Bên cạnh đó công tác quảng bá xúc tiến hình ảnh điểm đến bằng chính chất lượng sản phẩm dịch vụ, sự hiếu khách của người dân địa phương cũng chưa được quan tâm đúng mức.. Ở Việt Nam, có
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2015
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Đối tượng nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Đo ́ ng góp của đề tài 10
8 Cấu tru ́ c của luâ ̣n văn 10
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH………11
1.1 Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch 11
1.1.1 Khái niệm điểm du lịch, điểm đến du lịch 11
1.1.1.1 Điểm du lịch 11
1.1.1.2 Điểm đến du lịch 11
1.1.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 13
1.1.3.Phân loại điểm đến du lịch 17
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến điểm đến du lịch 19
1.1.5 Hệ thống điểm đến du lịch 20
1.2 Cơ sở lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch 20
1.2.1 Khái niệm 20
1.2.2 Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 22
1.2.3 Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 22
1.2.4 Các hình thức và phương tiện xúc tiến điểm đến du lịch 25
1.2.6 Nguyên tắc của hoạt động xúc tiến điểm đến 32
Trang 41.3 Kinh nghiệm xúc tiến quảng bá du lịch của một số điểm đến du lịch,
bài học kinh nghiệm rút ra với Hà Nam 34
1.3.1 Kinh nghiệm xúc tiến của một số điểm đến đu lịch 34
1.3.2 Bài học với điểm đến Ha ̀ Nam 37
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CỦA TỈNH HÀ NAM………39
2.1 Khái quát chung về điểm đến du lịch Ha ̀ Nam 39
2.1.1 Tiềm năng du lịch của tỉnh Hà Nam 39
2.1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 39
* Cảnh quan 42
* Thổ nhưỡng và sinh vật 42
2.1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 44
2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội tác động đến phát triển du lịch 52
2.1.2.1 Điều kiện kinh tế 52
2.1.2.2 Điều kiện xã hội 54
2.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 56
2.1.4 Những kết quả đạt được từ du lịch 63
2.2 Hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Hà Nam 66
2.2.1 Cơ quan quản lý hoạt động xúc tiến du lịch lịch Hà Nam 66
2 2.2 Chính sách cho hoạt động xúc tiến du lịch Hà Nam 68
2.2 3 Phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Hà Nam 69
2.2.4 Đánh giá kết quả xúc tiến điểm đến du lịch Hà Nam 82
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNHHOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CỦA DU LỊCH HÀ NAM 85
Trang 53.1 Định hướng chung cho hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Hà Nam 85
3.2 Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Hà Nam 86
3.2.1 Xây dựng các kế hoạch, chương trình xúc tiến điểm đến 86
3.2.2 Thực hiện xúc tiến quảng bá hỗn hợp 87
3.2.3 Nghiên cứu sâu về thị trường khách du lịch 90
3.2.4 Củng cố, mở rộng liên kết quảng bá du lịch Hà Nam 93
3.2.5 Xây dựng các cơ sở dữ liệu 94
3.2.6 Củng cố bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực 94
3.2.7 Triệt để ứng dụng công nghệ 95
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa Điểm đến du lịch và Điểm tham quan 12
Bảng 2.1: Các điểm tài nguyên du lịch nhân văn nổi trội của Hà Nam 47
Bảng 2.2: Thống kê và đánh giá độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch Hà Nam 48
Bảng 2.3 Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người (2008- 2012) 52
Bảng 2.4.Tổng sản phẩm trên địa bàn phân theo khu vực kinh tế (2008-2012) 53
Bảng 2.5 Thu chi ngân sách tỉnh Hà Nam (2010-2012) 53
Bảng 2 6 Vốn đầu tư phân theo nguồn vốn (2010-2012) 54
Bảng 2.7: Một số cơ sở lưu trú và dịch vụ tại thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam 57
Bảng 2.8: Phân bố khách sạn trên địa bàn tỉnh Hà Nam 58
Bảng 2.9: Số liệu ô tô chở khách Hà Nam 62
Bảng 2.10: Hiện trạng đầu tư du lịch tại Hà Nam 64
Bảng 2.11: Lượng khách và doanh thu du lịch Hà Nam (2008-2012) 65
Bảng 2.12 Tổng hợp các ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch Hà Nam phát hành trong giai đoạn 2010 – 2013 74
Bảng 2.13 Tổng hợp kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch cấp từ nguồn ngân sách tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 – 2013 77
Bảng 2.14: Kinh phí hoạt động xúc tiến quảng bá cho Trung tâm TTXTDL các tỉnh ( 2009-2012) 78
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
UNESSCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc VH,TT&DL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
XTDL: Xúc tiến du lịch
NGTK: Niên giám thống kê
TCDL: Tổng cục du lịch
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế và tham gia thị trường du lịch toàn cầu hiện nay, công tác xúc tiến điểm đến du lịch ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng hình ảnh, sức hấp dẫn của điểm đến nhằm cạnh tranh thu hút khách du lịch Giờ đây, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trở thành một bộ phận không thể thiếu trong dịch vụ du lịch với tư cách là một ngành kinh tế; là cầu nối giữa thị trường và “cung” điểm đến Điều này càng trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh giữa các điểm đến từ quy mô quốc gia đến các địa phương để hấp dẫn, thu hút khách du lịch Ở Việt Nam hoạt động xúc tiến du lịch cũng rất được chú trọng và diễn ra sâu rộng tại các tỉnh, thành phố trong đó nhiều địa phương đã đạt được những kết quả rất khả quan và trở thành bộ phận không thế thiếu trong du lịch
Trong thời gian qua cùng với các tỉnh thành trong cả nước Hà Nam cũng đã đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Hoạt động này đã đạt được một số kết quả nhất định, đóng góp vào sự phát triển du lịch của tỉnh Tuy nhiên hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Hà Nam nhìn chung còn yếu kém thiếu tính chuyên nghiệp: hoạt động xúc tiến manh mún và cảm tính, thông tin quảng bá du lịch còn chung chung chưa tiếp cận được thị trường khách, sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lặp thiếu hấp dẫn Bên cạnh đó công tác quảng bá xúc tiến hình ảnh điểm đến bằng chính chất lượng sản phẩm dịch vụ, sự hiếu khách của người dân địa phương cũng chưa được quan tâm đúng mức
Từ những lý do cơ bản trên có thể thấy việc nghiên cứu “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Hà Nam” là việc làm cấp thiết
Qua đó, góp phần thúc đẩy du li ̣ch Hà Nam phát triển
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả nhằm các mục đích sau: Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động xúc tiến, góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xúc tiến điểm đến
du lịch
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở
Hà Nam và xác định nguyên nhân của thực trạng
- Đánh giá thành công và ha ̣n chế trong hoa ̣t đô ̣ng xúc tiến du li ̣ch của
Hà Nam trong thời gian qua
- Đề xuất các nhóm giải pháp giải quyết những tồn tại , hạn chế trong hoạt động xúc tiến và đẩy ma ̣nh hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Hà Nam
3 Đối tƣợng nghiên cứu
- Các hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch do các cơ quan quản lý về du
lịch của tỉnh Hà Nam tiến hành
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu các hoạt động xúc tiến điểm đến do các Cơ quan quản lý, xúc tiến du lịch của tỉnh Hà Nam thực hiện (Trung tâm Xúc tiến
Du li ̣ch Hà Nam)
- Về thời gian: số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được sử dụng
từ năm 2008 đến 2013, giải pháp đến năm 2020
- Về không gian: Các hoạt động xúc tiến du lịch của Hà Nam điễn ra trên đi ̣a bàn tỉnh , cùng hoạt động xúc tiến du lịch tại các tỉnh thành , khu vực ngoài tỉnh Hà Nam
