn, khả năng tưởng tượng phong phú và tình yêu văn chương sâu sắc. Tuy nhiên dạy và học văn còn gặp nhiều khó khăn do học văn phải thuộc nhiều dẫn chứng, học sinh đôi khi bị gò ép không mấy hào hứng, khả năng lựa chọn ngành nghề khó khăn do những môn thi xã hội các ngành học thường ít hơn so với các môn tự nhiên. Trong những năm trở lại đây, việc giảng dạy môn ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung đã có sự đổi mới. Nếu như trước đây trong một giờ học giáo viên là người giữ vai trò chính kết hợp nhiều thao tác: Giảng + đọc + chép còn học sinh có nhiệm vụ: nghe + ghi. Chính vì cách dạy truyền thống đó dẫn đến sự thụ động học tập ở học sinh và điều đáng lo ngại hơn là tạo cho các em những quan niệm sai lệch về việc học tập môn Ngữ văn. Thiết nghĩ, dù học sinh còn thờ ơ với môn văn nhưng nếu chúng ta biết tìm ra phương pháp dạy thích hợp sẽ giúp các em tiếp cận tác phẩm văn chương bằng chính khả năng tư duy của mình. Trong quá trình đổi mới, ai cũng chú ý đến phương pháp dạy học “thảo luận”, “nêu vấn đề”…nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo ở học sinh. Văn học có nhiều thể loại. Nhưng truyện là một thể loại khó tiếp nhận đầy đủ các giá trị nội dung và nghệ thuật do các em chỉ tiếp cận văn bản ở sách giáo khoa mà phần lớn là những đoạn trích nên không thể lĩnh hội hết các giá trị tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Có rất nhiều phương pháp để tiếp cận, truyền thụ tác phẩm văn học như: “Thảo luận nhóm, Nêu vấn đề, đóng vai, dùng trực quan”…Tất cả những phương pháp trên không mới, nhiều giáo viên đã vận dụng và đạt được những hiệu quả nhất định. Mỗi phương pháp đều có những ưu, khuyết điểm riêng. Nhưng với bản thân tôi, tôi tâm đắc với ba phương pháp: “ Thảo luận nhóm”, “ Đóng vai” và “ Dùng trực quan”. Những phương pháp này khi vận
Trang 1Đơn vị: Trường THPT Nam Hà
Mã số: (Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMỘT SỐ KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
Người thực hiện: NGUYỄN THU DUYỆT
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: văn
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2014 - 2015
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: Nguyễn Thu Duyệt
2 Ngày tháng năm sinh: 15 tháng 8 năm 1974
3 Nam, nữ: Nữ
4 Địa chỉ: L12a – Khu dân cư Tân Phong – khu phố 7- phường Tân
Phong-TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
9 Đơn vị công tác: Trường THPT Nam Hà
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân khoa học
- Năm nhận bằng: 1996
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy bộ môn Ngữ văn
Số năm có kinh nghiệm: 19 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
- Phát huy trí lực của học sinh bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Phương pháp học văn học sử đạt hiệu quả cao
- Một vài kinh nghiệm nhỏ nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết học giảng văn
- Phối kết hợp với cha mẹ học sinh, giáo viên bộ môn, các tổ chức trong nhà trường, các tổ chức xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh
Trang 3MỘT SỐ KINH NGHIỆM NHỎ VỀ DẠY TÁC PHẨM TRUYỆN
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ lâu văn chương đã được con người tiếp nhận, thưởng thức sử dụng dưới
nhiều hình thức khác nhau, được đưa vào nhà trường với tư cách là môn học quantrọng Dạy học văn vốn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều người, của dư luận
