1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT LỚP 12.

57 894 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 483,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lê 2. Ngày tháng năm sinh: 04101980 3. Nam, nữ: nữ 4. Địa chỉ: Phước Thái Long Thành Đồng Nai 5. Điện thoại: 0613551883 ; ĐTDĐ:0962566919 6. Email: ngle1712gmail.com 7. Chức vụ: Tổ trưởng 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ : Cử nhân Năm nhận bằng: 2003 Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ văn Số năm có kinh nghiệm: 11 Sáng kiến kinh nghiệm: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT LỚP 12. I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tác phẩm văn học nghệ thuật là một “chiếc gương soi” của cuộc sống, là một kho kinh nghiệm sống, một kho tư liệu dồi dào về cuộc sống, là ý thức, băn khoăn, rung động của con người trước cuộc sống. Cho nên để hiểu cuộc sống một cách cụ thể, để có thể hình dung một cách cụ thể thời đại đã qua, không gì có thể thay thế bằng tác phẩm văn chương. (Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB GD,1998) Từ việc tiếp nhận những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ qua tác phẩm văn học trong Nhà trường cũng như những tác phẩm ngoài chương trình và những vấn đề trong đời sống, mỗi học sinh tự bày tỏ sự nhận thức, tình cảm, thái độ … của bản thân thông qua bài làm văn. Đó là kết qủa của quá trình lĩnh hội tri thức, là thành quả học tập của các em.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Đơn vị THPT Nguyễn Đình Chiểu

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN

1 Mô hình 1 Phần mềm 1 Phim ảnh 1 Hiện vật khác

Năm học: 2014-2015.

BM01-Bìa SKKN

Trang 2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: Nguyễn Thị Lê

2 Ngày tháng năm sinh: 04/10/1980

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ : Cử nhân

- Năm nhận bằng: 2003

- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn

III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ văn

- Số năm có kinh nghiệm: 11

BM02-LLKHSKKN

Trang 3

Sáng kiến kinh nghiệm: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ

LUẬN CHO HỌC SINH THPT- LỚP 12.

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tác phẩm văn học nghệ thuật là một “chiếc gương soi” của cuộc sống, là một kho kinh nghiệm sống, một kho tư liệu dồi dào về cuộc sống, là ý thức, băn khoăn, rung động của con người trước cuộc sống Cho nên để hiểu cuộc sống một cách cụ thể, để có thể hình dung một cách cụ thể thời đại đã qua, không gì

có thể thay thế bằng tác phẩm văn chương (Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB GD,1998)

Từ việc tiếp nhận những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ qua tác phẩm văn học trongNhà trường cũng như những tác phẩm ngoài chương trình và những vấn đề trongđời sống, mỗi học sinh tự bày tỏ sự nhận thức, tình cảm, thái độ … của bản thânthông qua bài làm văn Đó là kết qủa của quá trình lĩnh hội tri thức, là thành quảhọc tập của các em

Là một giáo viên dạy Văn, tôi luôn mong muốn học trò của mình làm đượcnhững bài văn hay, đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, qua các kì thi Tuy nhiên,

đó không phải là một việc đơn giản Bài văn hay trước hết phải là bài văn viết đúng(đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường) Hay và đúng cómối quan hệ mật thiết với nhau Bài văn hay trước hết phải viết theo đúng yêu cầucủa đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách …

Xác định đúng yêu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giúp học sinh thểhiện đúng chủ đề của bài văn, tránh lạc đề hay xa đề Xác định đúng yêu cầu của

đề cũng giúp người viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được sự dàidòng, lan man “Dây cà ra dây muống”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” tạođược sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết, tránh tình trạng “Đầu voiđuôi chuột” Mặt khác, việc viết đúng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng, kiếnthức cơ bản là “bột”, mà “Có bột mới gột nên hồ”

Hình thức trình bày là sự thể hiện bố cục của bài văn trên trang giấy Mộtbài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy phần bài làm của họcsinh chưa cần đọc, chúng ta đã thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài Muốnthế, người viết không chỉ phải chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ ràng

Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứngđược những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường Bài văn của các em vẫncòn hiện tượng lạc đề, xa đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề; đoạn văn trongbài thường sai quy cách (các em thường viết đoạn không có câu chủ đề hoặc cónhiều câu chủ đề trong một đoạn,…) Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các đoạn vănchưa lôgíc (triển khai ý nọ sọ ý kia, không nhất quán, trùng lặp,…) Thậm chí, córất nhiều em đã học đến lớp 12 nhưng hoàn toàn không biết làm một bài văn nghịluận đúng yêu cầu (một số em để giấy trắng, một số khác thì viết linh tinh để đốiphó trong bài kiểm tra) Trong khi đó phần Làm văn nghị luận chiếm tỉ lệ 50% đến70% điểm số bài thi, cho nên tình trạng học sinh điểm dưới trung bình là rất cao

Đó cũng là lý do khiến các em lo sợ, không hào hứng khi học môn Ngữ văn, nhất

là phân môn Tập làm văn

Trang 4

Từ những lý do đó, tôi đã tiến hành tìm tòi, nghiên cứu và vận dụng vào

thực tế giảng dạy “Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh THPT- Lớp 12” Trong đề tài này, tôi chia sẻ chủ yếu cách làm hai dạng đề thiết thực nhất là: kỹ năng làm bài nghị luận văn học và kỹ năng làm bài nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội nhằm giúp học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi

THPT Quốc gia 2015 sắp tới

II.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cở sở lý luận:

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số

16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.

Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động,

sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạothuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học Tăng

cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy học,“nâng cao chất lượng thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân”(Tài liệu

bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 9- Vụ giáo dục trung học trang 6,7) Lớp 9 cũng nhưlớp 12 là những lớp cuối cấp nên có một vị trí hết sức quan trọng: vừa phải tổngkết được những kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn luyện trong quá trình học, vừaphải chuẩn bị cho các kỳ thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho các em lên bậc Đại học hoặc

đi vào cuộc sống thực tế

Nghị luận nói chung, nghị luận về một tác phẩm Văn học nói riêng có vị trí rất

quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 12 Nghị luận văn học là một dạng

nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề văn học: tác phẩm, tác giả,thời đại văn học, trào lưu, các giá trị về nội dung, nghệ thuật, hình tượng, của

một tác phẩm cụ thể Nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội là hình

thức tổng hợp hai dạng kiến thức: từ tác phẩm văn học và từ thực tiễn đời sống Xuất phát từ đặc trưng của văn học: có tính hình tượng, hàm súc, đa nghĩa, hệthống; là nghệ thuật ngôn từ; là phương tiện chuyển tải những tư tưởng, tình cảmcủa nhà văn để từ đó mang đến nội dung giáo dục sâu sắc về tình cảm, thẩm mĩ

cho người đọc Do vậy, khi làm bài nghị luận văn học, người viết phải phát hiện

được các giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật thẩm mĩ, nền cảm xúc, của tácphẩm, tác giả đồng thời thể hiện được năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học của

cá nhân Bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội đòi hỏi người viết

phải đáp ứng các yêu cầu về cảm thụ tác phẩm như đã nêu ở trên đồng thời cần thểhiện những nhận thức, đánh giá, suy nghĩ của bản thân về các vấn đề tư tưởng, đạođức, lối sống; các hiện tượng đang diễn ra trong cuộc sống

Mặt khác, cũng cần hiểu rằng một tác phẩm văn học ra đời là đứa con tinhthần của nhà văn; chịu sự chi phối của tư tưởng, quan niệm và tài năng của tác giả

Trang 5

Đồng thời, nó cũng phản ánh một thời đại lịch sử (bối cảnh tác phẩm) trong mộthoàn cảnh xã hội nhất định (hoàn cảnh ra đời) Do đó, khi làm bài nghị luận vănhọc cần huy động tri thức về thời đại của tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm,

về văn học và về tiếng Việt Khi nghị luận về tác phẩm văn học phải đặt tác phẩmvào thời đại mà tác phẩm phản ánh cũng như hoàn cảnh tác phẩm ra đời để thấy rõgiá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Theo cách thức nghị luận và phương pháp lập luận có thể chia thành các kiểubài nghị luận văn học: phân tích, bình luận, chứng minh Người ra đề cũng có thểkết hợp nhiều yêu cầu trong một đề văn Đó là lí do học sinh thường gặp kiểu bàihỗn hợp