Trang 10Elizabeth J (1984) Marketing your City”, Emie H & Geofrey w.(1992)
“Marketing Tourism Destination”, Davidson R and Maitland R (1997),
“Tourism destination ”, Morgan, Nigel (1998), “Tourism promotion & Power: Creating images Creating identities”, Philip Kotler, Bowen và Markens (2003)
“Marketing for hospitality and Tourism Lawton và Weaver (2005)“Tourism management”, steven Pike (2008) “Destination Marketing”, Simon Hudson (2008) “Tourism and HospitalIty Marketing"
Ở Việt Nam, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như Viện
nghiên cứu phát triển du lịch (2005) “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du lịch quốc tế trọng điểm, Hoàng Lê Minh (2008) "Tiếp thị trong kinh doanh du lịch”, Nguyễn Văn Dung (2009) “Chiến lược, chiến thuật quảng bá marketing & du lịch", Trần Ngọc Nam - Hoàng Anh (2009) “Cẩm nang nghiệp vụ tiếp thị du lịch & Quy định pháp luật mới về kinh, doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn"
Vấn đề xúc tiến du lịch cũng đã được nghiên cứu qua các luận văn thạc
sỹ như: Nguyễn Thu Thủy (2007) “Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch MICE cho điểm đến Hà Nội ”, Ngô Minh Châu (2009), “Hoạt động xúc tiến
du lịch Việt Nam tại Trung Quốc”, Lê Tuấn Minh (2009), “Nghiên cứu hoạt động tuyên truyền quảng bá của hàng không Việt Nam (Giai đoạn từ 2005 đến nay)”, Bùi Văn Mạnh (2011), “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003 - 2009”, Lê Thành Công (2011), “Hoạt động xúc
Trang 11tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc - Thực trạng và giải pháp”, Đinh Trà Nhi (2011), “Xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch thành phố Đà Nẵng”, Trần Thị Thủy (2011) “Hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở Viê ̣t Nam : nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghê ̣ An” , Đào Thị Ngọc Lan (2011) “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du li ̣ch Hải Dương giai đoạn 2005-2010”
Ngoài ra, đã có nhiều các bài báo, các báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu về hoạt động xúc tiến điểm đến như: Bài viết của tác giả Thái
Bình “Du lịch Việt Nam qua con mắt nhà báo nước ngoài và vấn đề quảng bá xúc tiến du lịch”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7/2004, Nguyễn Tuấn Anh -
Vụ phó vụ Lữ hành, “Xây dựng và quảng bá du lịch Việt Nam”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6/2008, Trịnh Xuân Dũng “Điểm đến du lịch, lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6/2009 , Nguyễn Tuấn Anh - Vụ phó vụ Lữ hành, “Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 8/2010, Vụ thị t rườ ng – Tổng cu ̣c du
lịch (2010), “Liên kết xúc tiến du li ̣ch cho các tỉnh Bắc Trung Bộ – Thực trạng và giải pháp ” Kỷ yếu hội thảo liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc
Miền Trung, Nghê ̣ An, 2010, Trần Nguyên Trực – Tổng lãnh sự Việt Nam tại
Khonhean Thái Lan “ Kinh nghiê ̣m xúc tiến du li ̣ch tại Lào và Thái Lan thông qua các cơ quan đại diê ̣n ngoại giao”
Đối với Hà Nam, tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào đề cập đế việc tìm kiếm giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến
du lịch của tỉnh Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những khái quát chung về xúc tiến điểm đến, kết hợp nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư
du lịch của tỉnh Hà Nam, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch cho tỉnh Hà Nam Điều này sẽ có ý nghĩa quan trọng và thiết thực đối với sự phát triển du lịch của tỉnh Hà Nam trong
Trang 12giai đoạn sắp tới
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí dữ liệu: Luận văn sử dụng phương
pháp thu thập và xử lí dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo, tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của các cơ quan quản
lí du lịch và chính quyền địa phương
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn cán bộ chuyên trách du lịch tỉnh Hà Nam, các điểm du lịch và một số người dân địa phương
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích mối quan hệ chặt
chẽ giữa du lịch, hoạt động xúc tiến du lịch từ đó đề xuất giải pháp thực hiện
- Phương pháp chuyên gia: Khảo sát ý kiến và kinh nghiệm từ các
báo cáo của chuyên gia
7 Đo ́ ng góp của đề tài
- Tổng hợp có cho ̣n lo ̣c mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n về xúc tiến điểm đến du lịch và vâ ̣n du ̣ng vào thực tiễn ở Hà Nam
- Đề tài phân tích chỉ ra những mă ̣t ha ̣n chế và tích cực của hoa ̣t đô ̣ng xúc tiến điểm đến của du lịch Hà Nam Từ đó rút ra bài h ọc kinh nghiê ̣m cho các hoạt động xúc tiến cũng như tổ chức, quản lý du lịch của Hà Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy ma ̣nh hoa ̣t đô ̣ng xúc tiến du li ̣ch , nhằm nâng cao vi ̣ thế du li ̣ch Hà Nam
8 Cấu tru ́ c của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục bố cục luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lí luận chung về xúc tiến điểm đến du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến ở tỉnh Hà Nam
Chương 3: Một số giải pháp đẩy ma ̣nh hoa ̣t động xúc tiến của du li ̣ch
Hà Nam
Trang 13Điểm đến du lịch được định nghĩa khác nhau dưới nhiều góc độ Theo
quan niệm truyền thống : “Điểm đến du lịch là nơi mà con người thực hiện những kỳ nghỉ của họ ” Theo quan niệm này thì điểm đến chỉ là một không
gian để khách du lịch ăn uống nghỉ nơi vui chơi và khái niệm này chưa nêu được tính chất đặc trưng của điểm đến du lịch
Theo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Bách Khoa và Th.s Nguyễn Viết
Thái thì "Các điểm đến du lịch cũng được coi là một dạng thức sản phẩm, thị trường du lịch đặc biê ̣t theo tiếp cận quản trị kinh doanh và marketing du lịch Điểm đến du lịch của một quốc gia là tập hợp những điểm đến riêng lẻ của từng vùng trong quốc gia đó Tại từng thời điểm nhất định và theo một ý định và chủ đề cụ thể , một vài hoặc nhiều điểm đến riêng lẻ được đầu tư đặc biệt, được đại diện và đưa vào nội dung xúc tiến quảng bá du lịch của quốc gia đó” [2, tr 5] Hay theo Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa: “Điểm đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thế cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị, hay đường biên giới về kinh
tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của du khách” [18, tr 342]
Trong mục 8 điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 có đưa ra khái
niệm điểm du lịch như sau: “Điểm du lịch (tourist spot) là nơi có tài nguyên
Trang 14du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [15] Có
những điểm du lịch có tài nguyên hấp dẫn, song vẫn chưa thể coi là một điểm đến Bởi có những điểm du lịch chỉ đáp ứng nhu cầu tham quan chứ chưa đáp ứng được các nhu cầu khác của khách du lịch như ăn uống , nghỉ ngơi qua đêm, vui chơi giải trí
Theo tổ chức du lịch Thế giới UNWTO năm 2007: “Điểm đến du lịch
là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất một đêm Nó bao gồm các sản phấm du lịch , các dịch vụ cung cấp , các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường” [19 tr 1]
Trong tập bài giảng môn Marketing điểm đến PGS.TS Trần Thị Minh
Hòa 2012 thì: “Điểm đến du lịch (Destination) là những điểm có tài nguyên
du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch
có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững” [12 tr 1]
Điểm dến du lịch khác điểm tham quan du lịch Sự khác nhau giữa điểm đến và điểm tham quan có thể khái quát qua bảng sau:
Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa Điểm đến du lịch và Điểm tham quan
