Tràng Xỏ là một xó miền nỳi nằm ở phớa nam của huyện Vừ Nhai, tỉnh Thỏi Nguyờn, với tổng diện tớch tự nhiờn là 4.753,56ha trong đú cú 1.802,42ha đất lõm nghiệp, xó vừa cú đồi, nỳi đỏ, gũ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
Hà THị Lệ
Tờn đề tài:
Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình
nông lâm kết hợp tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai
tỉnh Thái Nguyên
khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Lõm nghiệp Khoa : Lõm nghiệp Khoỏ học : 2010-2014
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
Hà THị Lệ
Tờn đề tài:
Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình
nông lâm kết hợp tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai
tỉnh Thái Nguyên
khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Lõm nghiệp Khoa : Lõm nghiệp Khoỏ học : 2010-2014 Giảng viờn hướng dẫn : TS Đàm Văn Vinh
Khoa Lõm nghiệp, Trường Đại học Nụng Lõm Thỏi Nguyờn
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm !
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 05 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
TS Đàm Văn Vinh Hà Thị Lệ
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của giáo viên hướng dẫn và xuất phát từ nguyện
vọng của bản thân tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một
số giải pháp phát triển mô hình nông lâm kết hợp tại xã Tràng Xá, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp Đặc biệt là sự chỉ bảo
hướng dẫn của thầy giáo TS Đàm Văn Vinh đã rất tận tình giúp đỡ tôi hoàn
thành đề tài trong thời gian nghiên cứu Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn
về sự giúp đỡ quý báu đó
Xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí cán bộ tại UBND xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và các hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài tại đia phương
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực học tập, nghiên cứu, nhưng do trình độ
và thời gian còn hạn chế, nên đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 26 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Hiện trạng dân số xã Tràng Xá năm 2013 13
Bảng 2.2: Hiện trạng lao động xã Tràng Xá năm 2013 14
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế xã Tràng Xá 16
Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng đất xã Tràng Xá 17
Bảng 4.1: Phân bố các mô hình NLKH tại các xóm của xã Tràng Xá 25
Bảng 4.2: Phân bố của các mô hình NLKH theo diện tích 27
Bảng 4.3: Phân bố các dạng mô hình NLKH theo nhóm hộ của các hộ tiến hành điều tra 28 Bảng 4.4: Phân bố các dạng mô hình NLKH theo VA/1 CLĐ 29
Bảng 4.5: Phân bố các dạng mô hình theo VA/ ha 31
Bảng 4.6: Phân bố các dạng mô hình theo VA/ 1 ĐVĐT 32
Bảng 4.7: Tổng hợp hiệu quả kinh tế các dạng mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 33
Bảng 4.8: Kết quả cho điểm đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường của các dạng mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 35
Bảng 4.9: Phân bố các dạng hệ thống theo số ngày công/ha/năm của mô hình 37
Bảng 4.10: Đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm của hệ thống 39
Bảng 4.11: Cơ cấu sử dụng đất mô hình R - Chè - A của hộ gia đình ông Dương Văn Cương 41
Bảng 4.12: Cơ cấu sử dụng đất đai các thành phần mô hình R - CAQ - A - C của hộ gia đình Nguyễn Hữu Hùng 43
Bảng 4.13: Cơ cấu sử dụng đất mô hình CAQ - C của hộ gia đình ông Nguyễn Trọng Hóa 45
Bảng 4.14: Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức xã hội đến vấn đề phát triển các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 47
Bảng 4.15: Sơ đồ SWOT cho sự phát triển các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 49
Bảng 4.16: Đánh giá lựa chọn cây ăn quả và cây công nghiệp 50
Bảng 4.17: Đánh giá lựa chọn cây trồng lâm nghiệp 51
Bảng 4.18: Đánh giá lựa chọn cây hàng năm 51
Bảng 4.19: Đánh giá lựa chọn vật nuôi 52
Bảng 4.20: Tổng hợp những khó khăn, giải pháp và dự kiến hoạt động 54
Bảng 4.21: Cơ cấu sử dụng đất đai và kinh tế của mô hình 58
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các dạng mô hình NLKH 25
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các mô hình NLKH theo diện tích 27
Hình 4.3 Sơ đồ thể hiện sự phân bố các dạng mô hình theo VA/1 CLĐ 30
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các mô hình theo VA/ha 31
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện sự phân bố các mô hình NLKH theo VA/ĐVĐT 32
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các mô hình theo số ngày công trên một ha diện tích 37
Hình 4.7: Mô hình R - Chè - A của gia đình ông Dương Văn Cương tại xóm Tân Thành 42
Hình 4.8: Mô hình R - CAQ - A - C của gia đình ông Nguyễn Hữu Hùng tại xóm Thành Tiến 44
Hình 4.9: Mô hình CAQ - C của gia đình ông Nguyễn Trọng Hóa tại xóm Cầu Nhọ 46
Hình 4.10: Sơ đồ VENN thể hiện mối quan hệ của các tổ chức xã hội đến phát triển NLKH 48
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐVĐT : Đơn vị đầu tư
HĐND : Hội đồng nhân dân
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Đặc điểm và phân loại NLKH 5
2.3 Tình hình nghiên cứu NLKH trong và ngoài nước 6
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 10
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 18
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Nội dung nghiên cứu 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu 18
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Khảo sát đánh giá tình hình sản xuất NLKH tại xã Tràng Xá 22
4.2 Điều tra sự phân bố của các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 25
4.3 Đánh giá hiệu quả của các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 29
4.4 Kết quả điều tra một số dạng mô hình NLKH đại diện tại xã Tràng Xá 40
4.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong phát triển mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 47
4.6 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả cho các dạng mô hình NLKH tại xã Tràng Xá 53
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 2/3 dân số sống ở vùng nông thôn Tổng diện tích đất tự nhiên là 33.091.039ha (2013), trong đó đất đồi núi chiếm khoảng ¾ diện tích cả nước Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, điều kiện tự nhiện và khí hậu thuận lợi đã làm cho thảm thực vật rừng vô cùng phong phú về chủng loại và đa dạng sinh học cao, đặc biệt đối với cây trồng, vật nuôi có điều kiện để sinh trưởng và phát triển tốt Đây