xã hội nhất là khi Bộ Giáo dục đổi mới hình thức thi cử hai chung trong Kì thiTHPT Quốc Gia, môn văn cũng là môn chính để xét điểm vào các trường Đại học,Cao đẳng Cũng như các bộ môn xã hội khác, văn học là một bộ môn không thểthiếu trong đời sống con người, trong giáo dục nhân cách cho học sinh cũng nhưgóp phần nâng cao đời sống xã hội Việc dạy học văn theo tinh thần cải cách giáodục hiện nay đặt học sinh trước nhiều khó khăn, thử thách bởi môn văn là một mônhọc trừu tượng, khó tiếp thu do nó là một loại hình nghệ thuật tư duy bằng hìnhtượng Muốn giỏi văn không chỉ có kiến thức văn học nhất định mà còn phải amhiểu nhiều lĩnh vực khác như địa lý, lịch sử, văn hóa, triết học…học sinh cần phải
có tâm hồn, khả năng tưởng tượng phong phú và tình yêu văn chương sâu sắc Tuynhiên dạy và học văn còn gặp nhiều khó khăn do học văn phải thuộc nhiều dẫnchứng, học sinh đôi khi bị gò ép không mấy hào hứng, khả năng lựa chọn ngànhnghề khó khăn do những môn thi xã hội các ngành học thường ít hơn so với cácmôn tự nhiên
Trong những năm trở lại đây, việc giảng dạy môn ngữ văn nói riêng và các
môn học khác nói chung đã có sự đổi mới Nếu như trước đây trong một giờ học
giáo viên là người giữ vai trò chính kết hợp nhiều thao tác: Giảng + đọc + chép cònhọc sinh có nhiệm vụ: nghe + ghi Chính vì cách dạy truyền thống đó dẫn đến sựthụ động học tập ở học sinh và điều đáng lo ngại hơn là tạo cho các em những quanniệm sai lệch về việc học tập môn Ngữ văn
Thiết nghĩ, dù học sinh còn thờ ơ với môn văn nhưng nếu chúng ta biết tìm raphương pháp dạy thích hợp sẽ giúp các em tiếp cận tác phẩm văn chương bằngchính khả năng tư duy của mình Trong quá trình đổi mới, ai cũng chú ý đếnphương pháp dạy học “thảo luận”, “nêu vấn đề”…nhằm phát huy tính chủ độngsáng tạo ở học sinh Văn học có nhiều thể loại Nhưng truyện là một thể loại khótiếp nhận đầy đủ các giá trị nội dung và nghệ thuật do các em chỉ tiếp cận văn bản
ở sách giáo khoa mà phần lớn là những đoạn trích nên không thể lĩnh hội hết cácgiá trị tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
Có rất nhiều phương pháp để tiếp cận, truyền thụ tác phẩm văn học như:
“Thảo luận nhóm, Nêu vấn đề, đóng vai, dùng trực quan”…Tất cả những phươngpháp trên không mới, nhiều giáo viên đã vận dụng và đạt được những hiệu quảnhất định Mỗi phương pháp đều có những ưu, khuyết điểm riêng Nhưng với bản
thân tôi, tôi tâm đắc với ba phương pháp: “ Thảo luận nhóm”, “ Đóng vai” và
Trang 4“ Dùng trực quan” Những phương pháp này khi vận dụng nó đã mang lại cho tôi
một số hiệu quả cao nhất là khi dạy tác phẩm truyện
Đây chỉ là những kinh nghiệm nhỏ chủ quan của bản thân nên chắc chắn cònnhiều khiếm khuyết kính mong sự chia sẻ, góp ý của quý đồng nghiệp để bài viếtđược hoàn thiện hơn
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
a) Định nghĩa chung về phương pháp.
Theo sách “phương pháp dạy học văn” phương pháp nghĩa là con đường, cáchthức, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụnhất định (phương pháp ở đây gắn liền với công việc) Đó cũng là mục đích củacác nhà khoa học, giáo dục khi đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp học sinh chủđộng, sáng tạo trong học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường và sau này chủ động,sáng tạo trong công việc cũng như trong cuộc sống
Theo Hê-Ghen khi bàn về vấn đề văn học - nghệ thuật, Ông nói: “Phương pháp là
ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung, nội dung nào thìphương pháp ấy” (phương pháp gắn liền với đối tượng) Khi áp dụng phương phápdạy học mới cần xác định đối tượng cụ thể để đạt được kết quả tốt
b) Phương pháp giảng dạy
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Khoa thì: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việccủa thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của người thầynhằm làm cho học sinh tự giác, tích cực, tự học nhằm đạt tới mục đích dạy học.”