Điểm đến du lịch là nơi hấp
dẫn, thu hút đối tượng khách du lịch
nghỉ ngơi và tham quan với thời gian
kéo dài hoặc lưu lại qua đêm
Điểm tham quan chỉ thu hút đối tượng khách chỉ mang tính chất chỉ đi học hỏi với thời gian ngắn và khách tham quan thuần túy không lưu lại qua đêm Đối tượng sử dụng chủ yếu là
khách du lịch (là người rời khỏi nơi
cư trú của mình, đi đến vùng đất khác
để thưởng ngoạn phong cảnh thiên
nhiên, cảm nhận những giá trị văn
Đối tượng sử dụng chủ yếu là
khách tham quan (là người xem tận mắt để học hỏi Địa điểm và thời gian luôn được xác định trước: như tham quan lăng Bác, thành Cổ Loa từ
Trang 15hóa ở nơi xa lạ) [27] sáng đến chiều…, đặc trưng tiêu biểu
nhất của hình thức này là có tổ chức, chi phí thấp, xem tận mắt, sờ tận tay với mục đích để biết, để học hỏi)
các yếu tố được quan tâm, đó là có khả
năng để xây dựng một mạng lưới, có thể
hợp tác với các hoạt động hay điểm đến
du lịch khác để thỏa mãn nhu cầu ăn
nghỉ, vui chơi giải trí, thư giãn, thể
thao… và đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của
du khách ít nhất là một đêm
Điểm tham quan chỉ tổ chức, phục vụ nhu cầu tham quan thuần túy
Dựa vào các quan điểm trên ta có thể nhận thấy điểm đến du lịch là một không gian có đặc điểm hấp dẫn thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch là một sản phẩm du lịch tổng hợp có khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch của khách Vậy điểm đến du lịch có thể là một không gian rộng như một quốc gia, lục địa hay chỉ là mô ̣t tỉnh thành phố hoặc nhỏ hơn nó chỉ là một làng hay
mô ̣t khách sạn
1.1.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch
Các điểm tham quan du lịch có thể có giới hạn địa lý, quy mô khác nhau song chúng đều phải có những điểm chung đó là các yếu tố đế tạo thành một điểm đến du lịch
Trang 16Xét về mức độ thì đây là yếu tố quan trọng nhất để có thể hình thành nên một điểm đến du lịch Tất cả các điểm đến du lịch đều bao gồm trước hết
là nơi có điểm hấp dẫn du lịch với du khách, song một điểm hấp dẫn du lịch chưa chắc đã là một điểm đến du lịch Một điểm hấp dẫn du lịch nếu thiếu những yếu tố như: khả năng tiếp cận, dịch vụ ăn nghỉ thì cũng khó trở thành một điểm đến du lịch
Điểm hấp dẫn du lịch như được đề cập tại ở trên bao gồm những loại tài nguyên có thể là tự nhiên, nhân văn hoặc kết hợp cả hai nhân tố này có khả năng tạo ra động lực ban đầu cho sự đến và tham quan thưởng thức , thẩm nhận những giá trị về tự nhiên, văn hóa của du khách
Một thực tế của những điểm hấp dẫn du lịch là nó có tính đa dạng và hơn thế nữa là có thể thuộc những hình thức sở hữu khác nhau : cá nhân, tổ chức, tỉnh, quốc gia , vì vậy dựa vào tiềm lực của từng chủ sở hữu điểm hấp dẫn đó mà có thể đầu tư cho việc nâng cấp hạ tầng vật chất kỹ thuật, quảng
bá, quảng cáo rộng rãi để đưa vào khai thác phục vụ du lịch, hay là để nó vào dạng chỉ là tiềm năng đối với hoạt động du lịch
- Hệ thống giao thông (Khả năng tiếp cận nơi đến)
Một điểm đến du lịch nhất thiết phải có, duy trì và không ngừng mở rộng hệ thống giao thông đi lại Nó tạo ra khả năng tiếp cận được đến điểm du
Trang 17lịch hấp dẫn và từ đó du khách có thể sử dụng toàn bộ các loại hình dịch vụ khác nhau của điểm đến Mô ̣t điểm du lịch hấp dẫn đến đâu , nhưng khả năng tiếp cận của khách du lịch không có, hoặc bị hạn chế thì du lịch không thể hình thành hoặc manh mún và không thể trở thành một điểm đến đúng nghĩa
Trong phân loại các loại hình du lịch thì một cách phân loại khá phổ biến đó là phân loại theo loại hình phương tiện mà du khách sử dụng trong quá trình tham gia tour du lịch Vì vậy sự đa dạng trong hình thức phương tiện tạo nên khả năng tiếp cận của du khách được dễ dàng hơn, phong phú hơn cho sự lựa chọn Và điều đó phản ánh được một phần quan trọng trong việc thể hiện về cơ sở vật chất có thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của du khách tại điểm đến hay không
- Nơi ăn, nghỉ (Dịch vụ lưu trú, ăn uống)
Trong hầu hết những khái niệm về du lịch là du khách có yếu tố rời khỏi nơi quen thuộc đi tới một nơi khác và kèm theo sự nghỉ ngơi qua đêm tại nơi đến Đặc biệt đối với đối tượng khách quốc tế là du khách từ một đất nước khác đến thì nơi ăn nghỉ là một điều tất yếu được đề cập và sử dụng trong quá trình đi du lịch
Ngày nay mức độ đòi hỏi về các dịch vụ trong du lịch của du khách ngày càng cao Đối với du khách quốc tế thì vấn đề này được phản ánh trong các chương trình du lịch như: Luxury, Basic Với khách nội địa là dịch vụ 5 sao, 4 sao, hay 3 sao Những cách thức đề cập như vậy thường là sự hình dung của du khách trong nơi an nghỉ, khách sạn mà du khách sẽ được hưởng theo cam kết của nhà cung ứng chương trình du lịch Vì vậy với một điểm du lịch, điểm đến thì việc đáp ứng đầy đủ những nhu cầu có tính vô cùng đa dạng của khách cũng tạo một dấu ấn lớn đối với du khách
Các dịch vụ lưu trú , ăn uống được khách du lịch cảm thụ tại điểm đến không đơn thuần là một căn phòng đẹp, thiết kế sang trọng hay một món ăn
Trang 18ngon, bài trí tỉ mỉ công phu Một điều quan trọng hơn chính là sự nồng nhiệt tiếp đón, phong cách phục vụ chuyên nghiệp, sự hiếu khách của điểm đến được du khách cảm nhận trong suốt quá trình lưu lại tại điểm đến du lịch
- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ
Du lịch là một ngành sản xuất ra các sản phẩm là những dịch vụ Tuy nhiên tự thân ngành du lịch không thể sản xuất và đáp ứng đầy đủ như cầu của du khách mà có sự kết hợp của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Điều này thể hiện tính liên ngành đa ngành trong du lịch tại bất cứ một đất nước, vùng lãnh thổ hay một điểm đến, điểm du lịch nào
Nhu cầu của khách du lịch là không cố định, nó có sự đa dạng trong việc đòi hỏi hàng loạt các tiện nghi và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi được lựa chọn Vì vậy với những nhu cầu và mong muốn của du khách để đảm bảo sự thỏa mãn đó thì điểm đến du lịch cũng cần có sự đầu tư nhất định, sự liên kết với các ngành khác: giao thông, y tế, cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, dân cư Điều này được phản ánh bởi các hệ thống hạ tầng cơ bản như các dịch vụ công cộng, giao thông công cộng và đường xá cũng như các dịch vụ trực tiếp cho du khách như chỗ ở, thông tin cho du khách, các dịch vụ giải trí, thể thao, hướng dẫn, phục vụ hay mua sắm
- Các hoạt động bổ sung
Một thực tế hiện nay đang diễn ra trong hoạt động du lịch của nước ta
đó là: du khách muốn tiêu tiền nhưng không biết mình phải tiêu tiền ở đâu, cho cái gì, muốn làm một cái gì đó nhưng không biết phải làm ở đâu Đó là thực tế phản ánh tình trạng thiếu, yếu các cơ sở, dịch vụ, các hoạt động bổ sung cho du khách tại điểm đến du lịch
Thông thường việc sử dụng thời gian của du khách theo một chương trình đã được lập sẵn và trong đó có thời gian du khách được tự do sử dụng quỹ thời gian của mình Đối với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc
Trang 19tế họ muốn sử dụng thời gian của mình một cách có ý nghĩa và hợp lý nhất trong quỹ thời gian ngắn ngủi của mình tại điểm đến Vì vậy ngoài những điểm tham quan đã được ghi trong li ̣ch trình tour du lịch được cung cấp bởi các công ty, tổ chức du lịch thì mong muốn tìm hiểu sử dụng các dịch vụ ngoài phần họ đã được nhà cung cấp ghi trong hợp đồng là những nhu cầu rất lớn Các dịch vụ bổ sung như dịch vụ làm đẹp , vui chơi giải trí thưởng ngoạn
và thẩm nhận cuộc sống thường nhật , một điểm tham quan lạ và thú vị Để
