1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11

44 1,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong những năm gần đây, việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được cả xã hội quan tâm. Theo tinh thần Nghị quyết 29 NQTƯ về việc việc đối mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thì phương pháp dạy học văn cũng cần phải thay đổi để theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong những vấn đề ưu tiên hiện nay. Thêm nữa, nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI có nêu rõ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo như sau: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”. Theo quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học trên thì phát triển năng lực của người học được coi là mục tiêu quan trọng và được cần được coi trọng.Mặt khác, khái niệm năng lực ở đây được hiểu là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng và mong muốn của người học. Như vậy, việc liên hệ kiến thức lịch sử vào việc đọc hiểu tác phẩm văn học cũng là biện pháp cần thiết, đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới giáo dục, đặc biệt đối với bộ môn Ngữ văn. Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn luôn được ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà muốn nghiên cứu một tác phẩm văn chương cụ thể chúng ta lại tìm đến bối cảnh mà nó ra đời. Trong phương pháp dạy học văn gọi đó là “quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh hay là sự vận động một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản để cắt nghĩa tác phẩm”. Bên cạnh đó, đặt trong giai đoạn đất nước như hiện nay, khi mà những giá trị sống của con người đều bị “lung lay” trong “cơn bão” của quá trình hội nhập, nhiệm vụ giáo dục qua môn Ngữ văn lại càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Đó có thể là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông…và hơn thế nữa bồi dưỡng cho HS tình yêu đối với lịch sử dân tộc. Nhìn lại thực tế dạy học tác phẩm văn học trung đại lớp 11 thì thấy rằng cả GV và HS – cả người định hướng và người chủ động khám phá kiến thức đều hiểu biết chưa nhiều về lịch sử phát sinh của tác phẩm văn học trung đại hoặc ít nhiều chưa nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của nó đối với quá trình tìm hiểu, khám phá kiến thức mới. Cộng thêm việc thiếu những hình ảnh trực quan cũng như những thước phim tư liệu liên quan đến nội dung bài học đã là những nguyên nhân và là rào cản để cả người dạy và người học có thể hiểu sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm văn học trung đại – những tác phẩm có khoảng cách khá xa với chúng ta về thời gian lịch sử. Từ những nhu cầu đổi mới giáo dục cấp thiết cùng thực tế dạy học với những đòi hòi khách quan và chủ quan ấy đã thôi thúc tôi thực hiện đề tài: “Tích hợp kiến thức lịch sử vào giảng dạy tác phẩm văn học trung đại lớp 11”. II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: 1. Cơ sở lí luận: 1.1 Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường: Trước khi tìm hiểu một tác phẩm văn học bất kì cũng cần xác định phương pháp, quan điểm tiếp cận đồng bộ, rõ ràng và đúng đắn. Đặc biệt đối với những tác phẩm thuộc bộ phận văn học trung đại Việt Nam được coi là khó dạy hay và xa lạ với tâm lí tiếp nhận của người học. Hiện nay, quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường là một xu hướng tiến bộ. Nó vừa đảm bảo được phương pháp lịch sử phát sinh, vừa chú trọng được tác giả, tác phẩm, đồng thời chú trọng đến vai trò tích cực của người học. Một trong những đặc điểm chính của quan niệm tiếp cận đồng bộ là quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh và sự vận dụng một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (XH, văn hoá, nhà văn...) để cắt nghĩa tác phẩm.

Trang 1

TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC

PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong những năm gần đây, việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạođược cả xã hội quan tâm Theo tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về việc việc đốimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thì phương pháp dạy học văn cũng cần

phải thay đổi để theo kịp yêu cầu của thực tiễn Dạy học theo hướng “tích hợp,

liên môn” là một trong những vấn đề ưu tiên hiện nay

Thêm nữa, nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI có nêu rõ về đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo như sau: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương

pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Theo quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học trên thì phát triển năng

lực của người học được coi là mục tiêu quan trọng và được cần được coi trọng.Mặt

khác, khái niệm năng lực ở đây được hiểu là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả

năng và mong muốn của người học Như vậy, việc liên hệ kiến thức lịch sử vào

việc đọc hiểu tác phẩm văn học cũng là biện pháp cần thiết, đáp ứng yêu cầu củaquá trình đổi mới giáo dục, đặc biệt đối với bộ môn Ngữ văn

Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn luôn được ra đời trongnhững bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thôngqua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm Cho nên, không phải ngẫu nhiên màmuốn nghiên cứu một tác phẩm văn chương cụ thể chúng ta lại tìm đến bối cảnh

mà nó ra đời Trong phương pháp dạy học văn gọi đó là “quan điểm tiếp cận lịch

sử phát sinh hay là sự vận động một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản

để cắt nghĩa tác phẩm”.

Bên cạnh đó, đặt trong giai đoạn đất nước như hiện nay, khi mà những giá trịsống của con người đều bị “lung lay” trong “cơn bão” của quá trình hội nhập,nhiệm vụ giáo dục qua môn Ngữ văn lại càng được quan tâm hơn bao giờ hết Đó

có thể là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốcgia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo

vệ môi trường, an toàn giao thông…và hơn thế nữa bồi dưỡng cho HS tình yêu đốivới lịch sử dân tộc

Trang 2

Nhìn lại thực tế dạy học tác phẩm văn học trung đại lớp 11 thì thấy rằng cả

GV và HS – cả người định hướng và người chủ động khám phá kiến thức đều hiểubiết chưa nhiều về lịch sử phát sinh của tác phẩm văn học trung đại hoặc ít nhiềuchưa nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của nó đối với quá trình tìm hiểu,khám phá kiến thức mới Cộng thêm việc thiếu những hình ảnh trực quan cũng nhưnhững thước phim tư liệu liên quan đến nội dung bài học đã là những nguyên nhân

và là rào cản để cả người dạy và người học có thể hiểu sâu sắc giá trị nội dung vànghệ thuật của những tác phẩm văn học trung đại – những tác phẩm có khoảngcách khá xa với chúng ta về thời gian lịch sử

Từ những nhu cầu đổi mới giáo dục cấp thiết cùng thực tế dạy học với nhữngđòi hòi khách quan và chủ quan ấy đã thôi thúc tôi thực hiện đề tài: “Tích hợp kiếnthức lịch sử vào giảng dạy tác phẩm văn học trung đại lớp 11”

II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:

1 Cơ sở lí luận:

1.1 Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường:

Trước khi tìm hiểu một tác phẩm văn học bất kì cũng cần xác định phươngpháp, quan điểm tiếp cận đồng bộ, rõ ràng và đúng đắn Đặc biệt đối với những tácphẩm thuộc bộ phận văn học trung đại Việt Nam được coi là khó dạy hay và xa lạvới tâm lí tiếp nhận của người học Hiện nay, quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩmvăn chương trong nhà trường là một xu hướng tiến bộ Nó vừa đảm bảo đượcphương pháp lịch sử phát sinh, vừa chú trọng được tác giả, tác phẩm, đồng thờichú trọng đến vai trò tích cực của người học Một trong những đặc điểm chính củaquan niệm tiếp cận đồng bộ là quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh và sự vận dụngmột cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản (XH, văn hoá, nhà văn ) để cắtnghĩa tác phẩm