Như vậy, để làm tốt bài nghị luận văn học, cần cho học sinh hiểu rõ tính chất

tổng hợp của kiểu bài này Giáo sư Lê Trí Viễn đã có lời nhắn nhủ: “Dạy văn lấy

cảm làm đầu” Người giáo viên dạy học sinh làm bài văn nghị luận văn học, bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội không thể nghèo nàn cảm xúc,

cũng không thể kém hiểu biết thực tế cuộc sống Cho nên hướng gợi ý học sinhtrình bày những cảm nhận, đánh giá tác phẩm, hiện tượng đời sống hay tư tưởng,đạo lí phải xuất phát từ những rung cảm thẩm mĩ chân thật; phải biết kết hợp linhhoạt nhiều thao tác lập luận; phát huy tính tích cực, sáng tạo của cá nhân, không gò

ép theo khuôn mẫu

Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một

số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương phápgiảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiềuhướng suy nghĩ mới, giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu vàvận dụng sáng tạo hơn

2 Cơ sở thực tiễn:

Môn Ngữ văn trong nhà trường THPT gồm có ba phân môn: Đọc văn, tiếngViệt và Tập làm văn.Trong thực tế, phân môn Tập làm văn luôn được coi là phânmôn khó Hơn thế, cách ra đề thi tốt nghiệp THPT năm 2014 của Bộ GD& ĐTtheo hình thức mới lại càng khó hơn không chỉ đối học sinh mà còn đối với cả giáoviên Bởi để làm được bài văn hay đòi hỏi tư duy, kỹ năng và một phần năng khiếucủa người viết

Về phía giáo viên:

Trong chương trình nghị luận văn học lớp 12, nghị luận về một tác phẩm, mộtđoạn trích văn xuôi; nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về một ý kiếnbàn về văn học đã được tách ra thành từng phần, từng bài để hướng dẫn cho họcsinh nắm được đặc trưng cơ bản của từng dạng bài Từ đó, giúp học sinh có cáchlàm từng loại bài văn cụ thể theo yêu cầu của đề bài Tuy nhiên, do thời gian theoPPCT dành cho tiết học Tập làm văn này ít Hơn nữa, bản thân tôi cũng như một sốgiáo viên trong tổ khi dạy những tiết Tập làm văn chưa chú trọng, chưa đầu tưnghiên cứu kỹ nội dung, kiểu bài, để có phương pháp dạy phù hợp Thông thườngđến những tiết Tập làm văn, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh nắm được nội dungcủa bài làm văn đó Chẳng hạn, cũng hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lập dàn ý chi

Trang 6

tiết, viết mở bài, thân bài, kết bài cho những đề văn mà sách giáo khoa đưa ra.Nhưng một thực tế, nhiều đề trong số những đề đó nó không hoàn toàn thiết thựcvới chương trình, mục đích mà học sinh lớp 12 đang học Trong khi đó, một sốgiáo viên lại không linh động khi soạn giáo án để thay thế đề bài khác phù hợp vớichương trình học sinh lớp 12 đang tiếp cận mà vẫn đảm bảo yêu cầu về kiểu bài Việc ra đề kiểm tra của giáo viên hiện nay cũng còn nhiều điều cần bàn Một sốgiáo viên chưa quen với cách ra đề theo hình thức mới nên ra đề chỉ mang tính chấtđối phó.

Về phía học sinh: Theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học bằngphiếu lấy ý kiến:

Học phân môn Tập làm văn em thích hay không thích?

Thích ¨ Không thích ¨ Năng lực học Tập làm văn của em ở mức nào?

Giỏi ¨ Khá ¨ TB ¨ Yếu ¨

Làm bài Tập làm văn khó hay dễ? Khó ¨ Dễ ¨

Theo bản thân em, thể loại văn bản nào sau đây đối với em là khó làm bài nhất?

Thuyết minh ¨ Nghị luận ¨ Làm bài Tập làm văn kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội khó hay dễ? Khó ¨ Dễ ¨

Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 68 phiếu điều tra học sinh khối 12,trong đó có đến hơn 2/3 ý kiến không thích học phân môn Tập làm văn, các emcho đây là phân môn khó và học rất yếu, đặc biệt là ở thể loại văn nghị luận Cụthể:

Chưa coi trong bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa

có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp.Học sinh học Tập làm văn một cách máy móc Trước một đề bài các em ítnghiên cứu, chỉ đọc loáng thoáng rồi viết theo kiểu đối phó

Nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèonàn, thiếu chính xác và không lôgíc

Học văn nghị luận mà chưa biết cách phân biệt thể loại, kiểu bài

Thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái hay cái đẹp trong vănchương

Nhiều học sinh chỉ làm được phần nghị luận văn học hoặc tách ra thành haiđoạn riêng biệt

Nhiều học sinh khi viết bài mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, lập luận, viết đoạn,hành văn và nhiều lỗi khác

Trang 7

Trước thực trạng trên, bản thân tôi là người phụ trách bộ môn của trường,đồng thời là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 12, tôi luôn băn khoăn, trăn trở làmthế nào để giúp học sinh nắm và làm tốt bài Tập làm văn.

Với mục đích là rèn luyện cho học sinh lớp 12 thành thạo những kỹ năng cơbản nhất, thiết thực nhất, thậm chí là cụ thể hóa khi làm bài nghị luận Và mục tiêuchung là giúp hơn 65% học sinh yếu của trường cũng có thể đậu trong kỳ thi THPTQuốc gia môn Ngữ văn

Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm đạt được mục đích và mục tiêu trên, thực tếnhững năm qua chúng tôi đã vận dụng trong việc dạy học làm văn nghị luận vănhọc; dạy nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội ngay từ kỳ ôn thi tốt nghiệpTHPT năm 2013-2014, năm học 2014-2015 ở lớp 12 và đã đạt được những kết quảbước đầu đáng ghi nhận: trên 85% học sinh khối 12 không còn “choáng ngợp” vớivăn nghị luận, không rơi vào tâm lí sợ làm nghị luận; học sinh chủ động, tích cực

và thích học và làm nghị luận hơn Điều đó thể hiện rất rõ qua kết quả các bàikiểm tra, bài thi.Tỉ lệ đậu tốt nghiệp được nâng lên đáng kể qua từng năm.(Năm

2014 tỉ lệ đậu tốt nghiệp môn Văn trường THPT Nguyễn Đình Chiểu là 82%) Những giải pháp tôi đưa ra đây chắc chắn không hoàn toàn là những giảipháp mới lạ Nhưng đây là những giải pháp thiết thực, cụ thể hóa để phù hợp vớiđối tượng học sinh trường THPT Nguyễn Đình Chiểu

III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP

Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua các bước: Tìm hiểu đề,tìm ý; lập dàn ý; viết bài văn; đọc và sửa bài Tuy nhiên ở phạm vi bài viết này tôichỉ tập trung một số vấn đề có tính thiết thực nhất đối với học sinh lớp 12 như sau:

1 Tìm hiểu đề

Để tìm hiểu để tốt, người viết cần đọc kĩ đề, chú ý từ ngữ then chốt để xácđịnh đúng yêu cầu về nội dung, hình thức và tư liệu sử dụng

a) Xác định kiểu bài: Đề bài yêu cầu nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; nghị

luận về một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi hay nghị luận về một ý kiến bàn vềvăn học, hay kết hợp nghị luận về một vấn đề văn học với một vấn đề xã hội? Lờiyêu cầu về kiểu bài theo lối trực tiếp hay gián tiếp? Thông thường học sinh khinhận được đề bài thường bỏ qua khâu này, nhưng các em lại không biết rằng đây

là việc quan trọng giúp các em nhận thức tốt các khâu còn lại trong bước tìm hiểu

đề Vì vậy, khi dạy tôi luôn yêu cầu học sinh thực hiện khâu này trước tiên màkhông bao giờ được bỏ qua

Chẳng hạn:

Đề 1: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ sau:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Trang 8

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành ”

( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)

Đề 2: Vẻ đẹp của một nhân vật nam trong chương Ngữ văn 12 mà em yêu

thích

Đề 3: Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ, Ngườii chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Đề 4: Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

Đề 5: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong đoạn trích Vợ chồng Aphủ của nhà văn Tô Hoài.

Đề 6 : Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt

Nam phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước” Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) đối với ý kiến trên.

Đề 7: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước

của thế hệ trẻ trong thời hiện đại

Đề 8: Cảm nhân của anh/chị về nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” của

Kim Lân.Từ đó làm sáng rõ tình yêu thương con người trong xã hội hiện nay (đúng

với tinh thần “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” mà ông cha ta đã dạy).