có thể đáp ứng được những nhu cầu đó thì một điểm đến với những chính sách đầu tư quy hoạch xây dựng, sự liên kết giữa các ngành có liên quan sẽ làm thỏa mãn du khách và đó cũng là một hình thức để quảng bá hình ảnh của con người tầm cỡ của điểm đến du lịch với du khách
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch
1.1.3
Phân loại điểm đến du lịch
Có nhiều cách để có thể phân loại một điểm đến du lịch: Dựa vào hình thức sở hữu, có điểm đến thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân; Căn cứ vào tài nguyên du lịch phân ra điểm đến có giá trị nhân văn hay tự nhiên; Căn cứ vào
vị trí của điểm đến có điểm đến vùng biển , vùng nông thôn, thành phố ; Dựa vào mục đích phân ra điểm đến nghỉ dưỡng, chữa bệnh, học tập, giải trí
Trong nghiên cứu này với nội dung chính của đề tài đề cập tới hoạt
Điểm đến du lịch
Điểm hấp
dẫn du lịch
Hệ thống giao thông
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ
Các hoạt động bổ sung
Trang 20động xúc tiến của một điểm đến du lịch đã được xác định, xét trên phương diện lãnh thổ là 1 tỉnh Do đó trong việc phân loại điểm đến du lịch, tác giả đưa ra cách phân loại căn cứ trên góc độ lãnh thổ, điểm đến được phân loại như sau:
- Điểm đến cấp quốc tế: khu vực bao gồm nhiều hoặc một số quốc gia
ví dụ như điểm đến Châu Á , Châu Âu, Đông Nam Á Đối với cấp độ điểm đến này thì dựa vào đă ̣c điểm chủ yếu là phân vùng theo sự phân chia lãnh thổ trên bản đồ thế giới Ở một số hoặc nhiều quốc gia này cũng có nhiều điểm tương đồng về ngôn ngữ, lối sinh hoạt văn hóa, tài nguyên du lịch
- Điểm đến là quốc gia: Nhỏ hơn điểm đến quốc tế , thường chỉ một
quốc gia nhất đi ̣nh như : điểm đến Việt Nam, Trung Quốc, Pháp Với đặc điểm của điểm đến là quốc gia thì tài nguyên du lịch, dịch vụ du lịch, khả năng tiếp cận cũng mang đặc điểm riêng của từng nước Chính những điều này mà có thể tạo nên sức hấp dẫn, cạnh tranh trong không gian là một thành
tố tạo nên điểm đến quốc tế
- Điểm đến cấp vùng: Trong mỗi một đất nước sự phân chia lãnh thổ
theo vùng gần như là tất yếu để có thể dễ dàng cho chính quyền quản lý Đối với điểm đến cấp vùng ví dụ như ở nước ta có điểm đến vùng Bắc Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Hồng Căn cứ vào những nét đặc trưng riêng trong lối sống văn hóa, điều kiện phát triển du lịch khác nhau,
mà du lịch có thể phát triển theo những định hướng cụ thể cho từng điểm đến cấp vùng
- Điểm đến cấp địa phương hoặc đơn vị hành chính cá biệt: Hà Nội, Hạ
Long, Sapa Có thể là toàn bộ một tỉnh, thành phố, hoặc một điểm hành chính nổi bật trong tỉnh, thành phố
Trang 211.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến điểm đến du lịch
- Tài nguyên du lịch: là yếu tố cơ bản để cấu thành một điểm đến du
lịch Trong đó tính hấp dẫn của điểm đến có ý nghĩa quan trọng như đã đề cập
ở trên Do đó nếu một điểm tham quan không có tài nguyên du lịch hấp dẫn
thì không được coi là điểm đến du lịch
- Cơ sở hạ tầng: bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông
tin liên lạc và hệ thống điện nước là những yếu tố quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với sự di chuyên của con người trong phạm vi nhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một điểm du lịch có sức hấp dẫn với du khách nhưng không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải Thông tin liên lạc là điều kiện để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Trong đời sống thường ngày không thể thiếu các phương tiện liên lạc Khách du lịch rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến điểm du lịch ngoài nhu cầu ăn uống đi lại, du khách cũng có nhu cầu đảm bảo
về điện nước để quá trình sinh hoạt diễn ra bình thường
- Cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú: Đây là thành phần đặc trưng trong
toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Là nhu cầu cơ bản và thiết yếu của du khách khi đến tham quan bất kỳ một điểm du lịch Điểm du lịch không đảm bảo được điều kiện cơ bản trên thì hoạt động du lịch không thể phát triển
- Cơ sở y tế: Nhằm mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp
các dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch Bao gồm các trung tâm chữa bệnh bằng nước khoáng, nước nóng mặt trời các phòng y tế với các thiết bị đầy
đủ phục vụ tắm hơi, massage
- Các cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác: trạm xăng dầu, thiết bị cấp
cứu, xưởng sửa chữa, bưu điện
Trang 221.1.5 Hệ thống điểm đến du lịch
Hệ thống điểm du lịch được hình thành với những yếu tố hấp dẫn có khả năng thu hút khách du lịch được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030) là những khu, điểm du lịch quốc gia, điểm du lịch địa phương Những năm gần đây cùng với quá trình đầu tư phát triển hạ tầng và những điều kiện tiếp cận điểm đến, nhiều khu du lịch, công trình nhân tạo ra đời kéo theo hoạt động du lịch như thủy điện Sơn La (Sơn La), di tích chùa Bái Đính (Ninh Bình), hầm đèo Hải Vân, khu vui chơi tổng hợp Đại Nam (Bình Dương) đã trở thành các điểm du lịch có sức thu hút khách mới làm phong phú thêm hệ thống khu, điểm du lịch
Quy hoạch tổng thể xác định hệ thống các điểm du lịch quốc gia; trên cơ
sở đó trong quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn từng địa phương xác định các điểm du lịch địa phương Các điểm du lịch được phân thành ba nhóm:
Điểm du lịch sinh thái, điểm du lịch văn hóa và điểm du lịch sinh thái kết hợp văn hóa Việc xác định điểm du lịch quốc gia chủ yếu dựa trên đánh giá về vị trí quy mô đặc điểm tài nguyên và mức độ hấp dẫn du lịch
Hệ thống điểm du lịch địa phương cũng được hình thành trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ít nổi trội hơn về tính đặc sắc cũng như quy mô so với các tài nguyên du lịch có giá trị cấp quốc gia Tuy nhiên, việc đánh giá xác định đối với hệ thống điểm du lịch quốc gia còn rất định tính và đạt được ở mức độ tương đối do vậy cho đến nay chưa có điểm du lịch được công nhận là điểm du lịch quốc gia cũng vậy hệ thống điểm du lịch địa phương chưa được công nhận một cách chính thức theo quy định của Luật Du lịch
1.2 Cơ sở lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch
1.2.1 Khái niệm
Theo Well và Wint (2000): “Xúc tiến là hoạt động liên quan đến quảng cáo, marketing trực tiếp, tham gia các triển lãm, hội trợ thương mại” [19, tr 1]
Trang 23Theo Kotler (1993): “Xúc tiến là chỉ các hoạt động của những người làm công tác marketing trong mối liên hệ với khách hàng Một số công cụ và hoạt động xúc tiến cụ thể như khuyến mại , bán hàng trực tiếp , quảng cáo, quan hệ công chúng” [19, tr 2]
Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại mục 17 điền 4 phần giải thích từ
ngữ có đưa ra khái niệm: “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền , quảng
bá, vận động nhằm tìm kiếm , thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” [15] Từ
những nội dung trong khái niệm xúc tiến các nhà nghiên cứu du lịch cũng đưa
ra những khái niệm về xúc tiến điểm đến du lịch
Etienns và Binns (2002): “Xúc tiến điểm đến là việc xây dựng và thực hiện một chiến lược liên quan đến việc định vị lại hình ảnh và tái cấu trúc l ại kinh tế của một điểm đến hoặc một địa phương cụ thể” [45, tr 237]
Gold và Ward (1994): “Xúc tiến điểm đến liên quan ít nhất đến ba khía cạnh: hình thành và thể hiện hình ảnh của điếm đến ; chính sách công; các hoạt động marketỉng” [42, tr 14]
Trong tập bài giảng Xúc tiến du lịch của Thạc sĩ Nguyễn Thu Thủy
Khoa Du lịch học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn có đưa ra
