Đề xuất giải pháp quản lý phát triển và sử dụng hợp lý tập đoàn cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương của dân tộc Tày tại địa phương ..... Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã trở thành
Trang 1ĐẶNG VĂN NAM
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ LOÀI CÂY NGUYÊN LIỆU LÀM HƯƠNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TÀY TẠI
XÃ TÂN HỢP - HUYỆN VĂN YÊN - TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân
Giảng viên Khoa Lâm nghiệp – trường ĐHNL Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Các loại số liệu, bảng biểu được kế thừa, điều tra dưới sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền chứng nhận
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 5 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả Người viết cam đoan
trước hội đồng khoa học!
TS Trần Công Quân Đặng Văn Nam
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để đỏnh giỏ kết quả học tập sau 4 năm học, đồng thời bước đầu làm quen với cụng tỏc nghiờn cứu khoa học Được sự đồng ý của Khoa Lõm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tụi đó tiến hành đề tài
nghiờn cứu: “Nghiờn cứu một số loài cõy nguyờn liệu làm hương của đồng bào dõn tộc Tày tại xó Tõn Hợp - huyện Văn Yờn- tỉnh Yờn Bỏi”
Tụi xin gửi lời cảm ơn sõu sắc tới TS Trần Cụng Quõn, người đó
trực tiếp hướng dẫn tụi trong quỏ trỡnh thực hiện và hoàn thành đề tài
Trong quỏ trỡnh thực hiện đề tài tụi đó nhận được sự giỳp đỡ tận tình của nhiều thầy giáo, cô giáo; bà con nhân dân, chính quyền địa phương x& Tõn Hợp và bạn bố đồng nghiệp
Tụi xin bày tỏ lũng cảm ơn tới cỏc thầy giỏo, cụ giỏo trong khoa Lõm Nghiệp, đó nhiệt tỡnh giỳp đỡ trong quỏ trỡnh thực hiện đề tài
Tụi xin bày tỏ lũng cảm ơn tới chớnh quyền địa phương và bà con nhõn dõn xó Tõn Hợp cùng các đồng nghiệp đó tạo điều kiện giỳp đỡ tụi trong quỏ trỡnh thực hiện đề tài tại địa phương
Do trỡnh độ cũn nhiều hạn chế, thời gian có hạn nên đề tài khụng trỏnh khỏi nhiều thiếu sút Kớnh mong được sự gúp ý, chỉ bảo của thầy cụ giỏo để chuyờn đề được hoàn thiện hơn
Xin chõn thành cảm ơn.!
Thỏi Nguyờn, ngày 27 thỏng 05 năm 2014
Sinh viờn
ĐẶNG VĂN NAM
Trang 4MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 9
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1.2 Mục đích nghiên cứu 11
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
1.4 Ý nghĩa của đề tài 11
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 11
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 11
Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 18
2.2.1 Những nghiên cứu về hương sử dụng trên thế giới 18
2.2.2 Những nghiên cứu về sử dụng hương ở Việt Nam 19
2.3 Tổng quan điều kiện TN – KT và XH khu vực nghiên cứu 21
2.3.1 Vị trí địa lý 21
2.1.2 Địa hình 21
2.1.3 Đất đai 21
2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 21
2.1.5 Đặc điểm tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu 22
2.2 Đặc điểm về dân sinh-kinh tế-xã hội 23
2.2.1 Dân sinh 23
2.2.2 Kinh tế 23
2.2.3 Văn hoá, xã hội 23
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25
Trang 53.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp luận 25
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.4.2.1 Tính kế thừa 26
3.4.2.2 Chuẩn bị dụng cụ và thu thập tài liệu thứ cấp 26
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Thực trạng sử dụng 1 số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương 27
4.2 Đặc điểm của một số loài dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương 31
4.2.1 Cây Hương bài 31
4.2.1.1 Phân bố và đặc điểm hình thái 32
4.2.1.2 Kỹ thuât tạo giống và chăm sóc 35
4.2.1.3 Kỹ thuật khai thác và sử dụng để làm hương 36
4.2.2 Cây Quế 37
4.2.2.1 Đặc điểm hình thái 38
4.2.2.2 Phân bố 39
4.2.2.3 Kỹ thuật nhân giống, gây trồng 41
4.2.2.4 Khai thác, chế biến và bảo quản 45
4.2.3 Cây thiên niên kiện (sơn thục) 47
4.2.3.1 Đặc điểm hình thái 48
4.2.3.2 Phân bố và đặc điểm sinh học 49
4.2.3.3 Cách trồng và chăm sóc 49
4.2.3.4 Kỹ thuật thu hái và sơ chế 49
4.2.4 Cây Tre 50
2.2.4.1 Đặc điểm hình thái 51
2.2.4.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái 51
2.2.4.3 Kỹ thuật chọn tạo giống, trồng và chăm sóc 52
Trang 64.2.4.4 Kỹ thuật khai thác sử dụng sản xuất chân hương 56
4.3 Tìm hiểu kinh nghiệm và cách chế biến, sản xuất Hương của đồng bào dân tộc Tày tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 56