1.1.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh:

Theo quan điểm này, mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch

sử và đều chịu sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử Mỗinhà văn đều cókhuynhhướng khẳng định tài năng và nhân cách riêng, khẳng định vị thếcuả mìnhtrong dòng chảy văn học Do vậy, việc nghiên cứu văn học phải dựa vào lịch sử là

một tất yếu Ví dụ, tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi phải đặt trong hoàn cảnh chống giặc Minh xâm lược hay khi tiếp nhận tác phẩm Bạch Đằng

giang phú của Trương Hán Siêu phải đặt trong hoàn cảnh chống quân

Mông-Nguyên sôi sục của quân dân đời Trần thì mới hiểu sâu sắc giá trị của tác phẩm vàđồng cảm với tác giả, hiểu được hào khí của thời đại và thế đứng của dân tộc Nỗiniềm băn khoăn, hoài nghi, bất bình của Cao Bá Quát, nỗi uất nghẹn sôi trào của

Trang 3

Nguyễn Đình Chiểu, nỗi suy tư sâu lắng của Nguyễn Khuyến đều có nguồn gốcsâu xa từ bối cảnh văn hóa, lịch sử của thời đại.

1.1.2 Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh:

Theo phương pháp dạy học văn hiện đại, HS là một chủ thể sáng tạo đa dạng,phong phú Để chủ thể ấy phát huy được tối đa khả năng tiếp cận, lĩnh hội văn bảnvăn học nói chung và tác phẩm văn học trung đại nói riêng thì cần có một kênhthông tin, một cây cầu nối bằng văn hóa và lịch sử để có sự đối thoại, cuộc gặp gỡgiữa những giá trị của một thời với tâm lí tiếp nhận của người học hiện nay Mỗitác phẩm văn chương không chỉ truyền cho HS những thông điệp mà nhà văn, nhàthơ gửi gắm mà còn truyền cho các em một niềm tin thực sự dựa trên cơ sở có thật

mà cái thật đó không gì khác ngoài lịch sử Khi đã hiểu về lịch sử, các em sẽ cảmnhận và tin vào những thông điệp mà các tác giả gửi gắm, sẽ không còn cảm giác

“chơi vơi”, mơ hồ, sáo rỗng về những tác phẩm xưa cũ Khi đó, HS sẽ là người tiếpnhận tác phẩm văn học vừa là người đồng sáng tạo với tác giả nếu được đặt mìnhtrong không gian văn hóa và thời gian lịch sử mà tác phẩm đó ra đời

Như vậy, quan điểm tiếp cận trên là thực sự cần thiết đối với thực tế giảng dạycác tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường Nó đã rút gần hơn khoảng cáchgiữa HS với nhữngtác phẩm này, để chúng không còn xa lạ, vô nghĩa và khắc phụctâm lí chán nản, hoài nghi về giá trị của những tác phẩm thuộc thời đại cũ

1.2 Mối quan hệ giữa văn học và lịch sử:

1.2.1 Mối quan hệ hai chiều giữa văn học và lịch sử:

Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn ra đời trong những bối cảnh lịch

sử xã hội, văn hoá cụ thể Mỗi tác phẩm văn học – đứa con tinh thần của mỗi nhà văn, nhà thơ lại được thai nghén, ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định Nếu khôngđặt trong môi trường sinh thành thì không thể có cơ sở để khẳng định hay ngợi ca

về những giá trị hiện thực, nhân đạo mà nó thể hiện

Văn học là lăng kính phản chiếu lịch sử và hoàn cảnh lịch sử sẽ là đối tượng, là bối cảnh sản sinh ra văn học Và nhà thơ, nhà văn đóng vai trò là “người thư kí trung thành của thời đại” (Balzac) Bởi thế, không phải ngẫu nhiên khi đánh giá sự nghiệp thi ca của

Tố Hữu, người đọc thấy ở đó chặng đường thơ gắn liền với chặng đường cách mạng của dân tộc, hay xa hơn nữa là thơ văn Nguyễn Đình Chiểu được ngợi ca là “ghi lại lịch sử

của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại" của dân tộc (Phạm Văn Đồng- Nguyễn Đình

Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, tạp chí văn học 7- 1963).Tuy

nhiên, văn học không phản ánh lịch sử một cách khô cứng, gượng ép mà rất hìnhtượng và mang màu sắc thẩm mĩ Như vậy, ở phương diện nào đó, lịch sử là chất

Trang 4

liệu, là đối tượng phản ánh của văn học và lịch sử soi mình trong văn học để mãilung linh trong tâm hồn mỗi con người.

1.2.2 Điểm đồng quy giữa bộ môn Lịch sử và Ngữ văn:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường

gốc tích nước nhà Việt Nam” “Biết sử ta” không phải chỉ đơn thuần là ghi nhớ

một số sự kiện, một vài chiến công nói lên tiến trình đi lên của dân tộc hay ghi nhớcông lao của những người làm nên sự nghiệp to lớn đó, mà còn phải biết tìm hiểu

“cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức,

của đạo lý làm người Việt Nam

Mặt khác, nhà văn M.Gook-ki thật chí lí khi đã cho rằng: “Văn học là nhân

học” Câu nói là sự đúc kết tuyệt vời từ cuộc đời cầm bút của ông Qua đó có thể

thấy ý nghĩa của việc học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn con người và đồng thờicũng là để học cách làm người Cái cách học làm người ấy có gì khác ngoài nhữnggiá trị đạo đức, những truyền thống đạo lí của người Việt Nam được bồi đắp quabao thế hệ Thì ra, đây chính là điểm gặp gỡ đẹp đẽ giữa giá trị giáo dục của bộmôn văn học và bộ môn lịch sử

Như vậy, có điểm đồng quy giữa văn học và lịch sử: đó là giá trị giáo dục conngười Cả hai môn học đều hướng đến giáo dục đạo đức, tình yêu đất nước, conngười , lòng tự hào dân tộc, và ý thức bảo vệ tổ quốc Có điều, mỗi môn học lại cócon đường - hành trình riêng để đi đến nhận thức và trái tim của người học Nếulịch sử phản ánh đời sống, quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đất nước,dân tộc bằng những cứ liệu lịch sử, những chuyện xưa, tích cũ trong quá khứ thìvăn học lại phản ánh những điều đó thông qua những hình tượng nghệ thuật độcđáo và dấy lên trong lòng người học những cảm xúc thẩm mĩ cao đẹp

2 Cơ sở thực tiễn:

2.1 Thực tiễn giảng dạy những tác phẩm văn học trung đại:

Văn học trung đại là một thời kì lớn trong lịch sử văn học nhân loại và văn họcViệt Nam đồng thời cũng là một trong hai bộ phận lớn của văn học bên cạnh vănhọc cổ đại và văn học hiện đại Văn học trung đại Việt Nam là một thời kì pháttriển rất phong phú và kéo dài suốt mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX) và đãđạt được nhiều thành tựu to lớn và đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, HồXuân Hương…

Nhìn lại SGK lớp 11, những tác phẩm văn học trung đại chiếm một số lượngkhông nhỏ Việc dạy cho hay, hiểu cho đúng những tác phẩm này vẫn là thách thức