có thể coi là tiềm năng lớn cho phát triển nông - lâm nghiệp, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có rất nhiều khó khăn như: Diện tích đồi núi cao, địa hình hiểm trở chiếm một phần lớn diện tích đất tự nhiên, tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái, thiên tai, dịch bệnh phát sinh và lan rộng ngày một tăng, sự phát triển về đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội đã kéo theo những bất cập, đặc biệt là tình trạng dân số ngày càng tăng nên diện tích đất tính trên đầu người ngày càng bị thu hẹp, đời sống lạc hậu, kinh tế khó khăn, nguồn lương thực, thực phẩm sản xuất ra hàng năm không đủ để phục vụ cho con người Nhiều nơi người dân vẫn còn chủ yếu sản xuất theo phương thức du canh, du cư hay canh tác độc canh làm tài nguyên rừng bị suy thoái nghiêm trọng, dẫn đến hiện tượng xói mòn, rửa trôi, nhiều diện tích đất lâm nghiêp, nông nghiệp bị thoái hóa, giảm
độ phì dẫn đến năng xuất cây trồng ngày càng thấp
Trước những thực trạng đó, những năm gần đây nhà nước đã hoàn thành công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn nông thôn miền núi, và đưa vào một số chủ trương, chính sách như: Chính sách giao đất giao rừng, đầu tư vốn và kỹ thuật giúp phát triển nông - lâm nghiệp thông qua các chương trình
dự án nhà nước
Để sử dụng tài nguyên đất đai, khí hậu và phát huy vai trò của các loại cây trồng, vật nuôi ngày một hiệu quả cao thì có nhiều giải pháp và thách thức, trong đó phải kể đến các hệ thống canh tác nông - lâm nghiệp Một
Trang 10trong những hệ thống sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tận dụng đất đai, góp phần sử dụng đất bền vững phổ biến hiện nay là thiết kế và xây dựng hệ thống nông lâm kết hợp (NLKH) Đây là phương thức sử dụng đất tổng hợp giữa lâm nghiệp với ngành nông nghiệp (gồm: trồng trọt, chăn nuôi
và thủy sản) Phương thức sản xuất này có nhiều ưu điểm đảm bảo việc sử dụng đất một cách tốt nhất đem lại nguồn thu nhập cho người dân, đảm bảo tính an toàn về môi trường được người dân các vùng chấp nhận Tuy nhiên, vẫn phải có đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả của hệ thống NLKH để
có cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển NLKH bền vững
Tràng Xá là một xã miền núi nằm ở phía nam của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích tự nhiên là 4.753,56ha trong đó có 1.802,42ha đất lâm nghiệp, xã vừa có đồi, núi đá, gò, đồng ruộng hệ thống nước ổn định, là một trong những xã có điều kiện thuận lợi để đưa các mô hình nông lâm kết hợp vào sản xuất và phát triển kinh tế [10]
Hiện nay, đời sống nhân dân trong xã còn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tập quán canh tác sản xuất, chuyển giao khoa học công nghệ
kỹ thuật còn chậm, nhận thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ (QLBV) rừng và phát triển rừng còn hạn chế [10] Đặc biệt người dân còn sản xuất theo hướng độc canh quy mô nhỏ, phân tán Vì vậy mô hình sản xuất theo hướng kết hợp mới đã được áp dụng trong thời gian gần đây có tính khả thi cao, phù hợp với thực tế địa phương, tạo điều kiện cho bà con nông dân hợp tác liên kết để sản xuất, từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cải thiện đời sống, góp phần xây dựng nông thôn mới
Từ những lý do trên, được sự nhất trí của BGH nhà trường, BCN khoa lâm nghiệp, và cơ sở thực tập UBND xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu và đề xuất
một số giải pháp phát triển mô hình NLKH tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 111.2 Mục đích, mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Đề tài xây dựng nhằm nghiên cứu một số hệ thống NLKH tại xã Tràng
Xá, huyện Võ Nhai để tìm ra những tiềm năng và hạn chế, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển một số mô hình NLKH điển hình có hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người dân trong địa bàn xã một cách bền vững
Đánh giá được hiệu quả các mô hình NLKH tại địa bàn xã
Đề xuất các giải pháp phát triển NLKH nhằm nâng cao hiệu quả, tính bền vững và nhân rộng các mô hình NLKH
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học
- Làm quen với việc nghiên cứu khoa học, làm quen với các công việc ngoài thực tế
- Là cơ hội để sinh viên có điều kiện cọ sát với thực tiễn sản xuất, học kiến thức và kinh nghiệm của người dân địa phương
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề tài nghiên cứu là cơ sở để đưa ra các giải pháp phát triển NLKH trên địa bàn xã, phát huy tiềm năng và đáp ứng được mong muốn của người dân, từ đó góp phần cho các cấp chính quyền trong việc hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển các hệ thống NLKH có hiệu quả cao nói riêng và kinh tế xã hội nói chung của địa phương trong giai đoạn tiếp theo
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
NLKH là một lĩnh vực khoa học mới đã được đề xuất vào những năm thập niên 60 bởi Kinh (1969) Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau đã được diễn tả hiểu biết rõ hơn về NLKH như:
“NLKH là một hệ thống quản lý đất bền vững làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất, và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa, xã hội của dân cư địa phương” (Bene và các cộng sự, 1977)[12]
“NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn” (Nair, 1987) [11]
“NLKH là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương” (PCARRD, 1979) [12]
“NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy tính trên một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng đan xen theo không gian và thời gian Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ tương qua lại cả về mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng” (Lundgren và Raintree, 1983) [11]
Những khái niệm trên mô tả đơn giản hệ thống NLKH như một loạt các hướng dẫn cho hoạt động sử dụng đất liên tục Ngày nay nó được xem như một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự
đa dạng của quản lý tài nguyên một cách bền vững
Trang 13Vào năm 1997, Trung Tâm Quốc Tế Nghiên Cứu về Nông Lâm Kết
Hợp (gọi tắt là ICRAF) đã định nghĩa về NLKH như sau: “NLKH bao gồm các hệ thống canh tác sử dụng đất khác nhau trong đó các loài cây thân gỗ lâu năm (bao gồm cả cây bụi thân gỗ, các loại cây họ dừa và họ tre nứa) được trồng với cây nông nghiệp hoặc vật nuôi cùng đơn vị diện tích đất đai canh tác đã được quy hoạch sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản Chúng được kết hợp với nhau đồng thời hay kế tiếp nhau về mặt không gian và thời gian Mặt khác có loại hệ thống NLKH cả hai yếu tố sinh thái học và kinh tế tác động qua lại lẫn nhau với các bộ phận hợp thành