4.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc sản xuất Hương của địa phương 59
4.4.1 Thuận lợi 59
4.4.2 Khó khăn 59
4.5 Đề xuất giải pháp quản lý phát triển và sử dụng hợp lý tập đoàn cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương của dân tộc Tày tại địa phương 60
Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
CIFOR : Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp tại Indonesia
FAO : Tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc ICRAF : Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp
KT- XH : Kinh tế - xã hội
LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
OTC : Ô tiêu chuẩn
PTNT : Phát triển nông thôn
RECOFTC : Trung tâm đào tạo vùng lâm nghiệp cộng đồng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Kiến thức của người dân địa phương về những loài
cây được làm hương 20 Bảng 4.2: Mức độ xuất hiện của những loài cây ở xã Tân Hợp
qua điều tra kiến thức bản địa 21 Bảng 4.3: Những loài cây chủ yếu dược làm hương ở xã Tân Hợp
qua điều tra kiến thức của người dân bản địa 22
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Cây Hương bài 23
Hình 4.2: Bộ rễ cây Hương bài sau 6 tháng trồng 25
Hình 4.3: Hạt cây Hương bài 26
Hình 4.4: Một góc nhỏ đồi quế ở Văn Yên 29
Hình 4.5: Người dân phơi vỏ quế sau khi thu hoạch 39
Hình 4.6: Vỏ quế dược làm sạch phơi khô, bột quế 39
Hình 4.7: Cây thiên niên kiện 40
Hình 4.8: Thiên niên kiện sau khi thu hoạch 42
Hình 4.9: Cây tre hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam 43
Hình 4.10: Mỗi que hương đều được người dân chăm sóc kỹ càng 50
Trang 10Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) bao gồm những sản phẩm không phải gỗ
có nguồn gốc sinh vật được khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng, và có nhiều giá trị sử dụng
Lâm sản ngoài gỗ không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội
mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng Đã từ lâu, lâm sản ngoài gỗ được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, hương nhang, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại lâm sản ngoài gỗ đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số loại lâm sản ngoài gỗ đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này
Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như: song, mây, tre nứa…
Sản xuất hương nhang như: hương bài, quế, thiên niên kiện …
Trong tự nhiên có rất nhiều loại cây rừng có mủ thơm và có mùi đặc trưng, do đó đã được con người từ đời xa xưa đến nay sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có nghề làm hương (nhang) Đó là một nghề tạo ra sản phẩm được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trong đời sống người dân mà không gì thay thế được Đặc biệt trong những ngày Tết, nhang càng
được đốt nhiều hơn Vì ngày Tết có nhiều việc cúng kiếng: nào cúng đất
Trang 11trời, cúng tổ tiên ông bà, cúng ông Táo… Và cây nhang trở thành vật không thể thiếu trong những ngày này
Những sợi khói nhang cuộn tròn, rồi phảng phất bay đi để lại mùi hương thoang thoảng, dịu dàng như một sợi dây thiêng liêng gắn kết cuộc sống con người với đất trời, là cầu nối giữa con người ở trần gian với thần thánh, ông bà, tổ tiên đang ở cõi vĩnh hằng
K hói nhang ngày Tết là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ Tết, đám ma Có thể khẳng định, nhang đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ ngách của đời sống
và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam Cây nhang, nén hương như chiếc cầu nối thiêng liêng giữa con người với cõi tâm linh, trời đất, thậm chí còn lan rộng đến một số nước ở châu Á và cộng đồng người Việt sống ở châu Âu cũng như toàn thế giới Những ngày cuối năm, các gia đình khi đi mua sắm các thứ lễ vật để chuẩn bị cho ngày Tết, hầu như ai cũng mua những hộp nhang, hương thơm về cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên của mình Khi vào thời khắc giao thừa, lúc giao hòa giữa năm cũ và năm mới, giữa trời và đất Cả dân tộc Việt Nam đón chào hân hoan, cầu mong gia đạo bình an, đời sống thịnh vượng hạnh phúc và một năm làm ăn phát tài phát lộc
Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại hương được người dân sử dụng có nguồn gốc khác nhau, với nguyên liệu tạo ra đặc trưng của từng vùng, miền mà tạo ra mùi hương khói riêng biệt, được người dân ở đó và các khu vực xung quanh ưa chuộng, tin dùng tạo nên một thói quen sử dụng những sản phẩm chính nơi họ tạo ra
Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số loài cây nguyên liệu làm hương của đồng bào dân tộc Tày tại xã Tân Hợp - huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái” nhằm nghiên cứu và bảo vệ nghề làm
Trang 12hương, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tày tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên , tỉnh Yên Bái
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nghiên cứu các loài cây có thể làm hương tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái làm cơ sở khoa học đánh giá thực trạng sản xuất từ nguyên liệu sẵn có ở địa phương, đề xuất các giải pháp phát triển nhằm nâng cao chất lượng hương Góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người dân, tận dụng nguồn lực, tiềm năng tại chỗ và góp phần bảo tồn được đa dạng sinh học
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được các loài cây trong tự nhiên có thể làm hương tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên,tỉnh Yên Bái
- Tìm hiểu được đặc tính sinh thái, sinh vật học và các chất có trong hương
- Đề xuất một số giải pháp phát triển và bảo tồn các loài cây nguyên liệu làm hương tại khu vực ngiên cứu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất một cách có hiệu quả
- Giúp bản thân tôi có thêm kinh nghiệm trong việc giao tiếp cộng đồng, làm việc với người dân, vận dụng kiến thức được học để đi điều tra,
thu thập, xử lí số liệu và viết báo cáo một cách chính xác, hiệu quả
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Thấy được vai trò của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đối với các nước đang phát triển nhất là các nước vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã tiến hành nhiều dự án nhằm làm rõ vai trò của LSNG, các chính sách liên quan
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp đặt tại Indonesia (CIFOR) đã chú trọng nhiều về LSNG Trung tâm đã đề ra phương pháp phân tích với lâm sản thương mại thế giới Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF)
đã và đang thực hiện làm thế nào để sản xuất, nâng cao chất lượng của cây rừng có nhiều tiềm năng Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và trung tâm đào tạo vùng lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) cũng có nhiều nghiên cứu về LSNG trong đó cách tiếp cận về phương pháp
luận về “từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ” coi nhiệm vụ của rừng là sản
xuất cần thiết cho cung cấp bền vững, phân phối thu nhập, đảm bảo thị trường và chính sách thị trường định chế Trên thế giới cộng đồng quốc tế,
có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi tài nguyên rừng vào đầu những năm 1980 Một chiến lược bảo tồn mới được hình thành và khẳng định tính ưu việt của nó Đó là liên kết quản lý bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các họat động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết
có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định Một dự án đã được thử nghiệm với tên gọi: “ quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Pu kheio Wildife Santuary, Tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc Thái Lan Kết quả chỉ rằng “Điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên
Trang 14là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các họat động thu nhập của họ” LSNG không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng Đã từ lâu, LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại LSNG đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số LSNG đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt nam [1] trong số 12000 loài cây được thống kê có: 76 loài cho nhựa thơm; 160 loài cho dầu; 600 loài cho tanin; 260 loài cho tinh dầu; 93 loài cho chất màu; 1498 loài cho các dược phẩm Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao
có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú,
828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái [2]
Nhiều loại LSNG đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm như các loài song mây, tre nứa, các loài hoa…Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 - 2020, định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ) Đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị LSNG xuất khẩu tăng bình quân 15 - 20%; thu hút khoảng 1,5 triệu lao
Trang 15động và thu nhập từ LSNG chiếm 15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn.