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Có rất nhiều phương pháp được sử dụng trong quá trình lên lớp như: nêu vấn
đề, phát vấn, thảo luận, phân tích, so sánh…Bản thân tôi chọn ba phương pháp:
“ Thảo luận nhóm”, “ Đóng vai” và “ Dùng trực quan” ba phương pháp này đãđược phần đông giáo viên sử dụng, có người thành công nhưng có người dùngchưa đạt yêu cầu do khách quan lẫn chủ quan Trước đây tôi cũng gặp nhiều khókhăn khi vận dụng các phương pháp này Qua nhiều năm giảng dạy bản thân tựđúc kết ra những kinh nghiệm là khi sử dụng các phương pháp trên, giáo viên cònthiên về đối phó: “ đối phó với chuyên môn, đối phó khi Sở về thanh tra, lạm dụngphương pháp, khâu chuẩn bị chưa thực sự chu đáo, khoa học và còn thể hiện sựnon nớt trong tay nghề của giáo viên khi sử dụng phương pháp” Theo năm tháng,
độ dày, mỏng của thời gian việc vận dụng các phương pháp dần lắng xuống phủlên nó một màu rêu phong… nhiều giáo viên cho rằng tất cả các phương pháp trênđều đã cũ “ bình cũ, rượu mới” quay đi ngoảnh lại không có gì là mới…cái cũ cứlặp đi lặp lại nhiều lần tạo ra sự nhàm chán trong giáo viên và học sinh về phươngpháp Nhưng theo ý kiến chủ quan của cá nhân tôi nó cũ là do giáo viên chứ khôngphải do phương pháp Để đạt hiệu quả cao người giáo viên phải khéo léo lựa chọn,vận dụng thích hợp các phương pháp nhất là khi dạy tác phẩm truyện
Trang 5Vận dụng chọn lọc nhiều phương pháp sẽ giúp học sinh nắm kiến thức đầy đủ vàsâu sắc hơn Học sinh nhanh chóng hiểu bài, hứng thú hơn trong giờ học, tích cựcđóng góp xây dựng bài học Nếu học sinh đã nắm vững kiến thức thì khi làm kiểmtra hay bài thi chắc chắn các em sẽ đạt kết quả cao nhất.
III NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 TÁC PHẨM TRUYỆN
Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa họcthể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào Mọi tác phẩm văn học đều tồntại trong các hình thức thể loại nhất định: Truyện là thể loại văn học xuất hiện từlâu, sau thơ ca trữ tình Truyện là loại văn tự sự, kể chuyện, trình bày sự việc.Truyện có cốt truyện, có nhân vật Qui mô truyện thường lớn hơn thơ Truyện phầnlớn được viết bằng văn xuôi, bên cạnh đó cũng có loại văn vần Khác với thơ thiên
về cái đẹp, xúc cảm và sự cô đọng, truyện có khả năng đi sâu vào từng khía ngócngách phức tạp của cuộc sống và của tâm hồn
Truyện ngắn, tiểu thuyết, kí đều là những thể loại dùng văn xuôi để phản ánhcuộc sống, ghi lại những cảm xúc, quan niệm trước hiện thực khách quan Cấu trúctruyện ngắn gần với tiểu thuyết hơn Có hệ thống nhân vật, có tính cách số phận vàcác sự kiện phong phú của cuộc sống Nhưng truyện ngắn khác với tiểu thuyết lànhân vật thể hiện những nét tính cách trong hoàn cảnh cụ thể ở khoảng thời gianngắn mà không phải là toàn bộ cuộc đời Truyện ngắn có dung lượng nhỏ, sự kiệnđơn giản không phức tạp như tiểu thuyết và để lĩnh hội trọn vẹn tác phẩm truyệngiáo viên cần hướng dẫn cho học sinh những phương pháp nhằm tiếp cận tác phẩmtruyện đạt hiệu quả cao nhất
2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THƯỜNG ĐƯỢC GIÁO VIÊN VẬN DỤNG VÀ ĐẠT ĐƯỢC NHỮNG HIỆU QUẢ NHẤT ĐỊNH
Trang 6được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhậnquan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹnăng giải quyết vấn đề khó khăn
