SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: ĐỖ THỊ HỒNG NHUNG 2. Ngày tháng năm sinh: 25121976 3. Nam, nữ: Nữ 4. Địa chỉ: Trường THPT Hồng Bàng 5. Điện thoại cá nhân: 0979 727 899 Cơ quan: 0613741284 6. Chức vụ: Phó Chủ tịch Công đoàn 7. Đơn vị công tác: Trường THPT Hồng Bàng II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Năm nhận bằng: 2001 Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Ngữ văn Số năm có kinh nghiệm: 15 Các sáng kiến kinh nghiệm đã có: 1. Phong cách giảng dạy của giáo viên bộ môn Văn Tiếng Việt bậc THPT, 20052006. 2. Chuyên đề “Một vài suy nghĩ khi thực hiên phương pháp mới môn ngữ văn ở Trung học phổ thông”, 20072008. 3. Chuyên đề: “Một vài suy nghĩ khi phân tích thơ thất ngôn bát cú Đường luật”, 20102011. 4. Tiết dạy nghị luận xã hội, 20112012. 5. Rèn luyện khả năng cảm thụ văn học cho học sinh Trung học phổ thông, 20122013. 6. Một vài suy nghĩ để dạy tốt bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, 2013 2014. 7. Chuyên đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, 2014 2015. 8. Kinh nghiệm chủ nhiệm một lớp yếu ở trường THPT, 2014 2015. LIÊN HỆ THỰC TẾ TRONG GIỜ ĐỌC VĂN ĐỂ TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng từ giáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học. Riêng ở phổ thông, sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương trình, sách giáo khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học. Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập; với mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị Trường THPT Hồng Bàng
Mã số: (Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
LIÊN HỆ THỰC TẾ TRONG GIỜ ĐỌC VĂN
ĐỂ TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
Người thực hiện: Đỗ Thị Hồng NhungLĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014-2015
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
7. Đơn vị công tác: Trường THPT Hồng Bàng
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Ngữ văn
Số năm có kinh nghiệm: 15
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có:
1 Phong cách giảng dạy của giáo viên bộ môn Văn- Tiếng Việt bậc THPT,
4 Tiết dạy nghị luận xã hội, 2011-2012
5 Rèn luyện khả năng cảm thụ văn học cho học sinh Trung học phổ thông, 2013.
2012-6 Một vài suy nghĩ để dạy tốt bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, 2013- 2014.
7 Chuyên đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường,
2014-2015
8 Kinh nghiệm chủ nhiệm một lớp yếu ở trường THPT, 2014- 2015
Trang 3LIÊN HỆ THỰC TẾ TRONG GIỜ ĐỌC VĂN
ĐỂ TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thầnhợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong họctập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập; với mục tiêu giáo
dục toàn diện cho học sinh “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”
Đặc trưng của văn học là một môn nghệ thuật phản ánh đời sống bằng hìnhtượng Dạy văn là cả một quá trình phức tạp đan kết các quá trình tâm lí, ngôn ngữvăn học sư phạm Dạy văn là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhiều sự tìm tòi củangười giáo viên khi lên lớp Từ đời sống trong tác phẩm văn học làm sao có thểlàm đẹp và phong phú thêm tâm hồn các em Đó là kết quả thẩm thấu, chuyển hóavào từng cá nhân học sinh, có khi bất ngờ, có khi ngẫu nhiên Từ một hình tượng,một tâm trạng, một hoàn cảnh cụ thể, người thầy có thể liên hệ thực tế gần gũi với
học sinh Phải coi học sinh là “ngọn lửa” để thắp sáng kiến thức chứ không phải là
“cái bình” để chứa kiến thức Bởi thế người giáo viên dạy văn cần phải giúp học
sinh tự tạo được bản lĩnh để đối diện với những vấn đề nóng bỏng, bức xúc mà đờisống xã hội và văn học đặt ra Không để tác phẩm văn học xa rời đời sống thực tại,
để học sinh biết tự đòi hỏi những gì các em cần có trong cuộc đời này Tuy nhiênkhi giảng dạy còn tùy thuộc vào từng bài, từng đối tượng học sinh để linh hoạt thay
đổi sao cho phù hợp Sử dụng phương pháp liên hệ thực tế trong giờ đọc văn đạt
hiệu quả sẽ giúp các em hứng thú và cảm thụ tác phẩm sâu sắc hơn Qua mỗi giờvăn các em có lối sống lành mạnh hơn, ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn,chống lại những luồng văn hóa không lành mạnh
Xuất phát từ mục đích đó, tôi muốn giờ dạy văn của mình không chỉ nhằm mởrộng cho học sinh những kiến thức đa dạng về đời sống, về thể loại văn học màcòn đem đến cho học sinh những hiểu biết thực tế, tác động học sinh có sự chuyểnbiến trong lối sống nhận thức qua chính các nhà thơ, nhà văn, các hình tượng nhânvật văn học; góp phần giáo dục kĩ năng sống, giáo dục đạo đức, nhân cách, lòngnhân ái và yêu nước của mỗi học sinh; rèn luyện cho các em những kĩ năng cầnthiết về sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, lập luận, năng lực ứng xử trước những vấn đềđời sống
Từ mục đích của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi xin trao đổi
kinh nghiệm của bản thân về một số giải pháp “Liên hệ thực tế trong giờ đọc văn
để tạo hứng thú cho học sinh” ở chương trình ngữ văn bậc THPT.