- Một hệ thống NLKH có ít nhất hai hay nhiều sản phẩm đầu ra
- Chu kỳ sản xuất thường dài hơn một năm
- Đa dạng về phương diện sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc, chức năng sinh thái học) so với canh tác độc canh
- Cần phải có mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa thành phần cây thân gỗ
Trang 14- Hệ thống đặc biệt thích hợp cho điều kiện hoàn cảnh dễ bị thoái hóa
Theo Nair (1989), có bốn nguyên tắc đặt cơ sở cho việc phân loại, đó là:
- Cơ sở cấu trúc: Cấu trúc thành phần và sự phối hợp theo không gian hay thời gian
- Cơ sở chức năng: Dựa trên vai trò chủ yếu của thành phần cây thân gỗ
- Cơ sở sinh thái: Dựa vào điều kiện sinh thái và sự tương thích sinh thái của
2.3 Tình hình nghiên cứu NLKH trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu NLKH trên thế giới
Du canh là nguyên nhân gây ra hơn 70% tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất
ở Châu Phi, diện tích đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở Châu Phi khoảng 16% ở Châu Mỹ La Tinh và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của Châu Á (FAO, 1994) [13]
Để giảm thiểu sự suy thoái tài nguyên môi trường toàn cầu nạn phá rừng đốt nương làm rẫy, gây mất cân bằng sinh thái, đã có rất nhiều nghiên cứu về phương thức canh tác khác nhau nhưng cùng chung mục đích làm giảm suy thoái đất, bảo vệ môi trường, tăng hiệu quả kinh tế đảm bảo tính chất bền vững Trong đó phải kể đến những phương thức canh tác là tiền đề cho những hệ thống NLKH sau này được hình thành Phương thức canh tác
Trang 15cây thân gỗ cùng với cây công nghiệp trên cùng một diện tích là tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới [1]
Cho đến thời Trung cổ ở Châu Á, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là
“chặt” và “đốt” tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch với cây nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX và một số vùng của Đức đến tận những năm
1920 (Theo King, 1987) [14]
Phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới ra đời sau phương thức du canh Theo Blafozd 1958, nguồn gốc của tên gọi phương thức này là từ địa phương của của ngôn ngữ Myanma “Taung” nghĩa là canh tác, “Ya” là đồi núi Taungya nghĩa
là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồng nghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc [6]
Cuối thế kỷ XIX hệ thống Taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ở Myanmar dưới sự bảo vệ của thực dân Anh trong các đồn điền trồng gỗ tếch (Tectona Grandis) Người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các hàng cây chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm, phương thức này sau đó được
áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi, những nghiên cứu phát triển các hệ thống kết hợp này thường hướng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp được thực hiện bởi các nhà lâm nghiệp với việc luôn cố gắng bảo đảm các nguyên tắc:
+ Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp + Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loại cây trồng là đối tượng cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống
+ Tối ưu hóa về thời gian canh tác từ cây trồng nông nghiệp sẽ bảo đảm tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ
+ Loại cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loại cây nông nghiệp + Tối ưu hóa mật độ để đảm bảo sự sinh trưởng liên tục của cây trồng thân
gỗ Chính vì vậy mà các hệ thống này chưa được xem xét như một hệ thống quản lý
sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair, 1987) [15]
Ở Thụy Sỹ hình thức sản xuất NLKH được áp dụng sớm như ở Đức và Phần Lan nhưng nó trở thành phổ biến sau năm 1973
Thông qua sự phát triển những hệ thống NLKH ở các nước trên thế giới, chúng ta biết được rằng NLKH đã phát triển từ rất sớm và đã được các nước chú trọng áp dụng để có được hệ thống NLKH với quy mô và phương thức kết hợp đa dạng phong phú tạo hiệu quả cao
Trang 162.3.2 Tình hình nghiên cứu NLKH trong nước
Cũng giống như các nước trên thế giới, hệ thống NLKH ở Việt Nam cũng đã
có từ rất lâu đời Với hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào dân tộc ít người
Hệ thống sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả nước, làng truyền thống của người Việt cũng có thể xem là một hệ thống NLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng chu chuyển vật chất và năng lượng (Nguyễn Văn Sở và cs, 2002) [11]
Từ thập niên 60, song song với phong trào thi đua sản xuất hệ sinh thái Vườn
- Ao - Chuồng (V.A.C) được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh và lan rộng khắp cả nước với nhiều biến thế khác nhau thích hợp cho từng vùng sinh thái
cụ thể Sau đó là các hệ thống Rừng - Vườn - Ao - Chuồng (R.V.A.C) và vườn đồi được phát triển mạnh ở các khu vực dân cư miền núi Các dự án được tài trợ của các tổ chức quốc tế cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức SALT (Sajjapongse, 1982) [5]
Hai thập niên trở lại đây phát triển nông thôn miền núi theo phương thức NLKH ở các khu vực tiềm năng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước, những hệ thống NLKH đang ngày càng phát triển và nó thực sự mở ra hướng đi mới cho nền sản xuất NLN nước nhà Đặc biệt từ sau khi có các nghị định của Thủ tướng chính phủ như: Nghị định 327/CP tháng 9 năm 1992 về chủ trương sử dụng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước (Nghị định
327, 1992) [9]
Nghị định 02/CP ban hành ngày 15/07/1994 quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã thúc đẩy hoạt động NLKH phát triển rộng rãi thêm một bước nữa, hệ thống NLKH đang tồn tại ở Việt Nam như: R.V.A.C, V.Rg, V.A.C, R.V.C.Rg, đang ngày càng phát huy hiệu quả bảo vệ đất, nước, tăng năng suất cây trồng góp phần ổn định cuộc sống của người dân trung du và miền núi, nhiều hộ gia đình đã vươn lên giàu có nhờ thực hiện NLKH [8]
Canh tác NLKH tạo năng suất cao với nhiều sản phẩm hàng hóa, bảo vệ được tính đa dạng sinh học của vùng khí hậu nhiệt đới ẩm (Vũ Biệt Linh và cs, 1995) [5]