Các cây LSNG chính là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất, chế biến hương nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân Châu
Á bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng Dù không mê tín dị đoan, trong tâm thức mọi người Châu Á đều tin rằng nén hương khi đốt lên, cũng như một nhịp cầu vô hình nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình với nhau Tuy nhiên về mặt tâm linh, có người vẫn còn hiểu một cách mơ hồ, nhất là về ý nghĩa dâng hương theo truyền thống của ông bà Thậm chí ngày nay có người còn không biết vì sao trong nhà mình có một bàn thờ với những pho tượng, hình ảnh Chư Phật Bồ Tát, thần thánh hoặc tổ tiên Phải chăng có một
“ông” Phật sống ở trên bàn thờ ?
Theo Pháp sư Tịnh Không về Đốt hương thì hương đại biểu cho hương tín, đây là một tín hiệu mà người xưa đã dùng rất rộng rãi Rõ ràng nhất, nơi Vạn lý trường thành chúng ta thấy cách một đoạn có một phong hỏa đài, phong hỏa đài là đài truyền tin gấp rút Phong hỏa đài giống như cái lò hương Người ta dùng lửa đốt phân sói, mật độ của khói phân sói không giống như khói khác, gió không thể thổi tan và duy trì lâu Ở xa trông thấy chỗ có khói thì biết rằng chỗ kia có biến cố, đây là cách truyền tin gấp của người xưa Việc đốt hương để truyền tin gấp đến chư Phật và Bồ tát khiến cảm ứng đạo giao cũng xuất phát từ ý niệm truyền tin kiểu này
Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam từ những thế kỷ trước công nguyên, văn hóa Phật giáo hòa quyện cùng văn hóa bản địa đã tạo ra một văn hóa tín ngưỡng rất đặc thù Tập tục dâng hương theo quan điểm của Phật giáo, Hương thắp lên vừa đạt được ý nguyện tâm linh dâng mùi
Trang 16thơm và chuyển lời cầu nguyện lên ngôi Tam bảo chứng minh, vừa để biểu hiện chính tâm hướng tới điều thiện
Khi đốt hương cúng Phật chúng ta thường đọc những câu mật ngữ như: Hương Yên khiết thể, thông xuất tam giới, ngũ uẩn thanh tịnh, tam độc liễu nhiên Trong lúc cầm ba nén nhang vị chủ lễ xướng to bài kệ: Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh Lưỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới, nhứt khí tài phân chi hậu Chi diệp biến mãn thập phương Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ Tức giới tức định tức huệ Phi mộc phi hỏa phi yên Thâu lai tại nhứt vi trần Tán khứ phổ châu sa giới Ngã kim nhiệt hướng lư trung, đoan thân cúng dường Thập phương thương trú tam bảo, sát hải vạn linh, tất trượng chơn hương, đồng quy chơn tế
Trong Kinh Pháp cú đức Phật dạy: “Không một hương hoa nào, bay ngược chiều gió thổi, chỉ hương người đức hạnh bay ngược gió bốn phương”
Giới Hương: muốn trở thành người đức hạnh trước hết chúng ta phải giữ giới, chúng ta phải sống một đời sống trong sạch Chúng ta phải làm việc để nuôi sống bản thân bằng một nghề nghiệp chân chánh, chúng ta phải siêng năng tinh tấn làm lành lành dữ và không bao giờ lừa dối gạt gẫm thiên hạ bằng những lời vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu Làm được như thế, hương thơm đức hạnh và đạo đức của chúng ta sẽ tỏa sáng
và lan rộng
Định Hương: Nhờ giữ giới mà tâm chúng ta được an định nghĩa là trong lúc tu tập để đạt được thanh tịnh hoặc để giải quyết một vấn đề gì đó trong sự nghiệp ở đời cũng như hạnh nguyện giải thoát trong đạo, chúng ta phải gom thân khẩu ý chúng ta vào một định hướng của chánh tư duy và chánh kiến Hay nói một cách dễ hiểu hơn chúng ta phải sáng suốt, tỉnh táo