Trang 5

và mục tiêu phấn đấu của mỗi GV và HS Bởi lẽ trong qua trình tiếp nhận cả GV

và HS gặp nhiều khó khăn cơ bản như:

Thứ nhất là vấn đề ngôn ngữ Cả GV và HS hầu như chỉ tiếp nhận tác phẩmthông qua các bản dịch nghĩa và dịch thơ Do đó việc hiểu sai hoặc chưa đầy đủcác lớp nội dung, ý nghĩa cũng như vẻ đẹp nghệ thuật của các tác phẩm rất hay xảyra

Thứ hai, rất nhiều tác phẩm văn học trung đại là những văn bản “hành chức”,được sáng tác theo các thể loại mang tính chức năng như chiếu, cáo, hịch, văn tếnên ít gây hứng thú đối với HS ngày nay

Thứ ba, những tác phẩm văn học thời kì này đã trở nên cũ kĩ và xa lạ với tâm lítiếp nhận của HS ngày nay Ngoài ra việc vận dụng về sự phát triển của lịch sử xãhội góp phần vào việc lí giải các tác phẩm văn học thời kì này cũng gặp rất nhiềukhó khăn, nhất là các sự kiện lịch sử cụ thể liên quan đến sự ra đời của các tácphẩm văn học

Từ thực tiễn trên, đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp liên hệ kiến

thức lịch sử vào giảng dạy tác phẩm văn học trung đại lớp 11” sẽ góp phần khắc

phục khó khăn thứ ba, kéo HS gần hơn với những tác phẩm đã ra đời rất lâu so vớithời đại các em sống

2.2 Những hướng đề xuất trong việc giảng dạy tác phẩm văn học trung đại:

Vì còn nhiều bất cập trong việc giảng dạy tác phẩm văn học trung đại nên cũng

có nhiều ý kiến trao đổi, những hướng đề xuất để việc tiếp nhận những tác phẩmthời kì này như:

Cô Nguyễn Thị Hiểu – GV trường THPT Lệ Thủy, Quảng Bình trong bài viết

“Một vài đề xuất hướng tiếp cận và giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình THPT” có nhấn mạnh: khi giảng dạy các tác phẩm văn chương

trung đại, giáo viên phải dựng lại được không khí văn hóa, lịch sử của thời đại,phải tạo được sự đồng cảm về văn hóa, văn học; giảng dạy văn học trung đại phảidựa trên thi pháp văn chương trung đại, phải bám sát đặc trưng thể loại, phải đặttrong mối liên hệ với cuộc sống thực tại hôm nay

Theo kinh nghiệm của mình, cô Trần Thị Hoa– Giáo viên Trường THPT Thái

Hòa (Hàm Yên, Tuyên Quang) có chia sẻ: “ trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy

việc tham khảo tài liệu từ các lĩnh vực khác có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ Tài liệu tham khảo giúp người học xây dựng được

tầm đón nhận phù hợp với văn bản”,cụ thể là: sử dụng tài liệu liên môn,sử dụng

tư liệu lịch sử, sử dụng tư liệu về các tác phẩm nghệ thuật, sử dụng tài liệu địa

Trang 6

trên chỉ ra cái nhìn bao quát mang tính phương pháp chứ chưa có biện pháp

đi vào cụ thể từng bài, từng nội dung kiến thức.

Còn tác giả Trương Thị Minh Hà trong sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện

pháp dạy học văn bản nghị luận, văn học trung đại ở trường THPT” lại chỉ chú

trọng đến những tác phẩm thuộc văn nghị luận và phương pháp tích hợp ngang

(Văn-Tiếng Việt-Làm văn), tích hợp dọc(tích hợp theo từng vấn đề) và không bao

quát hết kiến thức văn học trung đại lớp 11.

Tác giả Trần Minh Thương lại đề xuất “Hướng tích hợp những kiến thức liên quan giữa hai phân môn lịch sử và ngữ văn ở trường THPT” song hướng

tích hợp rộng, bao quát cả tác phẩm văn học lớp 10,11,12, cả tác phẩm văn học Việt Nam và tác phẩm văn học nước ngoài mà chưa chỉ ra tích hợp chỗ nào và tích hợp như thế nào trong những tác phẩm văn học trung đại lớp 11 Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu, những đề xuất, sáng kiến đều chỉ nêu chung chung mà chưa đi vào cụ thể vào liên hệ kiến thức lịch sử trong việc giảng dạy những tác phẩm văn học trung đại lớp 11 Vì vậy, để khắc phục điều đó, đề tài này sẽ tìm những địa chỉ liên hệ và đề xuất những biện pháp liên hệ

kiến thức lịch sử để góp phần hiệu quả vào việc giảng dạy tác phẩm văn học trungđại lớp 11

III NỘI DUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP LIÊN HỆ KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11

1 Xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp kiến thức lịch sử vào phần hướng dẫn chuẩn bị bài cho HS

Bước chuẩn bị bài ở nhà của HS là một khâu bước rất quan trọng trong tiếntrình giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm văn học trung đại nóiriêng Sở dĩ nó quan trọng là bởi, nếu không chuẩn bị bài ở nhà dưới sự hướng dẫncủa GV thì sẽ cản trở việc HS cảm thụ tác phẩm ở trên lớp Hơn nữa, HS tự mìnhđược trước bài văn dễ có những ấn tượng sai lạc ban đầu Tuy nhiên nhìn lại thực

tế giảng dạy, tôi nhận thấy khâu chuẩn bị ở nhà của HS thường bị coi nhẹ, GVphần nào không hướng dẫn cụ thể cho học sinh Mấy phút còn lại cuối cùng củagiờ học, GV dặn HS soạn những câu hỏi trong sách giáo khoa và kết quả HS chuẩn

bị đến đâu lại ít được quan tâm

Nội dung công việc chuẩn bị ở nhà của HS có nhiều mặt, đa dạng Có thể là tậpđọc tìm hiểu điển cố, từ ngữ khó, suy nghĩ về một chi tiết nghệ thuật, một kiếnthức cụ thể cần thiết có liên quan đến việc tiếp nhận tác phẩm Phần lớn những câuhỏi hướng dẫn HS chuẩn bị bài thường tập trung, xoay quanh kiến thức văn học,kiến thức trong SGK mà ít tận dụng những kiến thức ngoài SGK, ngoài môn họcnhư lịch sử để khám phá và hiểu sâu hơn về tác phẩm – điều mà rất cần đối với quátrình đọc hiểu văn bản văn học trung đại Trong một phạm vi nhỏ, đề tài hướng đếnbiện pháp “Xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp kiến thức lịch sử vào phần hướng

Trang 7

dẫn chuẩn bị bài cho HS” Tất nhiên không phải bất kì tác phẩm tác phẩm văn họctrung đại nào trong quá trình tìm hiểu cũng có thể được liên hệ kiến thức lịch sử ởmức độ như nhau GV phải tìm hiểu kĩ tác phẩm, sau đó đặt những câu hỏi thật sátvới nội dung bài học, tận dụng tối đa những hiểu biết ngoài tác phẩm của HS vừa