Trang 4II TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1 Cơ sở của đề tài:
1.1/ Cơ sở lý luận:
Trong nhận thức của mình Mác đã nói rõ quá trình nhận thức của con người
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, trở về thực tiễn” vì thế khi dạy
học sinh phải cho các em trở về thực tế đời sống xã hội Phát huy khả năng cảmthụ, năng lực hiểu biết, hình thành nhân cách người học Từ đó giúp các em tưởngtượng và định hình được xã hội mình đang sống và những gì mình phải làm tạohứng thú và niềm say mê khám phá của các em trong giờ văn Nhà văn Nga M
Gorki cũng đã khẳng định “Văn học là nhân học” Học văn chính là học làm
người Đó là một chân lí mà bất cứ giáo viên dạy văn nào cũng phải trăn trở, suy
nghĩ Nói như Macarenco “Giáo dục chủ nghĩa cộng sản mà không giáo dục
lòng yêu nước và nhân ái thì giáo dục cái gì nữa?” Viện sĩ Mikhancốp người
anh hùng của Liên Xô khi góp ý về việc dạy văn đã nói “Không thể bớt khoa học
nhân văn, bớt văn trong chương trình vì bớt văn tức là bớt chất người”
Luật giáo dục của nước CHXHCNVN trong điều 4 (yêu cầu về nội dung phươg
pháp giáo dục) cũng chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực
tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo ở người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục - trang 9 - 1998)
1.2/ Cơ sở thực tiễn:
Trong bộ môn văn học ở trường phổ thông trung học nhiều năm nay thực tế
đã có nhiều đổi mới đáng kể nhưng vẫn còn có hiện tượng học sinh học theo kiểucũ: đọc thuộc, sao chép, nói lại ý của sách vở, của thầy cô mà không hoặc ít có sựsáng tạo, liên tưởng khi tiếp xúc tác phẩm văn chương Văn học là môn học vềnghệ thuật ngôn từ Văn học phản ánh cuộc sống thông qua các hình tượng, các chitiết giàu chất nghệ thuật Việc dạy học văn theo tinh thần đổi mới phương pháp, về
cơ bản, có nhiều thuận lợi, phát huy được sự chủ động, sáng tạo của học sinh khilĩnh hội và vận dụng những kiến thức đã được học vào cuộc sống
Trong những năm gần đây, tình hình học tập bộ môn Ngữ văn thật đáng báo động.Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, học sinh chỉ hiểu theo một chiều, ít chịu khóphát hiện, liên tưởng, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém Vì vậy, không đạt hiệu quảcao khi cảm nhận tác phẩm văn chương Kết quả điều tra chất lượng các bài thi tốtnghiệp trung học phổ thông và thi vào các trường ĐH-CĐ, chúng ta thấy xuất hiệnnhiều bài viết khiến cho người chấm dở khóc dở cười Học sinh viết mà không biếtnhững gì mình đã viết Đối với những lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy, các emthường mắc các lỗi rất phổ biến về chính tả, dùng từ, đặt câu Rất nhiều bài văn, từđầu đến cuối không có một dấu chấm câu nào Nhiều từ đơn giản cũng không hiểuđược nên dẫn đến việc dùng từ sai, đặt câu sai- câu què, câu cụt, câu sai cấu trúc,sai lô-gic luôn xuất hiện trong bài làm của học sinh Nhưng điều đáng lo lắng nhất
là kĩ năng phân tích từ ngữ của học sinh đối với các văn bản văn học Phần lớn các
em không xác định được nghĩa của từ, kiến thức về từ còn lơ mơ, sai sót Vì vậy,khi làm bài, các em hay nhầm lẫn khi phân tích những từ gần giống nhau, thườngsuy luận chủ quan, khập khiễng, thậm chí đã dung tục hoá văn chương khi phân
Trang 5tích, khám phá từ ngữ trong tác phẩm văn học Đứng trước những từ khó, học sinhcũng chưa có thói quen tra từ điển để hiểu mà thường bỏ qua, rất đáng tiếc
Hơn nữa, cuộc sống xã hội ngày càng diễn biến hết sức phức tạp, mỗi em học sinhđang hàng ngày phải tiếp xúc, va chạm với biết bao luồng thông tin văn hóa thẩm
mỹ xa lạ với những điều thầy cô nói trong trường học Thái độ thờ ơ, lạnh lùng củahọc sinh trước nỗi đau buồn của con người trong cuộc đời cũng như trong vănchương là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, day dứt Nếu học sinh không thểđồng cảm, xúc động được thì đó là dấu hiệu không lành mạnh trong tâm hồn, tìnhcảm của các em Có một số học sinh thì sống ích kỉ ngay cả với những người thântrong gia đình, bạn bè của mình Nhưng khi làm văn thì sử dụng những mỹ từ đạo
lí sáo rỗng một cách trơn tru nhưng lại thờ ơ trước những bất hạnh của người khác,
đó là sự dối trá, là sự cách biệt giữa cuộc sống và làm văn Đâu đó có những họcsinh vô lễ, thậm chí đánh cả thầy cô giáo của mình, đánh nhau trước cổng trường,những clip bạo lực được quay và tung lên mạng, những câu chuyên học trò yêuđương và bao câu chuyện đau lòng khác… Học trò ngày nay được tiếp cận vớicông nghệ truyền thông hiện đại nên thật đáng lo khi con trẻ quay lưng lại vớitruyền thống, bỏ qua những nếp sống đẹp mà bao đời nay dân tộc gìn giữ, pháthuy Phải làm sao để định hướng, để dạy các em lựa chọn? Là một giáo viên dạyvăn chúng ta làm sao có thể làm ngơ trước thực trạng như thế? Ở độ tuổi từ 15- 18các em chưa trải nghiệm nhiều, vốn hiểu biết còn hạn hẹp, kinh nghiệm sống ítnhưng lại rất nhạy cảm với đời sống bên ngoài Vì vậy khi truyền thụ những kiếnthức giáo điều, xa rời thực tế khiến các em không hứng thú học tập và cảm thấyđiều thấy cô nói là không có thực
Chính vì vậy ở bài viết này tôi muốn đề cập đến việc đổi mới phương pháp liên hệ
thực tế trong mỗi tác phẩm văn chương sinh động, hấp dẫn, gẫn gũi với đời sống
thực tế của học sinh THPT ngày nay giúp các em nhận thức, tư duy được vấn đềcủa cuộc sống, từ đó các em có thể lựa chọn sáng tạo, trau dồi cho mình những tìnhcảm đạo đức cho phù hợp, hình thành nhân cách tốt trở thành người công dân cóích cho xã hội Trong quá trình thực hiện đề tài này, bản thân tôi nhận thấy phươngpháp liên hệ thực tiễn có tính giáo dục phù hợp sẽ góp phần làm nên thành cônglớn trong mỗi giờ văn, giúp các em hứng thú, say mê học tập vì các tác phẩm vănchương có khả năng khơi gợi tình cảm, định hướng các giá trị sống cho học sinhTHPT từ đó giúp học sinh có nhận thức tư tưởng đúng đắn, nuôi dưỡng ước mơ, lítưởng, biết sống và phấn đấu
2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2 1 Dạy văn trước hết là dạy cách sử dụng ngôn ngữ:
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, có hiểu được ý nghĩa của từ ngữ, điển cố,…trong một tác phẩm mới có thể hiểu được mạch lạc cú pháp và toàn bộ bài văn trừnhững bài văn không có từ ngữ gì khó cần giải thích riêng hay những điển cố sâukín cần bình luận riêng Thông thường, từ ngữ trước sau vẫn là nhân tố quan trọngđặc biệt cần lưu ý trong khi giảng bình
Trang 6Vì vậy, trong cuộc gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo và cán bộ nghiên cứu giáo dục,đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh khâu giảng văn trong đó phải lưu ý đến từ
ngữ: “trong ngôn ngữ thì từ là quan trọng nhất rồi đến câu sau đó đến văn Cho nên dạy từ là rất cần thiết, phải hiểu tất cả ý nghĩa của từ, ý nghĩa sâu xa, ý nghĩa phong phú, phải hiểu tất cả cách dùng từ Bất cứ người dùng văn nào, cuối cùng cũng thấy hiểu từ, dùng từ đúng chỗ là điều quan trọng và cũng là điều khó khăn bậc nhất.” (tập san Đại học sư phạm, số 1 – 1974).