Báo cáo kết quả thực hiện dự án (1997) tại huyện Na Rì Bắc Kạn Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên chủ trì dự án Xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ KHKT nhằm góp phần ổn định phát triển nông thôn vùng cao Dự án đã thiết kế 26
Trang 17mô hình SALT đưa các giống cây ăn quả và đặc sản có giá trị kinh tế cao như vải, nhãn, hồng không hạt, cam, cây lâm nghiêp trồng xen với các cây họ đậu và cây lương thực Kết quả cho thấy cây ăn quả vải, nhãn có tỷ lệ sống 55%, các cây khác
có tỷ lệ sống 80 - 83% sinh trưởng phát triển tốt Qua kết quả đánh giá sơ bộ của hệ thống canh tác NLKH là thành công, việc chuyển giao tiến bộ KHKT bằng xây dựng mô hình trình diễn là hướng đi đúng cần được nhân rộng
Kỹ thuật và mô hình NLKH tại Việt Nam phát triển không ngừng Có một số mô hình NLKH thành công và hiệu quả như:
- Các mô hình NLKH ở Sơn Dương - Tuyên Quang các mô hình được xây dựng thuộc mô hình SALT Trong đó cây trồng ăn quả là những cây như: vải, nhãn, mận, mơ, cây lâm nghiệp, trám, sấu, keo và một số địa phương khác Đó là những tỉnh sớm áp dụng và đưa vào kinh doanh các dạng mô hình nhất trong cả nước (Nguyễn Hoàng Yến, 1999)
Ngoài ra còn có một số mô hình khác cũng đã được phát triển và đem lại nhiều lợi ích cho nông hộ
Các hệ thống NLKH điển hình trong nước đã được tổng kết bởi FAO và IIRR năm 1995 [13]
Các chương trình nghiên cứu để phát triển các hệ thống NLKH được thực hiện trên quan điểm dựa vào người dân, có người dân tham gia, coi trọng kiến thức bản địa của người dân địa phương, từ lẽ đó ở Việt Nam hiện nay các hệ thống NLKH đã trở nên quen thuộc hơn với người dân và đang ngày càng phát huy hiệu quả bảo vệ đất, nước, môi trường sinh thái, tăng năng suất cây trồng góp phần ổn định cuộc sống nâng cao hiệu quả kinh tế của người dân tham gia [7]
Các tác giả Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bích đã phân
hệ thống canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là “hệ canh tác”- là đơn vị cao nhất Dưới hệ canh tác là “phương thức” hay “kiểu” canh tác, cuối cùng
là các hệ thống Theo nguyên tắc phân loại này, hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được chia thành 8 hệ sau: Hệ canh tác N - L, hệ canh tác L - S, hệ canh tác N - L -
Trang 18S, hệ cây gỗ đa tác dụng, hệ N - Ng, hệ L - Ng, hệ N - L - Ng, hệ O - CLG Các hệ này lại được chia thành 27 kiểu canh tác khác nhau tùy thuộc theo từng vùng sinh thái Cuối cùng là mô hình NLKH hộ gia đình [5]
Nhìn chung các hệ thống NLKH ở nước ta khá đa dạng và phong phú, nó ngày càng phát triển và lớn mạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao giải quyết được phần nào các vấn đề xã hội và khắc phục được những thiệt hại cho việc khai thác rừng và canh tác không hợp lý trên đất rừng của người nông thôn miền núi
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý
Tràng Xá là một xã miền núi nằm ở phía Đông Nam huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm huyện 9 km Tổng diện tích theo địa giới hành chính
là 4.753,56ha, với số dân là 8.425 người (năm 2013) Vị trí của xã như sau:
- Phía Bắc giáp thị trấn Đình Cả và xã Phú Thượng
- Phía Nam giáp xã Dân Tiến
- Phía Đông giáp xã Phương Giao
- Phía Tây giáp xã Liên Minh
2.4.1.2 Địa hình, địa mạo
Tràng Xá là xã vùng cao, nằm trong tiểu vùng có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu (đất lâm nghiệp có rừng chiếm trên 52% tổng diện tích đất tự nhiên) được phân bố trên toàn xã, xen kẽ giữa những dãy núi là các đồi thấp, những cánh đồng nhỏ hẹp
- Địa hình xã chủ yếu là đồi núi, xen kẽ là những cánh đồng tạo thành địa hình thấp nhô đồi bát úp Độ dốc lớn và có nhiều sông suối, ít thuận lợi cho xây dựng, có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, kinh tế vườn đồi Là xã có trục đường 265 đi qua thuận lợi cho phát triển tiểu thủ công nghiệp - Dịch vụ thương mại [10]
2.4.1.3 khí hậu
Xã Tràng Xá có khí hậu nằm trong vùng mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới vùng miền núi phía Bắc Theo số liệu của trạm dự báo và phục vụ khí tượng thủy văn của tỉnh Thái Nguyên thì khí hậu xã Tràng Xá có những đặc điểm sau:
* Nhiệt độ không khí: Trung bình là 22,40C, về mùa hè nhiệt độ trung bình
là 27,80C, các tháng 6, 7, 8 là các tháng nóng, tháng nóng nhất là tháng 7, về mùa
Trang 19đông nhiệt độ trung bình là 14,90
C, các tháng lạnh là từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, tháng lạnh nhất là tháng 1
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm tại xã khoảng
80 - 87%, các tháng mùa khô nhất là tháng 11, tháng 12 độ ẩm thấp gây khó khăn cho phát triển cây vụ đông muộn, nhưng cũng tạo điều kiện cho thu hoạch và bảo quản lâm sản trong thời kỳ này
* Lượng bốc hơi nước: Đây là vùng có lượng bốc hơi lớn, lượng bốc hơi
trung bình là 985,5mm, tháng 5 có lượng bốc hơi nước lớn nhất tới 100mm, các tháng mùa khô có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều
* Lượng mưa: Do thuộc vùng Đông Bắc - Bắc bộ, nên chế độ mưa ở đây
mang những đặc trưng sau:
+ Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa khô, lượng mưa ít chỉ chiếm 9%
* Lũ: Do đặc điểm của địa hình độ dốc lớn, lượng mưa trung bình hàng năm
cao, mưa tập trung theo mùa, hệ thống sông suối, lưa vực, đập chưa ổn định, thực vật che phủ rừng thấp, vì thế khi mùa mưa kéo dài có lượng nước mưa vượt quá khả năng trữ nước của vùng nên thường gây ra lũ lớn và ngập úng ở những vùng đất thấp trong xã [10]
2.4.1.4 Thổ nhưỡng
Theo bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn xã Tràng Xá đất đai chia thành các dạng đất chính sau:
- Đất thung lũng do sản phẩm đất dốc tụ đây là lợi đất được hình thành
do sản phẩm tích tụ của các sản phẩm phong hóa trên cao đưa xuống, loại đất này được phân bố rải rác rộng khắp trên địa bàn toàn xã, diện tích này không lớn tập trung ở các núi cao phía tây bắc của xã, đang khai thác để trồng lúa nước diện tích 467,63ha
- Đất nâu đỏ phát triển trên đá Macma bazơ và trung tính có tầng đất có độ dày trung bình, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, phần lớn diện tích này có độ dốc tương đối lớn vì vậy bị rửa trôi mạnh dẫn đến nghèo dinh dưỡng
- Đất đỏ vàng trên đá sét tầng trung bình (Fsy) phân bố trên toàn xã [10]
Trang 202.4.1.5 Thủy văn
Mạng lưới thủy văn của xã Tràng Xá đa dạng bao gồm hệ thống sông suối, khe đập khá dày đặc nên mùa mưa dễ xảy ra lũ lụt cục bộ tại khu vực xung quanh suối, vào mùa khô lượng nước giảm, tuy nhiên vẫn đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất Nguồn nước phục vụ cho sản xuất lúa nhờ tuyến kênh lấy nước từ đập Suối Bùn [2]