để các em có cái nhìn tin cậy hơn, đúng hơn về tác phẩm, vừa tránh tình trạng tảnmạn trong kiến thức của mình Dưới đây làgợi ý trong việc xây dựng hệ thống câuhỏi tích hợp kiến thức lịch sử trong một số tác phẩm văn học trung đại 11 tiêu biểu:

* Trước hết là văn bản Vào phủ chúa Trịnh trích Thượng kinh kí sự của Lê

Hữu Trác Đây là văn bản thuộc thể loại kí sự - một thể kí, ghi chép sự việc, câuchuyện có thật và tương đối hoàn chỉnh Có thể thấy qua đoạn trích này một cáinhìn chân thực, hài hước, mỉa mai, bất bình của tác giả về lối sống xa hoa, lãng phí

và biểu hiện lộng quyền của chúa Trịnh Để HS đọc hiểu tốt văn bản này, GV nênđặt những câu hỏi hướng các em đến những sự kiện lịch sử trong thời gian mà vănbản ra đời

- Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh tríchThượng kinh kí sự của tác giả Lê Hữu

Trác được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

- Tác phẩm Thượng kinh kí sự của tác giả Lê Hữu Trác được hoàn thành vào

năm 1783 Bằng những kiến thức lịch sử ở lớp 10 đã học, em hãy cho biết vào thờiđiểm đó, nền chính trị nước ta có gì đáng chú ý? Em biết gì về mối quan hệ giữachính quyền Lê- Trịnh?

- Cũng vào thời điểm đó, đời sống nhân dân như thế nào dưới sự trị vì của chúaTrịnh?

- Hình ảnh nào trong SGK lịch sử 10 cho em thấy sự lộng hành, tiếm quyền cảcung vua Lê của chúa Trịnh?

* Đối với bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, tưởng chừng như không cần

có sự liên hệ kiến thức lịch sử thì tâm sự thời thế của nhà thơ ở hai câu cuối và hồnthu đẹp nhưng có phần lạnh lẽo, cô quạnh ở sáu câu trước đó lại cần tìm về bốicảnh lịch sử những năm cuối thế kỉ XIX thì mới có thể cắt nghĩa, lí giải được

- Nhà thơ Nguyễn Khuyến sáng tác bài thơ Thu điếu trong hoàn cảnh nào?

- Vì sao Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn?

- Trong thời gian khoảng thời gian và sau khi ông cáo quan về ở ẩn tại quê nhà(1872-1883), lịch sử Việt Nam có những biến động gì đáng chú ý?

* Bài Vịnh khoa thi Hương (có bản ghi là Lễ xướng danh khoa thi Đinh dậu)

Trang 8

hiện thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời và đốivới con đường khoa cử của riêng ông Qua bài thơ này, tác giả vẽ nên một phầnhiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội thực dân nửa phong kiến buổi đầu, đồngthời nói lên tâm sự của mình trước tình cảnh đất nước Bài thơ gắn liền với một sựkiện lịch sử đương thời có thật cho nên không lẽ gì khi tìm hiểu tác phẩm này HS

lại không quan tâm đến lịch sử Những thông tin trong SGK, cả về phần Tiểu dẫn

và phần Chú thích cũng không thể cung cấp hết cái nhìn thời sự đối với tác phẩm này Vả lại, Vịnh khoa thi Hương chỉ được đưa vào chương trình với tư cách là bài

đọc thêm, thời lượng rất ít, nên việc HS chuẩn bị bài ở nhà qua những câu hỏihướng dẫn liên hệ của GV ở tiết học trước là rất cần thiết GV có thể đặt một sốcâu hỏi để HS tự liên hệ, tìm hiểu như:

- Em hãy nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế

Xương?

- Kì thi Hương được Trần Tế Xương phản ánh trong bài thơ diễn ra vào nămnào?

- Câu thơ “Nhà nước ba năm mở một khoa” trong bài thông báo điều gì? Em

biết gì về cách thức tổ chức các kì thi và chính sách phát triển giáo dục dưới chế độphong kiến triều Nguyễn? (gợi ý: thi Hương, thi Hội, thi Đình)

- Câu thơ thứ hai “Trường Nam thi lẫn với trường Hà” đã cho thấy kì thi có gì

đặc biệt? Vì sao có sự đặc biệt đó?

- Tại sao trong lễ xướng danh khoa thi Đinh dậu lại có sự xuất hiện của “quansứ” và “mụ đầm”?

* Một tác phẩm cùng viết về đề tài “thi cử” khác trong chương trình là Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát (1809 ?-1855) Bài thơ biểu lộ tinh thần phê

phán của ông đối với học thuật và sự bảo thủ, trì trệ của chế độ nhà Nguyễn nóichung Có thể thấy Cao Bá Quát sống cùng thế kỉ và cùng dưới triều Nguyễn vớiNguyễn Công Trứ nên cái nhìn của hai con người có tài năng, nhân cách và tư

tưởng canh tân ít nhiều có sự tương đồng Vì thế, khi dạy bài Bài ca ngắn đi trên

bãi cát, GV có thể đặt một số câu hỏi liên hệ kiến thức lịch sử tương tự:

- BàiBài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát được sáng tác trong hoàn

cảnh nào?

- Tại sao Cao Bá Quát lại vào trong Huế để tham gia kì thi Hội?

- Điều gì khiến cho Cao Bá Quát có thái độ chán ghét, quay lưng với nền họcthuật và khoa cử đương thời?

Trang 9

- Nhìn vào lịch sử nước ta lúc đó, lúc đó có nhiều cuộc tiếp xúc với phươngTây, liệu đó có phải là yếu tố tác động đến tư tưởng và tâm trạng của Cao Bá Quátđược thể hiện trong bài thơ này không?

- Trong SGK lịch sử 10, bài 26, Tình hình xã hội ở nửa đầu thế kỉ XIX và

phong trào đấu tranh của nhân dân giúp em hiểu thêm được điều gì về cuộc đời và

con người Cao Bá Quát?

* Bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Bài Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong những tác phẩm đầu tiên

của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX Tác phẩm này cho dù làbài đọc thêm nhưng cả GV và HS không thể tiếp cận được nếu không phân tíchhoàn cảnh lịch sử ra đời của nó Ở bài thơ này, GV đặt một số câu hỏi cho HS vềnhà chuẩn bị để rút ngắn thời gian trên lớp trong việc cảm nhận bài thơ

- Em hãy cho biết hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình

Chiểu có gì đặc biệt?

- Trong SGK lịch sử 11, bài Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

(1858-1884) đã ghi nhận bối cảnh lịch sử - thời điểm bài thơ Chạy giặc ra đời như

thế nào?

- Em biết gì về địa danh Bến Nghé và Đồng Nai? Trong SGK lịch sử 11, bài

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884) cho em biết thêm

điều gì về những địa danh này?

* Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài văn Nguyễn Đình Chiểu viết theo yêu

cầu của Đỗ Quang – tuần phủ Gia Định, để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trậntập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc đêm 16-2-1861 Vậy điều gì đã khiến bài vănnày ngay lập tức được truyền tụng khắp nơi trong nước và làm xúc động lòngngười? Đó là bởi nó đặt trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược (1858-1884) đang diễn ra sôi sục, liên tiếp những cuộc khởi nghĩa nôngdân nổ ra và đã đạt những chiến thắng nhất định Đặt trong bối cảnh khi toàn dântộc đang quyết một lòng “chết vinh còn hơn sống nhục”, sự hi sinh vì đại nghĩa củanhững nghĩa sĩ trong trận Cần Giuộc lại có sức mạnh cổ vũ và khích lệ to lớn Vìvậy, ở bài văn tế này, GV có thể đặt một số câu hỏi liên hệ lịch sử cho HS như:

- Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu được ra đời trong

hoàn cảnh nào?