Với các đề bài trên, giáo viên hướng dẫn học sinh làm thế nào để xác địnhđúng nhất, nhanh nhất các dạng đề Muốn vậy, giáo viên phải hướng học sinh dựavào từ ngữ có tính chất định hướng, gợi yêu cầu của đề Đồng thời, phải giúp họcsinh thấy được sự khác nhau của các từ ngữ trong đề nổi để từ đó có cơ sở xácđịnh đúng các thao tác trọng tâm

Những đề bài cho ở trên, lưu ý những từ, cụm từ in nghiêng, gạch chân giúphọc sinh nhận diện yêu cầu của đề bài Căn cứ vào đó ta nhận diện được:

Đề 1 là nghị luận về một đoạn thơ; đề 1 lời yêu cầu về kiểu bài trực tiếp- đềđóng (đề nổi), đề 2 lời yêu cầu về kiểu bài gián tiếp- đề mở

Đề 3 nghị luận về một bài thơ (đề đóng),

Đề 4 nghị luận về một tác phẩm văn xuôi (đề đóng),

Trang 9

Đề 5 nghị luận về một đoạn trích văn xuôi (đề đóng),

Đề 6 nghị luận về một ý kiến bàn về văn học- đề mở ( đề chìm),

Đề 7,8 nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội,

Đề 1, 3, 4, 5 thao tác nghị luận chính là phân tích; đề 2 và đề 7 thao tác chính

là bình luận, phân tích; đề 6 thao tác chính là chứng minh, phân tích

Đề 1,2,3,4,5,6 là dạng đề nghị luận văn học; đề 7,8 là đề kết hợp giữa nghịluận văn học và nghị luận xã hội

b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đề:

Có thể căn cứ vào đề bài để xác định nội dung trọng tâm Có bài viết chỉ cầndựa vào đề bài là có thể nhận thấy nội dung trọng tâm Nhưng phần lớn các bàiviết đều đòi hỏi người viết phải suy luận thêm: qua nội dung trước mắt (được thểhiện rất rõ ở đề bài) đề bài yêu cầu người viết phải nhận thức thêm về vấn để gì ?

Đó là những vấn đề tư tưởng chủ đề sâu sắc của tác phẩm mà mọi chi tiết, hìnhảnh, câu chữ, của tác phẩm đều hướng đến thể hiện

Chẳng hạn với đề bài Theo anh (chị), tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”

được hiểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫnchứng minh hoạ

Nội dung trọng tâm của bài viết là: Phân tích tính dân tộc trong bài thơ “Việt

Bắc”của Tố Hữu (Tr 5-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)

Kỹ năng tìm hiểu đề là kỹ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện

một bài Tập làm văn Tuy vậy, đa số học sinh thường không chú ý đến bước này

Vì vậy, trong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc xa đề nên bài vănthường không có điểm cao Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bướcnày sẽ giúp học sinh tránh được việc lạc đề, xa đề Từ đó bài văn sẽ tốt hơn

Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thựchiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đềtrong bài học Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kỹ năng cần thiết trướckhi viết bài

Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thìgiáo viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học Ngườigiáo viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập Chẳng hạn, ra đề và yêucầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, số 3, dựa trên nội dung ôntập đã thống nhất

Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinhđọc nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút chì gạch chânnhững từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bậtcác yêu cầu của đề; xác định ba yêu cầu của đề Ví dụ: Phân tích hình tượng ngườilính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:

.Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Trang 10

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)

C) Xác định các thao tác lập luận

Có nhiều thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ,

bình luận (trong đó, thao tác giải thích và chứng minh tạm được coi là những thaotác bộ phận của thao tác phân tích) Mỗi thao tác lại có những ưu thế riêng, trongbài văn nghị luận nên vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận một cách phù họp

để bài viết đạt hiệu quả cao nhất Muốn vậy, đòi hỏi người viết phải nắm chắcđược đặc điểm chung của một số thao tác lập luận cơ bản Trên thực tế, nhữngthao tác này học đã được học từ các lớp dưới, tuy nhiên không phải học sinh nàocũng nhớ và thành thạo khi làm bài Vì vậy, ngay từ bài hướng dẫn học sinh làmbài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ (lớp 12), tôi yêu cầu các em phải ôn lạinhững thao tác lập luận đã học và bắt buộc các phải em ghi nhớ Cứ thế, trong suốtquá trình luyện tập- trái buổi ở những đề cụ thể của bất kì kiểu bài nào

Dưới đây là đặc điểm chung của một số thao tác lập luận cơ bản

Phân tích: chia tách sự vật, hiện tượng thành nhiều yếu tố nhỏ để đi sâu vào

xem xét một cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong của hiện tượng và

sự vật đó Khi phân tích cần chú ý gắn cái riêng với cái chung, không nên tách rời

sự vật đối tượng khỏi cái chung khiến chúng trở nên lẻ tẻ, vụn vặt Ví dụ:

Con sông Đà“tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình ” câu văn dài chất chứa niềm yêu say mê của Nguyễn Tuân với sông Đà Biện pháp so sánh không chỉ gợi chiều dài của dòng sông mà còn cảm nhận về dáng hình, dòng chảy của

nó Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận Sông Đà hung

dữ đã thay bằng hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như mái tóc của người thiếu nữ Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khá năng tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua trí tưởng tượng sinh động của nhà văn (Đề bài : Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

Trong đoạn văn trên, người viết đã phân tích câu văn (Con sông Đà) “tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình ” trên cả hai phương diện: nội dung (chiều dài cùa dòng sông; dáng hình, dòng chảy của nó; hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn, ) và nghệ thuật (Biện pháp so sánh; Hình ảnh gợi cảm; trường liên tưởng rộng lớn, ) để làm rõ ý văn của tác giả.

Trang 11

So sánh: đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt trong cùng một sự vật

nhằm chỉ ra những nét tương đồng hay khác biệt, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trịcùa từng sự vật Khi so sánh cần chú ý lựa chọn và duy trì một tiêu chí, một bìnhdiện so sánh nhất định Chẳng hạn:

Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm

vụ phản ánh hiện thực cho văn chương Yêu cầu này đòi hỏi ở nhà văn một sự tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thế giới quan cuộc sống, nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi Một tác phẩm ưu tú "không đem đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự quên:, nó đem đến cho người đọc hơi thỏ, nhịp đập của chính cuộc đời cho người đọc những “bài học trông nhìn và thưởng thức" (Theo dòng)-Thạch Lam “Tác phẩm văn nghệ phải thể hiện sự sống thật hơn là sự sống bình thường, cô đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc sống

mà văn là cuộc sống” (Trường Chinh) Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản ánh cuộc sống có lí tưởng, chứ không phải mình họa li tưởng cuộc sống Lí tưởng nằm ngay trong cuộc sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người ta thoát ly hay quên lãng (Bài viết: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [ ] có loại đáng thờ Có loại không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người” Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên).

Đoạn văn trên có sự so sánh trong quan niệm về văn chương của các tác giả:Nguyễn Văn Siêu, Thạch Lam, Trường Chinh Từ đó, người đọc thấy được sựtương đồng trong quan niệm của các tác giả về vấn đề này

Bác bỏ: dùng lập luận đầy đủ để chứng minh một ý kiến nào đó là sai Muốn

bác bỏ một ý kiến nào đó, cần trích ý kiến đó rồi trả lời bằng những lập luận: ýkiến đó sai ở chỗ nào và vì sao như thế là sai Ví dụ:

Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm

vụ phản ánh hiện thực cho văn chương […]

Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến hình thức nghệ thuật Hình thức và nội dung cần có sự tương xứng Nghệ thuật giúp nội dung trở nên đặc sắc hơn Một

tác phẩm hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức và nội dung Văn học “như người con gái đẹp” (Chế Lan Viên) khônq

chỉ lôi cuốn người ta bằng y phục, dáng hình mà còn làm mê đắm lòng người bằng vẻ đẹp nhân phẩm bên trong Một tác phẩm văn học chỉ hay khi kết tinh cao

độ sự độc đáo, mới lự của hình thức và sự sâu kín của nội dung, là một chỉnh thề thống nhất, hài hòa Tính nhạc dặt dìu được rạo nên từ thể thơ năm chữ như ru, như hát, như thủ thỉ tâm tình của một bài thơ đẹp như “Thơ tình cuối mùa thu” đã dần người đọc dạo bước mùa thu, dạo bước tình yêu Hình ảnh thơ trong sáng, giản dị, nghệ thuật ngắt dòng, lặp từ rất khéo léo, thành công khiến bài thơ như

một điệp khúc tình yêu ngân vang, tha thiết […]

Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu [ ] thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của rác yếu tố hình thức, nghệ

Trang 12

thuật trong văn chương.(Bài viết: "Trong một bức thư luận bàn vể văn chương,

Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [ ] có loại đáng thờ Có loại không đángthờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương Loại đáng thờ làloại chuyên chú ở con người” Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên")

Trong phần văn bản trên, người viết đã sử dụng thao tác bác bỏ để bác đi ýkiến của Nguyễn Văn Siêu khi ông phủ nhận hoàn toàn vai trò của hình thức nghệthuật trong sáng tác văn học Bằng việc đưa ra những vấn đề lí luận và phân tíchmột Ví dụ cụ thể (bài thơ “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh), người viết

đã khẳng định vai trò không thể thiếu của nghệ thuật đối với một tác phẩm văn

học có giá trị Từ đó, chỉ ra thiếu sót trong quan niệm của Nguyễn Văn Siêu: thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các yếu tố hình thức, nghệ thuật trong văn chương.