2.4.1.6 Các nguồn tài nguyên
* Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên là 4.753,56ha, trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 1.847,26ha
- Đất nuôi trồng thủy sản: 74,99ha
- Đất lâm nghiệp: 1.802,44ha
- Đất phi nông nghiệp: 231,63ha
- Đất chưa sử dụng: 681,06ha
- Đất khu dân cư nông thôn: 116,18ha
* Tài nguyên rừng: Tràng Xá có tổng diện tích rừng và đất rừng là
1.802,56ha, trong đó rừng sản xuất là 1.194,64ha (chiếm 66,27%), rừng phòng hộ
có 607,78ha (chiếm 33,73%) Thảm thực vật gồm nhiều loài cây gỗ, tre nứa, cây bụi, thảm tươi, cây dược liệu, tạo nên sự đa dạng và phong phú về thành phần loài
Rừng cây trồng chủ yếu là các loài như keo, mỡ, bạch đàn, xoan, lát, Xã có địa hình nhiều đồi núi nên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế lâm nghiệp Đối với rừng phòng hộ chủ yếu là phòng hộ đầu nguồn, giữ nước cho đập trữ nước và lưu lượng của các sông, suối trong xã Nhiều năm trở lại đây phát triển lâm nghiệp càng được trú trọng, phong trào trồng cây gây rừng của người dân được đẩy mạnh, nhiều diện tích rừng đã được phủ xanh, độ che phủ ngày càng tăng Hoạt động trồng cây nguyên liệu phục vụ chế biến, kinh doanh đồ mộc và chế biến ván dăm, ván ép, sản xuất giấy ngày càng được chú trọng
* Tài nguyên nước:
- Nguồn nước mặt: Xã Tràng Xá có nguồn nước tương đối phong phú Trên địa bàn xã có 12,8km sông Rong chảy qua và hệ sống sông suối khá dày đặc Ngoài
ra với lượng mưa trung bình khoảng 1.950mm, lượng nước trên được đẩy vào các khe suối, kênh mương, hồ, ao, tạo thành nguồn nước mặt chủ yếu được dùng cho sản xuất, sinh hoạt
- Nguồn nước ngầm: Do địa hình chia cắt bởi các dãy núi đá vôi và các núi đất, nên ngoài phần nước mặt từ sông, suối trên địa bàn xã còn các nguồn nước
Trang 21ngầm trong các núi đá vôi, kết quả khảo sát, nghiên cứu cho biết ở đây có trữ lượng nước ngầm tương đối dồi dào và chất lượng khá tốt Toàn xã hiện nay có 80,5% người dân dùng nước hợp vệ sinh môi trường, còn lại người dân dùng nước giếng khoan, giếng khơi
2.4.2 Điều kiện về kinh tế xã hội
2.4.2.1 Dân số
Dân số xã Tràng Xá năm 2013: 8.768 người, 2.116 hộ, bình quân 4 người/hộ, dân số phân bố không đồng đều giữa các khu dân cư
- Tỷ lệ tăng tự nhiên: 1,38% năm
Hiện trạng dân số của xã được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Hiện trạng dân số xã Tràng Xá năm 2013
Trang 22Bảng 2.2: Hiện trạng lao động xã Tràng Xá năm 2013
(Đơn vị: người)
STT Tên xóm Tổng số
lao động
Lao động nông - lâm nghiệp
Lao động phi nông nghiệp
Số người thất nghiệp
* Giao thông: Hiện trạng hệ thống đường giao thông của xã (đường trục xã,
liên xã; đường trục thôn, xóm và đường trục chính nội đồng): 64,9km Trong đó:
- Đường liên xã: Chiều dài đường là 10.000m, nền đường 7,5m, mặt đường
rộng 3,5m: đường đã rải nhựa
Trang 23- Đường liên thôn: Tổng chiều dài 14.520m, mặt đường 2 - 3m, nền đường 3
- 4m, chủ yếu là kết cấu đường đất cấp phối
- Đường nội thôn: Tổng chiều dài 36.215m, nền đường 2 - 3m, chủ yếu là
kết cấu đường đất cấp phối
- Cầu: 2 (cái), chiều dài: 50m, rộng 3m
- Đường giao thông nội đồng: Tổng chiều dài 4,2km
* Thủy lợi: Hệ thống kênh mương của xã hiện nay còn ít, chất lượng chưa
cao Song để khai thác triệt để tiềm năng đất đai và hệ số sử dụng đất nông nghiệp thì trong tương lai cần phải làm mới một số hồ, tuyến kênh mương mới, đồng thời nạo vét, cải tạo các hồ, cứng hóa các tuyên kênh mương hiện có Trên địa bàn xã có tổng chiều dài kênh mương nội đồng: 11.560m, tổng chiều dài kênh mương chưa cứng hóa là: 7560m, chiều dài kênh mương cứng hóa: 4.000m
* Hệ thống cấp điện: Nguồn điện cung cấp cho xã là lưới điện quốc gia từ
tuyến điện 10KV được hạ vào các trạm treo trên cột Toàn xã có 14 trạm có công suất 50 KVA : 180 KVA với tổng công suất đặt của các trạm là 1.150 KVA
* Hệ thống trường học: Hiện tại xã có 6 trường học các cấp: Hai trường
mầm non, hai trường tiểu học, hai trường trung học cơ sở
- Trường Trung học cơ sở Tràng Xá: Có 362 học sinh, 29 cán bộ giáo viên, diện tích khu đất trong trường là 15.048,8m2 Trường có 2 tầng với diện tích công trình: 580m2
- Trường trung học cơ sở Đông Bo: Có 197 học sinh, 24 cán bộ giáo viên, cơ sở hạ tầng khang trang đáp ứng đủ nhu cầu dạy và học Diện tích khu đất là: 9.314 m2
Trang 24* Cơ sở vật chất văn hóa:
- Cơ quan hành chính sự nghiệp: Trụ sở Đảng Uỷ - HĐND - UBND xã: nhà
2 tầng bao gồm: 17 gian làm việc, 1 gian cầu thang và vệ sinh, 3 gian cho phòng họp, diện tích xây dựng trụ sở là 629m2
Xã đã xây dựng nhà văn hóa xã trong khuân viên trụ sở ủy ban với diện tích 350m2
* Chợ: Hiện nay xã có 1 chợ, diện tích đất chợ là 6.390m2
* Thông tin liên lạc:
- Bưu điện: Bưu điện văn hóa xã đã được xây dựng tại trung tâm xã giúp cho người dân trong xã thuận tiện đường giao thông
- Xã có một đài truyền thanh cơ sở, và hệ thống loa đài đến các khu dân cư trong xã
* Công trình y tế: Thuộc xóm Làng Đèn, vị trí gần trụ sở UBND xã Diện
tích đất 3876.8m2
* Hiện trạng nhà ở nông thôn:
- Hiện tại trên địa bàn xã có 952 nhà kiên cố và bán kiên cố chiếm 67,8%
- Có 19 nhà dột nát, nhà tạm chiếm 0,9%
2.4.2.4 Hiện trạng về kinh tế
Kinh tế của xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ
Tổng thu nhập toàn xã: 56,726 tỷ đồng/năm
Tổng thu nhập bình quân: 6,7 triệu đồng/người/năm
Cơ cấu kinh tế xã được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế xã Tràng Xá Hạng mục Cơ cấu giá trị sản xuất (%)
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 10,00
Trang 25Tổng diện tích đất tự nhiên 4753,56 100,00
1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại HNK 1.285,59 2,04
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những dạng mô hình NLKH tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu
Từ tháng 2/2014 đến tháng 5/2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu của đề tài tôi tiến hành nghiên cứu những nội dung sau:
- Điều tra hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu (Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu thuỷ văn, hiện trạng sử dụng đất, kinh tế - xã hội: Dân số - dân tộc, Cơ sở hạ tầng, )
- Khảo sát đánh giá chung tình hình sản xuất, thống kê phân loại hệ thống NLKH tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá
- Đánh giá một số dạng mô hình NLKH đại diện tại xã Tràng Xá
- Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển những hệ thống NLKH hiện có trên địa bàn
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả cho hệ thống NLKH tại xã Tràng Xá
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thu thập số liệu và giải quyết những vấn đề trong nội dung
đề tài đưa ra, tôi áp dụng những phương pháp sau:
3.3.1 Công tác ngoại nghiệp
3.3.1.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có chọn lọc
- Thu thập những số liệu có sẵn ở địa phương liên quan đến khóa luận tốt nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất đai, các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tế về sử dụng đất và tài liệu NLKH đã được công
bố, các báo cáo về tài liệu sản xuất nông lâm nghiệp tại địa bàn điều tra
Trang 27Để tìm hiểu thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tràng Xá Cần đến liên hệ với cán bộ chuyên trách về mảng NLKH tại phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN & PTNT) xã Tràng Xá, kế thừa số liệu từ phòng NN & PTNT, phòng địa chính và thống kê của xã
3.3.1.2 Phương pháp điều tra quan sát thực tế
Quan sát trực tiếp các hệ thống NLKH có trên địa bàn nghiên cứu Từ
đó xây dựng sơ đồ lát cắt, sơ đồ hiện trạng,
3.3.1.3 Phương pháp PRA và RRA
* Chọn mẫu điều tra: Chọn thôn, chọn hộ
+ Chọn thôn: Chọn ra 3 thôn có nhiều hộ canh tác NLKH nhất, có tính đại diện để tiến hành chọn một số hộ trong thôn nghiên cứu
+ Phương pháp chọn hộ điều tra:
- Lập danh sách các chủ hộ có mô hình/hệ thống NLKH (dựa vào thông tin cung cấp của chính quyền địa phương kết hợp quan sát)
- Chọn hộ: Liệt kê tên các hộ theo thứ tự 1, 2, 3, Lấy tổng số hộ/30= x (bước nhảy), vậy cứ “x” hộ ta chọn một hộ, dùng bảng số ngẫu nhiên ta chọn hộ đầu tiên và tiếp tục chọn được các hộ còn lại để điều tra [4] (số hộ cần điều tra phải lớn hơn hoặc bằng 30 gồm đủ các thành phần dân tộc và nhóm hộ)
+ Sử dụng bộ câu hỏi mở để đi phỏng vấn hộ gia đình về thông tin chung tình hình sử dụng đất, về thu nhập và chi phí hộ điều tra
+ Phỏng vấn: Sử dụng các công cụ như phỏng vấn định hướng, phỏng vấn bán định hướng (tạo điều kiện tiếp cận với người phỏng vấn để không những thu được thông tin cần thiết mà còn tạo ra sự đồng cảm khuyến khích
sự thảo luận, trao đổi thông tin hai chiều, phỏng vấn định hướng và phỏng vấn bán định hướng)
+ Để đánh giá được hiệu quả của các hệ thống cũng như tiềm năng và hạn chế trong phát triển NLKH của các hộ gia đình tiến hành thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đến điều tra trực tiếp từng hộ gia đình để xác định hệ thống NLKH mà các hộ đang sản xuất
Bước 2: Thu thập đầy đủ thông tin trong phiếu điều tra hộ thông qua quá trình phỏng vấn
Để thu thập một số thông tin cần thiết trong quá trình điều tra, nghiên cứu tôi tiến hành họp với một số chủ hộ, trưởng thôn, phụ nữ, cán bộ khuyến nông khuyến lâm trong xã cũng như trong thôn Thông qua quá trình này có thể thu thập các
Trang 28thông tin như hoàn thành sơ đồ VENN về vai trò của các tổ chức xã hội tại địa phương, phân tích sơ đồ SWOT, tìm ra những thuận lợi, khó khăn, dự kiến hoạt động, đánh giá lựa chọn cây trồng, vật nuôi, trên địa bàn xã Đây là công cụ quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với toàn bộ quá trình nghiên cứu
+ Đánh giá cây trồng, vật nuôi cho mô hình NLKH bằng phương pháp họp với một số chủ hộ, trưởng thôn, phụ nữ, hội nông dân và tiến hành cho điểm bằng hạt ngô, loài vật nuôi nào được người dân cho nhiều hạt ngô hơn thì loài đó sẽ được lựa chọn
3.3.2 Công tác nội nghiệp
- Tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin thu thập và bảng biểu
- Nghiên cứu và thiết kế mẫu bảng một cách khoa học để tổng hợp số liệu
- Phân nhóm các hệ thống theo mức thu nhập/ha bằng phương pháp chia nhóm, ghép tổ theo công thức kinh nghiệm của Brook Carruther
A: Thu nhập từ cây hàng năm
A = Tổng giá trị sản phẩm/năm - chi phí trung gian/năm
B: Thu nhập từ cây ăn quả
B = Tổng giá trị sản phẩm/năm (giai đoạn kinh doanh) - chi phí trung gian/năm (giai đoạn kinh doanh) - tổng chi phí giai đoạn KTCB/ chu kỳ kinh doanh dự kiến (năm)
C: Thu nhập từ cây lâm nghiệp
C = Tổng giá trị sản phẩm cả chu kỳ - chi phí trung gian
Số năm của chu kỳ
Trang 29D: Thu nhập từ chăn nuôi
D = Tổng giá trị sản phẩm/năm - chi phí trung gian/năm
Trang 30Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khảo sát đánh giá tình hình sản xuất NLKH tại xã Tràng Xá
Qua quá trình điều tra, nghiên cứu trên địa bàn xã Tràng Xá về các dạng mô hình NLKH tôi thấy rằng:
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng, nhà nước, các cấp chính quyền, đoàn thể cùng với sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội người dân xã Tràng Xá đã từng bước tiếp cận và áp dụng những biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Từ các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp truyền thống thành các mô hình NLKH dựa trên nền tảng ứng dụng khoa học, kỹ thuật Đây là hình thức được kết hợp giữa nhiều thành phần với nhau như Nông - Lâm - Ngư nghiệp, nhờ sự chuyển đổi này
đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân tham gia Đồng thời cũng tận dụng triệt để được những tiềm năng sẵn có về các nguồn tài nguyên của địa phương nói chung và từng hộ gia đình nói riêng
Phần lớn người dân trong xã đã nhận thấy phát triển kinh tế theo hướng NLKH vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, tận dụng được tài nguyên đất đai và còn tạo được công ăn việc làm, giải quyết được cho số lao động thất nghiệp, đồng thời
hệ thống sản xuất còn có tác dụng bảo vệ đất và môi trường, giúp cho người dân tham gia có thể phát triển một cách bền vững
Từ hiệu quả của việc sản xuất NLKH đem lại, người dân trong xã tiếp tục triển khai thực hiện và nhân rộng các mô hình NLKH đem lại hiệu quả kinh tế cao; ủng hộ, tham gia nhiệt tình trong các buổi trao đổi kinh nghiệm, thảo luận, tập huấn, tuyên truyền của các cán bộ khuyến nông xã về mô hình NLKH Áp dụng khoa học
kỹ thuật vào chăm sóc cây trồng, vật nuôi bước đầu đã giải quyết được số lao động
dư thừa, tạo công ăn việc làm cho người dân, nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi đem lại lợi ích về kinh tế cho địa phương
Tại địa bàn xã Tràng Xá hiện nay có nhiều mô hình NLKH phát huy hiệu quả đáng kể Tuy nhiên, còn tồn tại một số hạn chế nên các hệ thống được xây dựng chưa hoàn thiện, việc quản lý hệ thống còn tồn tại một số bất cập, hiệu quả mang lại chưa thực sự cao, chưa tận dụng được triệt để tài nguyên đất và không gian dinh
