1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội

100 456 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 861,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của Nghị định này nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các tổ chức KH&CN, tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN CỦA CÁC ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI QUY MÔ NHỎ KHI CHUYỂN ĐỔI THEO CƠ CHẾ

TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

(Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN CỦA CÁC ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI QUY MÔ NHỎ KHI CHUYỂN ĐỔI THEO CƠ CHẾ

TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

(Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.70

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Thu đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Tôi cũng xin được cảm ơn các thầy giáo trong Viện Chiến lược Chính sách Bộ Khoa học và công nghệ, các thầy, cô giáo trong Khoa Khoa học Quản lý trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy, cô giáo trong Hội đồng khoa học Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, các anh chị đồng nghiệp ở Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, góp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thị Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH

NHIỆM CỦA ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 12

1.1 Đơn vị nghiên cứu và triển khai 12

1.1.1 Khái niệm Nghiên cứu và triển khai 12

1.1.2 Các loại hình nghiên cứu và triển khai 13

1.1.3 Quản lý nghiên cứu và triển khai tổ chức Nghiên cứu và Triển khai 20

1.1.4 Tổ chức nghiên cứu và triển khai 21

1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai Nhà nước 24

1.2.1 Khái niệm về tự chủ và tự chịu trách nhiệm 24

1.2.2 Hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức Nghiên cứu và triển khai nhà nước 24

1.2.3 Một số chính sách quan trọng tác động đến quá trình tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển khai nhà nước 28

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM 36

2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 36

2.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm 37

2.2.1 Vị trí và chức năng 37

2.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 38

2.3 Tổ chức bộ máy 39

2.3.1 Về cơ cấu tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực 39

2.3.2 Cơ quan quản lý của Trung tâm 40

2.4 Về nguồn lực của Trung tâm 41

2.4.1 Diện tích đất được giao sử dụng 41

2.4.2 Cơ sở vật chất 42

2.4.3 Nguồn lực tài chính 42

Trang 5

2.4.4 Nguồn nhân lực 43

2.5 Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Trung tâm 44

2.5.1 Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học 45

2.5.2 Kết quả chuyển giao công nghệ 46

2.5.3 Kết quả sản xuất, kinh doanh và dịch vụ 49

2.6 Chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Trung tâm từ sau Nghị định 115 50

2.6.1 Chủ trương chung của Nhà nước 50

2.6.2 Thực thi chủ trương chuyển đổi của Nhà nước sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm từ phía Trung tâm 52

CHƯƠNG III CÁC RÀO CẢN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM HÀ NỘI KHI CHUYỂN ĐỔI SANG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM 55

3.1 Đề án phát triển Trung tâm theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 55

3.1.1 Bối cảnh ra đời của Đề án 55

3.1.2 Đề án phát triển Trung tâm theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 56

3.2 Những rào cản trong quá trình thực thi Đề án 57

3.2.1 Từ phía Trung tâm 57

3.2.2 Từ phía quản lý nhà nước 60

3.3 Giải pháp khắc phục những rào cản 64

3.3.1 Xác định lộ trình chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 64

3.3.2 Xây dựng bộ máy Trung tâm đáp ứng được đầu tư của Dự án và quá trình chuyển đổi sang mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm 65

3.3.3 Giải pháp hoạt động cho Trung tâm 68

3.3.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 73

3.3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động 77

Trang 6

1

2

3

4

5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu nhân lực của Trung tâm tại thời điểm năm 2014 43

Bảng 2.2 Kết quả NCKH của Trung tâm giai đoạn 2000 đến 2014 45

Bảng 2.3 Kết quả chuyển giao công nghệ giai đoạn 2005-2014 47

Bảng 2.4 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ 49

Bảng 3.1 Bộ máy của Trung tâm trước và sau khi chuyển đổi 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu 15

Hình 1.2 Chu trình của các sản phẩm nghiên cứu khoa học 19

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm CNSH&CNTP 39

Hình 2.2 So sánh số đề tài ở các giai đoạn 46

Hình 2.3 So sánh số hợp đồng CGCN qua các giai đoạn 48

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội 67

Trang 8

CGCN Chuyển giao công nghệ

NCUD Nghiên cứu ứng dụng

NCKH Nghiên cứu khoa học

KH&CN Khoa học và Công nghệ

ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

KT-XH Kinh tế - Xã hội

WTO World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế

giới) GLP Good Laboratory Practice (Thực hành tốt phòng Kiểm

nghiệm) HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points (Phân tích

mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn) ISO/IEC International Organization for Standardization/

International Electrotechnical Commission (Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế/Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Ngày 05/9/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị Định 115/NĐ-CP (NĐ115) qui định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập Mục đích của Nghị định này nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các

tổ chức KH&CN, tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ trong sản xuất kinh doanh và đào tạo nguồn nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN; tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN cho đất nước

Tư tưởng chỉ đạo và đổi mới của NĐ115 và Nghị định 96/2010/NĐ-CP (NĐ96) sửa đổi, bổ sung NĐ115 là Nhà nước giao quyền tự chủ toàn diện về

tổ chức, biên chế, xác định nhiệm vụ và tài chính cho các tổ chức KH&CN công lập với mức tự chủ cao nhất, với cơ chế thông thoáng nhất Đây là một nghị định có rất nhiều điểm tiến bộ mang tính đột phá Các tổ chức KH&CN được quyền tự chủ, trong đó có một quyền quan trọng nhất là tự chủ về tài chính

Theo NĐ115, các tổ chức KH&CN còn được quyền sản xuất kinh doanh như một doanh nghiệp và được hưởng mọi ưu đãi của doanh nghiệp Đây là nội dung quan trọng làm cho kết quả nghiên cứu của các viện, các trung tâm được chuyển giao vào sản xuất kinh doanh theo con đường ngắn nhất, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tăng thu nhập của mình cũng như bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu do mình làm ra

Trước đây, các tổ chức KH&CN chỉ tập trung nghiên cứu và sản xuất

Trang 10

thử nghiệm với quy mô nhỏ, không có chức năng sản xuất, kinh doanh Chính

vì vậy, nhiều kết quả nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc tìm địa chỉ ứng dụng Tuy nhiên, từ khi Chính phủ ban hành NĐ115, những vướng mắc này dần dần được tháo gỡ Ngoài việc thực hiện các chức năng chính là nghiên cứu như trước đây, khi đăng ký chuyển đổi sang mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm, các tổ chức này được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh như một doanh nghiệp

Đây được coi là bước chuyển biến lớn đối với các tổ chức KH&CN để

họ tự thương mại hóa kết quả nghiên cứu của mình hoặc sử dụng kết quả nghiên cứu của mình để góp vốn liên doanh Việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng tạo điều kiện từng bước đổi mới phương thức giao và thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Với cơ chế tự chủ về tài chính và được phép sản xuất kinh doanh, các tổ chức KH&CN có điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư cho KH&CN, từng bước

xã hội hóa hoạt động KH&CN, góp phần đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất và đời sống Bên cạnh đó, NĐ115 cũng cho phép các tổ chức KH&CN chủ động trong hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, mời chuyên gia nước ngoài đến làm việc cũng như hoàn toàn chủ động trong việc

cử cán bộ đi nước ngoài học tập và làm việc mà không phải thông qua cơ quan chủ quản