quan điểm: “Xúc tiến điểm đến (Destination Promotion) là việc xây dựng một chương trình xúc tiến hỗn hợp có sự kết hợp của nhiều công cụ xúc tiến khác nhau nhằm thu hút sự quan tâm chú ý trên diện rộng của đông đảo du khách
đến điểm du lịch ” [34, tr 4]
Trên thực tế, điều kiện về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, khả năng tiếp câ ̣n của m ỗi điểm đến du lịch là khác nhau Nhưng xét trên phạm vi về khả năng cung ứng đáp ứng nhu cầu của du khách thì mỗi một điểm đến lại có những lợi thế nhất định Vì vậy mỗi điểm đến để có thể thu hút được du khách
về với mình thì một chiến lược xúc tiến du lịch thường được xây dựng dựa vào những điểm nổi trội của điểm đến để có thể quảng bá đối với du khách
Trang 24Khái quát về chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch trong nghiên cứu Một sổ vấn đề về chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch Việt Nam của Thạc sĩ Nguyễn Văn Đảng có đề cập: “Chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch chính là một hệ thống các quyết định liên quan đến mục tiêu, người nhận tin, ngân sách xúc tiến nhằm phát triển và duy trì hiệu quả một hỗn hợp công cụ truyền thông trên cơ sở nguồn lực của các tổ chức, để thu hút một cách cạnh tranh các khách hàng hiện tại và tiềm năng tới điểm đến, đạt được các mục tiêu xúc tiến
và các mục tiêu chung của điểm đến ” [8, tr 88]
1.2.2 Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
Điều 79 Luật Du lịch năm 2005 đề cập đến nội dung xúc tiến du lịch như sau:
- Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước , con người Việt Nam , danh lam thắng cảnh , di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hóa dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế
- Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc
- Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các khu đô thị , khu du lịch, điểm du li ̣ch đa dạng độc đáo , có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc trong cả nước từng vùng, và từng địa phương, phát triển kết cấu
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch
- Nghiên cứu thị trường du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch, tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch
1.2.3 Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, có nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức đối với mọi nền kinh tế, vấn đề cạnh tranh khốc liệt hơn, mọi ngành, tổ chức, cá nhân đều hiểu được ý nghĩa vai trò quan trọng của xúc tiến
Trang 25Trong ngành Du lịch nói riêng để chiếm lĩnh thị trường, thu hút được nhiều khách du lịch, công tác xúc tiến điểm đến du lịch đang là vấn đề được quan tâm của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý ở phạm vi quốc gia, ngành, của các nhà kinh doanh du lịch ở phạm vị các đơn vị, các cá nhân
- Đối với chính điểm đến và các nhà cung ứng sản phẩm du lịch
Trước hết có thể thấy rằng một điểm đến du lịch thực hiện một chương trình, chiến lược xúc tiến thì mục đích quảng bá , thông tin rộng rãi hơn về toàn bộ thông tin : nguồn tài nguyên đáp ứng nhu cầu tham quan , thưởng ngoạn của du khách; khả năng đáp ứng được nhu cầu về các dịch vụ ăn, nghỉ,
bổ sung ; sản phẩm du lịch của điểm đến là điều quan trọng nhất Từ những điều này mới có thể thu hút được sự chú ý, lưu tâm của du khách mỗi lần lựa chọn nơi mà mình sẽ tiêu lượng thời gian của kỳ nghỉ; thu hút được nguồn khách và quan trọng hơn chính là sự thu hút đối với các nhà đầu tư Sự minh bạch về lượng thông tin của điểm đến trong quá trình thực hiện hoạt
đô ̣ng xúc tiến du li ̣ch của mô ̣t điểm đến du li ̣ch như là mô ̣t bô ̣ hồ sơ để mời các nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực tại điể m đến Với các doanh nghiê ̣p và
đa ̣i lý cung ứng sản phẩm du li ̣ch , hoạt động xúc tiến điểm đến sẽ là công cụ hiê ̣u quả đ ể giữ vững nhu cầu cũ , tạo thêm nhu cầu mới , kích thích tiêu thụ , bảo đảm uy tín, vị trí kinh doanh, nâng cao lợi nhuâ ̣n, có thể nhanh chóng cho thị trường biết được bất cứ sự thay đổi nào về sản phẩm, hỗ trợ viê ̣c giới thiê ̣u sản phẩm dịch vụ mới vào thị trường… Đây cũng là cách thức có thể tạo lập được mối quan hê ̣ gắ n bó giữa doanh nghiê ̣p , các đại lý và khách du lịch Hoạt động xúc tiến cũng có thể nhắc nhở người đi du lịch nhớ đến và sử dụng sản phẩm nhiều lần
Qua hoa ̣t đô ̣ng xúc tiến nhà cung ứng cũng sẽ tiếp nhâ ̣n những phản ứng đáp lại của khách hàng , góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng , sản phảm dịch vụ điểm đến
Trang 26Xét về sản phẩm du lịch : thì tính vô hình , sản xuất và tiêu thụ cùng
mô ̣t thời gian và thâ ̣m chí cùng mô ̣t đi ̣a chỉ , du khách lựa cho ̣n điểm đến , sản phẩm ta ̣i điểm đến không thể cảm nhâ ̣n được ngay mà phả i trong quá trình sử dụng nó tốt hay không tốt Khi hoa ̣t đô ̣ng xúc tiến phát triển rô ̣ng rãi , khách
du li ̣ch có thể dễ dàng hơn trong viê ̣c tìm kiếm thông tin về điểm đến du li ̣ch , về sản phẩm , dịch vụ , giá cả , nơi cung cấp , hình thức thanh toán… Từ đó khách du lịch có thể hình dung được một phần nào đó về điểm đến mình chọn, giảm bớt tính rủi ro khi quyết định mua sản phẩm du lịch Như vậy hoạt động xúc tiến điểm đến còn có tác dụng hư ớng dẫn khách du lịch , giúp
họ nhận thức được những nhu cầu cần thiết (mà họ chưa biết ) và cung cấp những sản phẩm thích hợp về nhu cầu đó , cung cấp toàn bộ kiến thức về một
loại sản phẩm, dịch vụ, làm tăng độ hiểu biết của người tiêu dùng về thị
trường, trình độ lựa chọn của khách hàng Hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh mang tính công bằng giữa các điểm đến với nhau Để tăng khả năng cạnh tranh, để có thể thu hút được khách du lịch nhiều hơn các đối thủ khác các điểm đến, các doanh nghiệp sẽ phải có những chính sách thu hút khách như đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm giá sản phẩm, các hình thức khuyến mãi Qua tất cả những chính sách chạy đua này thì người có lợi chính là khách du lịch
- Đối với cộng đồng dân cư địa phương
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch với mục đích quảng bá , giới thiệu
Trang 27những gì mà một điểm đến nhất định có thể đáp ứng nhu cầu của du khách , từ
đó thu hút sự chú ý và lựa chọn cho kỳ nghỉ của mình Với một chương trình xúc tiến điểm đến hiệu quả thì lợi ích của chính quyền, ban quản lý, đơn vị sở hữu điểm đến và đặc biệt là người dân ở nơi đó được đảm bảo, số lượng du khách tới tăng lên thì tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính họ
Hoạt động xúc tiến hiệu quả, du lịch phát triển là điều kiện cho quá trình giao lưu văn hóa, người dân địa phương có thể học hỏi và tạo cho mình những kinh nghiệm, kiến thức, tự bồi dưỡng cho mình khả năng phục vụ , nâng cao chất lượng dịch vụ , ý thức trong quá trình phục vụ du khách Một điểm đến du lịch với sản phẩm đa dạng, thái độ người dân trong ý thức bảo vệ môi trường , bảo vệ tài nguyên thiên nhiên điểm đến , ý thức nâng cao chất lượng dịch vụ, thái độ phục tốt sẽ là những thế mạnh và lợi thế cạnh tranh với những điểm đến đồng hạng khác
1.2.4 Các hình thức và phương tiện xúc tiến điểm đến du lịch
- Một số hình thức
Trong thực tế có rất nhiều hình thức xúc điểm đến tiến du lịch được áp dụng Dựa theo cách thức tổ chức hoạt động có thể chia thành 2 loại: Hình thức thường xuyên và không thường xuyên
Tổ chức công tác xúc tiến du lịch thường xuyên được thực hiện bằng việc thành lập những trung tâm thông tin du lịch trong nước và quốc tế, hoặc tại các trung tâm du lịch lớn, để thường xuyên cung cấp thông tin du lịch cho khách du lịch và các đối tượng quan tâm Đây là hình thức phổ biến nhất được thực hiện hiện nay Tuy nhiên việc thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài còn phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của quốc gia, vào quan