Điều đó chứng tỏ dạy từ là rất cần thiết, phải giảng cả nghĩa gốc rồi mới giảngnghĩa trong văn cảnh Nói một cách khái quát, khi giảng từ ngữ cần phân biệt haikhâu liên hoàn: khâu nghĩa gốc và khâu văn chương Nghĩa là khi đi vào tác phẩmvăn học, các từ ngữ thường không phải bao giờ cũng chỉ xuất hiện trong dạng cốđịnh và đơn giản như khi còn tồn tại trong các cuốn từ điển Trái lại, do khả năngsáng tạo của nhà văn, những nghệ sĩ ngôn từ- ý nghĩa và theo đó, nội dung biểu đạtcủa rất nhiều từ ngữ phải được coi là kết quả của hàng loạt các thao tác tư duy hìnhtượng như liên tưởng, so sánh, đối chiếu … giữa các sự vật, hiện tượng trong thực
tế khách quan, giữa tâm tư tình cảm của con người với các sự vật xung quanh cuộcsống … như thế từ ngữ trong tác phẩm văn học sẽ mới mẻ, sinh động hơn Vì vậy,muốn cho học sinh hiểu tất cả ý nghĩa của từ cũng như hiểu tất cả mọi cách dùng
từ, với mỗi giáo viên, không thể bỏ qua việc phân tích các từ ngữ, tức là không thểdừng lại ở những cơ sở đầu tiên là giải nghĩa từ một cách chung chung mà tạo điềukiện cho học sinh vừa nắm được những giá trị nghệ thuật tinh tế của từ đồng thờithấy được khả năng của người viết trong việc vận dụng từ ngữ để hình thành tácphẩm
Môn ngữ văn là một môn học vốn đã chưa đựng những yếu tố phù hợp với các nộidung cơ bản của giáo dục kĩ năng sống, giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để họctập, giao tiếp và nhận thức về xã hội, con người, giúp học sinh làm giàu cảm xúcthẩm mỹ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách
Ví dụ: Khi phân tích hai câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du): “Cậy em, em có chịu lời - Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”, giáo viên phải giúp các em khám phá ý nghĩa của các từ cậy, chịu lời, lạy, thưa Tại sao Nguyễn Du không dùng từ “nhờ” mà dùng từ “cậy”? không dùng “nhận”
mà dùng “chịu”? Chính vì giữa các từ ấy có sự khác biệt khá tinh vi Đặt “nhờ” vào chỗ “cậy”, không những thanh điệu câu thơ sẽ nhẹ đi, âm thanh không đọng ở
chữ thứ nhất của câu thơ nữa và làm giảm đi cái đau đớn, quằn quại khó nói củaKiều Mặt khác, ý nghĩa của một lời khẩn cầu, một sự nương tựa, gửi gắm, tin
tưởng ở một mối tình ruột thịt cũng phần nào giảm đi Còn giữa “chịu” và “nhận” thì dường như có vấn đề tự nguyện hay không tự nguyện nữa “Nhận” thì ít ra cũng có ý kiến của người nhận lời “Chịu” lời thì hình như chỉ có một sự nài ép
phải nhận vì không nhận không được Trong tình thế của Thuý Vân bấy giờ chỉ có
“chịu” lời chứ làm sao có thể “nhận” lời được Chỉ với một vài từ cân nhắc kĩ đã
gợi lên chiều sâu của một tình thế phức tạp và càng làm cho câu thơ có dáng dấp
như một lời cầu nguyện linh thiêng Các từ “lạy”, “thưa” cũng được sử dụng rất
đắt Đối với một cử chỉ hi sinh vì người khác như vậy, chỉ có kính phục và biết ơn,ngày xưa phải tỏ bày bằng cái lạy Thuý Kiều đòi lạy Thuý Vân là lạy cái hi sinh
Trang 7cao cả ấy Câu thơ đã thể hiện cách dùng từ độc đáo, tinh tế của Nguyễn Du và làmnổi bật tính cách của một nàng Kiều thông minh, sắc sảo, thâm trầm trong thấuhiểu lẽ đời.
Từ việc dạy ngôn ngữ giúp học sinh lĩnh hội và cảm nhận tác phẩm văn chương.Mỗi tác phẩm văn chương có một chủ đề, một kết cấu riêng biệt, người giáo viêncần lựa chọn cách giảng cho phù hợp với mỗi bài văn, mỗi thể văn Việc giảng giải
từ ngữ rất là quan trọng, yêu cầu bám sát từ ngữ, cắt nghĩa được cặn kẽ nghĩa của
từ Chẳng hạn, phân tích kĩ những nhóm từ, những vế trong đoạn trích “Nỗi thương mình” của Truyện Kiều như “bướm lả ong lơi”, “tỉnh rượu”, “tàn canh”,
“giật mình”, “thương mình”… làm nổi bật tâm trạng của Thuý Kiều ở cảnh ngộ bi
đát, ê chề, bẽ bàng nhất…, đồng thời thấy được sự sâu sắc, tinh tế trong cảm nhận
và khả năng sử dụng ngôn ngữ thật tài tình, độc đáo của Nguyễn Du
Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh trong “Mấy ý nghĩ về thơ” : “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống Tóe lên ở những nơi giao nhau của tâm hồn với ngoại vật, trước hết là những cảm xúc” ; “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau tạo thành một vùng sáng chung…” Với cách diễn đạt
ấy, một vấn đề của lí luận văn học trừu tượng, khô khan bỗng trở nên hết sức cụthể, sinh động
Viết về nỗi khốn cùng của Đô- xtôi- ép- xki trong những năm lưu vong nơi đấtkhách quê người, tác giả Xvai– gơ đã miêu tả thất sinh động qua những từ ngữ,
hình ảnh cụ thể gây ấn tượng mạnh “Trái tim ông chỉ đập vì nước Nga còn thân thể ông sống leo lét trong một thế giới đối với ông là xa lạ”; “Năm mươi tuổi, nhưng ông đã chịu hàng thế kỉ dằn vặt”.