- Bài văn tế ra đời giữa thời điểm các phong trào đấu tranh chống thực dânPháp xâm lược diễn ra như thế nào?

Trang 10

- Em hiểu như thế nào về “mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm”? Hãy tìm trong SGK lịch sử 11, bài Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-

1884) những cứ liệu lịch sử nói về việc thực dân Pháp đã xuất hiện và lăm le xâm

lược nước ta?

* Bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm (1746-1803)

Chiếu cầu hiền của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết thay vào khoảng

1788 – 1789, nhằm thuyết phục sĩ phu Bắc Hà, tức các trí thức của triều đại cũ

(Lê-Trịnh) ra cộng tác với triều đại Tây Sơn Tác phẩm Chiếu cầu hiền được sáng

tác trong một hoàn cảnh đặc biệt Phải đặt tác phẩm trong hoàn cảnh ra đời mớithấy được tính cấp bách của nó Để HS tìm hiểu tốt hơn bài học này, GV có thể đặtcâu hỏi hướng dẫn tự học như:

- Bài Chiếu cầu hiền do Ngô Thì Nhậm viết được ra đời vào năm nào?

- Bối cảnh lịch sử nước ta lúc đó ra sao?

- Tại sao những sĩ phu Bắc Hà lại có tâm lí kiêng dè không ra gánh vác việcnước?

- Liệu có phải Quang Trung kém tài, ít đức nên chưa có người phò tá không?

Vì sao?

- Vì sao Quang Trung lại cho rằng “công việc ngoài biên đương phải lo toan”,

“dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hóa của trẫm chưa kịp thấm nhuần khắp nơi”?

* Bài Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871)

Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ cũng được ra đời trong bối cảnh sự

thúc bách của thời đại, đặt trong bối cảnh trào lưu cải cách, duy tân ở Việt Namtrong những năm cuối thế kỉ XIX Ở bài này, GV đặt một số câu hỏi giúp HS kết

nối kiến thức của phần Tiểu dẫn và kiến thức lịch sử lớp 11, bài 35 như:

- Bài Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ được ra đời trong hoàn cảnh

nào?

- Đoạn trích Xin lập khoa luật được ra đời trong bối cảnh chính trị đất nước

dưới triều Tự Đức như thế nào?

- Bài 35, trong SGK lịch sử lớp 11, giúp em hiểu thêm điều gì về tư tưởng canhtân và tác giả của bản điều trần này?

Trang 11

Trong quá trình xây dựng hệ thống câu hỏi có liên hệ kiến thức lịch sử, GV cầnlưu ý những điểm sau đây:

Thứ nhất là có thể đặt câu hỏi gợi nhắc lại kiến thức lịch sử mà HS đã tìm hiểuhiểu ở lớp dưới (lớp 10), cũng có thể đặt câu hỏi để các em tìm kiếm kiến thức mớichưa học bởi chương trình của bộ môn Ngữ văn chưa có sự tương thích về mặt thờigian với chương trình môn học Lịch sử

Thứ hai là cần lựa chọn những câu hỏi thực sự có ý nghĩa trong cả việc khaithác kiến thức bài học Ngữ văn vừa nhắc lại kiến thức lịch sử mà HS đã học theophương pháp “ôn cố tri tân”

Thứ ba là đối với những bài có dung lượng câu hỏi tích hợp nhiều, GV nên sửdụng phiếu học tập dưới dạng bài tập về nhà để HS tiết kiệm thời gian ghi chép câuhỏi trên lớp mà GV cũng giảm bớt khó khăn trong việc kiểm tra việc tự học, tự liên

HS ngay trong lời dẫn vào bài

Trước hết cần nhận thức rằng: lời dẫn vào bài cũng đóng vai trò quan trọngtrong tiến trình của một giờ dạy văn, và đặc biệt đối với những tác phẩm văn học

trung đại vốn được cho là khó, khô Có GV dùng lời dẫn vào bài để chuyển tiếp từ

bài cũ sang bài mới, có người mở đầu bằng lời giới thiệu tác giả, tác phẩm, cóngười kiểm tra bài cũ, có người đọc diễn cảm ngay Nhưng dù chọn cho mình cáchnào GV cũng cần lưu ý phải khơi gợi sự hứng thú cho HS đồng thời tạo tâm thếcho các em trong việc tiếp nhận tác phẩm

Không phải tác phẩm văn học trung đại nào cũng sẵn có một nguồn hình ảnh,thước phim tư liệu để minh họa, bởi do những hạn chế kĩ thuật của thời đại Cànglùi về lịch sử thì điều đó càng hiếm có, có chăng cũng chỉ là sự minh họa bằngtranh vẽ nên ít nhiều có sự dung sai Vì vậy, đối với những tác phẩm văn học trungđại không có nhiều hoặc không có hình ảnh lịch sử minh họa thì GV nên chọn cáchdẫn dắt vào bài đồng thời tích hợp kiến thức lịch sử mà các em đã học hoặc đã tựtìm hiểu để tạo ấn tượng mạnh trong phần giới thiệu bài học Ví dụ những bài như

Trang 12

Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Thương vợ của Trần Tế Xương,Xin lập khoa Luật

của Nguyễn Trường Tộ Cụ thể như sau:

- Ở bài thơ Câu cá mùa thu, GV bắt đầu tiết học bằng lời dẫn:

“Sau phát súng xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp tại bán đảo Sơn Trà, ĐàNẵng, lần lượt ba tỉnh miền Đông (1862), rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kì (1867) bịrơi vào tay giặc trước sự bất lực, nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn Chỉ trongkhông đầy 1 năm, triều đình nhà Nguyễn đã phải kí 2 bản Hiệp ước Hác măng(1883) và Hiệp ước Patơnốt (1884) Trước thời buổi nhiễu nhương trong triều, một

vị đại quan trong triều đã từ quan về ở ẩn tại quê nhà, với cảnh quê người quênhững vẫn đau đáu, trăn trở về thời cuộc mà bất lực Vị đại quan ấy không ai khácchính là nhà thơ Nguyễn Khuyến Tâm sự về thời cuộc mà ẩn chứa lòng yêu nước

kín đáo của ông được thể hiện trong bài thơ Câu cá mùa thu mà hôm nay chúng ta

sẽ cùng tìm hiểu.”

- Ở bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương, GV có thể dẫn vào bài như:

“Trong nửa sau của thế kỉ XIX, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạngkhủng hoảng nghiêm trọng, tài chính cạn kiệt Để đối phó với tình hình đó, triềuđình nhà Nguyễn tăng cường bóc lột nhân dân, thậm chí áp dụng cả những biệnpháp tiêu cực như: cho nộp tiền chuộc tội, cho buôn bán thuốc phiện, cho muaquan, bán tước để thu tiền Chế độ khoa cử cũ kĩ lỗi thời cùng với nạn mua quanbán tước diễn ra công khai, trắng trợn đã khiến những người có thực tài, thực học

như Trần Tế Xương tám lần đi thi nhưng chỉ một lần đỗ tú tài Đó có phải là thói

đời bạc bẽo đã khiến cho bà Tú phải khổ mà ông cất lên tiếng chửi trong bài thơ Thương vợ Điều đó sẽ được trả lời trong tiết học hôm nay.”