Được các chuyên gia phân tích với nhiều ưu điểm như trên, tuy nhiên, NĐ115 đã trải qua gần 9 năm thực hiện, cho đến nay, Nghị định này vẫn chưa thực sự được triển khai theo đúng tinh thần và lộ trình của nó Đặc biệt là với các đơn vị nghiên cứu – triển khai có quy mô nhỏ chuyển đổi theo NĐ115 chưa nhiều Do trong quá trình chuyển đổi gặp rất nhiều khó khăn như: tiềm lực KH&CN của các đơn vị còn rất nhỏ, nhiều đơn vị chưa có trụ sở riêng, cơ

sở vật chất, trang thiết bị nghèo nàn, nguồn nhân lực yếu và mỏng, biên chế ít

Trang 11

đó là những rào cản từ khách quan và chủ quan của từng đơn vị Vì thế để tìm

ra được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp thích hợp chúng tôi nghiên cứu

đề tài “Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu

– triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

và giải pháp khắc phục” nghiên cứu trên đối tượng cụ thể là Trung tâm Công

nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội

Đề tài luận văn này nhằm nghiên cứu, tìm hiểu những rào cản vấn đề nêu trên qua khảo sát và phân tích thực trạng đơn vị nghiên cứu – triển khai là Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; đồng thời bước đầu đề xuất các giải pháp khắc phục giúp cho đơn vị sau quá trình chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm hoạt động được tốt hơn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghị định 115/2005/NĐ-CP đã trải qua gần 9 năm thực hiện Nhưng cho đến nay, Nghị định này vẫn chưa thực sự được triển khai theo đúng tinh thần

và lộ trình của nó Vì thế vấn đề này đang rất được quan tâm nghiên cứu, đã

có nhiều bài báo của các chuyên gia phân tích thực trạng và khó khăn của các

đơn vị sự nghiệp khoa học khi chuyển đổi theo mô hình này như: “Vì sao các

Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN địa phương còn lúng túng khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ” của tác giả Nguyễn Quân, “Triển khai Nghị định 115 chậm, nguyên nhân vì sao” của Phương Thảo, luận văn thạc sỹ “Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị NC&TK của ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và giải pháp khắc phục” của Nguyễn Thanh Bình…

Trong khuôn khổ đào tạo Thạc sĩ Kinh Doanh và Quản lý tại Trường Đại

Trang 12

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008, tác

giả Luận văn Vũ Tuệ Anh đã thực hiện đề tài “Điều kiện chuyển đổi tổ chức

NC&TK theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (nghiên cứu trường hợp Viện Dược liệu)” Cùng năm 2008 tác giả Phạm Thúy Nga đã nghiên cứu đề tài

“Xác định điều kiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của

các tổ chức NC&TK thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam” và năm

2011, tác giả Luận văn Lê Thu Hương đã nghiên cứu đề tài “Nhận diện những

yếu tố các trò chơi việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP”

Các đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích khó khăn và đưa ra giải pháp chung cho tất cả các tổ chức KH&CN, hoặc trên một số đối tượng cụ thể Nhận thấy đây là là một chủ đề quan trọng cần được nghiên cứu kỹ

lưỡng Cùng với xu hướng đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên

cứu giải pháp khắc phục những rào càn của các đơn vị nghiên cứu – triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và giải pháp khắc phục Nghiên cứu trên đối tượng cụ thể là Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội” là một đơn vị hiện nay vẫn đang rất lúng túng trong quá

trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ Đây cũng là ví dụ điển hình cho các Trung tâm nghiên cứu triển khai có quy mô nhỏ, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ còn hạn chế

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định rào cản của các đơn vị nghiên cứu – triển khai quy mô nhỏ (Phân tích trường hợp cụ thể là Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội) trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Đề xuất những giải pháp khắc phục cho Trung tâm

Trang 13

4 Đối tượng nghiên cứu

Rào cản và các giải pháp cho Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

5 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Trung tâm CNSH&CNTP thuộc Sở Khoa học

và Công nghệ Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2000 đến nay

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng hoạt động của Trung tâm Sinh học và Công nghệ thực phẩm

Hà Nội hiện nay khi chưa chuyển sang hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm

là gì? Những bất cập còn tồn tại, cần phải giải quyết?

- Những giải pháp chính sách nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội theo cơ chế

tự chủ, tự chịu trách nhiệm?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Thực trạng hoạt động của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội đã trải qua rất nhiều giai đoạn khó khăn về cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị, con người, hoạt động NC&TK của đơn vị, nguồn thu ít không đảm bảo được kinh phí và phải hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước cấp là chính

Mặc dù đã xây dựng đề án chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo NĐ115 từ năm 2007 nhưng với điều kiện hiện tại, việc chuyển đổi

mô hình hoạt động sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm ngay theo NĐ115 là rất khó

Để chuyển đổi thành công Trung tâm cần phải có các giải pháp sau:

Trang 14

Kiện toàn và hoàn chỉnh bộ máy tổ chức, nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nâng cao hiệu quả hoạt động

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích và tổng hợp các tài liệu liên

quan đến nội dung đề tài (cơ sở lý thuyết liên quan, các báo cáo tổng hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội về công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; các tài liệu khảo sát thực tiễn…)

- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn một số lãnh đạo của Trung tâm

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý chung về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị nghiên cứu và triển khai

Chương 2: Thực trạng hoạt động của Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội

Chương 3: Rào cản và các giải pháp khắc phục của Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 15

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA ĐƠN VỊ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI

1.1 Đơn vị nghiên cứu và triển khai

1.1.1 Khái niệm Nghiên cứu và triển khai

Thuật ngữ nghiên cứu và triển khai đã được hình thành từ lâu và được sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về nghiên cứu và triển khai Có thể nêu ra một số khái niệm điển hình sau đây

Theo UNESCO và OECD, NC&TK là các hoạt động sáng tạo được thực

hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới [19]

Trong đề tài nghiên cứu này, thuật ngữ “Nghiên cứu và Triển khai”, viết tắt là “NC&TK”, đồng nghĩa với thuật ngữ “Research and Development”, viết tắt là “R&D” của UNESCO và cũng đồng nghĩa với thuật ngữ “nghiên cứu và phát triển trong Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 Kể từ phần này trở

đi, đề tài dùng thống nhất thuật ngữ “NC&TK”

Theo Nghị quyết 51/HĐBT và Thông tư hướng dẫn số 1438/KHKT-TC giữa Liên bộ Bộ Tài chính và Ủy ban KHKT Nhà nước, tổ chức NC&TK nhà nước được tiến hành ba loại hoạt động: Nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ kỹ thuật cao hơn, nhưng chưa có điều kiện sản xuất đại trà Điều này tiếp tục được khẳng định

và phát triển ở Quyết định 134/HĐBT và đặc biệt là tại Nghị định 35/HĐBT Như vậy, theo các văn bản của Nhà nước, tổ chức NC&TK nhà nước là một loại hình tổ chức có chức năng sản xuất ra các sản phẩm KH&CN phục

Trang 16

vụ cho toàn xã hội (với tư cách như một hoạt động công ích) Không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, vào cấp trực thuộc, vào lĩnh vực KH&CN, cơ quan NC&TK có chức năng thực hiện như một khâu hoặc nhiều khâu của chu trình NC&TK

1.1.2 Các loại hình nghiên cứu và triển khai

Hoạt động NC&TK bao gồm các loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm Sự phân loại NCKH theo các loại hình nghiên cứu như trên được thống nhất sử dụng trên thế giới, giúp nhận thức rõ bản chất của NCKH, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, lập kế hoạch nghiên cứu.1