Bình luận: bàn bạc và đánh giá vể sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các tác

phẩm, các vấn đề văn học, các ý kiến bàn về văn học, Muốn bình luận một vấn

đề cần lưu ý xác định đối tượng bình luận, giới thiệu đối tượng đó và đề xuất ýkiến bình luận (phân tích đối tượng một cách cụ thể và nhìn đối tượng từ nhiềumối quan hệ) Chẳng hạn:

Hình ảnh người lính Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiênngang, với khí phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ.Nhưn thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binhTây Tiến Không thi vị hóa hiện thực, ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn nhận

vào nhữnq tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc (Bài viết “Vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng”).

Trong đoạn văn trên, người viết đã sử dụng thao tác bình luận để đánh giá vềthơ Quang Dũng mà cụ thể là bài thơ “Tây Tiến” và hình ảnh người lính trong bàithơ Hình ảnh người lính Tây Tiến “là một bức tượng đài đẹp đẽ” Thơ QuangDũng “tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến Không thi

vị hóa hiện thực [ ] dám nhìn nhận vào những tổn thất tất yếu của con người

trong chiến tranh tàn khốc” (Tr 5,6,7-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)

Ngoài những thao tác trên, trong bài viết cần vận kết hợp nhiều thao tác khác

để bài viết được sáng tỏ, có sức thuyết phục Tuy nhiên, điều quan trong ở khâunày là học sinh phải xác định được trong một đề bài cụ thể thao tác nào là trọngtâm, là chính, cần sử dụng nhiều; thao tác nào là phụ? Muốn vậy, giáo viên hướngdẫn học sinh chú ý ở những từ ngữ nêu rõ thao tác lập luận biểu hiệu ở đề bài, đểxác định cho đúng

Ví dụ: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Ở đề bài này học sinh cần xác định phải

kết nhiều thao tác: phân tích, chứng minh, giải thích, bác bỏ, bình luận,… Trong

đó, thao tác phân tích và bình luận là chính

d) Xác định phạm vi tư liệu

- Đối với những để bài thuộc kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học,

Trang 13

phạm vi tư liệu là bản thân ý kiến đó và những tác phẩm văn học tiêu biểu.

Chẳng hạn với đề bài: Anh (chị) hãy hày tỏ quan điểm cửa mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e:“Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra”.

Phạm vi tư liệu là: Ý kiến của La Bơ-ruy-e; những tác phẩm văn học tiêu biểu

- Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; mộttác phẩm, một đoạn trích văn xuôi, phạm vi tư liệu nằm trong chính những tácphẩm văn học là đối tượng của bài viết Ví dụ:

Đề bài “Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ hút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và "Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

Phạm vi tư liệu: Tác phẩm Người lái đồ sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường); dẫn chứng từ thực tế/trong văn học

về những dòng sông Việt Nam

- Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một vấn đề văn học kết hợpvấn đề thuộc tư tưởng, đạo lí hay hiện tượng đời sống thì phạm vi tư liệu nằmtrong chính những tác phẩm văn học và vấn đề đời sống, tư tưởng, đạo lí được nêulên là đối tượng của bài viết Ví dụ:

Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.

Kết quả của bước tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầucủa đề bài: về kiểu bài, về nội dung trọng tâm của đề, thao tác lập luận, phạm vidẫn chứng

Ví dụ: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Đối với dạng đề nghị luận văn học)

Học sinh cần xác định được:

+Kiểu bài: nghị luận về một đoạn trích văn xuôi- phân tích nhân vật trong

đoạn trích

+Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Mị-> tư tưởng, tình cảm của nhà văn

qua đoạn trích

+Thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, Trong đó

phân tích và bình luận là hai thao tác chính

+Phạm vi tư liệu: đoạn trích “Vợ chồng A Phủ”, mở rộng cả tác phẩm Ví dụ: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại (Đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị xã

hội)

Trang 14

Học sinh cần xác định được:

+Kiểu bài: nghị luận về một tác phẩm văn xuôi- phân tích nhân vật trong đoạn

trích và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

+Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Việt-> tư tưởng, tình cảm của nhà

văn qua đoạn trích; bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ

+Thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, Trong đó

phân tích và bình luận là hai thao tác chính

+Phạm vi tư liệu: tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”, một số tác phẩm

khác cùng đề tài; trong đời sống

Trong quá trình dạy – học (nhất là ở tiết trả bài) tôi đã cho học sinh thấy mộtcách nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng nhất, nghiêm trọng nhất của một bài Tậplàm văn Một bài văn lạc đề dù có những đoạn văn hay đến đâu cũng không thể đạtđược điểm cao Đối với giáo viên, trước một đề Tập làm văn việc tìm hiểu đề làđơn giản nhưng với học sinh khâu này rất quan trọng Vì vậy, trước bất cứ một đềvăn nào giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hiện tốt khâu này

Có thể nói rằng đây là một bước mất ít thời gian của tiết học nhưng nó manglại hiểu quả rất tốt cho học sinh Thực tế, nhiều năm dạy lớp 12, đặc biệt ở tiếtluyện tập trái buổi tôi đã áp dụng giải pháp này và từng bước đạt được kết quảđáng kể Chỉ qua một, hai tiết hướng dẫn tìm hiểu đề, dù là những học sinh kém vềmôn Văn nhưng ít nhiều các em vẫn nhận thức được đúng yêu cầu của đề bài.Trong những lớp tôi phụ trách, trường hợp học sinh hiểu sai đề chỉ là 1 hoặc 2 em

ở bài viết số 1 và kết quả được nâng ở những bài viết tiếp theo

2 Lập dàn ý

Đối tượng của bài nghị luận văn học là đa dạng, tuy nhiên xuất phát từ nhu cầu

thiết thực, phù hợp đối tượng học sinh Nên ở giải pháp này tôi chỉ giới hạn dạng

đề nghị luận về một đoạn thơ, một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; nghị luận về mộtvấn đề văn học kết hợp tư tưỏng, đạo lí hoặc hiện tượng đời sống

Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệthống của lập luận, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi

ý, từ đó phân bố thời gian hợp lí Có hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình

tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (thường

là phân tích các tác phẩm văn xuôi) Có thể sắp xếp đan xen giữa nội dung, nghệthuật và nhận xét đánh giá, suy nghĩ của thân (phổ biến trong phân tích thơ) Lậpdàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cáchdiễn đạt, cách trình bày bài viết Dàn ý của bài văn nghị luận có cấu trúc ba phần.Mỗi phần có nhiệm vụ riêng:

a ) Mở bài

Người ta thường nói: Văn hay chưa hẳn là dài- Mới đọc mở bài đã biết văn hay Mở bài có vai trò quan trọng đối với một bài văn Mở bài đúng và hay sẽ khai

thông được mạch văn Ở phần mở bài, người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề

sẽ nghị luận, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết Để có được đoạn mở bài hay, cần nêu

Trang 15

trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúcchiết và mới mẻ.

Nhìn chung có hai cách chính: mở bài trực liếp và mở bài gián tiếp

Ví dụ 1: Đề bài- Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ: .Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)-Đây là dạng đề nghị luận văn học.

- Mở bài trực tiếp, người viết nêu ngay vấn đề trọng tâm Chẳng hạn:

Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng viết về đề tài người lính trong kháng chiến chống Pháp nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh dũng vì quê hương đất nước Hình tượng người lính hiện lên rõ nét nhất qua đoạn thơ sau:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành ”

Trong mở bài trên, người viết trực tiếp giới thiệu bài thơ của Quang Dũng và vị

trí, vai trò của tác phẩm đối với tác giả và nền văn học Việt Nam (lí do để ngườiviết “yêu thích” tác phẩm- tình cảm, ấn tượng khái quát của người viết)

Ví dụ 2: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong

gia đình của Nguyễn Thi Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.(Đây là dạng đề kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội).