Trang 17để giải quyết mọi vấn đề Làm được như vậy chúng ta sẽ thành công và đạt được năng suất và hiệu xuất của việc làm, đó là ý nghĩa của định hương Huệ Hương: Là ánh sáng mầu nhiệm của tâm linh, khi có định kiên cố thì tâm trí sẽ bừng sáng Hằng ngày định tâm tu tập một pháp môn, quán chiếu suy xét mọi việc, hiện tượng trên nền tảng chánh pháp như nhân duyên sanh, vô thường, vô ngã, hoan hỉ, xả ly Bền bỉ lâu ngày ta sẽ đạt được tâm thái an nhiên giải thoát Ứng dụng hữu hiệu chánh pháp làm cho nhận thức ta sáng tỏ như chánh pháp, không bị tham sân si tập khí phiền não quấy nhiễu Đây chính là ý nghĩa của Huệ hương
Giải Thoát hương: giải thoát là một thuật ngữ của Phật giáo được dịch
từ Phạn ngữ là mộc đề, mộc xoa nghĩa là rời bỏ mọi sự trói buộc mà được
tự tại, cởi bỏ sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam giới Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lãm do viện ngôn ngữ Việt Nam ấn hành định nghĩa từ giải thoát như sau: 1) làm cho thoát khỏi sự giam hãm, ràng buộc hay bế tắc, giải thoát được những ý nghĩ nặng nề 2) thoát khỏi mọi điều đau khổ trên cuộc đời Muốn được giải thoát ta phải vâng lời Phật dạy tu tập theo tam vô lậu học Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ Bởi vì Giới Định Huệ là 3 môn học chi phối toàn bộ giáo pháp giải thoát của Đức Phật và luôn luôn đòi hỏi ở năng lực hành trì thâm hậu của tất cả Phật tử chúng ta Làm được điều đó tâm hồn chúng ta sẽ phơi phới hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và đem lai sự an lạc giải thoát đến với mọi người Đây là ý nghĩa Giải Thoát hương
Giải Thoát Tri Kiến Hương: Tri kiến là sự nhận định, nhận thức của con người Ở đời có những sự kiện xảy ra thường không đúng sự thật vì chủ quan con người ấn định Cùng một sự kiện, nhưng quan niệm của mỗi người nhận định mỗi khác, đó là do chủ quan của con người Do sự thương ghét của chúng ta tác động vào sự tin tưởng của chúng ta cho nên khi bị cảm giác kích động con người sanh ra chủ quan, mà chủ quan theo danh từ
Trang 18Phật học gọi là tri kiến hay kiến trược Khi đã bị chủ quan thì không bao giờ có nhận xét đúng Bởi vậy, người ta phải tránh chủ quan, bởi vì chủ quan là nguồn gốc lôi kéo chúng ta đi vào những nhận xét sai lệch Nên tránh được chủ quan cũng chính là giải thoát tri kiến thì ta sẽ trở thành một người đức hạnh gọi là giải thoát tri kiến hương
Có nhiều người thắc mắc Tại sao thắp hương lại dùng những con
số lẻ nén nhang 1,3,5,7, 9 v.v Thường thì 3 nén nhang và 2 bàn tay luôn luôn chắp lại và miệng thì lâm râm thầm khấn nguyện? Phải chăng số lẻ là con số tượng trưng cho sự linh thiêng, tượng trưng cho trời vì chiếu theo luật cơ -ngẫu của dịch lý thì số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm Dương tượng trưng cho trời, cho sự linh thiêng, cho vô hình, cho sự trong sạch thanh tịnh, cho sự sinh trưởng phát triển, cho các cõi trên như Tiên, Thánh, Phật
Con số 3 liên quan đến biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt” nghĩa là đôi rồng chầu vào một mặt nguyệt ta thường được trang trí trên các bát nhang, lư hương lớn nhỏ ở các nơi thờ tự Theo dịch lý đôi rồng là tượng trưng của dương, ứng với hai hào dương trong các quẻ kinh Dịch Còn mặt nguyệt là tượng trưng của âm, ứng với hào âm trong các quẻ Ở đây hào âm (mặt nguyệt) ở giữa, còn đôi rồng chầu hai phía Lưỡng Long triều nguyệt cũng chính là biểu tượng của quẻ Ly