- Ở bài Xin lập khoa Luật của Nguyễn Trường Tộ , GV cũng có thể liên hệ kiến

thức lịch sử trong lời dẫn vào bài:

“Trong nửa sau thế kỉ XIX, bộ máy chính quyền triều Nguyễn từ trung ươngđến địa phương trở nên sâu mọt; địa chủ cường hào tha hồ đục khoét, nhũng nhiễudân lành Những năm trước khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất, ở nước ta đã rộ lênmột phong trào đề nghị cải cách Một trong số những người đi đầu phong trào đó làNguyễn Trường Tộ Chính tình trạng trì trệ, bảo thủ và suy yếu nghiêm trọng củatriều đình phong kiến nhà Nguyễn trước sự xâm lược của thực dân Pháp đã thôithúc ông đề xuất việc lập khoa Luật cho đất nước Tầm nhìn xa trông rộng và tưtưởng tiến bộ của ông sẽ là điều mà chúng ta tìm hiểu trong tiết học hôm nay qua

bài “Xin lập khoa Luật.”

Một kinh nghiệm rút ra trong việc liên hệ kiến thức lịch sử vào phần giới thiệubài học là GV nên đặt các thông tin về lịch sử lên trước sau đó kết nối thông tin đó

Trang 13

với nội dung bài học có liên quan Và nên lưu ý, không nên gượng ép trong việcliên hệ vì nếu việc liên hệ mang tính chất khiên cưỡng không những không giúp

HS hiểu thêm về lịch sử mà còn làm mất hứng thú, không đáp ứng được sự chờ

đợi của các em trước một giờ học văn.

3 Liên hệ kiến thức lịch sử thông qua những hình ảnh minh họa trong phần Đọc- hiểu

Trong việc đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại, ngoài nhưng nội dung thôngtin trong và ngoài văn bản thì việc giới thiệu và cung cấp cho HS những hình ảnh

minh họa cũng không kém phần quan trọng Bởi “trăm nghe không bằng một

thấy”, phải “đích mục sở thị” mới củng cố thêm niềm tin, giúp các em hình dung

và có những cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm

GV nên bổ sung hình ảnh tư liệu thuộc lĩnh vực lịch sử vào bài giảng để HS cóvốn tri thức rộng khi tiếp nhận Hơn nữa, HS tiếp nhận kiến thức qua tranh ảnh,hình ảnh trực quan kết hợp với SGK và các tài liệu tham khảo sẽ nhớ lâu và hứngthú hơn Để việc khai thác nguồn tư liệu này có hiệu quả, phát huy tính tích cựccủa HS, GV cần nghiên cứu kĩ mục tiêu và nội dung của từng tư liệu trong bài học,

tư liệu thuyết minh hình ảnh GV có thể tận dụng sự hỗ trợ của công nghệ thôngtin, trình chiếu kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì HS được trực quan với hình ảnh rõ,kích thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn Tuy nhiên, trong phạm vi chophép, sáng kiến kinh nghiệm chỉ thể hiện hình ảnh minh họa cho một số tác phẩmvăn học trung đại trong chương trình lớp 11 Cụ thể như sau:

* Ở bài Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác:

Ở bài này, GV cho HS quan sát hình ảnh minh họa cho hai buổi thiết triều củavua Lê và Chúa Trịnh và đặt câu hỏi đây là hình ảnh nào? Em hãy quan sát và sosánh hai hình ảnh này về mức độ quy mô? Sở dĩ GV đặt câu hỏi này là bởi hai hìnhảnh này được lấy trong SGK lịch sử lớp 10 các em mới được tìm hiểu không lâu

Từ đó HS dễ dàng so sánh được quy mô, sự long trọng, sang trọng đầy đủ ban bệ ởphủ Chúa không kém gì ở cung vua Điều đó giúp HS hiểu thêm sự lộng quyền, lấn

át cả cung vua Lê của chúa Trịnh

Trang 14

Buổi thiết triều của chúa Trịnh Buổi thiết triều của vua Lê

*Ở bài Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương, GV nên giới thiệu khung

cảnh trường thi, hình ảnh Lễ xướng danh khoa thi Đinh dậu

Hình ảnh trường thi ngày xưa Các sĩ tử xem bảng danh sách những

người thi đỗ Trường Hà Nam,khoa Đinh dậu 1897

Trang 15

(Cổng Tiền Môn) (Cổng Tiền Môn)

Dân chúng chen lấn nhau đi Toàn quyền P.Doumer chứng kiến

xem lễ xướng danh lễ xướng danh

Xướng danh trường Hà Nam (27/12/1897)Các quan mặc triều phục, theo thứ tự phẩm trật, ngồi ghế tréo ở hai bên conđường đi từ Cổng Tiền Môn dẫn vào nhà Thập Đạo

(Trường Hà-nam 27/12/1897)

Trang 16

(Tân khoa ngồi đợi hoàn tất lễ Xướng danh Sau khi trình diện các Khảo quan,ông Cử mới đượcdẫn đến chiếu ngồi trong một cái rạp dựng trước nhà Thập đạo.Ông Thủ Khoa, cũng gọi là Giải nguyên hay Hương nguyên, ngồi trên chiếc chiếuhoa cạp điều đầu hàng lẻ, ông Á nguyên ngồi trên chiếc chiếu đầu hàng chẵn.)

* Ở bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Quân Pháp đánh chiếm thành Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công

Gia Định (17/2/1859) bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), ngày 1-9-1858

Trang 17

Tàu chiến Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ vào Sài Gòn năm 1859

* Ở bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

GV dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, ngoài kiến

thức lịch sử về trận tấn công đồn Cần Giuộc năm 1861, nhằm giúp HS hiểu hìnhtượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm là hình tượng đám đông bước ra từthực tế đời sống chứ không còn là hình ảnh ước lệ tượng trưng thì GV nên kết hợpcho HS xem tranh vẽ trận Cần Giuộc, xem hình ảnh về việc xây dựng tượng đài kỉniệm những nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được khởi công vào năm 2011 như một sự tri

ân thành kính đối với những anh hùng vô danh trong lịch sử dân tộc

Hình ảnh minh họa những nghĩa sĩ Hình ảnh Lễ khởi công xây dựngtrong trận Cần Giuộc tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc

Trang 18

* Ở bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm (1746-1803)

Tượng đài Quang Trung Lược đồ chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút

Phối cảnh Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại núi Bân

Lược đồ diễn biến trận đánh Hình ảnh Quang Trung

Ngọc Hồi – Đống Đa (Tết Kỷ Dậu -1789)

Trang 19

GV có thể sử dụng hình ảnh lịch sử trong phần giới thiệu bài học làm tăng sựhứng thú, kích thích sự đón đợi của HS GV khi giới thiệu hình ảnh cũng cần có sựthuyết minh ngắn gọn để phương pháp trực quan đạt hiệu quả như mong muốn.