1.1.2.1 Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research) 2

Nghiên cứu cơ bản (NCCB) là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy

Sản phẩm của NCCB có thể là khám phá, phát hiện, phát minh dẫn đến việc hình thành hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khoa học

NCCB được phân ra làm 2 loại: NCCB thuần túy và NCCB định hướng

- Nghiên cứu cơ bản thuần túy (Pure fundamental rearch)

Nghiên cứu cơ bản thuần túy là những nghiên cứu về bản chất của sự vật giúp nâng cao nhận thức, chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng

- Nghiên cứu cơ bản định hướng (Oriented fundamental research)

Nghiên cứu cơ bản định hướng là những NCCB đã dự kiến trước mục

1 Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật,

Trang 17

đích ứng dụng như các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã hội… NCCB định hướng được chia làm hai loại:

+ Nghiên cứu nền tảng là nghiên cứu về quy luật tổng thể của một hệ thống sự vật như hoạt động điêu tra cơ bản về kinh tế, xã hội;

+ Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu về một hiện tượng đặc biệt của sự vật như gen di truyền, bức xạ, vũ trụ… Nghiên cứu này vừa dẫn đến việc hình thành cơ sở lý thuyết, vừa dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn

1.1.2.2 Nghiên cứu ứng dụng (Applied research)

NCƯD là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người

và xã hội

Cần lưu ý rằng, kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được Để đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, đó là triển khai

1.1.2.3 Triển khai thực nghiệm (Technological experimental development) 3

Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở dạng mẫu Triển khai là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu (prototype) với những tham số khả thi về kỹ thuật Hoạt động triển khai bao gồm 03 giai đoạn:

- Tạo vật mẫu (prototype):

Đây là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất và quy mô áp dụng

Trang 18

- Sản xuất thử loạt nhỏ (còn gọi là sản xuất “serie 0”):

Đây là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ, thường gọi là quy mô sản xuất bán đại trà hay quy mô bán công nghiệp

Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu trong phần này được trình bày tại hình dưới đây

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu 4

Trên thực tế, có thể trong một đề tài nghiên cứu chỉ tồn tại một loại hình nghiên cứu, song cũng có thể tồn tại hai hoặc thậm chí cả ba loại hình nghiên cứu, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Theo cách phân loại của UNESCO, hoạt động sản xuất thử sau khi thử nghiệm thành công các vật mẫu (prototype), không được kể vào hoạt động

NGHIÊN CỨU

CƠ BẢN

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG

Nghiên cứu chuyên đề

Tạo vật mẫu (prototype)

Tạo quy trình sản xuất vật mẫu (pitlot) Sản xuất thử loạt nhỏ

“serie 0”

Trang 19

KH&CN mà thuộc chức năng của sản xuất Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, khái niệm hoạt động Triển khai trong nghiên cứu này được mở rộng hơn so với quan điểm của UNESCO, bao gồm cả sản xuất thử các vật mẫu (Prototype)

1.1.2.4 Mối quan hệ giữa NCCB – NCƯD – Triển khai 5

Tiếp cận theo cách mà một sản phẩm từ khi được hình thành trong ý tưởng của nhà nghiên cứu, rồi được nghiên cứu qua các giai đoạn và cuối cùng được đưa ra thị trường, thì trước hết, nhà nghiên cứu cần nhận ra rằng thị trường đang có nhu cầu về loại sản phẩm này, sau đó nhà nghiên cứu sẽ hình thành ý tưởng tạo sản phẩm đó để áp ứng thị trường

Để tạo ra sản phẩm này nhà nghiên cứu phải tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Và sản phẩm sẽ được dần hình thành qua từng loại hình nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai)

- Nghiên cứu cơ bản là giai đoạn nhà nghiên cứu bắt đầu thực hiện các thao thác để đưa ý tưởng thành thực tế Trong loại hình này, nhà nghiên cứu tạo ra một hệ thống lý thuyết về sản phẩm với những phân tích về thuộc tính, cấu trúc, quy luật hướng tới mục đích ứng dụng

- Nghiên cứu ứng dụng là giai đoạn dựa những tri thức, quy luật thu được từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản về sản phẩm, đem áp dụng vào trong một môi trường cụ thể (giống môi trường thực tế) nhằm tìm hiểu về nguyên lý hoạt động của sản phẩm Thành công trong giai đoạn này, sản phẩm có thể trở thành một sản phẩm hoặc một giải pháp mới chưa từng có với những thông số

kỹ thuật hoàn toàn mới (đây chính là sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, được cấp bằng sáng chế và được bảo hộ theo Luật Sở hữu Trí tuệ) Tuy nhiên, để đưa sản phẩm này ứng dụng vào thực tế cần phải tiến hành một loại hình

Trang 20

nghiên cứu khác đó là triển khai

- Triển khai là giai đoạn vận dụng các quy luật thu đƣợc từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản và các nguyên lý thu đƣợc từ giai đoạn nghiên cứu ứng dụng để đƣa ra sản phẩm mẫu (prototype), sau đó tạo ra công nghệ để chế tạo sản phẩm mẫu (pilot) và kết thúc là một lô số 0 sản xuất thử theo loại nhỏ (serie 0) Thời gian này kéo dài khoảng từ 0,5 – 2 năm, đòi hỏi chi phí tài chính lớn và có sự tham gia của các tác giả nghiên cứu để kịp thời hoàn thiện các thông số kỹ thuật của cả sản phẩm và quy trình công nghệ

Kết thúc 3 giai đoạn nghiên cứu, lúc này sản phẩm đã hình thành; tuy nhiên, đây mới chỉ là mẫu vật có tính khả thi về kỹ thuật và đƣợc khẳng định

là không còn xác suất rủi ro về mặt kỹ thuật Để đƣa sản phẩm đó vào sản xuất công nghiệp thì còn phải nghiên cứu những tính khả thi khác

1.1.2.5 Phân biệt khái niệm “triển khai” và “Phát triển công nghệ”

Chữ “D” trong cụm “NC&TK” đƣợc một số tác giả dịch là “Phát triển”

là chƣa thoả đáng, bởi vì tuy viết là “D” nhƣng thực ra thuật ngữ này còn có tên gọi đầy đủ là “Technical Experimental Development”, về sau gọi là

“Technological Experimental Development” gọi tắt là “Technological Development” hoặc “Development”, năm 1959, Giáo sƣ Tạ Quang Bửu đặt thuật ngữ tiếng Việt là “Triển khai kỹ thuật”, gọi tắt là “Triển khai” Giữa

“Triển khai” và “Phát triển công nghệ” có sự khác nhau cơ bản cả về ý nghĩa lẫn chính sách tài chính

Triển khai thuộc phạm trù nghiên cứu khoa học, là “thực nghiệm một lý

thuyết khoa học cho nó thành công nghệ” mà sản phẩm đặc trƣng của nó gồm

3 loại: prototype, pilot và serie 0, Sản phẩm của giai đoạn này chƣa thể mang lại lợi nhuận

Triển khai đƣợc cấp vốn theo nguồn Nghiên cứu và Triển khai

Trang 21

(NC&TK), Bán sản phẩm của Triển khai được miễn thuế

Phát triển công nghệ (Development of Technology) thuộc phạm trù sản

xuất, là sự mở mang công nghệ, có thể chiều rộng (Extensive Development) lẫn chiều sâu (Intensive Development) nhằm mục đích nâng cao doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp

Phát triển công nghệ phải dùng vốn tự có của sản xuất hoặc vốn vay và sản phẩm phải chịu thuế

1.1.2.6 Mối quan hệ giữa NC&TK với hoạt động sản xuất kinh doanh

Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất công nghiệp là giai đoạn kết thúc của công tác NCKH Đây là quá trình chuyển giao công nghệ (chuyển giao theo chiều dọc – từ khu vực NC&TK sang khu vực sản xuất công nghiệp), kết thúc giai đoạn thử nghiệm sản xuất các vật liệu, thiết bị, công nghệ mới để chuyển sang áp dụng vào sản xuất đại trà ở quy mô công nghiệp

Trước khi đưa sản phẩm vào sản xuất công nghiệp và thương mại hóa thành công, thì còn phải nghiên cứu những tính khả thi khác như khả năng tài chính của nhà đâu tư, khả năng cạnh tranh, giá cả, nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, chính sách của Chính phủ, tín ngưỡng, văn hóa, xã hội… Giai đoạn chuyển tiếp này cũng là giai đoạn rất khó khăn và đầy những

rủi ro Theo cách nói của TS Chales Wessner (2001) thì đây là quá trình vượt

qua biển sinh tồn bởi chỉ khi sản phẩm cạnh tranh thành công và có chỗ đứng

trên thị trường thì mới khẳng định được hiệu quả của NCKH Theo đánh giá

của Trung tâm Chuyển giao công nghệ Hàn Quốc, tỷ lệ chuyển đổi thành công chỉ khoảng 20%, điều này có nghĩa là, có tới khoảng 80% sản phẩm NCKH khi kết thúc giai đoạn phòng thí nghiệm và đưa ra thị trường là thất bại

Trang 22

Vậy, một sản phẩm NCKH được cho là Thành công khi nó trải qua được

một chu trình xác định như trong Hình 1.2

Nội dung trên đã giúp lý giải được phần nào những thất bại của các sản phẩm NCKH khi thâm nhập thị trường Có thể việc nghiên cứu các yếu tố khả thi đã không được thực hiện hoặc nếu có thì cũng chưa thực hiện được một cách thoả đáng

Hình 1.2 Chu trình của các sản phẩm nghiên cứu khoa học

- Tin lực: Tin lực được thể hiện qua nguồn thông tin được lưu trữ, cập nhật, sử dụng, cơ sở hạng tầng kỹ thuật kèm theo và khả năng xử lý thông tin của tổ chức và độ tin cậy của những thông tin đó

Các loại hình thông tin bao gồm: thông tin nguyên liệu (sách, báo, tài liệu); thông tin về phương pháp nghiên cứu (của chuyên ngành hoặc của các ngành khác); thông tin về các nguồn lực khác (nguồn nhân lực, vật lực, tài lực)

R&D

(Kết thúc bằng sản xuất thử

quy mô nhỏ - serie 0)

Sản xuất và kinh doanh

(Sản xuất đại trà – Serie 1 n)

Trang 23

1.1.3 Quản lý nghiên cứu và triển khai ở các tổ chức Nghiên cứu và Triển khai

Việc phân loại các đề tài NCKH theo từng loại hình NC&TK sẽ giúp cho công tác quản lý NCKH được dễ dàng hơn Trên thực tế tại Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, các đề tài NCKH được chia thành 2 cụm chính: cụm gồm các đề tài thuộc loại hình NCCB và NCƯD và cụm gồm các đề tài thuộc loại hình Triển khai (AT) Bởi vậy, trong công tác quản lý các

đề tài NCKH thuộc từng loại hình nghiên cứu cũng cần có những hình thức và phương pháp thích hợp

- Cụm gồm các đề tài thuộc loại hình NCCB và NCỨD:

Đối với các đề tài này, việc xét tuyển đầu vào và đánh giá đầu ra chủ yếu căn cư vào tính khoa học, khả năng tác động của kết quả với KH&CN, kinh tế

- xã hội theo cách xem xét và suy luận định tính là chính Việc hạch toán kinh

tế cũng cần có chế độ riêng, trong đó chi phí cho chất xám phải chiếm một tỉ

lệ rất đáng kể

- Cụm gồm các đề tài thuộc loại hình Triển khai (AT):

Đối với các đề tài thuộc loại hình nghiên cứu này, việc xét tuyển đầu vào

và đánh giá nghiệm thu kết quả ở đâu ra lại dựa trên hai phương diện trình độ KH&CN và hiệu quả kinh tế - xã hội Đây là cơ sở để xác định phương thức chi tiêu và hoạch toán kinh phí Trong giai đoạn này, ngoài những chi phí cho chất xám, đề tài còn có những khoản chi phí về nguyên vật liệu, năng lượng, nhân công và những chi phí cho đánh giá về kinh tế - xã hội khác

Như vậy, một đề tài có thể có từ 1 đến 2 phương thức thanh quyết toán cho từng mô đun; nhưng như thế thì chế độ chi tiêu và công tác quản lý sẽ rõ ràng hơn, tránh được những khó khăn không đáng có

Trong hoạt động quản lý NC&TK, sau khi phân định đề tài nghiên cứu

Trang 24

theo từng loại hình NC&TK, thì việc đánh giá NCKH cũng rất quan trọng Đánh giá NCKH được bắt đầu tư khâu xét duyệt đề cương nghiên cứu, đến khâu nghiệm thu kết quả nghiên cứu và đánh giá hiệu quả nghiên cứu sau khi

áp dựng vào thực tế

1.1.4 Tổ chức nghiên cứu và triển khai 6

* Khái niệm tổ chức NC&TK

Tổ chức NC&TK là các đơn vị có tiến hành các hoạt động NC&TK như các viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm,

cơ sở sản xuất thử, cơ sở NC&TK trong các doanh nghiệp…, nhằm sản xuất

ra các sản phẩm đặc thù – sản phẩm KH&CN để phục vụ xã hội, có chức năng thực hiện một hoặc nhiều khâu như NCCB, NCƯD và Triển khai

Vậy tổ chức NC&TK chính là nơi thực hiện quá trình biến đổi các nguồn lực đầu vào của NC&TK thành các sản phẩm đầu ra như mục tiêu mà các nhà quản lý đã dự định trước Những sản phẩm của NC&TK luôn có tính đặc thù,

đó là tính sáng tạo, tính mới chưa từng có

* Các loại tổ chức NC&TK

Theo trật tự hành chính và tùy theo quy mô, phạm vi hoạt động mà tổ chức NC&TK được phân bậc như dưới đây (việc phân chia này chỉ mang tính tương đối và thường rõ ràng ở các nước có nền kinh tế tập trung; còn ở các nước có nền kinh tế thị trường thì phần lớn các tổ chức này thuộc sở hữu tư nhân)

- Tổ chức NC&TK cấp quốc gia:

Tổ chức NC&TK cấp quốc gia do Chính phủ quyết định thành lập, chủ

6 Nguyễn Văn Học (1999), Nghiên cứu các loại hình Nghiên cứu và phát triển của Việt Nam phục

Trang 25

yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật; tạo ra các kết quả KH&CN mới, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong lĩnh vực KH&CN

Một số tổ chức NC&TK cấp quốc gia:

+ Viện Hàn lâm khoa học (Academy): là một tổ chức NCKH, trong đó bao gồm một tập hợp các viện NCKH với nhiều hướng chuyên môn khác nhau Mỗi hướng chuyên môn được tổ chức thành Ban, mỗi Ban gồm một số viện nghiên cứu chuyên ngành Viện hàn lâm khoa học chỉ có ở một số nước Nga, Trung Quốc Hiện tại, ở nước ta, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chính là tổ chức NC&TK cấp quốc gia