Ở dạng đề này chúng ta nên hướng dẫn học sinh mở bài trực tiếp: giới thiệu vềtác giả dẫn vào tác phẩm rồi giới thiệu vấn đề nghị luân

Trang 16

-Mở bài gián tiếp, người viết xuất phát từ một vấn đề khái quát hơn, một ýkiến, một câu chuyện, một câu thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật nổitiếng nào đó, dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ bàn luận trong bài viết Cũng đềbài ở ví dụ 1, ta có thể mở gián tiếp như sau:

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 viết về đề tài người lính đã để lại nhiều bài thơ hay Nếu như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên là những tiếng thơ về người lính xuất thân từ “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” thì Tây Tiến lại viết từ cảm hứng thẩm mĩ của một lớp chiến sĩ hoàn toàn khác Bài thơ hiện lên bức chân dung, vẻ đẹp tâm hồn của người lính- những chàng trai thành thị trong cuộc kháng chiến chống Pháp Tiêu biểu nhất qua đoạn thơ sau:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Trên đây là những vấn đề về mặt lý thuyết Thực tế, đối tượng học sinh tôi dạyđến 90% là yếu-kém ở khâu viết mở bài, đa số các em không có khả năng tư duy,suy luận, cảm thụ Ở tiết luyện tập đầu tiên khi yêu cầu các em viết mở bài cónhiều em hoàn toàn không biết viết như thế nào? Vận dụng kiến thức ở phần nàotrong bài Đọc văn để viết ? Vì vậy, khi dạy học sinh viết mở bài, giáo viên đã cụthể hóa về cách viết- chọn cách trực tiếp, các nội dung kiến thức để viết mở bài,cách dẫn vào vấn đề cần bàn luận Có nghĩa là hướng các em tìm hiểu, ghi nhớtheo khả năng bản thân những kiến thức cần thiết để viết mở bài (Chẳng hạn: cầnnắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng dạng đề ví dụ1; cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng, các vấn

đề thuộc về tư tưởng, đạo lí; các hiện tượng đời sống dạng đề ví dụ 2) Bởi vì,học sinh của chúng tôi tuy khả năng sáng tạo, suy luận kém nhưng các em vẫn cóthể ghi nhớ, thậm chí là bắt chước

Cũng đề bài ví dụ 1 và ví dụ 2, tôi hướng dẫn các em viết mở bài như sau:

Trang 17

Ví dụ 1: Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp,

một nghệ sĩ đa tài -viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa Ông có rất nhiều bài thơ hay viết về người lính trong đó có bài"Tây Tiến" Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn,

hi sinh anh dũng vì quê hương đất nước Tiêu biểu nhất qua đoạn thơ sau:

“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành ”

(Mở bài trên giới thiệu khái quát về tác giả, dẫn vào bài thơ rồi dẫn vào hìnhtượng người lính)

Ví dụ 2: Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ

giải phóng Miền Nam thời kì chống Mĩ Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ

và thực sự trở thành nhà văn của người nông dân Nam Bộ Sáng tác của NguyễnThi vừa giàu chất hiện thực, vừa đằm thắm chất trữ tình Một trong những tácphẩm tiêu biểu của Nguyễn Thi là truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”.Truyện xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét tính cách độc đáo đã tạo

nên sức hấp dẫn cho tác phẩm Qua nhân vật Việt chúng ta có những nhận thức

mới về tình yêu nước của thế hệ trẻ thời hiện đại

(Mở bài trên giới thiệu khái quát về tác giả, dẫn vào bài thơ rồi dẫn vào hìnhtượng nhân vật Việt, nêu được vấn đề tình yêu nước của thế hệ trẻ)

Yêu cầu của tôi là các em vận dụng cách mở bài này cho tất cả các đề cùngdạng, chỉ có khác ở nội dung, tư liệu Ưu điểm của cách mở bài này là học sinhkhông lan man, không viết dài dòng, không dẫn dắt lủng củng, thiếu ý hoặc thừa ý.Hạn chế là chưa phát huy hết được khả năng sáng tạo của tất cả học sinh Tuynhiên, theo kinh nghiệm dạy ôn thi tốt nghiệp THPT, để có kết quả như mongmuốn chúng ta cần có giải pháp cụ thể như vậy

Đối chiếu với những năm học trước, năm học này tôi áp dụng ngay từ bài hướngdẫn bài viết số 1, kết quả cho thấy, rõ ràng trên 95% học sinh lớp 12ª5, 80 % họcsinh lớp 12ª4 đã biết viết mở bài đúng yêu cầu đề bài; số còn lại cũng đạt đượckhoảng 60% đến 80% yêu cầu viết mở bài, không có trường hợp để giấy trắng

b) Thân bài

Trong một bài văn nghị luận, phần thân bài có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề

Trang 18

mà mở bài đã nêu Nếu xem phần mở bài chỉ có nhiệm vụ đặt vấn đề thì phần thânbài ứng với thao tác giải quyết vấn đề đó Ở phần thân bài, người viết cụ thể hoá

vấn đề cần nghị luận - được gọi là luận đề bằng một hệ thống luận điểm Mỗi luận

đề được phát triển bằng nhiều luận cứ.

Thân bài gồm nhiều đoạn văn Giữa các đoạn có câu văn hoặc từ chuyển tiếpnối kết các luận điểm với nhau làm cho bài văn liền mạch Về lí thuyết, mỗi đoạnthân bài tập trung làm nổi bật một luận điểm Luận điểm đó thường được thể hiệnbằng một câu chốt Vị trí của câu chốt: đứng đầu hoặc đứng cuối đoạn văn Nhưngtrên thực tế, luận điểm thường có nhiều nội dung nên luận điểm ấy cần chia rathành nhiều đoạn Trường hợp này, giữa các đoạn văn bộ phận của luận điểm vẫnphải có sự chuyển tiếp và mỗi đoạn văn cũng có một câu chốt nêu lên chủ đề củađoạn

Chẳng hạn, với đề bài “Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và

con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: Ta về, mình có nhớ ta Nhớ ai tiếng hát

ân tình thuỷ chung”, bài viết sẽ có hai luận điểm trung tâm là hình tượng thiên

nhiên và con người Việt Bắc Luận điểm hình tượng thiên nhiên Việt Bắc lại cómột số nội dung bộ phận như: cảnh mùa đông Việt Bắc, cảnh mùa xuân Việt Bắc,cảnh mùa hạ Việt Bắc, Khi đó, luận điểm này sẽ được triển khai như sau:

Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu

nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc Cảnh mùa đông có nét ấm

áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải là sự lạnh lẽo, hắt hiu Bức tranh đan dệt bởi

nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng [ ]

Nếu mùa đông Việt Bắc sống dậy từ sắc đỏ của hoa chuối thì mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ, sắc xanh của rừng, tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng của cảnh Màu trắng của hoa có khả năng bao chiếm

không gian, nhấn mạnh sự thanh khiết của cảnh vật [ ]

Nếu câu thơ mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì câu thơ mùa

hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc Tiếng ve dệt thành

bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui [ ]

Không rực rỡ, tươi tắn dưới ánh sáng mặt trời, hình ảnh vầng trăng mùa thu hòa bình mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi

cảm [ ]

Những đoạn văn trên đều là những bộ phận của luận điểm thiên thiên Việt

Bắc Câu văn Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình nêu lên luận điểm

cho cả bốn đoạn văn Những câu được in nghiêng đậm vừa mang vai trò là câuchuyển tiếp vừa mang vai trò là câu chốt cho từng đoạn văn Mặt khác, giữa cácđoạn văn có sự liên kết còn được thể hiện ở việc khung cảnh thiên nhiên các mùađược trình bày theo thứ tự thời gian: đông, xuân, hạ, thu

Mô hình chung của phẩn thân bài trong bài văn nghị luận là:

Trang 19

cho từng luận điểm, luận cứ (Tr8,10-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội).Chẳng hạn, đề: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại học

sinh cần xác lập luận điểm, luận cứ như sau:

- Luận điểm 1: Là một chàng trai mới lớn; tính tình cón trẻ con, hồn nhiên, vô tư +Luận cứ 1: Hay tranh giành với chị

+Luận cứ 2: Đi đánh giặc vẫn mang theo cái ná thun; sợ ma

-Luận điểm 2: Giàu tình yêu thương, yêu nước căm thù giặc sục sôi

+Luận cứ 1: Thương má, chị chị gái

+Luận cứ 2: Quyết tâm đi bộ đội để tiêu diệt kẻ thù

-Luận điểm 3: Là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường

+Luận cứ 1: Khi xông trận chiến đấu dũng cảm, Việt đã dùng thủ pháo tiêu diệtđược một xe bọc thép của giặc,

+Luận cứ 2: Dù bị trọng thương nhưng lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chiếnđấu,

- Luận điểm 4: Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời đại mới:

+ Luận cứ 1: Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh: luôn gắn bó sâunặng với quê hương, đất nước; tự hào, tự tôn dân dân tộc; quyết tâm giữ vững độclập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