hệ giữa các quốc gia, vào nguồn kinh phí dành cho việc tổ chức triển khai, vào thị trường khách, ở phạm vi địa phương, việc đặt văn phòng đại diện ở
Trang 28nước ngoài hay ở địa phương khác cũng rất khó khăn, thường khó khả thi, nhưng có thể được khắc phục thông qua hình thức liên kết với các địa phương và các doanh nghiệp, để trao đổi và cung cấp thông tin
Bên cạnh đó, các quốc gia còn tham gia các hội chợ du lịch định kỳ, được tổ chức ở một thành phố nhất định, như hội chợ du lịch quốc tế ở Berlin, Đức, hội chợ quốc tế về du lịch JATA ở Tôkyô, Nhật Bản Tại các hội chợ này, các địa phương, các doanh nghiệp cùng phối hợp với cơ quan quốc gia tham gia hội chợ sẽ giảm bớt kinh phí, và vẫn đảm bảo cung cấp thông tin du lịch cho các đối tượng như các doanh nghiệp du lịch - lữ hành, khách du lịch tiềm năng tham quan hội chợ này
Kết hợp với hình thức tổ chức thường xuyên nêu trên, các quốc gia còn vận dụng các hoạt động xúc tiến không thường xuyên như tổ chức các năm
du lịch; tổ chức các sự kiện, lễ hội văn hoá, du lịch; tổ chức những chương trình xúc tiến quảng bá theo chủ đề nhất định Những hoạt động nay thường gắn với một địa phương cụ thể, do đó một mặt tuyên truyền góp phần tạo điểm nhấn chung cho quốc gia, đồng thời là dịp để các địa phương thực hiện tuyên truyền quảng bá cho mình, gây ấn tượng mạnh và tăng cường thu hút khách du lịch
Hình thức không thường xuyên này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian, mùa vụ, các chương trình khuyến mãi, các điều kiện cụ thể khác
- Các phương tiện xúc tiến điểm đến
Phương tiện xúc tiến điểm đến du lịch là tất cả những gì có thể mang thông điệp xúc tiến tới công chúng Trong lĩnh vực du lịch, thông tin, hình ảnh điểm đến, sản phẩm dịch vụ du lịch có thể được chuyển tải đến công
chúng, khách du lịch tiềm năng các nhà kinh doanh lữ hành thông qua rất
nhiều phương tiện, hình thức Cùng với sự phát triển của khoa học, công
nghệ, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức và phương tiện xúc tiến mới
Trang 29Mỗi hình thức hay phương tiện xúc tiến điểm đến du lịch có những đặc điểm, tính chất riêng hướng đến đối tượng riêng và cần đầu tư mức kinh phí khác nhau Việc lựa chọn, kết hợp các hoạt động một cách hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến du lịch nhằm thu hút rộng rãi các đối tượng, thúc đẩy nhu cầu đi du lịch và chuyển nhu cầu đó thành hành động Có thể liệt kê một số hình thức và phương tiện xúc tiến điểm đến du lịch phổ biến như: các phương tiện thông tin đại chúng (báo viết, báo hình, báo điện tử), mạng internet, tổ chức các hội chợ, triển lãm chuyên ngành du lịch, tổ chức các sự kiện du lịch, hội nghị, hội thảo ở trong và ngoài nước, tổ chức các đoàn khảo sát cho giới báo chí và doanh nghiệp lữ hành, tổ chức sản xuất và phát hành các ấn phẩm, vật phẩm, quảng cáo trên các panô, áp phích
+ Xây dựng website trên mạng internet: Internet là mạng thông tin diện
rộng bao trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sờ kết nối các máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích luỹ được của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông thống nhất Quy
mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin trên mạng Internet rộng lớn hơn nhiều
so với các phương tiện thông tin thông thường khác Với internet, rất nhiều người có khả năng và điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin
- + Tổ chức xúc tiến điểm đến du lịch trên các phương tiện thông tin đại
chúng: là việc sử dụng những phương tiện thông tin đại chúng (kênh truyền
hình, phát thanh, báo chí) cung cấp thông tin, hình ảnh về điểm đến, về sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch; từ đó khêu gợi sự háo hức, tò mò, hình thành nhu cầu đi du lịch đến nơi đó, được sử dụng các dịch vụ và trải nghiệm những tình huống tương tự
Đặc điểm của hình thức này là tác động đến một số lượng lớn công chúng, có khả năng thuyết phục cao, tác động đến cả những người đang tìm
Trang 30hiểu thông tin để xây dựng chương trình nghỉ dưỡng của mình trong tương lai gần và cả những khách du lịch tiềm năng trong tương lai xa Nội dung tuyên truyền, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng rất đa dạng, có thể tuyên truyền, quảng bá cho hình ảnh du lịch điểm đến chung chung hoặc rất chi tiết đến dịch vụ, chương trình du lịch cụ thể và mức giá
Kênh truyền hình là phương tiện có ưu thế lớn, có thể tiếp cận đến một số lượng lớn công chúng, khai thác được cả âm thanh, hình ảnh, ánh sáng để thu hút sự chú ý.Tổ chức tuyên truyền, quảng bá trên truyền hình cần chú ý thời lượng, tần suất và quan trọng nhất là thời điểm phát sóng Bên cạnh nhiều ưu điểm nêu trên thì hạn chế lớn nhất của việc quảng cáo trên truyền hình là kinh phí rất lớn
Báo hàng ngày và tạp chí tiếp cận được với công chúng ít hơn vì độc giả của các báo, tạp chí thường ít hơn truyền hình Nếu đăng quảng cáo trên báo hoặc tạp chí, cần đăng trong một số số liên tiếp Với sự phát triển nhanh chóng của truyền hình và internet, vị trí, vai trò của đài phát thanh dần bị thu hẹp nhưng vẫn giữ được những thính giả nhất định, có thể kết hợp làm các việc khác như vừa lái xe, nấu cơm, tập thể dục và nghe đài
Hiểu rõ đặc điểm, thế mạnh và hạn chế của từng phương tiện thông tin chúng sẽ giúp chủ thể xúc tiến lựa chọn để tiếp cận nhiều nhất đến khách hàng mục tiêu với mức kinh phí phù hợp nhất
+ Tố chức, tham gia tổ chức hội chợ, triển lãm chuyên ngành du lịch: Hội chợ, triển lãm là nơi trưng bày sản phẩm, cung cấp thông tin, hình ảnh về sản phẩm, nơi người bán và người mua gặp gỡ trao đổi thông tin, tìm kiếm khả năng hợp tác và ký kết các hợp đồng kinh doanh Các hội chợ, triển lãm
có thể kết hợp một số lĩnh vực khác nhau như hội chợ thương mại - du lịch, triển lãm văn hoá-du lịch Những hội chợ, triển lãm chuyên về du lịch là nơi
mà các cơ quan du lịch quốc gia, hoặc các địa phương, các nhà cung cấp dịch
Trang 31vụ du lịch hoặc các dịch vụ liên quan, những khách du lịch tiềm năng gặp gỡ, trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội hợp tác Tham gia các hội chợ, triển lãm
du lịch người bán và người mua đều không hy vọng rằng ở đó mình có thể ký kết ngay được các hợp đồng thương mại mà chủ yếu tìm kiếm thông tin, so sánh các dịch vụ, thiết lập các mối quan hệ để có thể hợp tác trong tương lai + Tổ chức các đoàn khảo sát cho giới báo chí và doanh nghiệp lữ hành: Việc tổ chức các đoàn khảo sát cho các hãng lữ hành, các đại lý lữ hành, nhà báo, các nhân vật nổi tiếng đến tham quan, khảo sát điểm đến để được tận mắt nhìn thấy điểm du lịch, trực tiếp sử dụng các sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích nâng cao hiểu biết của khách mời về sản phẩm du lịch, thuyết phục
họ tuyên truyền về sản phẩm du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thúc đẩy hoạt động bán sản phẩm du lịch trong tương lai
Vì sự quan tâm của các nhà báo, các nhà kinh doanh lữ hành, đại lý lữ hành đối với điểm đến dưới những góc độ khác nhau, vì vậy, chủ thể cần chú ý
để tổ chức chương trình khảo sát phù hợp Mỗi bài báo của các phóng viên đã tham gia chương trình khảo sát thường có giá trị thuyết phục Khi mời các nhà báo, điều mong đợi nhất của nhà tổ chức chương trình khảo sát là sau chuyến
đi sẽ có các bài báo, phóng sự tuyên truyền, quảng bá cho điểm đến