Trang 31dưỡng Vì vậy cần có những giải pháp phù hợp góp phần thúc đẩy những hệ thống NLKH ngày càng mở rộng và hiệu quả
Qua quá trình điều tra, phỏng vấn 35 hộ gia đình trong xã Tràng Xá, tôi có kết quả như sau:
- Mô hình 3: Rừng - CAQ - Ao - Chuồng
- Mô hình 4: CAQ - Ao - Ruộng
- Mô hình 5: Rừng - Ong - Ruộng
- Mô hình 6: Rừng - Chuồng
- Mô hình 7: Rừng - Chè - Chuồng
Dạng mô hình CAQ - Chuồng có số hộ tham gia nhiều nhất, với tổng thu nhập ở mức trung bình khoảng 40 triệu đồng/năm Vì dạng mô hình này phù hợp với điều kiện sẵn có của người dân địa phương và cũng đem lại hiệu quả tương đối cao Dạng mô hình này có nguồn thu nhập từ vườn cây ăn quả (bưởi, na, quất, ) và chuồng nuôi các loại gia xúc, gia cầm đem lại thu nhập cao cho người dân tham gia
và phù hợp với trình độ về khoa học kỹ thuật nên được nhiều hộ gia đình áp dụng
Dạng mô hình Rừng - Chè - Ao cũng phổ biến ở địa bàn xã: Đây là dạng canh tác mà người dân phụ thuộc vào rừng, cây chè và các sản phẩm nuôi trồng thủy sản Sản phẩm thu hoạch là gỗ, nguyên liệu chế biến, và tôm, cá
Dạng mô hình Rừng - CAQ - Ao - Chuồng được áp dụng ở những hộ gia đình có diện tích lớn hơn, có kỹ thuật tương đối chắc, và vì dạng mô hình này có nhiều nguồn thu nhập khác nhau như từ rừng, vườn cây ăn quả, chuồng nuôi các loại gia xúc, gia cầm, sản phẩm thủy sản nên được nhiều hộ gia đình tiến hành áp dụng Trong dạng này các thành phần liên kết chặt chẽ và tác động tương hỗ qua lại lẫn nhau, đồng thời hệ có vai trò bảo vệ tài nguyên đất, nước, môi trường sinh thái
do đó các hộ đã chọn làm hệ thống canh tác chính của nông hộ
Trang 32Các dạng mô hình còn lại có số hộ tham gia ít hơn, nhưng nguồn thu nhập cũng không kém các dạng mô hình trên nhiều Mỗi loại dạng hệ thống
có các kiểu canh tác và đầu tư khác nhau để tạo ra các sản phẩm tốt và có giá trị trong mỗi hệ thống đó
Nhìn chung các mô hình có quy mô sản xuất vừa và nhỏ, chỉ một số mô hình
có diện tích tương đối lớn Tổng thu nhập và tổng chi phí đạt mức trung bình, có hệ thống mang lại hiệu quả tương đối cao giúp cho gia đình có kinh tế thuộc hộ giàu
Cụ thể như sau: (Xem phụ biểu 02)
Qua bảng ta thấy giá trị gia tăng kinh tế của các mô hình là tương đối ổn định
và không chênh lệch nhau quá lớn Các mô hình CAQ - C, R - CAQ - A - C, R - Chè - A là các mô hình có giá trị gia tăng khá lớn
Tuy cùng một dạng mô hình nhưng ở mỗi hộ gia đình khác nhau thì các chỉ
số này cũng có sự chênh lệch, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
Sau khi phân tích hiểu quả kinh tế của các nhóm hộ, tôi tiến hành phân tích
và nghiên cứu hiệu quả kinh tế mà 7 dạng mô hình NLKH chính đang tồn tại và phát triển trong 35 hộ được điều tra tại xã Tràng Xá Để thấy rõ được hiệu quả kinh
tế mà các hệ thống canh tác NLKH trên mang lại cho các hộ gia đình, tôi tiến hành phân tích, tìm hiểu tình hình thu, chi của các loại hệ thống đó Kết quả thu được như sau: (Xem phụ lục 03)
Qua bảng ta nhận thấy rằng trong tổng số 7 dạng mô hình điển hình tại xã Tràng Xá, tỷ lệ thu và chi từ các thành phần của dạng mô hình là không đồng đều
và có sự chênh lệch rõ rệt Tỷ lệ chi cho thành phần chăn nuôi, cây ăn quả là lớn hơn so với các thành phần khác, chi phí cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp và sản xuất nông nghiệp là ít nhất và chiếm tỷ lệ nhỏ
Tỷ lệ thu từ các sản phẩm do các thành phần chăn nuôi, CAQ và chè chiếm
tỷ lệ lớn nhất trong các thành phần của từng mô hình Đối với các hộ gia đình các hoạt động chăn nuôi lúc đầu cần nguồn vốn đầu tư lớn nhưng lợi nhuận đem lại cũng khá cao Khi có sự kết hợp sản xuất với hình thức NLKH thì hiệu quả kinh doanh đem lại càng cao, ngoài ra còn góp phần bảo vệ môi trường, cải thiện đất, giữ nguồn nước và tận dụng sản phẩm dư thừa một cách hiệu quả
Trang 334.2 Điều tra sự phân bố của các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá
4.2.1 Các dạng mô hình NLKH và phân bố theo khu vực
Từ kết quả điều tra phỏng vấn và quan sát, tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 4.1: Phân bố các mô hình NLKH tại các xóm của xã Tràng Xá
(Đơn vị: hộ)
STT Mô hình
Số hộ tham gia
Cơ cấu (%)
Phân bố ở các xóm
Tân Thành
Thành Tiến
Đồng Tác
Cầu Nhọ
và phù hợp với điều kiện tự nhiên, đất đai của địa phương Sự phân bố này được thể hiện rõ qua hình sau:
Trang 34Qua hình trên ta nhận thấy rất rõ sự phân bố của các mô hình NLKH:
Dạng mô hình CAQ - Chuồng có số hộ tham gia nhiều nhất là 7/35 hộ, chiếm 20% tổng các hộ tham gia các mô hình, Đây là mô hình cần chi phí đầu tư khá lớn, sản xuất trên một diện tích không nhiều, chủ yếu ở những nơi gần đường giao thông, gần nhà ở của người dân, dạng mô hình này đòi hỏi trình độ canh tác nhất định, số công lao động nhiều nhưng cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao Vì vậy dạng mô hình này được chọn để phát triển và nhân rộng ở địa phương nhất là trong xóm Cầu Nhọ nhằm nâng cao mức thu nhập của người dân
Đây là dạng mô hình có sự kết hợp giữa vườn cây ăn quả với chăn nuôi gia xúc, gia cầm Các thành phần này trong hệ thống được bố trí một cách hợp
lý trong tổng diện tích của mô hình Dạng mô hình này cho thu nhập tương đối cao và tận dụng được không gian dinh dưỡng và những sản phẩm thu từ
mô hình phù hợp với nhu cầu của thị trường, trình độ canh tác của người dân Tuy nhiên số hộ tham gia chưa nhiều và dạng mô hình này chưa được áp dụng rộng rãi ở tất cả các thôn trong xã
Dạng mô hình Rừng - Chè - Ao có 6/35 hộ tham gia chiếm 17,14% Đây là dạng mô hình có sự kết hợp tương đối nhiều thành phần: đồi rừng, cây chè và nuôi trồng thủy sản Dạng mô hình này cũng mang lại thu nhập tương đối cao cho hộ gia đình tham gia, các thành phần có thể tác động đến nhau nhiều hơn các dạng mô hình khác, ngoài ra còn có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn, rửa trôi
Dạng mô hình Rừng - CAQ - Ao - Chuồng có 6/35 hộ tham gia chiếm 17,14% Đây là dạng mô hình canh tác cần vốn đầu tư tương đối lớn, sản xuất trên một diện tích tương đối rộng, đòi hỏi trình độ canh tác cao nhưng cho thu nhập cao, canh tác theo dạng mô hình này rủi ro ít vì thu được nhiều sản phẩm từ hệ thống Đây là dạng mô hình có thể kết hợp nhiều thành phần như; rừng, đồi cây, vườn cây
ăn quả, chăn nuôi thủy sản, chăn nuôi gia xúc, gia cầm Dạng mô hình này được bố trí một cách hợp lý từ trên xuống, tận dụng được tối đa về không gian dinh dưỡng, điều kiện đất đai nhưng lại đòi hỏi phải có một diện tích tương đối lớn nên chưa được áp dụng rộng trong xã