“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh là áng văn nghị luận mẫu mực, với ngôn
ngữ súc tích, chính xác, giàu sức biểu cảm Chẳng hạn, khi nói về thực dân Pháp
tác giả sử dụng những từ ngữ đầy sức tố cáo và mỉa mai “chúng tuyệt đối không cho chúng ta một chút tự do dân chủ nào”, hai chữ “tuyệt đối” nhằm nhấn mạnh
và chính xác hơn ý văn “Bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”: hai chữ “ quỳ gối” và “rước” đã vẽ lên tư thế nô lệ, hèn nhát của thực dân Pháp; Hoặc “Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bản nước ta hai lần cho Nhật” thì chữ “bảo hộ” đầy châm biếm, chữ “bán nước ta hai lần” đã vạch rõ bộ mặt xấu xa của chúng.
Như vậy, phân tích từ ngữ trong giảng văn là chỉ cho học sinh thấy được nội dung
mà người viết muốn truyền đạt qua từ ngữ đó, đồng thời thấy được giá trị nghệthuật của từ ngữ đó khi tham gia xây dựng các hình tượng và bộc lộ chủ đề, tưtưởng của tác phẩm Vì thế, nếu không hiểu đúng nghĩa của từ, không nắm đượcchính xác nội dung mà người viết muốn gửi gắm qua từ thì mọi sự phân tích về giátrị nghệ thuật của từ sẽ chỉ là sự cười ra nước mắt vì mọi giá trị nghệ thuật của từtrước hết là nó có phản ánh đầy đủ và đúng nhất cái mà tác giả muốn truyền đạthay không Vẻ đẹp của ngôn từ là nhân tố quan trọng tạo nên chất văn, giá trị thẩm
mĩ cho tác phẩm văn học Trong giờ đọc- hiểu hướng dẫn học sinh đi tìm chất văntrong hệ thống từ ngữ không chỉ giúp các em rung cảm trước những giá trị biểu
Trang 8cảm của ngôn từ, mà còn góp phần rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ của các emtrong quá trình làm văn và giao tiếp trong cuộc sống.
- Nắm chắc từ ngữ với phương thức chuyển nghĩa:
Trong ngôn ngữ, mỗi từ đều có ý nghĩa cơ bản để xác định trực tiếp đặc trưngchủ yếu của đối tượng mà nó biểu thị, ý nghĩa cơ bản này gọi là nghĩa gốc của từ.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nghĩa gốc chỉ là nghĩa vốn có chứ không phải
là nghĩa duy nhất, ngoài nghĩa gốc từ còn có thêm nhiều nghĩa mới nhờ phépchuyển nghĩa
Sự chuyển nghĩa của từ từ nghĩa này sang nghĩa khác là một nguồn bổ sung rấtphong phú làm giàu cho khả năng diễn đạt của ngôn ngữ vì thế trong tác phẩm vănhọc người viết luôn luôn có ý thức vận dụng các phương thức chuyển nghĩa của từ
để làm giàu cho ngôn ngữ của mình, tinh tế, hàm súc, sinh động Ngoài ra thôngqua cách vận dụng các thao tác chuyển nghĩa từ, người viết còn bộc lộ nhận thức
và đánh giá của mình đối với cuộc sống
Như câu nói của cụ Mết trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành :
“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, có người nói câu văn này có khả năng “gánh” được cả tác phẩm Câu nói của cụ Mết không đơn giản chỉ nói đến việc kẻ thù có súng thì mình phải có giáo, nếu thế thì làm sao “giáo” có thể đọ với
“súng”? Điều mà tác giả muốn gửi gắm qua câu nói này đó là vấn đề sinh tử của
cách mạng Việt Nam trong những tháng năm đau thương ấy Câu nói của cụ Mếtđặt ra tư tưởng của truyện, cũng là tư tưởng lớn của cuộc chiến đấu lúc bấy giờ:phải dùng bạo lực cách mạng mới có thể tiêu diệt được bạo lực phản cách mạng.Nhân dân miền Nam không còn sự lựa chọn nào khác Đây là chủ đề chính trịmang đậm cảm hứng sử thi của Nguyễn Trung Thành Nếu không có khả năngphân tích từ ngữ thì khó mà hiểu được thấu đáo vấn đề
Khi phân tích các trường hợp chuyển nghĩa chúng ta cần chú ý nêu bật tính chấtmới mẻ, sáng tạo của mỗi trường hợp cụ thể bằng cách so sánh chúng với cáctrường hợp khác Bởi vì, nếu nhà văn biết tìm tòi suy nghĩ trong cách biểu hiện thìtính hình tượng của hình thức chuyển nghĩa sẽ gây được ấn tượng sâu sắc, sẽ tạo rađược cái đẹp, cái mới, cái bất ngờ trong mối tương quan giữa nhiều lĩnh vực khácnhau của thực tế
Liên tưởng những con sóng khi cao, khi thấp, khi “dữ dội”, khi “dịu êm”, Xuân
Quỳnh đã nhìn thấy sự tương đồng của nó trong trạng thái của tình yêu con người,
đặc biệt là đối với người phụ nữ Trên cơ sở đó, nhà thơ đã viết: dữ dội,dịu êm,…
Như vậy, từ những trạng thái sóng biển chuyển sang trạng thái của tình yêu là một
hoạt động sáng tạo của tác giả và do đó những từ: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ đã
đem lại cho người đọc liên tưởng thú vị về những trạng thái tâm hồn của con ngườikhi yêu
Như vậy, phương thức chuyển nghĩa là một công cụ để phát triển tư duy chính xáccho người đọc lẫn người viết
- Nắm vững từ ngữ với các hình thức đặc biệt:
+ Hình thức đồng nghĩa:
Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa nhưng khác nhau về vỏ âm thanhdùng để biểu thị các khía cạnh của một khái niệm, điều đó có nghĩa là: trong khi
Trang 9dùng để biểu thị một khái niệm, mỗi một từ trong nhóm đồng nghĩa thường chỉchính xác hóa, cụ thể hóa một mặt nào đó của khái niệm mà thôi.