Không những vậy, con số 3 còn liên quan cả một quan niệm triết học
về vũ trụ của người phương Đông: Thiên, Nhân, Địa (Trời, Người, Đất) gọi
là tam tài Người xưa rất chú trọng về ý nghĩa Tam Tài, cho nên làm bất cứ việc gì họ đều xét nét tỉ mỉ về Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa nếu thấy đầy
đủ ba yếu tố Tam tài thì mới hành sự và tin tưởng điều ấy sẽ thành công Tóm lại, tập tục dâng hương là một đạo lý truyền thống của dân tộc có từ ngàn xưa, đây là những gia bảo tinh thần đáng quý của tổ tiên để lại cho con cháu kế thừa Gia bảo này được hấp thụ những tinh hoa của tư
Trang 19tưởng văn hóa Đông phương Để xác định một lần nữa, dâng hương không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là một truyền thống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, chúng ta không thể quên được nguồn gốc văn hóa Đông phương Đó chính là một trong những biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị tâm linh ấy trong cuộc sống xã hội của họ
Riêng đối với Phật giáo: Việc dâng hương cúng dường chư Phật mang nhiều ý nghĩa, từ sự hiển lý, không những làm tăng vẻ uy nghiêm, phá tiêu chướng khí nơi đạo tràng, mà còn làm cho tỏ ngộ chơn thường, đạt thể tánh tịnh minh Người Phật tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa giá trị của việc dâng hương theo quan niệm Phật giáo, hãy cố gắng giữ gìn truyền thống và thực hiện cho kỳ được việc dâng hương cho trang nghiêm và chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân và giáo dục con em của mình trở thành những con người tài đức vẹn toàn để cống hiến và xây dựng một xã hội văn minh và hạnh phúc
Ngày nay, trong xu thế hướng về nguồn cội để giữ gìn và phát huy những truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc thì tập tục dâng hương lại
là một trong những đề tài hướng đến Chân Thiện Mỹ để chúng ta suy gẫm
và phát huy nhiều hơn nữa những giá trị văn hóa tâm linh cao quý này
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1 Những nghiên cứu về hương sử dụng trên thế giới
Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân châu Á bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng
Để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử của việc sử dụng hương nhang Từ buổi sơ khai, con người đã thấy rằng khi ngọn lửa cháy lên với một vật liệu dùng để đốt sẽ tỏa một mùi đặc trưng Khi đốt hương, khói hương nghi
Trang 20ngút tạo nên không khí thanh tịnh, ấm áp và trang nghiêm Theo lịch sử ghi lại, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC (cách đây khoảng
5700 năm), từ nước Ấn Độ Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một
vị Tăng đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được phát triển mạnh mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ biến đến khắp các nước láng giềng Có thể nói hình thức đốt hương phổ biến nhất ở Nhật Bản, tại đây họ lại chế thêm nhiều cách đốt hương; sản phẩm quen thuộc nhất là nén trầm hình tròn đầu nhọn vào thế kỉ 17, ngày nay vẫn còn dùng Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ khai Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều những hình vẽ hoặc hình chạm trên