+ Khu công nghệ cao: là nơi tổ chức các hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao và nghiên cứu công nghệ cao gồm: các tổ chức NC&TK, các cơ sở đào tạo - huấn luyện, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ cao nhằm tiếp thu, đồng hóa, cải tiến các công nghệ được chuyển giao, sáng tạo công nghệ cao mới và sản xuất các sản phẩm công nghệ cao Khu công nghệ cao Hòa Lạc chính là tổ chức NC&TK cấp quốc gia

- Tổ chức NC&TK cấp Bộ, tỉnh và tương đương:

Tổ chức NC&TK cấp Bộ, tỉnh và tương đương do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc ủy quyền cho các Bộ hoặc các tỉnh thành lập, chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN Đây là loại hình phổ biến nhất Một số tổ chức NC&TK cấp Bộ, tỉnh:

+ Viện nghiên cứu cơ bản: là tổ chức có cơ chế hoạt động và cơ cấu tổ

Trang 26

chức được phỏng theo mô hình các bộ môn khoa học, chủ yếu tiến hành các hoạt động nghiên cứu cơ bản, tập trung ở các trung tâm khoa học quốc gia và trường đại học

+ Viện nghiên cứu chính sách: là tổ chức có cấu trúc tương đối đơn giản,

chủ yếu nghiên cứu về chính sách phục vụ công tác quản lý nhà nước của ngành hay địa phương mình, tập trung ở các cơ quan nhà nước cấp Bộ, tỉnh

+ Viện nghiên cứu công nghệ: là một tổ chức có cấu trúc khá phức tạp,

có các bộ phận nghiên cứu, thiết kế, kiểm định, khu vực sản xuất và thậm chí

cả doanh nghiệp Tổ chức này thường được thiết kế theo mô hình ma trận và

có các chức năng chính như: NCKH, ươm tạo công nghệ, tư vấn và dịch vụ

- Tổ chức NC&TK cấp cơ sở:

Tổ chức NC&TK cấp cơ sở do các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước hoặc do cá nhân lập ra, nhằm thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu, nhiệm vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định Tổ chức NC&TK cấp cơ sở thường nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật, công nghệ làm cơ sở cho đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp để tăng tính cạnh tranh

- Đơn vị NC&TK quy mô nhỏ:

Tác giả chưa tìm thấy khái niệm về các đơn vị NC&TK quy mô nhỏ, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này tác giả đưa ra khái niệm như sau: Đơn vị NC&TK quy mô nhỏ là những Trung tâm hoặc những đơn vị NC&TK cấp 2 thuộc một số Sở ngành hoặc của một số viện nghiên cứu Có quy mô dưới 50 người và thường chỉ tập trung NC&TK vào một đến hai lĩnh vực Ví dụ: Trung tâm CNSH&CNTP thuộc Sở KH&CN Hà Nội chỉ NC&TK lĩnh vực Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm…

Trang 27

1.2 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai Nhà nước

1.2.1 Khái niệm về tự chủ và tự chịu trách nhiệm

Theo từ điển tiếng Việt: tự chủ có nghĩa là tự điều hành, tự quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi phối, có đường lối tự chủ, tự làm chủ hành động của mình, không bị hoàn cảnh chi phối

“Tự chịu trách nhiệm” có nghĩa là: tự chịu trách nhiệm với những công việc của mình với những hành động và việc làm của mình

Theo nghĩa của từ “tự chủ và tự chịu trách nhiệm” nêu trên, chúng tôi cho rằng, việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&TK có nghĩa

là: Các tổ chức này phải chủ động trong việc thực hiện các hoạt động cũng

như các nhiệm vụ KH&CN theo chức năng của tổ chức mình, đồng thời phải quản lý tốt và có trách nhiệm với các kết quả đạt được của quá trình hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ NC&TK

Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nghĩa là hệ thống các cách thức, phương pháp, biện pháp của các tổ chức NC&TK để thực thi các hoạt động và nhiệm vụ NC&TK, tổ chức NC&TK phải có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc điều hành, quản lý hoạt động NC&TK của tổ chức mình một cách tốt nhất trên cơ sở tuân thủ luật pháp để mang lại hiệu quả cho nền KT-XH mà không gặp phải những rào cản, những trở ngại nào

1.2.2 Hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức Nghiên cứu

và Triển khai nhà nước

Hoạt động của tổ chức NC&TK nhà nước liên quan đến nhiều mặt về hoạt động KH&CN, tài chính, quản lý nhân sự, quan hệ quốc tế… Hoạt động

tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK nhà nước cũng diễn ra trên

Trang 28

tất cả các mặt đó Đồng thời, hiện tượng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK của các nhà nước rất phong phú Ở đây sẽ tập trung vào các khía cạnh như: tự chủ trong hoạt động khuôn khổ nhà nước (nhiệm vụ của nhà nước giao, kinh phí nhà nước cấp…), tự chủ trong hoạt động ngoài khuôn khổ nhà nước, quan hệ giữa tự chủ (quyền) và tự chịu trách nhiệm (nghĩa vụ), cách thức giải quyết những mâu thuẫn đặt ra

- xã hội… Với loại nhiệm vụ này, tổ chức NC&TK chỉ là người lĩnh hội và thực hiện nhiệm vụ trên giao

Loại nhiệm vụ thứ hai là các chủ đề nghiên cứu trong chức năng hoạt động của tổ chức NC&TK nhà nước (đã được Nhà nước quy định) Trong một phạm vi khá rộng, việc nghiên cứu thuộc nhà nước có quyền và phải tự chịu trách nhiệm lựa chọn ra các vấn đề làm nhiệm vụ khoa học và công nghệ

cụ thể Đối với một số nhiệm vụ được Nhà nước giao trực tiếp nhưng chỉ có tính chất định hướng, viện nghiên cứu cũng phải tự cụ thể hóa, xác định rõ các vấn đề cần tập trung giải quyết

Nhìn chung, mức độ tự chủ của loại nhiệm vụ thứ hai cao hơn loại nhiệm vụ thứ nhất, nhưng giới hạn về tự chủ ở loại này cũng rất rõ ràng Ngoài giới hạn lĩnh vực, phạm vi xác định đề tài theo chức năng và theo nhiệm vụ định hướng do Nhà nước giao trực tiếp, thông thường các kế hoạch nghiên cứu của đơn vị còn phải được Nhà nước xét duyệt một cách chặt chẽ

Trang 29

Loại nhiệm vụ thứ ba là các hợp đồng mà tổ chức NC&TK ký kết thực hiện với bên ngoài Lựa chọn những hợp đồng nào hoàn toàn thuộc quyền tự chủ của các đơn vị trên cơ sở vận dụng của kinh tế thị trường Một số chương trình nghiên cứu của Nhà nước được mang ra đấu thầu cũng thuộc loại nhiệm

vụ thứ ba, bởi vậy đơn vị có thể toàn quyền quyết định có tham gia đấu thầu hay không và tham gia chương trình nào…

Dường như không có một tiêu chuẩn rõ ràng về sự cân đối giữa ba loại nhiệm vụ trên Nhưng có thể nói các nước đã chú ý đến mối quan hệ tương tác giữa đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và chuẩn bị tiềm lực lâu dài, giữa đáp ứng đòi hỏi của nhà nước và yêu cầu các doanh nghiệp của thị trường, giữa hợp đồng mang lại nguồn lợi kinh tế và NCCB… Như vậy, có những điểm tương đồng giữa viện nghiên cứu thuộc nhà nước và viện nghiên cứu thuộc doanh nghiệp lớn

- Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Nếu như ở khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu có khác nhau nhất định

về mức độ độc lập, tự chủ giữa 3 loại nghiệm vụ thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lại có xu hướng chung tôn trọng tính chủ động của tổ chức nghiên cứu phát triển nhà nước Các tổ chức NC&TK nhà nước tự do xác định phương pháp nghiên cứu, tự do huy động và bố trí các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu…

Tổ chức NC&TK nhà nước thường có quyền tự do liên doanh, liên kết với bên ngoài, được thành lập các doanh nghiệp khoa học như Spin – off trên

cơ sở các kết quả nghiên cứu ra Các đơn vị cũng có thể tự thay đổi tổ chức,

cơ cấu bên trong nhưng không được có biểu hiện xa rời nhiệm vụ chức năng được giao Sự chi phối của quyền sở hữu nhà nước có khi được thể hiện trên nguyên tắc nhưng cũng có khi rất cụ thể

Trang 30

- Về sử dụng truyền bá kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu là sản phẩm của việc sử dụng các nguồn lực tự huy động của tổ chức NC&TK nhà nước sẽ thuộc toàn quyền sử dụng của đơn

vị Vấn đề là những kết quả nghiên cứu sử dụng kinh phí của nhà nước thì các

tổ chức NC&TK nhà nước có quyền tự chủ sử dụng và truyền bá hay không? Đây là một chủ đề được thảo luận nhiều ở các nước và trên thực tế cũng tồn tại những cách khác nhau

- Về quản lý tài chính

Các tổ chức NC&TK nhà nước được Nhà nước đảm bảo cung cấp một nguồn kinh phí thường xuyên phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Nguồn kinh phí thường bao gồm chi cho các khoản về vốn cố định và vốn lưu động tối thiểu để đơn vị có đủ điều kiện tiến hành một

số nội dụng nghiên cứu cụ thể trong phạm vi chức năng của mình Thủ tục phải tiến hành để nhận kinh phí từ Nhà nước khá chặt chẽ

Ngoài kinh phí Nhà nước cấp, các tổ chức NC&TK nhà nước còn mở rộng nguồn vốn từ nhiều hình thức như: hợp đồng nghiên cứu với bên ngoài, sản xuất thử nghiệm, nguồn tài trợ, vốn đi vay…

- Về quản lý nhân lực

Nhìn chung, tổ chức NC&TK nhà nước có quyền tự chủ trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đề bạt cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong đơn vị Trong đó, nổi bật có một số vấn đề về quyền của thủ trưởng, tự chủ của cán bộ nghiên cứu, phân biệt giữa lực lượng cán bộ trong tổ chức NC&TK nhà nước với đội ngũ công chức nhà nước nói chung

Là đơn vị thuộc thành phần nhà nước, các tổ chức NC&TK thường có những quy chế hoạt động được cấp trên quy định rõ ràng Đây là khuôn khổ

để các thủ trưởng đơn vị sử dụng quyền hạn của mình

Trang 31

Tự chủ của các tổ chức NC&TK nhà nước thường bao gồm cả tự chủ của các cán bộ nghiên cứu trong đó Nhân lực hoạt động trong tổ chức NC&TK nhà nước là một loại lao động khá đặc thù Làm việc trong các cơ quan của nhà nước, nhưng nghiên cứu khoa học thì cần có sự độc lập, tự chủ… Ở nhiều nước, mâu thuẫn này được giải quyết bằng cách coi cán bộ khoa học là loại công chức, viên chức đặc biệt, có bổ sung thêm những quy chế riêng

1.2.3 Một số chính sách quan trọng tác động đến quá trình tự chủ của các

tổ chức nghiên cứu và triển khai nhà nước

Một trong những đặc điểm nổi bật của xu hướng mới trong KH&CN hiện nay có ảnh hưởng tới tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK Nhà nước là mối liên kết giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển Quá trình từ phát minh khoa học đến sáng chế, phát triển công nghệ và đưa vào ứng dụng trong sản xuất càng ngày càng rút ngắn

Gắn bó chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với hoạt động sản xuất đòi hỏi các đơn vị nghiên cứu nói chung và đơn vị nghiên cứu nhà nước nói riêng phải chủ động mở rộng quan hệ với doanh nghiệp, phải năng động trước các diễn biến của đời sống kinh tế và điều đó chỉ có thể thực hiện được đúng với việc tăng cường quyền tự chủ, thái độ tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK

Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích và ép buộc các tổ chức NC&TK nhà nước chuyển sang chế độ tự chủ,

tự chịu trách nhiệm

- Tự chủ trong xác định nhiệm vụ và mở rộng chức năng hoạt động

Mở đầu là Quyết định 175-CP ngày 29/4/1981 cho phép ký kết và thực

Trang 32

hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Từ chỗ mọi nhiệm vụ được xác định theo kế hoạch từ trên xuống, Quyết định 175-CP đã khuyến khích các tổ chức NC&TK nhà nước, các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức kinh tế của nhà nước và tập thể được ký kết hợp đồng kinh tế để thực hiện nhiệm vụ KH&CN trên cơ sở tự nguyện

Tuy nhiên, hạn chế của Quyết định 175 – CP là chỉ cho phép các tổ chức NC&TK thực hiện các nhiệm vụ KH&CN không thuộc kế hoạch Nhà nước giao (thực chất là kế hoạch C – theo phân cấp kế hoạch thời bấy giờ) Mặt khác, bên giao hợp đồng chỉ là các tổ chức thuộc Nhà nước hoặc tập thể Những ràng buộc này được tháo gỡ bằng các chính sách tiếp theo như Quyết định 134 – HĐBT ngày 31/8/1987 cho phép tổ chức NC&TK nhà nước được

ký hợp đồng dân sự trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cho phép ký kết hợp đồng với cả đơn vị kinh tế tư nhân…

Nhà nước đã chính thức thừa nhận việc mở rộng chức năng của tổ chức NC&TK nhà nước kể từ Nghị quyết 51/HĐBT và Thông tư hướng dẫn số 1438/KHKT-TC giữa Liên bộ Bộ Tài chính và Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước Theo tinh thần mới, tổ chức NC&TK nhà nước được tiến hành ba loại hoạt động: Nghiên cứu khoa học, Triển khai kỹ thuật, Sản xuất thử và sản xuất một số sản phẩm có trình độ kỹ thuật cao hơn, nhưng chưa có điều kiện sản xuất đại trà Điều này tiếp tục được khẳng định và phát triển ở Quyết định 134/HĐBT và đặc biệt là tại Nghị định 35/HĐBT

Ngày 05.9.2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN nhà nước của nước ta Đây là bước tiến quan trọng nhằm:

- Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức KH&CN và thủ trưởng của các tổ chức đó

Trang 33

- Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất – kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN

- Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức KH&CN

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần nâng cao tiềm lực KH&CN của đất nước

Như vậy, theo các văn bản của nhà nước, tổ chức NC&TK nhà nước là một loại hình tổ chức có chức năng sản xuất ra các sản phẩm KH&CN phục

vụ cho toàn xã hội (với tư cách như là hoạt động công ích), không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, vào cấp trực thuộc, vào lĩnh vực KH&CN, cơ quan NC&TK có chức năng thực hiện một khâu hoặc nhiều khâu của chu trình