Cách thức tiến hành như sau: Có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ (cặp đôi,cặp 3) nhóm trung bình (4 đến 6 người) hoặc nhóm lớn (8 -10 người trở lên) Tuỳmục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay cóchủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giaocùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Sau đó các thành viên trong nhóm sẽ trao đổi, thảo luận và thống nhất ý kiến vàtrình bày trước lớp ý kiến của mình Cuối cùng giáo viên chỉnh sửa và rút ra kếtluận đúng hay hướng giải quyết vấn đề
Phương pháp này cũng phát huy tính tích cực của học sinh nên nhiều giáoviên vận dụng Song nó chiếm nhiều thời gian nên khi áp dụng phương pháp nàygiáo viên cần lưu ý:
- Khi các nhóm thảo luận, Giáo Viên không nên dừng lại lâu ở một nhómnào
- Khi các nhóm trình bày nếu là chủ đề giống nhau, không nhất thiết cácnhóm đều trình bày, hoặc các nhóm chỉ trình bày các ý kiến quan điểm mà khácvới nhóm trước
- Có thể cử một học sinh điều hành khi các nhóm báo cáo
2) Đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày nhữngsuy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương pháp giảngdạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗđứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các emquan sát được từ vai của mình
Trong môn học Ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một
số nội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thểmột văn bản văn học thành kịch bản sân khấu, xử lí một tình huống giao tiếp giảđịnh, trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau,…
Phương pháp đóng vai có một số ưu điểm như sau:
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh; Học Sinh hình thành kĩ năng giao tiếp, có cơ hội bộc lộ cảm xúc
Trang 7- Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
Bên cạnh đó, có thể có một số Học Sinh nhút nhát, thiếu tự tin khi đứngtrước tập thể, vốn từ ít, khó thực hiện vai của mình Giáo Viên cần động viên,khuyến khích, tạo cơ hội cho đối tượng Học Sinh này tham gia bắt đầu từ nhữngtình huống đơn giản
Các bước cơ bản thực hiện:
- Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu của nhiệm vụ, chia nhóm và giao tìnhhuống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gianchuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai : phân vai, dàn cảnh, cách thể hiệnnhân vật, diễn thử
- Các nhóm lên đóng vai
- Thảo luận, nhận xét : Thường thì thảo luận bắt đầu về cách ứng xử của cácnhân vật cụ thể (phù hợp hay chưa phù hợp, nêu cụ thể chỗ chưa phù hợp) hoặctình huống trong vở diễn, nhưng sẽ mở rộng phạm vi thảo luận những vấn đề kháiquát hơn hay những vấn đề mà vở diễn chứng minh
- GV kết luận, giúp học sinh rút ra bài học cho bản thân
Một số yêu cầu khi đóng vai:
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục (chủ đề bài học),phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong tình huống của bài tậpđóng vai để không lạc đề
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia GV không làmthay khi HS chưa thực hiện được
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơiđóng vai (nếu có điều kiện)
Trang 8Tóm lại: Ba phương pháp trên đã được nhiều giáo viên vận dụng và đạt được