Doanh nghiệp lữ hành, đại lý lữ hành quan tâm chi tiết hơn đến hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ giải trí, các điểm tham quan, độ dài tuyến đường, khả năng kết nối các điểm du lịch Đổi với các hãng lữ hành, căn cứ trên những điều kiện thực tế đã trải nghiệm và những tiêu chí, chiến lược phát triển thị trường của công ty họ sẽ xây dựng kế hoạch phát triển và bán sản phẩm du lịch đó Đối với các đại lý lữ hành, nếu hài lòng với kết quả chuyến khảo sát thì khi tư vấn cho khách hàng họ sẽ dễ dàng hơn trong việc thuyết phục khách hàng lựa chọn nơi đó là điểm đến du lịch Hầu hết mỗi doanh nghiệp có các kênh xúc tiến riêng như qua internet, ấn phẩm, Do đó
Trang 32đây cũng là những chủ thể để góp phần làm cho mức độ lan tỏa của xúc tiến rộng hơn nữa
Khi mời những người nổi tiếng thế giới đến với điểm du lịch, nhà tổ chức chương trình hy vọng rằng sự có mặt của người nổi tiếng đó sẽ thu hút được sự chú ý của công chúng, từ đó họ muốn được có mặt ở nơi người đó
đã đến, đặc biệt đối với những người hâm mộ cuồng nhiệt Đi cùng với những người nổi tiếng thường có các nhà báo, các tay săn ảnh, đoàn tuỳ tùng và như vậy, sẽ thu hút được thêm một số đông người đến du lịch và
có hiểu biết về điểm đến
Hoạt động này thích hợp để xúc tiến những điểm du lịch mới, sản phẩm
du lịch mới hoặc cho thị trường mới nổi, khi ngay cả những người chuyên nghiệp trong ngành du lịch cũng như các phương tiện thông tin đại chúng còn thiếu hiểu biết, thiếu thông tin về điểm đến đó, sản phẩm du lịch đó
+ Tổ chức các sự kiện du lịch, hội nghị, hội thảo
Các sự kiện du lịch bao gồm các lễ hội du lịch, các buổi trình diễn (presentation) cho giới kinh doanh và khách hàng tiềm năng, các roadshow, các hoạt động tổng họp giới thiệu nhiều lĩnh vực về một đất nước, một điểm đến (ví dụ: các Ngày Việt Nam, Tuần Việt Nam, Năm du lịch quốc gia ) Mỗi sự kiện có những đặc điểm khác nhau và nhằm những đối tượng, mục đích khác nhau
Hội nghị, hội thảo, presentation, roadshow: phía chủ trì tổ chức có thể
là cơ quan du lịch quốc gia, địa phương, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch hoặc kết hợp giữa các chủ thể này Đối tượng được mời thường là những hãng lữ hành, đại lý lữ hành, nhà quản lý, nghiên cứu du lịch và các nhà báo Nội dung trình bày tại các sự kiện du lịch này mang tính chuyên nghiệp cao và rất chi tiết, cụ thể
- + Xây dựng tiêu đề biểu tượng trưng cho chiến dịch xúc tiến: Việc xây
Trang 33dựng tiêu đề - biểu tượng du lịch cho chiến dịch xúc tiến thường được thực hiện ở tầm cỡ quốc gia, hoặc của các doanh nghiệp, hoặc một sự kiện du lịch lớn Ở các địa phương (cấp tỉnh), hầu như không có tiêu đề (khẩu hiệu) du lịch riêng Khi phát động một chiến dịch xúc tiến, chủ thể thường xây dựng tiêu đề - biểu tượng chung cho toàn chiến dịch nhằm tập trung các hoạt động xúc tiến du lịch theo những chủ đề nhất định, chuyển tải được những thông điệp mà muốn tiếp cận khách du lịch Đồng thời việc sử dụng thống nhất, rộng rãi tiêu đề - biểu tượng chung của chiến dịch xúc tiến sẽ tạo ra ấn tượng mạnh mẽ đối với khách du lịch tiềm năng, các doanh nghiệp lữ hành, các phương tiện thông tin đại chúng ở những thị trường cần tập trung khai thác,
từ đó thay đổi nhận thức, hình ảnh của họ về điểm đến và tạo ra những ảnh hưởng có lợi trong việc thu hút khách du lịch
- + Sản xuất, phát hành các ấn phẩm, vật phẩm xúc tiến du lịch: Các ấn phẩm, vật phẩm như bản đồ, tờ rơi, tập gấp, sách mỏng, các loại đĩa CD, DVD có những vai trò nhất định trong xúc tiến du lịch, và vẫn được nhiều đối tượng ưa chuộng Cung với môi trường của internet và sự phát triển cùa công nghệ số, hình thức ấn phẩm điện tử (e-book, e-brochure, e-newletter ) đang trở nên phổ biến
Các tranh, ảnh khổ to (poster) cũng là những ấn phẩm xúc tiến có ấn tượng, thích hợp khi sử dụng trang trí tại các nhà hàng, tại các đại lý, công ty
lữ hành, tại các nơi công cộng như siêu thị, bến xe, nhà ga,
Việc sản xuất và phát hành các vật phẩm xúc tiến nhỏ, có in biểu tượng, khẩu hiệu chung của du lịch là rất cần thiết để thu hút sự chú ý của công chúng, những khách du lịch tiềm năng, đặc biệt khi các vật phẩm này gắn với các sản phẩm đặc trưng, con vật đặc trưng hoặc hình ảnh đặc trưng của đất nước đó sẽ mang lại hiệu quả cao hơn
Trang 34- Ki- ốt điện tử cung cấp thông tin du lịch
Hình thức này đang bắt đầu phát triển ở một số trung tâm du lịch cả Việt Nam để phục vụ cho quảng bá du lịch Với thao tác khá đơn giản bằng cách nhấn lên màn hình cảm ứng, khách du lịch sẽ có thể tìm kiếm những thông tin về bản đồ, các điểm tham quan du lịch, di tích văn hóa, ẩm thực, phòng triển lãm, cửa hàng lưu niệm, nhà hàng, khách sạn, vận chuyển, mua sắm, bệnh viện và các số điện thoại cần thiết,… Nếu như có phần mềm tiện dụng và tích hợp được đầy đủ thông tin, cùng với sự thiết kế mỹ thuật đẹp mắt,
ki - ốt thông tin sẽ là một trong những công cụ quảng bá du lịch hiệu quả
1.2.6 Nguyên tắc của hoạt động xúc tiến điểm đến
Để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch, những chủ thể thực hiện hoạt động này cần phải đảm bảo một số nguyên tắc sau đây:
- Tính chọn lọc: Để tiến hành tuyên truyền, quảng bá có hiệu quả đòi
hỏi các chủ thể phải hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến
và ngược lại, xúc tiến nhằm mục đích gì, hướng đến đối tượng nào Mỗi đối tượng có những đặc điểm giống nhau nhưng có những nét khác nhau về văn hóa, sở thích, tâm lý, Do đó cần phải chọn lọc nội dung và hình thức xúc
tiến phù hợp với từng phân đoạn thị trường
- Tính chân thực của thông tin: Tính chân thực của thông tin sử dụng
trong hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch thể hiện ở việc các chủ thể của hoạt động này cung cấp những thông tin chính xác về các sản phẩm, dịch vụ, điều kiện để phục vụ và đảm bảo cho hoạt động du lịch của du khách được thực hiện Những thông tin sai lệch sẽ gây hậu quả xấu Chính sự chân thực của thông tin sẽ đảm bảo xây dựng được 1òng tin và nâng cao được hình ảnh của
điểm đến, đảm bảo cho việc thu hút khách đảm bảo cho sự phát triển lâu dài
Trang 35- - Tính độc đáo và tạo được ấn tượng:Cũng như các ngành kinh doanh
và kinh tế khác, thông tin được sử dụng trong xúc tiến du lịch, hay cả hình thức của hoạt động này cũng phải thể hiện được sự lôi cuốn, hấp dẫn, gây sự chú ý cho đối tượng tiếp nhận thông tin Sự độc đáo và ấn tượng trong xúc tiến điểm đến góp phần tạo nên sự khác biệt của sản phẩm du lịch, một yếu tố hấp dẫn đối với du khách Chính nguyên tắc này thể hiện được hiệu quả của
truyền tải thông tin và nâng cao hiệu quả của xúc tiến du lịch
- - Tính thực tiễn: Mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi vùng miền, hay mỗi phân
đoạn thị trường đều có những đặc điểm và những đòi hỏi khác nhau về thông tin Vì vậy, đối với cùng một nội dung cơ bản khi xúc tiến tại những phân đoạn thị trường khác nhau thì cũng không thể hoàn toàn giống nhau, và nội dung thông tin tuyên truyền quảng bá phải phù hợp với văn hóa, truyền thống
của địa phương hay đối tượng
- + Tạo ra những điều mới lạ: Việc đảm bảo nguyên tắc này sẽ tăng sự
hấp dẫn của các sản phẩm được xúc tiến, giúp giành thắng lợi trong cạnh tranh, do con người luôn có xu hướng thích trải nghiệm mới, đặc biệt trong
du lịch Nguyên tắc này có thể giúp tăng khả năng du khách quay lại điểm đến Tuy nhiên để thực hiện được việc này cần có sự đồng bộ trong việc làm
mới chính các sản phẩm du lịch
- + Tính liên tục: cần phải tạo ra một dấu ấn trong ý thức, trong ghi