“nghiên cứu – sản xuất”

- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, liên doanh liên kết

Với Nghị định 35/HĐBT thì đơn vị nghiên cứu có quyền thành lập các

sở sản xuất – kinh doanh trực thuộc và việc thành lập này phải tuân thủ các quy định trong Nghị định số 388-HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng đối với các doanh nghiệp Nhà nước và trong các Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật đó với các

cơ sở thuộc các thành phần kinh tế khác Nói cách khác đó là quyền tự chủ của các đơn vị nghiên cứu nhưng phải đăng ký trước pháp luật Quyền này cũng được khẳng định lại một lần nữa trong Luật KH&CN

Tiếp theo Quyết định 134-HĐBT cho phép “thiết lập và mở rộng mọi hình thức liên doanh, liên kết để ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống giữa các cơ quan NC&TK, các cơ sở đào tạo, các cơ

sở sản xuất, kinh doanh, thuộc các thành phần kinh tế…”, Nghị định 35/HĐBT cho phép liên doanh liên kết không chỉ trong lĩnh vực NC&TK mà

Trang 34

còn trong sản xuất – kinh doanh, cả liên doanh với các cơ sở trong nước với các cơ sở ngoài nước

Quyền tổ chức sản xuất – kinh doanh trong viện, trường được đặt nên móng tại Quyết định 134-HĐBT nhưng chỉ định hình rõ ở Nghị định 35/HĐBT Trước đó, năm 1990 Chính phủ đã thử nghiệm (trong một tình thế cần xử lý biên chế dôi dư) bằng việc ban hành Quyết định 268-CT cho phép các đơn vị NC&TK tổ chức các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Do không

có kinh nghiệm tổ chức sản xuất, thiếu vốn, môi trường pháp luật chưa đầy đủ nên phần lớn các doanh nghiệp thuộc cơ quan NC&TK nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả và gây nhiều rối loạn không đáng có Để đối phó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 196/HĐBT năm 1992 chấm dứt hoạt động của các cơ sở sản xuất – kinh doanh theo Quyết định 268-CT bằng quy định tổ chức lại, đăng ký theo Luật Doanh nghiệp và Luật công ty giải thể

Nghị định số 115/2005/NĐ-CP trong nội dung xác định nhiệm vụ, đã nêu rõ các tổ chức KH&CN có quyền tự xác định nhiệm vụ KH&CN và biện pháp tổ chức thực hiện, tự quyết định việc tham gia đấu thầu và thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của nhà nước Bên cạnh đó các tổ chức KH&CN còn có quyền ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ, dịch vụ KH&CN với mọi tổ chức

và cá nhân trong và ngoài nước, tự quyết định việc mời chuyên gia nước ngoài và cử cán bộ ra nước ngoài công tác, tự quyết định đầu tư phát triển, tự quyết định sản xuất, kinh doanh hàng hóa theo lĩnh vực chuyên môn và quy định của pháp luật, liên doanh, liên kết sản xuất và xuất nhập khẩu

Trang 35

tuyển chọn tạo điều kiện cho các tổ chức NC&TK chủ động tham gia cạnh tranh để có được kinh phí từ các đề tài Nhà nước Luật KH&CN và các văn bản hướng dẫn có liên quan đã mở ra hướng tự chủ này cho các tổ chức NC&TK

Về nguồn từ hợp đồng và nguồn thu hồi do bán sản phẩm chế thử, Nhà nước đã cho phép các cơ quan khoa học được thành lập quỹ phát triển khoa học kỹ thuật, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng Đó là chủ trương nêu trong Nghị quyết 51/HĐBT và sau nữa tiếp tục được đề cập trong Quyết định 134-HĐBT

Theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP, ngoài nghĩa vụ đối với Nhà nước, tổ chức NC&TK nhà nước còn được chi các khoản thu nhập cho cán bộ công nhân viên tối đa gấp 2,5 – 3,5 lần lương cơ bản Đây cũng là điều góp phần khuyến khích tổ chức NC&TK nhà nước tự chủ tìm kiếm các khoản thu nhập

từ bên ngoài thông qua hợp đồng

Trong Nghị định 115/2005/NĐ-CP đã nêu rõ tổ chức KH&CN được tự quyết định việc sử dụng kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ trên cơ sở bảo đảm yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện các hợp đồng, tự quyết định các nguồn kinh phí để chi cho hoạt động của tổ chức mình

- Tự chủ nguồn tín dụng Ngân hàng

Đã có nhiều văn bản cho phép các tổ chức NC&TK Nhà nước và các cơ

sở tự sản xuất vay vốn ngân hàng để triển khai nghiên cứu khoa học và áp dụng kỹ thuật tiến bộ, đổi mới công nghệ (Chỉ thị số 16/CT ngày 12/6/1983 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Quyết định số 270/QĐ-NH1 ngày 25/9/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thể lệ cho vay vốn ứng dụng KH&CN vào sản xuất)

Trang 36

Ngoài ra, bằng Thông tư 415/KTNN, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định để các cơ quan NC&TK được mở thêm một loạt tài khoản như đối với khu vực sản xuất

Tại Nghị định 115/2005/NĐ-CP, Chính phủ đã quy định các tổ chức KH&CN chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm được mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện các giao dịch đối với hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của nhà nước Khoản 1 Điều 8 của Nghị định cũng nêu rõ: “Tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng kinh phí được khoán để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện hợp đồng” Tuy vậy đã 9 năm trôi qua các yêu cầu của Bộ Tài chính về việc sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học của các đề tài, dự án vẫn hết sức rườm rà, cồng kềnh, bất hợp lý, tốn rất nhiều thời gian của các chủ nhiệm đề tài, dự án

- Tự chủ lao động

Tự chủ về lao động trong tổ chức NC&TK nhà nước từng được chú ý tới

ở khía cạnh cho phép cán bộ KH&CN làm kiêm nhiệm và mở rộng chế độ hợp đồng, đề cập trong Quyết định 161/CT và Nghị định 35/HĐBT Tuy nhiên, những quy định mạnh bạo về “cho phép các tổ chức NC&TK từng bước chuyển biên chế cố định sang chế độ hợp đồng lao động” nêu trong Nghị định 35/HĐBT đã nhanh chóng rơi vào quên lãng do thiếu sự cụ thể hóa

và thiếu những biện pháp kiên quyết thực hiện

Nhưng đến Nghị định 115/2005/NĐ-CP các quy định về tự chủ trong lao động đã nêu một cách khá rõ: Thủ trưởng các tổ chức KH&CN được quyền quyết định việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức bộ máy của đơn vị, thành lập, sát nhập, giải thể và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế hoạt động của các bộ phận, các tổ chức trực thuộc; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp

Trang 37

đạo cơ quan chủ quản cấp trên quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp phó của mình; quyết định tổ số biên chế hàng năm của đơn vị căn cứ vào nhu cầu cán

bộ và khả năng tài chính của đơn vị; quyết định sắp xếp, bố trí, biệt phái, nghỉ hưu, thôi việc của cán bộ…