4 Liên hệ kiến thức lịch sử trong và ngoài chương trình SGK lịch sử đã học để tạo sự liên kết kiến thức với nội dung bài học đang tìm hiểu

Việc liên hệ kiến thức lịch sử trong và ngoài chương trình SGK lịch sử là mộtbiện pháp hiệu quả trong việc đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại và đồng thờikhắc sâu thêm kiến thức lịch sử cho HS Trong phạm vi đề tài này, người thực hiện

sẽ gợi ý những địa chỉ tích hợp và nội dung tích hợp Ở mỗi bài học thì lượng kiếnthức liên hệ có thể ít hoặc nhiều Song cần chú ý rằng, đối với những bài dài cầntiết chế và chọn lọc những kiến thức lịch sử tiểu biểu để phục vụ cho bài học đểtránh biến giờ dạy văn học thành một bài dạy lịch sử hoặc phô diễn kiến thức, sựuyên bác của GV

* Bài Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác:

Khi học bài Vào phủ chúa Trịnh , HS có thể vận dụng kiến thức lịch sử bài 21“Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI đến thế kỉ

XVIII” và bài 23 “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ

tổ quốc cuối thế kỉ 18” trong sách giáo khoa lịch sử lớp 10 Nội dung như sau:

Trong bài 23, HS có thể vận dụng kiến thức ở mục 3, Nhà nước phong kiến

Đàng Ngoài để hiểu hơn về vị trí của nhà Chúa và sự tiếm quyền vua Lê của chúa

Trịnh:

Năm 1627, cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ, kéo dài đến cuối năm

1672 Không phân thắng bại, hai bên giảng hòa, lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm giới tuyến, chia đất nước làm hai: Đàng Ngoài và Đàng Trong với hai chính quyền riêng biệt

Từ cuối thế kỉ XVI, nhà nước phong kiến Nam Triều chuyển về Thăng Long, được xây dựng lại hoàn chỉnh với danh nghĩa thống trị toàn bộ đất nước, do vua

Lê đứng đầu Tuy nhiên quyền hành của vua Lê không còn như trước, thậm chí bị thu hẹp đến mức chỉ còn là danh nghĩa Mọi quyền hành đều nằm trong tay người tổng chỉ huy quân đội họ Trịnh, về sau được phong vương (nhân dân quen gọi là

“chúa”).

Ở Trung ương hình thành hai bộ phận: triều đình và phủ chúa Chính quyền đứng đầu là vua Lê được tổ chức như cũ nhưng quyền hành bị thu hẹp Phủ chúa gồm một số quan văn, quan võ cao cấp chuyên cùng chúa bàn bạc, quyết định các

Trang 20

HS có thể tham khảo nội dung trong SGK lịch sử nâng cao lớp 10, ở mục 3,

Nội chiến Trịnh – Nguyễn và sự phân chia Đàng Trong- Đàng Ngoài; và bài 33

-“Chiến tranh phong kiến và sự chia cắt đất nước” có ghi thêm “Vùng đất từ sông

Gianh, lũy Thầy (Quảng Bình) trở ra Bắc nằm dưới quyền cai trị của chính quyền Lê-Trịnh gọi là Đàng Ngoài Họ Trịnh xưng vương, lập phủ Chúy, tuy vẫn duy trì triều đình vua Lê, nhưng trên thực tế đã thâu tóm mọi quyền hành trong tay, biến vua Lê thành bù nhìn.”

HS cũng nên liên hệ với đời sống nhân dân dưới sự trị vì của Chúa Trịnh đểthấy rằng sự ăn chơi sa hoa, lãng phí của nhà Chúa trên sự thống khổ của nhân dân

Đó là một tội ác không thể dung thứ

“Chính sách ruộng đất của họ Trịnh nhằm phục vụ cho quyền lợi của nhà nước phong kiến, giai cấp địa chủ, tầng lớp quan lieu và binh sĩ.Đến đầu thế kỉ XVIII, quỹ đất công còn lại ít Ngoài vùng Sơn Nam Hạ (vùng Nam Định, Thái Bình) có tương đối nhiều ruộng công, còn các xứ khác, ruộng công chỉ đủ để cung cấp cho quan lại và binh lính Người nông dân đã bị chiếm đoạt phần ruộng đất

tư, lại hết hi vọng ở phần ruộng đất công của làng xã Trong khi đó, nhà nước Trịnh ngày càng tăng cường bóc lột tô thuế, lao dịch, binh dịch đối với nông dân Nhà nước cũng đồng thời phó mặc cho nông dân các công việc đê điều, thủy lợi, khiến nạn hạn hán, lụt lội, vỡ đê xảy ra liên tiếp Những nông dân nghèo khổ

Lê-“không có đất cắm dùi”, phải rời bỏ đồng ruộng, xóm làng đi lang thang kiếm sống ngày càng đông đảo.Từ những năm 30 của thế kỉ XVIII, mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt đã đẩy xã hội Đàng Ngoài vào tình trạng suy yếu và khủng hoảng.”(SGK lịch sử 10, nâng cao, trang 184)

“Theo một giáo sĩ phương Tây, bấy giờ “gạo đắt như vàng, tình trạng đói khổ bày ra lắm cảnh thương tâm khó tả, xác chết chồng chất lên nhau””

Nếu nhớ lại những kiến thức trên, HS khi tìm hiểu về quang cảnh trong vàngoài phủ chúa sẽ hiểu rằng thì ra để tô điểm cho sự sang trọng, lộng lẫy và đểphục vụ cho cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc của nhà chúa, nhân dân lao động đã chịubao nhiêu nỗi thống khổ, lầm than Từ đây có thể cảm nhận sâu sắc hơn tâm trạng

và thái độ của tác giả Lê Hữu Trác; đồng thời dấy lên trong lòng người đọc sự cămgiận đối với triều đình phong kiến mục nát Lê- Trịnh

Cũng trong SGK lịch sử lớp 10, bài 23, Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp

thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỉ XVIII có ghi:

“Vào giữa thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Đàng Ngoài khủng hoảng sâu sắc Phong trào nông dân bùng lên rầm rộ, kéo dài trong hơn 10 năm và bị đàn áp… Năm 1771, một cuộc khởi nghĩa nông dân bùng lên ở ấp Tây Sơn (Bình

Trang 21

Định) do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Sau nhiều năm chiến đấu kiên cường, cuộc khởi nghĩa phát triển, tiến lên đánh đổ chính quyền chúa Nguyễn , làm chủ phần đất từ Quảng Nam trở vào Một nhiệm vụ mới được đặt ra: tiến quân ra Bắc đánh đổ chính quyền Lê-Trịnh… Trong những năm 1786-1788, phong trào Tây Sơn lần lượt đánh đổ hai tập đoàn phong kiến Trịnh,

Lê và làm chủ toàn bộ đất nước Sự nghiệp thống nhất đất nước bước đầu được hoàn thành.”.