Trong nhóm từ đồng nghĩa, các từ thường phân biệt với nhau bằng nhiều sắc tháikhá tinh vi: sắc thái ý nghĩa, sắc thái tình cảm, sắc thái phong cách… Để phân tíchgiá trị từ ngữ ấy, giáo viên trên cơ sở những phân biệt đó mà so sánh đối chiếu cáikhả năng biểu đạt của từ ngữ cần phân tích với từ ngữ khác đồng nghĩa với nó khi
ta đặt vào ngữ cảnh Qua so sánh, giá trị nghệ thuật của từ ngữ cần phân tích sẽ
Một số trường hợp, hiện tượng đồng âm hay được sử dụng để tạo ra những ngữcảnh trong đó một hoặc một số từ có thể được hiểu nước đôi:
Ví dụ: “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non”
Khi đọc câu ca dao này, chúng ta vô cùng ngạc nhiên trước sự sáng tạo, thôngminh của tác giả dân gian qua cách lợi dụng hiện tượng đồng âm, phô diễn những
am hiểu của mình về từ và nghĩa của từ Nghĩa của từ “già” chỉ một mức độ cụ thể của tuổi tác, còn nghĩa của từ “non” ở câu thứ hai thì khó khẳng định hơn bởi vì
nó được bố trí ở sự đan chéo ở hai ngữ cảnh khác nhau: ngữ cảnh thứ nhất, “non”
là một tính từ chỉ một mức độ cụ thể của tuổi tác (trong thế đối lập với “già” ) Còn theo ngữ cảnh thứ hai, “non” như một danh từ chỉ một sự vật trong thiên nhiên (trong mối quan hệ với “núi”) Cái hay của từ “non” trong câu ca dao trên
là ở chỗ cùng một lúc nó khiến cho trước mặt người đọc lung linh hai ý nghĩa khácnhau và cũng chính sự lung linh, huyền diệu đó mà người đọc có được những xúccảm thẩm mỹ tươi tắn, ấn tượng
Cũng có khi người tạo ra những ngữ cảnh chứa đựng nhiều từ có quan hệ đồng âmvới một loạt các từ khác cùng thuộc phạm vi ý nghĩa
+ Hình thức trái nghĩa:
Hai từ được coi là trái nghĩa so sánh trong cùng một trường ngữ nghĩa, chúng cócấu trúc ngôn ngữ giống nhau nhưng độc lập nhau ở tính chất của thành tố ngônngữ Dưới sự sáng tạo của nhà văn, các từ trái nghĩa trở nên có một giá trị biểu đạt
và tác dụng tu từ học rất lớn, nhất là khi người viết muốn phản ánh thế giới kháchquan trong sự thống nhất giữa các mặt đối lập của nó
Ví dụ:
Có tư liệu cho rằng khi sáng tác bài thơ “Thề non nước”; mới đầu câu :
“Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”
Trang 10đã được Tản Đà viết “suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày ».
Với chữ “tuôn”, hình ảnh của dòng nước tượng trưng cho nỗi niềm mong đợi đã
rất đạt rồi, thế nhưng phải đợi cho tác giả thay hẳn không phải một từ đồng nghĩa
với nó (chảy, ứa, trào…) mà là một từ trái nghĩa “khô” thì giá trị của câu mới vươn lên đến tầm cao nhất “Tuôn” trong “suối tuôn dòng lệ » có thể nói lên được
nỗi ngóng trông đang giai đoạn cao nhưng nét biểu thị về thời gian thì thấp hơn từ
“khô” Nỗi ngóng trông với hình ảnh: “suối khô dòng lệ” là một nỗi ngóng trông
đã mỏi mòn theo năm tháng Thời gian trôi đi, dòng lệ đã chảy ra, tuôn ra và bâygiờ đã khô cạn hết, ấy vậy mà cái đang mong đợi vẫn chưa thấy trở về Ở đây, nỗi
chờ mong héo hắt cả tâm hồn ấy chỉ có thể có được khi từ “khô” thay thế từ
“tuôn” trong mối quan hệ độc lập đầy sáng tạo như thế của tác giả
Khi phân tích những từ ngữ kiểu này, người dạy bắt buộc phải có một kiến thứctương đối hoàn chỉnh về vấn đề nghĩa của từ cũng như tất cả các đối tượng khácnhau có tổ chức ổn định Chúng ta hoàn toàn có thể coi một tác phẩm văn học như
là một hệ thống với đầy đủ tính chất của thuật ngữ này Như vậy, tác phẩm văn học
sẽ được hình thành ra với tư cách là một cấu trúc tập thể bao gồm hai cấu trúc nhỏhơn Cấu trúc ngôn ngữ (các yếu tố thuộc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phongcách…) và cấu trúc văn học (các yếu tố thuộc chủ đề, đề tài, bố cục, hiệntượng…) Cấu trúc ngôn ngữ của bất kì tác phẩm nào bao giờ cũng có hai lượngnghĩa: một là cái ý do những câu, những chữ thông thường biểu đạt ra một cáchthông thường và hai là cái ẩn ý thường cũng là cái chủ ý của tác giả được chínhnhững câu, những chữ ấy biểu hiện ra một cách sâu xa và kín đáo Cấu trúc ngônngữ và cấu trúc văn học trong tác phẩm văn học gắn bó chặt chẽ với nhau, phântích các yếu tố của cấu trúc ngôn ngữ là đồng thời phân tích cấu trúc văn học vàcũng vì thế phân tích cấu trúc ngôn ngữ là điều không thể thiếu trong giảng bìnhcủa bài học về tác phẩm văn chương
- Nắm vững từ ngữ trong sự tương quan với cả đoạn, cả bài văn :
Tìm hiểu đoạn văn tố cáo tội ác của giặc Minh trong bài Đại cáo bình Ngô
(Nguyễn Trãi), chúng ta phải giúp học sinh hiểu đây là một bản cáo trạng dài Chitiết cụ thể có, nhận định khái quát có, vừa cụ thể vừa khái quát Từng lời, từng lờiđau đớn, nhưng toàn bộ các chi tiết, các nhận định gộp lại thì cả đất nước chỗ nàocũng như rớm máu, chỗ nào cũng căm giận, oán than Tội ác đầu tiên thật ghê rợn,tội khủng bố Nhưng đây không phải là chém giết bằng giáo gươm, mà bằng hành
vi tàn bạo, dã man :
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Để làm nổi bật tội ác của giặc Minh, học sinh phải hiểu, phải phân tích những hìnhảnh, từ ngữ thể hiện trong câu văn trên Hình ảnh vừa cụ thể vừa khái quát Lời vănnhư có máu đỏ chảy ra rồi đen lại Đen trong dân đen, đỏ trong con đỏ là chỉ vềngười dân bình thường, tuy vốn xuất phát từ màu sắc, nhưng cái đau thương củahình ảnh hình như muốn truyền cho các từ này cái màu sắc của máu đỏ trào ra, củathịt sẫm đen lại Và bỏ qua cái tượng trưng, ước lệ, tác giả đã gọi sự vật đúng tên