Khoản 3 Điều 11 Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định thủ trưởng các tổ chức KH&CN được quyền “Ký hợp đồng làm việc với những người đã được tuyển dụng vào biên chế trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước có hiệu lực thi hành, tức

là chuyển số biên chế cố định sang chế độ hợp đồng làm việc (số cán bộ tuyển dụng sau khi Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ban hành đã ký hợp đồng lao động) Tuy nhiên, sau chín năm Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban hành các tổ chức NC&TK Nhà nước vẫn chưa thực hiện được điều này, dẫn đến tình trạng trong cùng một tổ chức KH&CN tồn tại 02 loại biên chế: Biên chế vĩnh viễn và biên chế hợp đồng

- Tự chủ trong hợp tác quốc tế

Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hợp tác quốc tế là một trong các quyền quan trọng bới nó góp phần khá lớn trong việc xây dựng và phát triển tiềm lực KH&CN nói chung và của tổ chức NC&TK nhà nước nói riêng Nghị định 35/HĐBT đã quy định khá thông thoáng về việc tổ chức hội thảo, hội nghị quốc tế, các thủ tục cử cán bộ đi hợp tác về KH&CN… đồng thời quy định rõ trách nhiệm liên kết hợp tác quốc tế về KH&CN với hợp tác quốc

tế trong sản xuất

Nghị định số 66/2000/NĐ-CP ngày 26/3/2000 về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục và KH&CN đã mở ra quyền chủ động cho các tổ chức NC&TK thành lập các tổ chức KH&CN liên kết song phương và địa phương

Trang 38

Luật KH&CN cũng quy định khá rõ về các thủ tục thành lập, cải tổ, giải thể các tổ chức KH&CN liên doanh, liên kết với nước ngoài

Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định các tổ chức KH&CN được quyền

ký các hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, dịch vụ KH&CN trong và ngoài nước, trực tiếp quyết định và tổ chức mời các chuyên gia, các nhà KH&CN nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác; được vay và huy động vốn các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước cho KH&CN, được xuất nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm

Như vậy, Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan đến các mặt khác nhau của tự chủ trong tổ chức NC&TK nhà nước Một số chính sách đã ra đời khá sớm và được duy trì trong một thời gian dài Chính sách tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức NC&TK nhà nước xuất hiện trong chủ trương chung chuyển đổi từ nên kinh

tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN

* Kết luận Chương 1

Những nội dung đề cập nghiên cứu ở Chương I về nghiên cứu và triển khai, tự chủ tự chịu trách nhiệm, những khái niệm, nội dung cơ bản của chính sách, chính sách KH&CN… đó là những căn cứ lý thuyết quan trọng luận giải cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp khắc phục rào cản của Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 39

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

2.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển

Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm được ra đời từ ngày 10/4/1967 với tên gọi ban đầu là Phòng Nghiên cứu và thực nghiệm thực phẩm trực thuộc Cục Công nghiệp tiêu dùng và thực phẩm (theo Quyết định

số 820/QĐ-TCCQ, của Uỷ ban hành chính Hà Nội)

Đến nay đã trải qua 47 năm phát triển với nhiều lần đổi tên, đổi trụ sở,

bổ sung thêm chức năng và nhiệm vụ như sau:

Khi mới thành lập, năm 1967, đơn vị có tên là phòng Nghiên cứu và Thực nghiệm thực phẩm nhưng ngay sau 10 ngày lại được đổi thành Xưởng nghiên cứu và thực nghiệm thực phẩm Hà Nội trực thuộc Cục Công nghiệp tiêu dùng và thực phẩm (theo Quyết định số 936/UB/KH của Uỷ ban hành chính Hà Nội, ngày 21/4/1967), với chức năng nhiệm vụ nghiên cứu và thực nghiệm các sản phẩm trong lĩnh vực thực phẩm

Từ đó đến năm 1988, đơn vị được đổi tên thành Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm thực phẩm vi sinh trực thuộc Liên hiệp thực phẩm vi sinh Hà Nội, và có trụ sở riêng tại địa chỉ 13B ngõ Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; với chức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu và triển khai ứng dụng và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực Công nghệ thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm lên men

Năm 1999, Trung tâm có sự thay đổi về đơn vị quản lý nhà nước trực tiếp, từ thuộc quyền quản lý của Liên hiệp thực phẩm Vi sinh Hà Nội chuyển sang cho Sở Khoa học – Công nghệ và môi trường Hà Nội (theo Quyết định

số 1818/QĐ-UB ngày 29/4/1999 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Trang 40

Đến năm 2005, đơn vị lần nữa đổi tên thành Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội; với nhiệm vụ bổ sung là nghiên cứu, triển khai ứng dụng và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực Công nghệ sinh học (theo Quyết định số 4404/QĐ-UB ngày 23/6/2005 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Từ năm 2009, Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm chuyển trụ sở từ 13B ngõ Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hà Nội về toà nhà A4, khu

đô thị Đền Lừ II, Hoàng mai, Hà Nội (theo Quyết định số 1173/QĐ-UBND ngày 09/10/2008 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Hiện tại, Trung tâm Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội vẫn thực hiện các chức năng nhiệm vụ của một đơn vị Nghiên cứu, triển khai ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong hai lĩnh vực Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm

2.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm

Trong Quyết định số 125/QĐ-SKH&CN ngày 3/3/2009 của Sở Khoa học

và Công nghệ Hà Nội đã quy định vị trí chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm như sau:

2.2.1 Vị trí và chức năng

Trung tâm CNSH&CNTP trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội

là đơn vị sự nghiệp có thu, tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng để giao dịch, hoạt động theo quy định của pháp luật

Trung tâm CNSH&CNTP có chức năng nghiên cứu, triển khai ứng dụng

và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm

Ngày đăng: 18/07/2015, 09:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu 4 - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu 4 (Trang 18)
Hình 1.2 Chu trình của các sản phẩm nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Hình 1.2 Chu trình của các sản phẩm nghiên cứu khoa học (Trang 22)
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm CNSH&CNTP  7 - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm CNSH&CNTP 7 (Trang 42)
Bảng 2.1 Cơ cấu nhân lực của Trung tâm tại thời điểm năm 2014 - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 2.1 Cơ cấu nhân lực của Trung tâm tại thời điểm năm 2014 (Trang 46)
Bảng 2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học của Trung tâm - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học của Trung tâm (Trang 48)
Hình 2.2 So sánh số đề tài ở các giai đoạn 2000 đến nay  11 - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Hình 2.2 So sánh số đề tài ở các giai đoạn 2000 đến nay 11 (Trang 49)
Hình 2.3 So sánh số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua các giai đoạn - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Hình 2.3 So sánh số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua các giai đoạn (Trang 51)
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ qua các giai - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ qua các giai (Trang 52)
Bảng 3.1 Bộ máy của Trung tâm trước và sau khi chuyển đổi - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 3.1 Bộ máy của Trung tâm trước và sau khi chuyển đổi (Trang 69)
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động (Trang 70)
Bảng 1. Danh sách và trình độ chuyên môn CBCNV trong đơn vị 15 - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 1. Danh sách và trình độ chuyên môn CBCNV trong đơn vị 15 (Trang 93)
Bảng 2. Danh mục các đề tài, dự án KH&CN giai đoạn 2009-2014 16 - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 2. Danh mục các đề tài, dự án KH&CN giai đoạn 2009-2014 16 (Trang 95)
Bảng 3: Danh sách các hợp đồng chuyển giao công nghệ - Nghiên cứu giải pháp khắc phục rào cản của các đơn vị nghiên cứu và triển khai quy mô nhỏ khi chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (Nghiên cứu trường hợp của Trung tâm CNSH&CNTP Hà Nội
Bảng 3 Danh sách các hợp đồng chuyển giao công nghệ (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w