Theo những thông tin trên, thì chỉ sau 3 năm tức là từ năm 1783 đến năm 1786

kể từ khi Lê Hữu Trác hoàn thành xong tập kí sự bằng chữ Hán Thượng kinh kí sự

thì chính quyền chúa Trịnh đã bị sụp đổ hoàn toàn Chứng tỏ những gì Hải ThượngLãn Ông được mắt thấy tai nghe trong phủ Chúa đã cho thấy sự rệu rã, mục ruỗngcủa nhà chúa và dự báo trước phút lâm chung của chính quyền phong kiến này

Đồng thời đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh đã cung cấp cho người đọc một góc nhìn

chân thực về lịch sử dân tộc dưới triều Lê – Trịnh qua ngòi bút kí sự của tác giả Ở

khía cạnh này, không thể phủ nhận giá trị hiện thực đem lại của đoạn trích Vào phủ

chúa Trịnh nói riêng và của tác phẩm Thượng kinh kí sự nói chung.

* Bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Câu cá mùa thu là bài thơ thuộc chùm ba bài thơ thu (Thu ẩm, Thu vịnh, Thu điếu) của Nguyễn Khuyến được cho là sáng tác trong thời gian Nguyễn Khuyến

cáo quan về ở ẩn tại quê nhà tại xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Bài thơkhông chỉ đơn thuần là tả cảnh thu tại một vùng quê chiêm trũng mà ẩn trong đó lànhững kí thác, những tâm sự thầm kín của nhà thơ Thật không dễ cho người họccảm nhận những tâm sự đó nếu như không đặt tác phẩm vào trong hoàn cảnh sángtác của nó Tại sao tác giả lại cảm nhận cảnh thu đẹp nhưng có vẻ lạnh lẽo, u buồn?Cảnh thu lạnh hay chính tâm hồn người lạnh lẽo, cô quạnh? Phải chăng tiếng cáđớp mồi dưới chân bèo càng làm tăng cái tĩnh của cảnh vật hay cũng là cái độngtrong lòng người? Nhà thơ đang trăn trở, suy tư điều gì mà lãng quên việc đi câu?Tâm sự thời thế của Nguyễn Khuyễn trong bài thơ này là gì? Có lẽ HS chỉ có thểtrả lời được thấu đáo khi tìm về kiến thức lịch sử tương ứng với thời điểm ra đờicủa tác phẩm

Trong suốt cuộc đời mình, Nguyễn Khuyến chỉ làm quan mười một năm(1872-1883), còn phần lớn cuộc đời ông ở quê nhà Tuy gắn bó với người quê,cảnh quê nhưng Nguyễn Khuyến vẫn không nguôi nỗi đau đáu với dân, với nước.Không đau đáu sao được khi Nguyễn Khuyến sinh ra trong thời kì xã hội Việt Nam

có nhiều biến động Khi tìm hiểu bài thơ Thu điếu, HS cần chú ý đến kiến thức về

lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX Ví dụ như trong SGK lịch sử 11, bài

34, Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884), có ghi nhận:

Trang 22

“Ngày 1-9-1958, quân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc tấn công xâm lược Việt Nam….Sau khi chiếm được thành Gia Định, quân Pháp lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Đông (1862), rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kì (1867)”, “Chiếm xong 6 tỉnh Nam Kì, thực dân Pháp gấp rút biến Nam Kì thành bàn đạp vững chắc để tiến đánh Bắc Kì và Trung Kì….Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn dường như không còn nghĩ đến việc chiến đấu giành lại các vùng đất đã mất mà vẫn tiếp tục thi hành những chính sách thiển cận,….tăng cường vơ vét bóc lột nhân dân…đời sống nhân dân ngày càng sa sút.”

Theo SGK lịch sử 11, vào năm 1883, đúng vào thời điểm Nguyễn Khuyến cáo

quan về ở ẩn thì “hầu hết các tỉnh thành lớn ở vùng đồng bằng Bắc Kì lại rơi vào

tay giặc.”, “Ngày 17-7-1883), vua Tự Đức qua đời Lợi dụng triều đình đang bận rộn với việc chọn người kế vị, thực dân Pháp đem quân đánh thẳng vào cửa Thuận

An, sát Kinh đô Huế, buộc triều đình phải đầu hàng” và chỉ trong chưa đầy 1 năm,

triều đình nhà Nguyễn đã phải kí với Pháp 2 bản Hiệp ước Hácmăng (1883) vàHiệp ước Patơnốt (1884) Với những thông tin trên, HS sẽ hiểu được tâm sự,những đau đớn âm thầm của một con người có tấm lòng ưu ái với dân, với nướcnhưng lại bất lực trước cảnh nước mất nhà tan

* Bài Thương vợ của Trần Tế Xương (1870-1907)

Đối với bài thơ Thương vợ - một bài thơ trữ tình hay viết về vợ của Trần Tế

Xương, GV và HS đôi khi chỉ chú trong phân tích hình tượng bà Tú với những đứctính cao đẹp và hình tượng ông Tú với nhân cách đẹp qua nỗi lòng thương vợ Có

lẽ cả người dạy và người học đều tiếp cận tác phẩm ở góc độ văn học, văn hóa mà

ít nhiều không cảm nhận nó ở góc độ lịch sử Tiếng chửi của ông Tú ở cuối bài vẫnthường cho hai cách hiểu: cách hiểu thứ nhất là ông tự chửi bản thân mình, cáchhiểu thứ hai là ông chửi đời Nếu hiểu theo cách thứ nhất thì ông tự rủa mát mình,

tự nhận trách nhiệm về mình là người chồng vô tích sự đã khiến cho vợ phải khổ,còn hiểu theo cách thứ hai cần phân ra hai góc độ: về góc độ văn hóa, thì rõ ràngtiếng chửi của ông Tú hướng tới thói đời với tư tưởng Nho giáo nặng nề, hẹp hòi,khắt khe với người phụ nữ Trong gia đình, người vợ giữ vai trò trụ cột nuôi sống

cả nhà người vợ giữ vai trò trụ cột nuôi sống cả nhà còn người chồng miệt mài đènsách với hi vọng đỗ đạt làm thay đổi vận mệnh gia đình và cái xã hội với tư tưởng

cố hữu đó không cho phép những người chồng như Tú Xương được tham gia vào

những việc tầm thường, “buôn thúng bán mẹt” cho dù ông rất thương vợ Còn về

góc độ lịch sử, thì người đọc có thể thấy tiếng chửi của ông Tú hướng tới chế độkhoa cử đương thời, tình trạng mua quan, bán tước diễn ra công khai, ngang nhiên,trắng trợn đã khiến cho những người có thực tài, thực học như ông đi thi năm lầnbẩy lượt mà rốt cuộc cũng chỉ là đậu vớt cái danh vị Tú tài Để hiểu được điều này,

HS ngoài việc tìm hiểu về cuộc đời của Tú Xương cần tìm tư liệu trong SGK lịch

Ngày đăng: 18/07/2015, 12:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh trường thi ngày xưa  Các sĩ tử xem bảng danh sách những - Sáng kiến kinh nghiệm  TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11
nh ảnh trường thi ngày xưa Các sĩ tử xem bảng danh sách những (Trang 14)
Hình ảnh minh họa những nghĩa sĩ   Hình ảnh Lễ khởi công xây dựng trong trận Cần Giuộc tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc - Sáng kiến kinh nghiệm  TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11
nh ảnh minh họa những nghĩa sĩ Hình ảnh Lễ khởi công xây dựng trong trận Cần Giuộc tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w