của nó : nướng, vùi - cách nói tỉnh táo của ngòi bút hiện thực đầy căm phẫn Ngay lửa hung tàn, hầm tai vạ cũng như không muốn gói mình trong cái tượng trưng
Trang 11ước lệ ấy mà đòi trở về với hiện thực : nướng thật, vùi thật, lửa là lửa hung tàn,hầm là hầm tai vạ Tỉnh táo để nói ra sự thật mà lòng nhức nhối, đớn đau Từngchữ như từng giọt máu Từng chữ như đúc lại đau xót và căm thù Cụ thể mà kháiquát Khái quát để trở thành nhận định, trở thành lời cáo trạng, lời phát xét, đểthuyết phục lí trí lâu dài, để trái tim người đọc rỏ máu cùng nỗi đau bất tận củangười xưa
- Đổi mới phương pháp – phân tích từ ngữ trong dạy đọc văn theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh :
+ Định hướng học sinh từ khâu chuẩn bị bài:
Yêu cầu học sinh đọc tác phẩm một cách thật kĩ lưỡng Ghi lại những cảm nhậnban đầu, những đoạn văn, đoạn thơ, những hình ảnh, chi tiết mà mình thích thúcũng như những chỗ còn băn khoăn, thắc mắc chưa lí giải được sau khi đọc
Học sinh tra từ điển, đọc chú thích,… để lí giải nghĩa của từ, ngữ, câu văn, câu thơ,hình ảnh, chi tiết nghệ thuật nào đó, giúp các em rèn luyện kĩ năng giảng giải, giảithích một cách khoa học, hiệu quả
Giáo viên phải tổ chức, thiết kế hệ thống câu hỏi định hướng để học sinh tiến vàothế giới những tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm văn chương đồng thời gợi mởcách thức bình giá cái hay, cái thú vị của những chi tiết đó Bên cạnh đó, giáo viênphải yêu cầu học sinh sưu tầm, tìm đọc, giới thiệu những phần phân tích, những lờibình hay về tác phẩm để tăng cường sự hiểu biết và khả năng cảm thụ tác phẩm.Tuỳ theo từng bài học cụ thể, từng đối tượng học sinh và điều kiện học tập khácnhau mà giáo viên vận dụng cho linh hoạt, phù hợp trong việc sử dụng các biệnpháp hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học
Khi dạy bài “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, giáo viên đã định hướng học
sinh một số câu hỏi chuẩn bị bài, ngoài hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trongsách giáo khoa Tìm những câu văn thể hiện tính cách của Tử Văn Tác giả ca ngợiđức cương trực, lòng nghĩa khí, và sự chiến thắng của kẻ sĩ đối với bọn gian tà nhưthế nào? Những từ ngữ diễn tả thái độ của Tử Văn trước tên Bách bộ họ Thôi,trước Thổ công và trong khi xử kiện ở Diêm Vương ?
Học sinh phải hiểu được thái độ của Tử Văn trước những lời buộc tội của viênBách hộ họ Thôi Viên Bách hộ họ Thôi xuất hiện với hình dáng một cư sĩ, tức làthổ thần địa phương, hộ nước giúp dân Hắn lại quở trách Tử Văn bằng nguyên lí
đạo nho, buộc Tử Văn phải dựng trả đền như cũ, nếu không thì sẽ “khó lòng tránh khỏi tai vạ” Nhưng đối lại, Tử Văn : mặc kệ, cứ ngồi ngất ngưởng, tự nhiên Mặc
cho tên gian tức giận, thề thốt, doạ nạt, phất áo ra đi, Tử Văn vẫn cứ một mực điềmnhiên Lấy cái không hề biến đổi để chọi với cái biến đổi đủ mặt, bên nào mạnhhơn bên nào ? Tử Văn một mực làm thinh, một mực an nhiên nhưng bên trong đãphục sẵn một tình thế đảo ngược: Cái mặc kệ, ngất ngưởng của Tử Văn, cái bấtbiến ấy mới là sức mạnh so với cái vạn biến ; là một thứ im lặng để thu sức vàobên trong, chờ đợi cơ hội
Ngoài ra, lời bình cuối truyện là một lời bình hay Hay ý nghĩa hay cả lời văn:
“Người ta thường nói : Cứng thì gãy, kẻ sĩ lo không cứng mà thôi, còn gãy, không gãy là việc trời Sao nên đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm? Ngô Tử Văn chỉ là một anh áo vải Duy giữ được cái cứng nên dám đốt cháy đền tà, bẻ gãy
Trang 12yêu quỷ, chỉ một hành động mà cái tức của thần, của người đều được rửa sạch, vì thế mà rạng danh đời Minh Tào, rồi được trao chức vị để đền công, thật là xứng đáng Làm kẻ sĩ chớ kiêng sợ sự cứng cỏi” Lời bình đề cao cái cứng cỏi của Tử
Văn, cái cứng cỏi vì chính nghĩa, dù có nhất thời chịu khuất nhưng chắc chắn đượcmọi người ủng hộ và nhất định sẽ chiến thắng Muốn cho cái cứng cỏi ấy càng rỡsáng thì không thể không đặt nó bên cạnh những mảng đen tối của cuộc đời Chonên ca ngợi phải đi đôi với sự phê phán Phê phán cái độc ác, ngu dốt, lừa bịp của
hệ thống chính quyền phong kiến
+ Tập cho học sinh phát hiện những từ ngữ quan trọng, những câu then chốt,
những chi tiết, hình ảnh nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm:
Trong tác phẩm bao giờ cũng nổi lên những điểm sáng thẩm mĩ Đó là một số từngữ, hình ảnh, chi tiết quan trọng hơn, kết tinh cao nhất tư tưởng và tài nghệ của
nhà văn Người xưa thường gọi là thi nhãn (mắt thơ), nhãn tự (chữ mắt), cảnh cú
(câu thơ kêu vang lên)…Những chi tiết được gọi là quan trọng cũng đồng thời lànhững sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm văn chương, bởi cái quan trọng vàcái hay bao giờ cũng thống nhất trong lĩnh vực của văn chương nghệ thuật
Nắm bắt được những chi tiết quan trọng hay những tín hiệu thẩm mĩ đang ẩn hiệntrong tác phẩm văn chương là thao tác cần thiết để đến với cái hay, cái đẹp của tác
phẩm văn chương Có nhà nghiên cứu văn học đã từng nói đó là “những cái nút động, mà khi ta ấn vào thì cả bài văn sáng bừng lên".