những hiệu quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn một số mặt tồn tại mà theo tôi cầnkhắc phục, rút kinh nghiệm Vì thế tôi xin nêu ra một số kinh nghiệm nhỏ khi vận
dụng ba phương pháp: “ Thảo luận nhóm”, “ Đóng vai” và “ Dùng trực quan”
trong quá trình giảng dạy tác phẩm truyện đạt được hiệu quả nhất định
3 MỘT VÀI KINH NGHIỆM NHỎ CỦA BẢN THÂN KHI VẬN DỤNG BA PHƯƠNG PHÁP : “ THẢO LUẬN NHÓM”, “ ĐÓNG VAI”, “ DÙNG TRỰC QUAN”
1) Thảo luận nhóm
Về phương pháp: Thảo luận nhóm cơ bản là giáo viên thực hiện như lý thuyết
đã nêu ở phần trên nhưng có nhiều giáo viên ( ngay cả bản thân tôi trước đây) cũngchỉ thực hiện qua loa, sơ sài, hình thức và thậm chí còn mất nhiều thời gian màchưa đạt được hiệu quả cao Theo thời gian và kinh nghiệm bản thân tôi trongnhiều năm giảng dạy nên khi sử dụng phương pháp này tôi đặt ra mục đích, yêucầu cụ thể Thảo luận nhóm tức là phát huy ý thức cộng đồng, ý thức tập thể ở họcsinh, phát huy khả năng sáng tạo của cá nhân Có nhiều người quan niệm cứ chohọc sinh câu hỏi thảo luận dễ, đỡ mất thời gian mà khi đưa ra kết luận thì phần lớn
các nhóm đều có câu trả lời thống nhất nhau Nhưng riêng tôi quan niệm: Thảo luận nhóm là Giáo viên đặt ra những câu hỏi cho học sinh thảo luận phải là những câu hỏi Thật sự có vấn đề, bắt buộc học sinh phải động não suy nghĩ, trình bày
chính kiến của mình Khi đặt câu hỏi, giáo viên cần dẫn dắt hướng học sinh vàovấn đề chính
Ví dụ 1: Khi dạy tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, tôi đưa ra câu hỏi để học
sinh thảo luận:
Em có suy nghĩ gì về tiếng chửi của Chí Phèo?
Khi đưa ra câu hỏi, tôi gợi ý dẫn dắt học sinh vào vấn đề chính: Có nhiều ý kiếnkhác nhau về tiếng chửi của Chí Phèo:
+ Ý kiến 1: Có người cho rằng tiếng chửi của Chí Phèo là tiếng chửi của một
thằng lưu manh, say rượu
+ Ý kiến 2: Có ý kiến lại cho rằng: Đó là tiếng kêu cứu của người lương thiện,
khao khát được sống được hòa nhập với cộng đồng
* Cách thức tiến hành:
Tôi chia lớp thành ba nhóm với nhiệm vụ như sau:
Trang 9° Nhóm 1: Em hãy chứng minh để làm nổi bật ý kiến thứ 1
° Nhóm 2: Em hãy chứng minh để làm nổi bật ý kiến thứ 2
° Nhóm 3: Các em có thể đồng tình hay phản bác ý kiến của hai nhóm trên.Hoặc đưa ra chính kiến của mình miễn là hợp lý Bởi văn chương không thể cómột đáp số chính xác, cụ thể
Với phương pháp thảo luận nhóm, học sinh có thể mạnh dạn bày tỏ ý kiến củamình, đôi khi đó là những ý kiến rất ngây ngô nhưng ý kiến ấy luôn làm giáo viênphải suy nghĩ Các em hăng say đóng góp ý kiến bởi ở đó học sinh vừa tự học, tựtrao đổi ý kiến và có quyền đánh giá các nhóm còn lại Cuối cùng giáo viên chốtlại ý kiến và rút ra vấn đề chính
* Kết quả đạt được:
- Trong thời gian thảo luận các em thể hiện niềm vui, sự say mê nhiệt tình đóng
góp ý kiến, tạo không khí sinh động cho lớp học
+ Học sinh đưa ra những lập luận khá sắc sảo kèm theo thực tế cuộc sống:
Có em cho rằng: Trong cơn say Chí Phèo không có ý thức lương thiện mà nếu
có thì ý thức ấy không thể hiện qua tiếng chửi Có thể là tiếng khóc hoặc một vài
cử chỉ thân thiện nào đó
+ Có học sinh phản bác lại: Cơn say và tiếng chửi là cái bên ngoài của con người,còn khát vọng lương thiện là cái tiềm ẩn bên trong, nó thuộc về bản chất có thể chỉ
bị chìm khuất mà người ngoài đâu dễ nhìn thấy ?