nhận của du khách Xúc tiến phải đủ tần suất nhất định, tức là phải được tiến hành thường xuyên Có như vậy mới được ghi nhận trong tâm thức của du khách, từ đó mới có cơ sở thúc đẩy hình thành một "nhu cầu" gắn với đối
tượng được xúc tiến quảng bá
+ Tính kinh tế: Chúng ta đều thấy để thực hiện được đầy đủ các yếu tố
trên, đòi hỏi một chi phí lớn, nhất là đối với thị trường mới, thị trường xa Do
đó, việc nghiên cứu, chọn lọc để thực hiện xúc tiến có hiệu quả với kinh phí
hợp lý nhất
Trang 361.3 Kinh nghiệm xúc tiến quảng bá du lịch của một số điểm đến du lịch, bài học kinh nghiệm rút ra với Hà Nam
1.3.1 Kinh nghiệm xúc tiến của một số điểm đến đu lịch
* Kinh nghiệm hoạt động xúc tiến của tỉnh Khánh Hòa
Nhắc đến Khánh Hòa chúng ta sẽ nhớ đến Nha Trang - hòn ngọc bên
bờ biển Đông, nơi diễn ra Festival Biển 2013 (7/6- 10/6/2013) Nha Trang - Khánh Hòa gắn liền với du khách trong nước cũng như quốc tế với một hình ảnh đẹp đó là Thiên đường du lịch biển đảo
Hình 1.1 Logo điểm đến du lịch Nha Trang 2013
(Nguồn: http://www nhatrang org vn/festival/)
Tại Festival du khách và người dân được tham gia vào các hoạt động trải đều trên các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch như: Giải đua xe Báo Khánh Hòa cúp CMC thể dục cổ động, hoạt động hưởng ứng ngày môi trường Thế giới và Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam, Lễ hội Hoa Quả Sơn, Hội chợ
du lịch quốc tế biển được tổ chức tại nhà hát lớn Diamond Bar, các hội thảo khoa học , du khách thực sự cảm thấy hài lòng với hoạt động sôi nổi, phong phú mang đậm nét văn hóa biển
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa, trong
4 ngày chính thức của fetsival biển, Nha Trang đón hơn 92.000 lượt khách
Trang 37lưu trú, tăng 12% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế tăng gần 17% Điều
đó cho thấy Festival biển đã trở thành một thương hiệu, một điểm nhấn, một
sự kiện quan trọng để níu chân khách du lịch khi đến với thành phố biển xinh đẹp này
Có thể nhận thấy rằng hoạt động xúc tiến của Khánh Hòa đạt được nhiều thành công Với lợi thế là tỉnh có nguồn tài nguyên biển phong phú, Khánh Hòa xác định rõ sản phẩm du lịch của tỉnh, từ đó phát triển, mở rộng sản phẩm du lịch thu hút du khách Theo Trung tâm xúc tiến du lịch và thương mại tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại và đầu tư, tham gia các hội trợ triển lãm trong và ngoài nước Những hoạt động này góp phần thu hút đầu tư, cũng như tạo ra năng lực cạnh tranh cho Khánh Hòa Xác định rõ thị trường khách từ đó tỉnh chú trọng đến việc phát triển sản phẩm du lịch biển đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách du lịch Một thành công nữa trong xúc tiến du lịch Khánh Hòa đó là việc áp dụng các công
cụ xúc tiến phù hợp tiêu biểu là thành phố biển Nha Trang
Bên cạnh những thành công nêu trên, hoạt động xúc tiến của Khánh Hòa còn một số hạn chế sau:
- Một là hoạt động xúc tiến còn thiếu sự phối hợp hoạt động giữa các ngành chức năng
Hai là là kinh phí cho các hoạt động xúc tiến còn hạn chế, các nguồn thu kinh phí cònbị bó hẹp và dễ dàng nhận thấy đây là khó khăn chung của các tỉnh
* Kinh nghiệm hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh Quảng Ninh
Khác với Khánh Hòa, Quảng Ninh được nhắc đến với Lễ hội Canaval nổi tiếng được tổ chức hàng năm (từ năm 2007) đến nay Với mỗi một chủ điểm khác nhau song năm nào Canaval cũng gặt hái được nhiều thành công thu hút được lượng khách tham quan du lịch lớn
Trang 38Hình 1.2 Logo Carnaval Hạ Long 2013
(Nguồn: baoquangninh.com.vn/Carnaval-Ha-Long-2013)
Trong lễ hội các hoạt động vui chơi, mua sắm, đi chợ quê, thưởng thức
ẩm thực Việt, tham gia các triển lãm diễn ra cùng sự tham gia của đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế Trong những ngày diễn ra Canaval, du khách đến Quảng Ninh tăng đột biến Lễ hội Canaval 2013 khai mạc vào ngày 27/4/2013, trong những ngày này mỗi ngày có gần hai vạn lượt du khách đến tham quan Vịnh Hạ Long - kỳ quan thiên nhiên Thế giới Tại các thành phố
Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, khu du lịch Bãi Cháy 90% khách sạn, nhà nghỉ, tàu nghỉ đêm trên vịnh đều kín phòng Tổng lượt khách đến Quảng Ninh trong
4 tháng đầu năm đạt 3.674.000 lượt, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó khách quốc tế đạt trên 1.018.000 lượt, tăng 6%
Như vậy, Quảng Ninh là một trong những tỉnh đã rất thành công trong xúc tiến điểm đến du lịch Du lịch Quảng Ninh đã tạo được những ấn tượng tốt đẹp với khách du lịch cả trong nước và quốc tế Trung tâm xúc tiến du lịch
và thương mại Quảng Ninh được thành lập với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, trách nhiệm, được đào tạo bài bản; xây dựng được hệ thống ấn phẩm, tài liệu
Trang 39quảng cáo du lịch với thông tin chính xác, hình ảnh phong phú Trang thông tin điện tử về du lịch của tỉnh họat động thường xuyên, cập nhật tin tức mới,
dễ dàng tra cứu tìm kiếm Quảng Ninh là nơi thường xuyên tổ chức các hội chợ thương mại: Hội chợ thương mại Uông Bí, Vân Đồn, hội chợ xuân
Tuy nhiên, trong công tác quảng bá xúc tiến du lịch, Quảng Ninh cũng còn có những hạn chế nhất định Công tác quản lý điểm đến của Quảng Ninh chưa thực sự hi ệu quả tình trạng tự tăng giá trong mùa du lịch vẫn diễn ra Nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch vẫn chưa ý thức được vai trò của hoạt động xúc tiến Họ thường quá chú trọng đến lợi ích kinh tế mà làm ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của Quảng Ninh Từ những ưu, khuyết điểm trên có thể khẳng định du lịch Quảng Ninh đã áp dụng các biện pháp và công cụ xúc tiến khá phù hợp và hiệu quả, song để thành công hơn nữa Quảng Ninh cần khắc phục những hạn chế nêu trên
1.3.2 Bài học với điểm đến Ha ̀ Nam
Dựa vào kinh nghiệm xúc tiến du lịch của Khánh Hòa và Quảng Ninh,
du lịch Hà Nam cần rút ra bài học để có thể đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của tỉnh ngày càng hiệu quả hơn, thu hút được nhiều khách du lịch
Hà Nam cần bổ sung cả số lượng và chất lượng cho các cán bộ công tác trong lĩnh vực xúc tiến du lịch Nâng cao kiến thức, ngoại ngữ để việc quản lý khoa học và chuyên nghiệp hơn
Xác định rõ thị trường khách mục tiêu, tập trung vào thị trường khách quốc tế, phát triển sản phẩm du lịch phù hợp
Áp dụng các công cụ xúc tiến đa dạng linh hoạt, tổ chức tham gia nhiều hội chợ, hội thảo về du lịch Mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư của các đối tác, đặc biệt đầu tư nước ngoài
Xây dựng, thiết kế nhiều ấn phẩm du lịch, vật phẩm du lịch với nội dung phong phú, thông tin đầy đủ chính xác
Các hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh cần quan tâm, chú trọng đến các Công ty lữ hành, hãng lữ hành lớn trong nước
Trang 40Trong chương 1, tác giả đã tổng hợp và đưa ra những nội dung về cơ sở
lý luâ ̣n và thực tiễn của đề tài : xác định một điểm đến du lịch; những yếu tố cấu thành điểm đến du lịch; xác định luồng du khách hay thị trường khách du lịch; xúc tiến và hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch đối với khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng; những bài học kinh nghiệm của các tỉnh bạn về hoạt động xúc tiến du lịch Từ những nội dung đó làm căn cứ cho hoạt động xúc tiến đối với Hà nam Với một góc nhìn cụ thể hơn của vấn đề xúc tiến điểm đến , xét trên khả năng về : tài nguyên du lịch , cơ sở vật chất , nguồn nhân lực của tỉnh Hà n am có đầy đủ cơ sở để thu hút nhiều hơn lượng khách du lịch Vì vậy phản ánh về những chiến lược nhằm thực hiện mục đích đó , đề tài tiếp tục làm rõ những nội dung trong hoạt động xúc tiến của tỉnh Hà Nam trong những chương tiếp theo