Vậy những nút động ấy nằm ở đâu? Chắc chắn là ở những từ ngữ đắt nhất, ở
những thủ pháp đặt câu, dựng đoạn công phu, ở cách sử dụng ngữ âm sáng tạo củanhà văn, đó là những lớp từ láy, từ tượng thanh, tượng hình và cả những từ khôngphải là tượng thanh, tượng hình, tưởng như rất bình thường cũng lại chính là nhữngtín hiệu nghệ thuật
Ví dụ: từ “đoàn binh” trong bài thơ “Tây Tiến” Tại sao tác giả không dùng từ đoàn quân? Bởi từ đoàn binh nghe có sức nặng và âm vang hơn Người đọc có
cảm giác như đang lắng nghe những bước chân kiêu hùng của đoàn binh Tây Tiến
Và chẳng hạn như từ “thẹn” trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão Học sinh phải biết tại sao tác giả dùng từ thẹn, ý nghĩa của nó, cảm nhận được điều mà
tác giả muốn gửi gắm,…Khi dạy bài này tại lớp 10B2, tôi đã hướng dẫn các emkhám phá, phân tích các từ ngữ quan trọng của bài thơ, và từ đó, các em đã lĩnh hộinội dung tư tưởng bài học tốt hơn Các em đã rất thích thú khi tự khám phá ý nghĩacủa từ, hiểu tác phẩm và có một số em thuộc lòng bài thơ ngay tại lớp
Những tín hiệu nghệ thuật có khi nằm ở ngay nhan đề của tác phẩm
Ví dụ như nhan đề các tác phẩm Vợ nhặt, Đôi mắt, Rừng xà nu,…
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề hướng dẫn, tổ chức học sinh phân
tích từ ngữ trong đọc văn :
Hướng dẫn học sinh đọc- hiểu bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông? » của Hoàng
Phủ Ngọc Tường, chắc chắn giáo viên phải giúp cho học sinh cảm nhận được vẻđẹp thơ mộng, độc đáo, riêng biệt của dòng sông Hương và cố đô Huế Để đạtđược yêu cầu đó, giáo viên phải tổ chức một hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp họcsinh tiến vào những tín hiệu nghệ thuật của bài kí Sau đây là một vài câu hỏi tiêubiểu:
Trang 13Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện ra nhiều vẻ đẹp khác nhau của dòng sông Hương và đặt tên cho những vẻ đẹp ấy Em hãy cho biết đó là những vẻ đẹp nào?
Vẻ đẹp sông Hương được tác giả khám phá từ những phương diện nào? Những từ ngữ, hình ảnh nào giúp các em nhận biết điều đó?
Căn cứ vào hệ thống từ ngữ đặc sắc của tác phẩm, em hãy cho biết vẻ đẹp của sông Hương ở phương diện không gian, địa lí?
Cảm nhận của tác giả về sông Hương trước khi nó về với vùng châu thổ êm đềm? Tại sao tác giả lại so sánh sông Hương với “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”?
Những từ ngữ nào cho thấy sông Hương đã thành con sông của thi ca, nhạc hoạ, bồi đắp phù sa văn hoá cho đất cố đô, gợi nên một nguồn thơ vô tận? Tại sao tác giả nói sông Hương là dòng sông của “thời gian ngân vang”, là “sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”?
Nói chung, giáo viên phải định hướng, gợi mở để học sinh tiếp cận với những tínhiệu nghệ thuật, phân tích những từ ngữ quan trọng, những từ ngữ gợi hình vàtruyền cảm sâu sắc để các em nhận thức đầy đủ nội dung tư tưởng và nghệ thuậtcủa tác phẩm
Điều đó chứng tỏ để cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương ở phương diện không gianđịa lí, các em phải phân tích được giá trị của những từ ngữ: Khi đi qua giữa lòng
Trường Sơn, sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại” như “một cô gái Di-gan”; khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một “sắc đẹp dịu dàng
và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”; dòng sông hiện lên với nhiều từ ngữ giàu giá trị thẩm mĩ khác: dòng sông mềm như tấm lụa, tạo nên những phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi, dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu,…
Ngoài ra, để khám phá vẻ đẹp sông Hương ở phương diện văn hoá và lịch sử, học
sinh buộc phải phân tích được các từ ngữ quan trọng và đặc sắc như: đó là “bản trường ca của rừng già; là dòng Linh Giang; nó sống hết lịch sử bi tráng…; là
dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc Khinghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi khi nó trở vềvới cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước, có mộtdòng thi ca về sông Hương, dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảmhứng của các nghệ sĩ, sông Hương trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêmkhuya,…
Như vậy, giáo viên đã dẫn dắt học sinh khám phá, cắt nghĩa, bình giá cái hay, cái
đẹp của văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài kí đặc sắc của Hoàng Phủ
Ngọc Tường Giúp các em cảm nhận được tình yêu và niềm tự hào của tác giả vềquê hương, đất nước, thấy được vẻ đẹp đầy chất thơ của dòng sông Hương và bềdày văn hoá, lịch sử của đất cố đô
Khi thực hiện phương pháp giảng dạy này, chúng tôi nhận thấy các em học sinhtiếp thu bài học nhanh hơn, hiểu bài học sâu sắc hơn
Khi phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó,các em không những có được những cảm thức thẩm mĩ toàn diện về vẻ đẹp sông
Trang 14Hương, cảnh vật và con người cố đô Huế mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năngphân tích từ ngữ, hình ảnh trong tác phẩm văn chương Và hơn hết, các em sẽ khắcsâu kiến thức, nhớ bài học lâu hơn, bởi chính các em đã tự khám phá, thẩm thấubài học bằng con đường phân tích, bình giảng những tín hiệu nghệ thuật của tácphẩm.