Bốn dạng mô hình còn lại là CAQ - Ao - Ruộng, Rừng - Ong - Ruộng, Rừng
- Chuồng, Rừng - Chè - Chuồng có tổng số hộ tham gia là 16/35 hộ Các dạng mô
Trang 35hình này có thu nhập tương đối cao nhưng chưa được áp dụng rộng vì những mô hình này chưa thực sự phù hợp với điều kiện sẵn có của địa phương, và các mô hình này phải tìm được các cây trồng, vật nuôi phù hợp với đất đai và nhu cầu thị trường
4.2.2 Phân bố của các dạng mô hình NLKH theo diện tích
Bảng 4.2: Phân bố của các mô hình NLKH theo diện tích
- A
R - CAQ
Rg
R
- C
R - Chè –
C Tổng
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các mô hình NLKH theo diện tích
Qua hình trên ta thấy rất rõ sự phân bố của các mô hình NLKH theo diện tích:
Trang 36Các mô hình đều nằm trong khoảng diện tích từ 2,5 – 5,5ha, trong đó tập trung nhiều nhất là khoảng diện tích 2,5 – 3,5ha (14/35 mô hình), các mô hình này
có diện tích trung bình phù hợp với điều kiện đất đai sẵn có của địa phương
Có 7/35 mô hình tham gia là diện tích 2,5 và 3,5 – 4,5ha, và ở diện tích lớn hơn có ít mô hình đạt được Qua đây ta thấy được rằng các mô hình NLKH tại các xóm trong xã Tràng Xá các mô hình có diện tích lớn nhỏ khác nhau và chủ yếu tập trung ở diện tích trung bình không quá lớn và cũng không quá nhỏ
4.2.3 Phân bố các dạng mô hình NLKH của các hộ điều tra theo nhóm hộ
Qua điều tra và thu thập số liệu về các hộ gia đình được chọn để điều tra, tôi thấy hầu hết các hộ có mức thu nhập tương đối cao và chênh lệch nhau không lớn Một số hộ gia đình có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nên những gia đình này có mức thu nhập cao, còn một bộ phận nhỏ khác tuy
có diện tích canh tác rộng nhưng do địa hình dốc, khó canh tác, lựa chọn cây trồng, vật nuôi chưa phù hợp nên hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao mặc dù
hộ đã tích cực tham gia sản xuất, canh tác
Do hiệu quả kinh tế mang lại từ các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp của các hộ không giống nhau và ngoài các hoạt động sản xuất này các hộ còn có thêm thu nhập từ các loại hình kinh tế khác nên cũng góp phần đến sự phân loại kinh tế, xếp hạng kinh tế hộ gia đình Sau đây là tổng hợp số liệu điều tra về phân
bố các dạng mô hình NLKH của các hộ theo theo nhóm hộ điều tra tại xã Tràng Xá
Bảng 4.3: Phân bố các dạng mô hình NLKH theo nhóm hộ của các hộ tiến
- A
R - CAQ
Rg
R
- C
R - Chè
- C Tổng
Qua bảng 4.3 ta có thể thấy rằng, nhìn chung những hộ gia đình áp dụng các
mô hình NLKH vào sản xuất đều đạt kinh tế khá cao Chỉ có xếp hạng khá và trung
Trang 37bình, không còn tồn tại nhóm hộ nghèo trong bảng xếp hạng, các hộ đều đạt ở mức kinh tế khá giả
Trong 35 hộ gia đình áp dụng 7 dạng mô hình NLKH trong xã thì có đến 25
hộ ở mức trung bình và 10 hộ ở mức khá Trước đây khi các mô hình NLKH chưa được áp dụng nhiều thì chủ yếu các hộ vẫn thuộc nhóm hộ trung bình và còn nhiều
hộ ở nhóm hộ nghèo, từ khi các nông hộ áp dụng các mô hình NLKH cho gia đình mình và các mô hình cho sản phẩm tương đối thì các nông hộ ngày càng có thu nhập cao và thoát nghèo trở thành những hộ có kinh tế khá giả
4.3 Đánh giá hiệu quả của các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá
4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình NLKH tại xã Tràng Xá
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế của một dạng hệ thống NLKH nào đó, các chỉ tiêu như VA/ ha, VA/1 ĐVĐT, VA/1 CLĐ là rất quan trọng Qua quá trình điều tra, phỏng vấn thu thập và xử lý số liệu tôi có kết quả như sau:
4.3.1.1 Phân bố các dạng mô hình theo VA
Bảng 4.4: Phân bố các dạng mô hình NLKH theo VA/1 CLĐ
- A
R - CAQ
Rg
R
- C
R - Chè –
C Tổng
mô hình NLKH là khác nhau và chênh lệch nhau khá lớn, để nhìn thấy rõ hơn
về điều này ta có thể nhìn hình dưới đây:
Trang 3830 – 60 60 – 90 90 – 120 120 – 150 ≥ 150
VA/CL Đ (nghìn đồ ng)
S ố mô hình
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các dạng mô hình theo VA/1 CLĐ
Qua hình trên ta thấy rất rõ sự phân bố của các mô hình NLKH theo VA/1 CLĐ:
VA/CLĐ tập trung nhiều trong khoảng 30 – 90 nghìn đồng trên một công lao động, trong đó tập trung nhiều nhất ở mức 60 – 90 nghìn đồng (16/35 mô hình), đây là thu nhập ở mức trung bình, nên ta nhận thấy rằng các mô hình NLKH này chưa thực sự mang lại hiệu quả cao cho người dân canh tác
Xếp thứ hai là mức 30 – 60 nghìn đồng trên một CLĐ (10/35 mô hình), các
mô hình này tuy có số công lao động trên một ha nhiều nhưng hiệu quả mang lại chưa cao, các mô hình chỉ giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động chứ chưa mang lại thu nhập cao
Ở mức 60 – 90 nghìn đồng trên 1 CLĐ có 5 mô hình đạt được, mức 90 – 120
có 2 mô hình và mức cao nhất trên 120 có 2 mô hình đạt đến Như vậy ta thấy tuy các mô hình này có thu nhập trên toàn mô hình không chênh lệch nhau lớn nhưng giá trị VA/1 CLĐ của các mô hình lại chênh lệch nhau khá lớn, do đó ta đánh giá được mức thu nhập của các mô hình đem lại là khác nhau và phần lớn đều đạt ở mức trung bình
Trên thực tế, để so sánh tiền công trên một CLĐ tại địa phương với tiền công trên một CLĐ trong các mô hình NLKH đạt được thì có sự chênh lệch không lớn lắm, mức tiền công ở xã Tràng Xá hiện nay là khoảng 80 – 120 nghìn đồng/ 1 CLĐ,
do đó ta thấy VA/1 CLĐ ở phần lớn các mô hình NLKH cũng đạt được mức này và
Trang 39một số mô hình còn vượt qua mức thu nhập trung bình này, đưa nông hộ của mình trở thành hộ có thu nhập cao trong địa bàn xã
Bảng 4.5: Phân bố các dạng mô hình theo VA/ ha
Dạng mô hình Gía trị gia tăng/ha/năm (triệu đồng)
Để thấy rõ điều này ta có thể nhìn hình sau:
8
13
1
3 10
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện sự phân bố các mô hình theo VA/ha
Qua bảng trên ta thấy rõ sự phân bố của các mô hình NLKH theo giá trị gia tăng/ha Các mô hình chủ yếu có giá trị VA/ha đạt mức trung bình và dưới trung bình, khoảng 12 - 15 triệu đồng/ha có 13 mô hình đạt được, 10 mô hình đạt mức 15
Trang 40- 18 triệu đồng/ha, dưới 12 triệu đồng có 8 mô hình, ở mức trên 21 triệu đồng chỉ 3
mô hình đạt được Qua đây ta nhận thấy rằng các mô hình NLKH tại địa bàn xã tuy
đã cho thu nhập nhưng chưa cao, chỉ đạt mức trung bình do vậy cần có giải pháp để phát triển các mô hình này đạt mức thu nhập cao hơn
Bảng 4.6: Phân bố các dạng mô hình theo VA/ 1 ĐVĐT
Dạng mô hình VA/ 1 ĐVĐT (triệu đồng)