+ Luận cứ 2: Ý thức sâu sắc về vài trò của bản thân đối sự nghiệp canh tân đấtnước: không ngừng trau dồi học tập, rèn luyện; lao động hăng say; có ý thức giữgìn bản sắc văn hóa; đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác

Trang 20

+ Luận cứ 3: Phê phán bộ thanh niên có nhận thức lệch lạc: chạy theo lối sống thựcdụng; sống thiếu trách nhiệm với đất nước; làm những việc trái pháp luật, trái vớithuần phong mỹ tục; sống thiếu lí tưởng,

Đây là phần chiếm nhiều thời gian, ghi điểm nhiều nhất và cũng là phần tíchhợp nhiều nhất kiến thức của ba phân môn Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh thựchiện phần này bao giờ tôi cũng yêu cầu các em phải nắm được nội dung của nhữngbài Đọc văn cụ thể, tránh tình trạng khi lập dàn ý mà lại không nắm được kiến thứcbài học, điều này dễ dẫn đến tâm lí ngại ngùng, chán nản, hoang mang trong các

em Thường thì, tôi cho đề các em tham khảo, luyện tập trước ở nhà Đến tiết luyệntập trái buổi, trước hết yêu cầu một đến hai học sinh trình bày phần bài chuẩn bị ởnhà lên bảng, cả lớp nhận xét, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện; hoặc có đề do không

có thời gian trên lớp thì tôi thu về nhà chấm- trả sau Cứ thế, quy trình này đã trởnên quen thuộc đối với các em, cho nên có những tiết học Đọc văn đã hết bài màtôi chưa cho đề tham khảo là học sinh hỏi ngay “ Không có đề ôn tập à cô?” Làmđược như vậy nên dù đây là phần khó và dài, nhưng đa số học sinh đã đạt được yêucầu

c) Kết bài

Kết bài là phần kết thúc bài viết Vì vậy nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt

ra ở mở bài và phát triển ở thân bài Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ "góilại" mà còn phải "mở ra" - đó là khơi gợi suy nghĩ, tình cảm của người đọc Thâutóm lại nội dung bài viết không có nghĩa là lặp lại mà phải dùng một hình thứckhác để khái quát ngắn gọn Khơi gợi suy nghĩ hay tạo dư ba trong lòng người đọc

là câu văn khi đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở hướng về nó.Trong thực tế, việc viết văn nghị luận chúng ta thường gặp một số kiểu kết bàinhư sau:

Kết bài tóm tắt và nhận xét khái quát về nội dung, tư tưởng của người viết đãtrình bày trước đó Đây là cách thông thường và cũng là yêu cầu cơ bản nhất củakết bài, nhưng không đáp ứng tốt yêu cầu gợi dư ba cho bài viết Ví dụ:

Nói tóm lại, tính dân tộc trong bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: đề tài, thể thơ, cách xưng hô “mình” - “ta”, những hình ảnh thơ, Và những phương diện biểu hiện tính dân tộc ấy đã được minh chứng bằng những câu thơ đầy thuyết phục (Đề bài: Theo anh (chị), tính dân

tộc trong bài thơ “Việt Bắc” được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào?Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ)

Kết bài khái quát nội dung và đạt ra câu hỏi nhằm khơi gợi suy nghĩ và tìnhcảm ở người đọc Chẳng hạn:

Chỉ một tình huống mà thấu tỏ bao triết nhân sinh chỉ một câu chuyện nhặt vợ

mà Kim Lán đã đưa tới cho bạn đọc những hài học về số phận von người, tình yêu thươnq, niềm hy vọng, học cách "nghĩ đến cái sống trong khi người ta chỉ nghĩ đế cái chết” Cách xây dựng tình huống độc dáo, giọng văn tỉnh táo, khách quan đã giúp Kim Lân tái hiện chân thực hiện thực cuội sống và chở đi những chiều sâu tư tưởng khôn cùng Chỉ khi thấm rỏ, quyện hòa máu tim của người nghệ sĩ, tình

Trang 21

huống truyện mới đạt được đỉnh cao của nghệ thuật, tìm kiếm được những giá trị nhân sinh “Nghệ thuật là những câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con người” Những câu trả lời ấy ta đã tìm ở một tình huống hay chăng? (Đề bài:: "Phân tích giá trị

nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn “Vợ nhặt” củaKim Lân")

Kết bài khái quát nội dung và mở rộng, nâng cao vấn đề đã được bàn bạc trong phần thân bài

Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu đã nhìn nhận được những

chức nâng cao quý, đặc trưng thẩm mĩ quan trọng của văn chương chân chính,

song lại thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của cácyếu tố hình thức, nghệ thuật trong văn chương Từ đây, ta hiểu rằng, một tác phẩmhay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức

và nội dung

Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc sáng tác văn học của các nhà văn và việc tiếp nhận văn học của độc giả (Bài viết: Trong một bức thư luận

bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [ ] có loại đáng thờ

Có loại không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương.Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người” Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm

trên) (Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG

Hà Nội)

Như vậy, có rất nhiều cách để mở bài và kết bài Dựa theo khả năng và hướngtriển khai bài viết mà mỗi bài viết lại có một mở bài và kết bài tương ứng, phùhợp

Tuy nhiên, với đối tượng học sinh của tôi, để các em tự sáng tạo ra một kết bàithì thường là các em chỉ tóm tắt lại nội dung của phần thân bài Cho nên ở phầnnày, bản thân giáo viên cũng cần định hướng cụ thể Tôi yêu cầu, thâu tóm nộidung trọng tâm và cảm nhận của bản thân về vấn đề nghị luận trên Ví dụ viết kết

bài cho đề Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của NMC như sau:

“Qua những nét khắc hoạ ấn tượng, người đàn bà hàng chài đã trở thành mộtbiểu tượng đầy ám ảnh, giúp nhà văn NMC thể hiện những tư tưởng đạo lí sâu sắccho truyện ngắn Đó là niềm cảm thương và nỗi lo âu cho số phận những conngười bất hạnh, khốn khổ, bị cầm tù giữa đói nghèo tăm tối và bạo lực; đó còn làniềm tin yêu trước những phẩm chất tôt đẹp trong tâm hồn, tính cách những conngười luôn sống với lòng nhân hậu vị tha và dũng cảm Tác phẩm cũng rung lênhồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường củanó”

Hay viết kết bài cho đề bài Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn

về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại như sau:

“Truyện đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Việt xuất thân trong mộtgia đình có truyền thống CM, chịu nhiều mất mát đau thương; có lòng căm thù

Trang 22

giặc sâu sắc, quyết tâm đi bộ đội, chiến đấu dũng cảm; giàu tình thương với nhữngngười thân trong gia đình, đồng đội nhưng cũng rất hồn nhiên, ngây thơ Việtchính là người anh hùng- đại biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trongthời kì kháng chiến chống Mĩ nói riêng và thanh niên Việt Nam trong thời kỳ hộinhập nói chung”.

3 Trình bày dẫn chứng

Có nhiều cách trình bày dẫn chứng:

Cách 1: Đưa dẫn chứng thành câu văn riêng biệt và trích xuống dòng, thường

được dùng cho những câu thơ, câu văn hay

Chẳng hạn, trong những ví dụ sau, phần trích dẫn được đưa vào ngoặc képNhờ tiếp thu được tính hiện đại của thơ tượng trưng Pháp thế kỷ XIX, XuânDiệu góp phần làm phát triển nghệ thuật thơ ca, nhạc điệu câu thơ trở nên phongphú hơn, khả năng chiếm lĩnh và diễn đạt thế giới khách quan và nội tâm tinh vi,màu nhiệm hơn, đặc biệt là quan hệ tương giao giữa các giác quan:

“Này lắng nghe em khúc nhạc hồng Này lắng nghe em khúc nhạc thơm”

Cách 2: Dùng một số chữ đặt ẩn trong câu văn.