Mặt khác, chính thao tác phân tích từ ngữ trong tác phẩm văn chương sẽ giúp các
em lĩnh hội tốt hơn đối với những bài học về Tiếng Việt và vận dụng hiệu quả hơntrong khi làm các bài văn nghị luận, nhất là nghị luận văn học Các em tự tìm tòi,phát hiện, suy nghĩ, giải thích, đánh giá cái đặc sắc, thú vị của đoạn văn, đoạn thơtrên cả bình diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật Giáo viên không phải phân tíchthay, bình thay cho học sinh Điều đó sẽ tránh được phương pháp dạy học theo lốicung cấp kiến thức áp đặt cho học sinh, buộc học sinh học thuộc những kiến giảicủa thầy
+ Nghiên cứu, học tập các đoạn bình giảng đặc sắc của các nhà văn, nhà thơ, nhà
nghiên cứu, phê bình văn học :
Trong quá trình chuẩn bị bài học và sau khi học xong tác phẩm, giáo viên cung cấpcho học sinh danh mục những bài, những đoạn giảng bình đặc sắc và yêu cầu họcsinh tìm đọc, nghiên cứu, chỉ ra cái hay trong lời bình của người viết Khám phánày không chỉ giúp các em hiểu được những phát hiện độc đáo, ngôn ngữ bình, kĩthuật bình mà còn giúp các em rèn luyện kĩ năng phân tích từ ngữ trong giờ đọcvăn Bởi đây là biện pháp có nhiều tác dụng đối với việc nâng cao khả năng cảmthụ và bình giá thơ văn của học sinh, giúp các em thêm hiểu, thêm yêu văn học, bồidưỡng cách tư duy văn học, thị hiếu thẩm mĩ và sự nhạy bén trong cảm thụ vănchương Học sinh cũng học được từ đó các kĩ thuật bình giảng văn thơ và nghệthuật sử dụng ngôn ngữ trong phân tích, bình văn thơ hiệu quả hơn Số học sinh có
sổ tay văn học chưa nhiều nhưng so với năm học trước thì đã có sự khởi sắc Các
em đã biết chắt lọc những kiến thức cơ bản, ghi lại những đoạn văn hay, độc đáobình giảng về các từ ngữ then chốt, quan trọng trong văn bản đã học Thái độ họctập cũng có nhiều chuyển biến
2.2 Dạy văn là dạy kĩ năng sống:
Như ta đã biết tiếp nhận văn học là một hoạt động nhằm chiếm lĩnh giá trị tưtưởng, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học Thông qua quá trình đầu tiên là tiếpxúc, cảm thụ văn bản ngôn từ đến việc cảm nhận, hiểu ra chân giá trị của hìnhtượng nghệ thuật và cảm hứng của nhà văn, tài năng diễn tả của nhà văn để làmnên tác phẩm đó Và cuối cùng là quá trình kết thúc sự tiếp nhận ở người đọc quaviệc hiểu, rung cảm, có được những rung cảm, những ấn tượng và chịu ảnh hưởngcủa tác phẩm, của hình tượng nghệ thuật trong đời sống cá nhân
Quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học đã giúp cho con người có được những thóiquen, những tình cảm lành mạnh, những suy ngẫm để tự rèn luyện, tự điều chỉnhbản thân bởi vì chức năng tiếp nhận văn học không chỉ đơn thuần là quá trìnhngười đọc tiếp xúc với tác phẩm văn học mà nó còn diễn ra quá trình nhận thức ở
họ khi người đọc và người học có ý thức cao về những vấn đề trong tác phẩm vănhọc
Trang 15Ví dụ 1 : Khi dạy tác phẩm « Vợ nhặt » của nhà văn Kim Lân, hình ảnh bà cụ Tứ
-hình ảnh người mẹ Việt Nam nghèo khó nhưng yêu thương con, giàu lòng vị tha,mang lại niềm tin cho các con Đứng trên bờ vực thẳm của cái chết bà vẫn nhennhóm niềm tin, động viên con vượt qua
Hoặc trong tác phẩm « Chiếc thuyền ngoài xa » của nhà văn Nguyễn Minh Châu, với hình ảnh một người mẹ hi sinh bản thân mình vì con, sự chịu đựng « ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng », « xin lên bờ để đánh » chỉ để chắt chiu hạnh phúc nhỏ nhoi « nhìn đàn con được ăn no ».
Thật đúng là « Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ », người mẹ luôn là chỗ dựa,
là niềm tin, là nguồn động viên, là ánh sáng để cho con bước vào đời Nếu lúc nào
đó trên đường đời con có vấp ngã, đổ vỡ, bế tắc, mất mát, mệt mỏi …thì con lạikhao khát trở về bên mẹ với ngôi nhà thân quen con sẽ tìm lại được sự yên tĩnhtrong tâm hồn
Khi dạy hai tác phẩm này tôi lại liên hệ với những người mẹ thực tế hiện nay, từ đókhơi gợi cho học sinh những suy nghĩ, tình cảm của mình đối với người mẹ củamình Có thể từ trước đến nay các em chưa quan tâm lắm đến tình cảm của mẹdành cho mình, sống vô tư, hoặc có những suy nghĩ lệch lạc…thì sau bài học nàycác em sẽ dành nhiều tình cảm và sự quan tâm đến mẹ mình hơn
Sau khi học xong tác phẩm tôi cho các em làm bài kiểm tra 15 phút với đề bài
« Em có suy nghĩ gì về mẹ của mình ? Em đã thực sự sống vì mẹ hay chưa ? » Khi
chấm bài tôi thật sự ngỡ ngàng và vui, không ngờ bài học lại có thể tác động đếncác em sâu sắc như vậy, có những bài khiến tôi không cầm được nước mắt Có học
sinh đã viết « Em thấy mình thật ích kỉ, cô có biết không vì sự ích kỉ của em mà mẹ
đã ra đi mãi mãi : em đòi mẹ mua cho em một chiếc xe đạp điện đi học để bằng bạn bè, mà nhà em thì nghèo lắm, mẹ đã đi làm mướn bất cứ công việc gì để kiếm tiền trong khi mẹ bị bệnh tim Bây giờ xe đạp thì em đã có nhưng em không còn
mẹ, em nhớ mẹ, em cần mẹ biết bao, em hối hận nhiều lắm cô à, giá mà thời gian quay trở lại thì… »
Có học sinh thì lại chia sẻ bằng những dòng tình cảm ấm áp « Em may mắn còn có
mẹ cô à, mẹ em rất thương em dù ba em đã bỏ mẹ con em đi vì mẹ em sinh toàn con gái Mẹ đau lòng nhưng đã ở vậy nuôi chị em em đến tận bây giờ, mẹ có thể nhịn mặc ăn đói nhưng không bao giờ để chúng em phải thiếu thốn Em yêu mẹ nhiều lắm, em nguyện sẽ ngoan, học giỏi, thành đạt, trở thành niềm hãnh diện của
mẹ, để chứng minh cho ba thấy là đã sai lầm khi bỏ mẹ con em mà đi… »
Rồi lại có học sinh viết « Em không thể cảm nhận được tình yêu của mẹ vì từ khi
em sinh ra em đã không có mẹ rồi, em chỉ cảm nhận được tình yêu của nội dành cho em, chắc có lẽ tình cảm của nội dành cho em cũng như của người mẹ cô nhỉ ? »
Khi phân tích đến cảnh đánh vợ dã man của người đàn ông làng chài, giáo viên chocác em nói lên suy nghĩ của mình về hành động đó, và để chấm dứt tình trạng bạolực gia đình theo em chúng ta cần làm gì ?
Có học sinh thì cho rằng chúng ta cần phải thông cảm cho người đàn ông vì họ bếtắc nên mới làm thế, bởi sau khi đánh vợ con ông ta lại tiếp tục làm việc vì gia đình