tượng mô tả nghi thức này Ngày này việc đốt nhang đã trở thành một tập quán trong các ngày lễ hội như Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan, Vía quan Thế Âm, ngày tết hái lộc đầu năm, Phật Đàn và những ngày quan trọng trong gia đình như cúng giỗ, đám tang, đám cưới, ăn tân gia … dùng để cúng những vị như Phật Bà Quan Âm, Đức Mẹ Mary, ông bà, Tam Tiên ông; Phúc Lộc Thọ, Thổ Địa,Táo Quân,Thần Tài… Tra sách Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Quý Ðôn (trang 184), ta đọc một đoạn biên khảo rất kỹ về nguồn gốc của sự đốt hương Người ta biết rằng thuở xa xưa, người Tàu lấy lửa đốt củi thui các con vật gọi là vật hy sinh, rồi sau thì bắt chước phong tục đốt hương từ Tây phương tức là Ấn Ðộ Ðời Hán Vũ Ðế, vua nước Hồn Da (Hung Nô) đầu hàng, bắt được pho tượng bằng vàng ở cung Cam Tuyền, khi tế không dùng trâu bò, chỉ đốt hương lễ bái Tục đốt hương bắt đầu từ đấy
2.2.2 Những nghiên cứu về sử dụng hương ở Việt Nam
Việt Nam là một nơi mà tục đốt hương có rất sớm với sự du nhập của Phật giáo Sau đây là bằng chứng ở nước ta đã du nhập trực tiếp đốt hương
từ Ấn Ðộ, chứ không phải qua ngõ Trung Hoa và ở Trung Hoa thì chỉ có
Trang 21vua và các quan mới có quyền làm việc tế lễ, còn ở đất Giao Châu thì "nhà tư" người dân đã bắt đầu cúng tế từ lâu:
"Trương Tân làm thứ sử Giao Châu, đốt hương và đọc những sách tà
ma Vu Sát thì làm tịnh xá (nhà tư) để đốt hương Ðó đều là các nhà tư dùng hương đốt, chớ không phải của cả nước dùng hương thờ thần"
Mỗi lần, trước khi hành lễ ở các chùa, vị chủ lễ thường chắp tay cầm
ba nén nhang dâng lên trên trán và đọc thầm bài kệ niệm hương: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương, phưởng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo, Thề trọn đời giữ đạo, theo tự tánh làm lành, cùng pháp giới chúng sanh, cầu Phật từ gia hộ, tâm bồ đề kiên cố, xa
bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác Và chúng ta cũng thường nghe những vần thơ như: lặng lẽ chiên đàn tỏa khói hương, đỉnh trầm xông ngát
ý thiền môn, lung linh nến ngọc ngời sao điểm, xóa sạch trần gian hết tủi hờn những vần thơ này đã giới thiệu về những nét đẹp văn hóa của sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt tâm linh và cho chúng ta thấy nghi thức dâng hương là nét văn hóa rất đẹp trong nghi lễ thiền môn
Ngày xưa, Lý Thường Kiệt với lời Tuyên Ngôn: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư đã từng “mượn” y linh của đền thờ Trương Hống, Trương Hát
mà khích lệ ba quân tướng sĩ, Chính sử và Dả sử còn ghi lại những hiện
“âm phù”, “báo mộng” của các Thần linh đối với vua chúa đem quân đi chống giặc Tín ngưỡng niềm tin ấy một khi được giải tỏa nó đã từng có những tác dụng không nhỏ trong cuộc sống của con người, nhiều khi có tác dụng làm lay động cả một cộng đồng
Theo Phan Kế Bính “Việt Nam phong tục, 1915” đốt hương xuất phát
từ Tây Vức Đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách Khi xưa tục Tàu tế tôn Miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộm với mỡ đốt cho thơm Đến đời vua Vũ đế nhà Hán, Sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây Vức) Vua nước ấy đầu hàng, dâng một thân tượng bằng vàng, Vua Vũ Đế đem
Trang 22tượng về đặc trong cung Cam Toàn để dâng hương Tế lễ Kể từ đó Tàu mới
- Phía Nam giáp xó Đông An
- Phía Đông giáp xã Đại Sơn