Ví dụ: Lối ví von trong “Tương tư” cũng rất gần với dân gian Nói về tình yêu,dân gian vô cùng tinh tế “nói xa” rồi mới “nói gần”, không bao giờ “nói thẳng nhưruột ngựa” Bày tỏ niềm tiếc nuối vì người thương đã lấy chồng, chàng trai phảiđưa đẩy, xa xôi rồi mới bày tỏ nỗi niềm

Tác giả cho A Phủ xuất hiện khá đột ngột trong một hoàn cảnh đánh nhau với

A Sử, bị bát, bị đánh độp tàn nhẫn ở nhà thống lí Pá Tra, rồi mới kể về lai lịch củanhân vật Đó là một người nghèo khổ đã mất hết cả mẹ cha và anh em trong mộttrận đậu mùa khủng khiếp đã phải sống kiếp bơ vơ khi còn rất nhỏ và “người làngđói bụng đã bắt A Phủ đưa xuống bán đổi lấy thóc của người Thái ở dưới cánhđồng” Không cam chịu cuộc sống khốn khổ, mới 10 tuổi đầu A Phủ đã tự khẳngđịnh tính cách gan góc: một mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề “biết đúc lưỡicày lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”

Trang 23

Cách 3: Tóm tắt ý dẫn chứng thành lời văn của mình, thường dùng cho văn

và thú vị Có lúc anh cảm thấy ngượng ngùng, lúng túng (Tr 11,12-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)

Trong một bài làm văn, nên dùng đồng thời ba cách, không nên thiên quá vềmột cách nào.(với những học sinh khá) Đối với học sinh trường tôi, thường khinghị luận về tác phẩm thơ, tôi hướng dẫn học sinh theo cách 1, tác phẩm văn xuôitheo cách 2 (Bởi các em rất yếu trong cách trình bày, mà yêu cầu kết hợp nhiềucách trong một bài viết dễ dẫn đến tình trạng lẫn lộn, lủng củng) Định hướng cụthể, rõ ràng cho các em trình bày dẫn chứng như vậy nên về hình thức bài viết củacác em rõ ràng hơn, nội dung sinh động hơn, trách được nhiều lỗi hơn

4.Cách chuyển ý

Chuyển ý có nhiệm không kém phần quan trọng trong một bài làm văn: đảmbảo bài văn có sự liên tục, uyển chuyển, phát triển tự nhiên; xác định mối quan hệchặt chẽ giữa các ý tạo nên bài văn Có nhiều cách chuyển ý:

Cách 1: Chuyển ý bằng cách dùng các kết từ: trước tiên, trước hết, tiếp

theo, Chẳng hạn:

“Tiếp theo “Việt Bắc” là “Gió lộng” (1955 - 1961) - tập thơ ra đời trong giaiđoạn Cách mạng mới “Gió lộng” dạt dào bao nguồn cảm hứng lớn lao Nhà thơhướng về quá khứ để thấm thía những nỗi đau khổ của cha ông, công lao củanhững thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng, ”

Cách 2: Chuyển ý bằng câu.

Dùng câu có cấu trúc “Nếu thì ” để tóm tắt ý trên và mở ra ý mới Ví dụ:

“Nếu như “Việt Bắc” là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiếnchống Pháp và những con người kháng chiến thì “Gió lộng” hướng về quá khứ đểthấm thía những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mởđường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng, ”

Dùng cấu trúc câu “Bên cạnh A còn có B” để chuyển ý khi giữa ý trên và ýdưới có quan hệ ngang hàng Ví dụ:

“Bên cạnh viên quản ngục còn có viên thơ lại cũng là một người làm nhầmnghề, sống nhẩm nơi Ông hẳn cũng là người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” nhưchủ nên đã để ý đến cái tài của Huấn Cao, nhất nhất làm theo những phép đối xửđặc biệt mà viên quản ngục dành cho người tử tù nổi tiếng, ”

Dùng câu có cấu trúc “Do A nên dẫn đến B”, “Sở dĩ A là vì có B” nếu ý trước

Trang 24

và ý sau có quan hệ nhân – qủa Ví dụ:

“Bởi có tấm lòng “Biệt nhỡn liên tài” như vây nên viên quản ngục đã không

nề hà nguy hiểm, phá bỏ những phép tắc thông thường trong nhà ngục để biệt đãiHuấn Cao Ngày ngày, ngoài những thức ăn thường Huấn Cao còn được thêmphần rượu thịt, ”

- Dùng câu có cấu trúc “Hơn cả A là B”, “Không chỉ A mà còn B” nếu ý sau

ở mức độ cao hơn ý trước

“Không chỉ có khí phách hiên ngang, kiên cường và sự tài hoa phóng khoáng,

mà nhân vật Huấn Cao còn có cái tâm trong sáng, cao thượng Điều đó được thể

hiện ở nhiều chi tiết, ”.

- Dùng một câu triết lí hoặc câu thơ, câu văn, ý kiến nhận định để thay lờichuyển ý Ví dụ:

“Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”(Lê- ô-nít Lê-ô-nốp) “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu không chỉ

là sự khám phá, sáng tạo so với các nhà văn khác mà còn là sự sáng tạo trongchính sáng tác của nhà văn Tác phẩm cho thấy một hướng quan niệm mới, tiến bộhơn trong hành trình đi tìm cái đẹp ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn mỗi con ngườicủa ông, cái đẹp không mang màu sắc lãng mạn nữa mà gắn với hiện thực trầntrụi”

Trong một bài văn, nên đồng thời kết hợp nhiều cách chuyển ý linh hoạt để tạo

nên sự hấp dẫn cho bài viết (Tr 17-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)

Lưu ý đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội, khi chuyển ý giáo viên nên hướng dẫn học sinh bám sát vào yều cầu của đề bài để nêu ý chuyển đúng trọng tâm và đáp ứng được cầu của đề (Ví dụ minh họa cụ thể trình bày trong giáo án- xem Tr 48).

5 Hành văn trong văn nghị luận

a) Khái niệm: Hành văn là cách diễn đạt ý (ý lớn, ý nhỏ), những cảm xúc, suynghĩ thành lời văn của người viết

b) Cách hành văn

* Đảm bảo tính chuẩn xác:

Yêu cầu này được hiểu là phản ánh đúng tính chất, ý nghĩa của đối tượng nghịluận Không nói quá nhưng cũng không nói giảm Chẳng hạn, với "Truyện Kiều"của Nguyễn Du hay “Chí Phèo” của Nam Cao, có thể dùng từ “kiệt tác” khi đánhgiá về giá trị tác phẩm cũng như vị trí của chúng trong nền văn học dân tộc.Nhưng từ “kiệt tác” lại không thể được dùng cho nhiều tác phẩm khác: “Rừng xànu” của Nguyễn Trung Thành, “Vợ nhặt” của Kim Lân,

* Đảm bảo tính truyền cảm:

- Câu văn có tính triết lí tạo nên tính suy ngẫm và tính tư tưởng sâu sắc trong bàiMuốn lí lẽ sàu sắc phải biết viết những câu văn triết lí Đó là những câu văn thểhiện quan niệm chung của con người về các vấn đề nhân sinh và xã hội Lí lẽ

Trang 25

muốn sâu sắc còn phải biết biện luận; biện luận là đưa ra lí lẽ ý kiến khác để tranhluận phải trái, khẳng định ý kiến mà mình cho là đúng.

Chẳng hạn, trong bài viết về truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của NguyênMinh Châu, có thể có những câu văn triết lí như sau, chú ý câu văn in nghiêng:

Để có được cái đẹp đích thực, nghệ thuật lại phải một lần nữa hành trình để

kiếm tìm và cuộc hành trình này tất nhiên cũng không hề dễ dàng Nếu không có một tâm hồn lớn, một sự đồng cảm sâu sắc nhà văn sẽ không tìm thấy viên ngọc

ẩn giấu sau lớp vỏ hiện thực trần trụi kia Điều đó cũng giống như việc người

nghệ sĩ trong tác phẩm, sau sự ngộ nhận đầu tiên nếu như không khám phá ra vẻđẹp tiềm ẩn trong người đàn bà làm nghề chài lưới kia có lẽ sẽ vĩnh viễn mất điniềm tin vào sự tồn tại của cái đẹp trong cuộc sống”

- Câu văn giàu hình ảnh:

+ Muốn viết câu văn giàu hình ảnh phải tưởng tượng phong phú, phải biết diễnđạt sự tưởng tượng ấy bằng các phép so sánh

+ Tưởng tượng tái tạo là tưởng tượng ra thế giới hình tượng của câu thơ, câuvăn rồi tái hiện nó như một bức tranh có đường nét, màu sắc, âm thanh bằng ngônngữ của riêng mình

+ Tưởng tượng sáng tạo là dùng phép liên tưởng để làm sự vật trước mắt phảihiện ra, phải cho người ta cái kính viễn vọng để nhìn xa hơn, nhìn vào cả lương lai,phải tượng ra cái phẩn ở ngoài của câu chữ nhưng phù hợp với quy luật của đờisống

Có thể tham khảo ví dụ dưới đây, chú ý những từ ngữ được in nghiêng:

“Trên hành trình đến chân trời tương lai của sự nghiệp, một ngày kia Hộ gặp

Từ, một cô gái dịu dàng đoan trang thuỳ mị, thuỷ chung, xinh đẹp, chịu thương,

chịu khó đang rơi vào cảnh khốn cùng Là con người giàu lòng nhân hậu, Hộ đã sẵn sàng chìa bàn tay niềm mại của mình ra cứu vớt, dìu dắt cuộc dời Từ ra khỏi chốn bơ vơ Từ khi Hộ ghép cuộc đời Từ vào cuộc đời hắn, hắn có cả một gánh

nặng vật chất gia đinh phải chăm lo.”