- Qua phương pháp thảo luận này, tôi nhận ra sự trưởng thành trong nhận thức củahọc sinh mà trước đây tôi chưa nhận ra
Ví dụ 2: Khi dạy về tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, tôi hướng
học sinh đến câu hỏi cần thảo luận về Cảnh cho chữ Có nhiều ý kiến khác nhau
khi nói về cảnh cho chữ:
+ Ý kiến 1: Cảnh cho chữ là cảnh sáng tạo ra cái đẹp Nhà văn Nguyễn Tuân là
nhà văn của cái đẹp, hiện thân của tình yêu cái đẹp, luôn trân trọng và suốt đời đitìm cái đẹp
+ Ý kiến 2: Cảnh cho chữ là cuộc gặp gỡ của hai con người tri âm, tri kỷ trong
chốn ngục tù Bởi vì cái sở nguyện của Viên Quản ngục mong muốn có được cáichữ của Huấn Cao treo trong nhà như có báu vật trên đời Huấn Cao nhận ra tấm
lòng Biệt nhỡn liên tài của Quản ngục nên đồng ý cho chữ, chọn người để cho chữ.
Ý kiến của em như thế nào?
Trang 10* Cách thức tiến hành:
Tôi chia lớp thành ba nhóm:
° Nhóm 1: Em hãy chứng minh để làm nổi bật ý kiến thứ 1
° Nhóm 2: Em hãy chứng minh để làm nổi bật ý kiến thứ 2
° Nhóm 3: Có thể phủ nhận hay chấp nhận 1 hoặc cả hai ý kiến trên nhưng phải
đưa ra chính kiến của mình, tại sao đồng tình hay bác bỏ
* Kết quả đạt được:
- Trong thời gian thảo luận các em thể hiện niềm vui, sự say mê nhiệt tình đóng
góp ý kiến, tạo không khí sinh động cho lớp học
- Các em đưa ra nhiều ý kiến khác nhau:
+ Có nhóm đồng tình với ý kiến 1 vì cho rằng: Cái đẹp của Huấn Cao là ở
"chữ Tài” ” Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm” ”Có được chữ ông Huấn
mà treo là có một vật báu trên đời”).
+ Có nhóm phản bác: Vấn đề không phải là cho chữ mà là cuộc gặp gỡ giữa người cho và người nhận: Như Huấn Cao đã nói: ”Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ Đời ta cũng mới viết có hai
bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà có những sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.
+ Nhóm 3 nhất trí với hai ý kiến trên vì cho rằng: Cách trình bày của hai nhóm
có khác nhau nhưng giống nhau về nội dung: Tình yêu cái đẹp.( Ở nhóm 1 thì cho rằng cái đẹp ở chữ Tài ở nhóm 2 thì cho rằng cái đẹp ở chữ Tâm )
Từ kết quả trên tôi nhận thấy sự cảm nhận của học sinh về tác phẩm truyệnkhá tinh tế và sâu sắc vì các em biết dựa vào những tình tiết trong truyện để pháthiện ra dụng ý nghệ thuật, thông điệp mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
Ví dụ 3: Khi giảng về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
giáo viên cho học sinh thảo luận về một tình tiết mà tôi cho rằng nó có ý nghĩa sâu
sắc về mặt tư tưởng: Quan niệm của nhà văn về con người.
Trong tác phẩm có cảnh người đàn ông đánh vợ một cách vũ phu, tàn
nhẫn: bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: Mày chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!
Trang 11Người đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”.
Sau khi người chồng bỏ đi, ” người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé
ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra chấp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt, và cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt.”
Tôi đưa ra vấn đề cho học sinh thảo luận như sau:
+ Em có suy nghĩ gì về những giọt nước mắt của người đàn bà? ( Vì sao bà ta
khóc? Những giọt nước mắt ấy có ý nghĩa gì trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm?Thể hiện quan niệm của tác giả về con người?
+ Hành động người chồng đánh vợ một cách hùng hổ, tàn nhẫn nhưng lại nguyền
rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn Em có nhận xét gì về sự tương phản giữa lời nói
và hành động của người đàn ông khi đánh vợ? Và sự tương phản này thể hiện sựgiằng xé nào trong nội tâm của người đàn ông?
Nghịch lí
Phát hiện thứ nhất
Phát hiện thứ hai