-Câu văn giàu cảm xúc:

+ Viết văn là viết ra những điều mình hằng quan tâm, suy nghĩ và cảm xúc vềcuộc đời Chỉ có hiểu và đồng cảm với tác giả, với nhân vật thì mới viết đượcnhững câu văn có cảm xúc; người viết phải biết khóc, biết cười với tác phẩm, phải

có niềm tin vào vấn đề mình đang nghị luận Khi nhiệt tình ca ngợi hay bênh vựcmột vấn đề nào đó thì câu văn sẽ là lời tâm huyết tự đáy lòng và khi ấy mới cócảm xúc thật sự và chân thành

+ Cảm xúc bộc lộ trực tiếp thể hiện qua những câu, những từ cảm thán để bày

tỏ cảm xúc của mình

+ Cảm xúc bộc lộ gián tiếp được thể hiện qua những câu văn tỏ ra đồng cảmvới nhân vật, với những gì nhà văn trăn trở

Vídụ:

“Tây Bắc hiện lên trong câu thơ Chế Lan Viên thật đẹp, một vẻ đẹp huyền ảo,

có cái gì đó heo hút mà văn kỳ vĩ rất tiêu biểu cho vẻ đẹp núi rừng miền Tây Phải

Trang 26

quen thuộc và gắn bó nhiều với Tây Bắc mới tạo ra được một hình ảnh thơ đơn sơ

mà gợi cảm và đúng đến thế!

-Câu văn có giọng điệu, nhịp điệu:

+ Viết câu văn khi dài, khi ngắn; khi thiết tha, sôi nổi khi trầm lắng, suy tư;+ Thay đổi giọng điệu linh hoạt bằng cách dùng những từ độc đáo, biết phốihợp âm thanh từ ngữ, điệp từ, đảo từ để câu văn có ấn tượng;

+ Sử dụng nhiều loại dấu câu khi viết văn để tạo nên sự sống động về kiểucâu, tâm trạng người viết và hình thức bài văn

Chẳng hạn:

“Trước hết, về với nhân dân là về với những gì thân quen nhất của lòng mình,

về với môi trường quen thuộc, làm nảy sinh sự sống Đó cũng là ngọn nguồn sángtạo thơ ca "Nai về suối cũ" Sao lại là "nai" mà không phải là con vật nào kháctrong rừng sâu? Con nai là một con vật rất hiền dịu, xinh đẹp, hồn nhiên, ngây thơ,đáng yêu Đó cũng là con vật khá quen thuộc trong thơ ca”

Trong ví dụ trên, người viết đã biết sử dụng những câu dài ngắn khác nhau;

các kiểu câu trần thuật, nghi vấn, để tạo nên giọng điệu cho câu văn (Tr19-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)

Giải pháp 4 và giải pháp 5, đòi hỏi học sinh khi viết bài phải tích hợp phânmôn tiếng Việt với tần số cao, đó chính là cách dùng từ đặt câu trong bài văn nghịluận Bài văn nghị luận sẽ khô khan, đơn điệu nếu người viết không biết kết hợpnhiều kiểu câu, dùng từ ngữ không linh hoạt Đây là hai khâu tưởng như đơn giản,nhiều khi giáo viên không quan tâm Nhưng thực tế để bài viết của học sinh đạtđiểm cao hay không, phần quyết định là ở hai khâu này Trong quá trình dạy- học,đặc biệt là khi chấm- trả bài tôi rất chú trọng, cần chỉ ra những sai sót trong bàilàm của các em: lỗi dùng từ, đặt câu, cách chuyển đoạn, chuyển ý Thực tế có emkhông biết cách liên kết câu, đoạn, không tự mình nghĩ ra những từ ngữ để chuyển

ý (Nghĩa là em đó không biết cách diễn đạt ý thành một đoạn văn, bài văn màtrong bài làm của những em đó thể hiện giống như một dàn ý chi tiết.Vậy nên,những trường hợp này tôi yêu cầu phải ghi nhớ từ ngữ, câu văn để dùng khi diễnđạt Ở hai khâu này giáo viên vừa cho học luyện tập ở trên lớp vừa giao bài tập vềnhà, giáo viên thu chấm-sửa

GIÁO ÁN MINH HỌA MỘT DẠNG BÀI CỤ THỂ

* Giáo án chưa áp dụng các giải pháp của đề tài:

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ

Trang 27

A MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT

-Nắm được cách viết bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

B TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG

1 Kiến thức:

-Yêu của bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

- cách thức triển khai bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

2 Kĩ năng:

- Tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn

-Huy động kiến thức những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài vănnghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

C NỘI DUNG LÊN LỚP

1 Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ:

2 Tiến trình tổ chức bài dạy

I HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS II NỘI DUNG CẦN ĐẠT

* Hoạt động 1: Tạo tâm thế.

* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm

hiểu đề và lập dàn ý.

I Tìm hiểu đề và lập dàn ý:

1/ Đề 1: Phân tích bài thơ “Cảnh

khuya” của Hồ Chí Minh.

+ Phần mở bài của đề bài phân tích một

bài thơ cần đảm bảo những yêu cầu gì?

- Hoàn cảnh ra đời: những năm đầu

của k/c chống TDP ở chiến khu VB

Lúc này HCM đangtrực tiếp lãnh đạo

cuộc k/c chống P đầy gian khổ nhưng

vô cùng oanh liệt của nhân dân ta

I Tìm hiểu đề và lập dàn ý:

1 Đề bài : Phân tích bài thơ “Cảnh

khuya” của Hồ Chí Minh.

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ, Người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

a Tìm hiểu đề:

- Bài yêu cầu phân tích những giá trị

về tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ

- Lưu ý hoàn cảnh ra đời của bài thơ

b Lập dàn ý:

* Mở bài:

Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đờicủa bài thơ

Trang 28

I HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS II NỘI DUNG CẦN ĐẠT

Lưu ý: Phần thân bài có thể trình bày

các luận điểm theo nhiều cách:

+ Cách 1: Theo trình tự các câu

thơ,đoạn thơ trong bài

+ Cách 2: Theo trình tự ND,NT->đánh

giá chung về bài thơ

+ Cách 3: Nêu nét đặc sắc nổi bật của

bài thơ, p/t cái hay vẻ đẹp->đánh giá

chung về bài thơ

-GV: Nêu nhận định chung về bài thơ?

-GV: Khẳng định lại những giá trị bài

thơ?

=> HS suy nghĩ trả lời, GV nhận xét,

chốt lại vấn đề

2/ Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau trong

bài "Việt Bắc" của Tố Hữu:

"Những đường Việt Bắc của ta

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng".

a Tìm hiểu đề:

-GV gợi mở vấn đề: Khi tìm hiểu đề

trong đề bài này, ta cần xác định những

* Thân bài: Phân tích ND tư tưởng

và nghệ thuật.

- Vẻ đẹp của đêm trăng khuya nơi núirừng Việt Bắc được miêu tả hết sứcthơ mộng

+ Sử dụng thủ pháp so sánh: tiếngsuối/ tiếng hát -> mới mẻ, gần gũi,đầy sức sống

+ Điệp từ " lồng": tạo lên một hìnhảnh vừa lung linh vừa huyền ảo

- Tâm trạng của nhân vật trữ tình: hoàtâm hồn mình với thiên nhiên; mộtlòng thao thức, không ngủ vì lo chovận mệnh của dân tộc

- Bài thơ vừa có tính chất cổ điển vừahiện đại

+ Cổ điển: thể thơ, hình ảnh thiênnhiên, bút pháp miêu tả thiên nhiên + Hiện đại: hình tượng nhân vật trữtình: thi sĩ - chiến sĩ

- Nhận định chung: Bài thơ là một bứctranh thiên nhiên thật đẹp song đẹphơn cả chính là chân dung của Bác, vịlãnh tụ vô vàn kính yêu của chúng ta

- Nội dung: Đoạn thơ miêu tả khí thế

ra trận của nhân dân ta trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp

- Nghệ thuật: Đây là một đoạn thơhay, đạt được những giá trị nghệ thuật

Ngày đăng: 18/07/2015, 12:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh thơ vừa hào hùng, vừa lãng mạn, - Sáng kiến kinh nghiệm  RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT  LỚP 12.
nh ảnh thơ vừa hào hùng, vừa lãng mạn, (Trang 37)
Hình ảnh dân tộc VN anh hùng trong cuộc - Sáng kiến kinh nghiệm  RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT  LỚP 12.
nh ảnh dân tộc VN anh hùng trong cuộc (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w