- Phía Tây giáp Thị Trấn Mậu A
Xã có diện tích tự nhiên là 16.098,00 ha, chiếm 25% diện tích tự nhiên toàn huyện; diện tích đất lâm nghiệp của xã là 13.452,94 ha, chiếm 83,56% diện tích tự nhiên của xã Diện tích đất có rừng là: 5.440,87 ha, trong đó rừng tự nhiên: 4945,35 ha; rừng trồng: 494,52 ha, độ che phủ rừng trên địa
bàn xã là 33,80% (Theo báo cáo số liệu diễn rừng ngày 31/12/2010)
2.1.2 Địa hình
Tân Hợp nằm trong vùng cánh cung An Thịnh, địa hình được kiến tạo bởi nhiều núi cao, khe sâu chia cắt mạnh, độ dốc trung bình từ 20-35o; độ cao trung bình 600m, giảm dần từ Tây Bắc về hướng Đông Nam, có đỉnh cao nhất là Đông Triển-thôn Làng Lớn cao 1225m so với mặt nước biển, nơi thấp nhất có độ cao là 100m thuộc khu vực thôn Đá Mốc
2.1.3 Đất đai
Đất của khu vực xã Tân Hợp chủ yếu là đất Feralit nâu vàng phát triện trên đá mẹ phiến thạch sét ; nâu xám hình thành trên núi đá vôi và một số ít đất bồi tụ ven suối Phần lớn đất có tầng dày từ trung bình đến mỏng do bị sói mòn rửa trôi trong quá trình canh tác trên đất dốc không hợp lý
2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
Tân Hợp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai
Trang 23mùa rõ rệt, mùa mưa nóng ẩm tập trung từ tháng 05 đến tháng 10, có lượng mưa chiếm 70-80% lượng mưa cả năm Mùa khô hanh bắt đầu từ tháng cuối tháng 10 đến hết tháng 4 năm sau Thời gian này lượng mưa chỉ chiếm khoảng từ 20-20% lượng cả năm Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, địa hình địa mạo nên khí hậu của Tân Hợp có những nét đặc trưng sau:
- Nhiệt độ trung bình 18-200C, trung bình cao nhất 24-270C, trung bình thấp nhất 8-100C (Theo số liệu thống kê của Trạm khí tượng thuỷ văn Văn Yên) Về mùa đông thường có những đợt sương muối, rét đậm rét hại kéo dài nhiệt độ có thể xuống tới -30C, làm cho cây cối chết khô tạo ra một lượng lớn cành khô lá rụng Do bị che chắn bởi cánh cung An Thịnh nên có lượng mưa trung bình từ 820-1000mm/năm
- Độ ẩm không khí trung bình của khu vực là 84% Trong các tháng
01 và tháng 12 lượng mưa lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi nước nhiều lần đây là nguyên nhân chính gây ra khô hạn
2.1.5 Đặc điểm tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu
Theo số liệu thống kê diễn biến rừng năm 2010, xã Tân Hợp có tổng diện tích rừng là 5.440,87 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên với 4.945,35 ha chiếm 89,99% tổng diện tích rừng của xã Trong đó trạng thái IIa là 2.845,0
ha, IIb 1.911,02 ha, hai trạng thái này là rừng mới tái sinh phục hồi sau canh tác nương rẫy các loài cây tiên phong, sinh trưởng phát triển nhanh do vậy thảm thực bì rất dầy, tập trung ở các thôn: Làng Lớn, Đá mốc, Pù áng,
Ma Nòn; trạng thái IIIa có diện tích là 189.33 ha, đây là những khu rừng nghèo còn sót lai ở những đỉnh núi cao, tập chung ở khu vực thuộc thôn Khuổi Bin, thôn Làng Lớn và thôn Đá mốc Rừng trồng: 494,52 ha, chiếm 10,01%, tập trung ở các thôn vùng thấp gần trung tâm xã như Bằng lãng, Khuôn Pì được đầu tư trồng từ nguồn vốn của các dự án 327, 661, Pam, dự
án định canh định cư Toàn bộ diện tích rừng trồng trên địa bàn xã là rừng keo đang ở giai đoạn rừng non
Trang 242.2 Đặc điểm về dân sinh-kinh tế-xã hội
2.2.1 Dân sinh
Tân Hợp là một xã miền núi có 4 dân tộc anh em (Tày, Kinh, Nùng, Dao) cùng làm ăn sinh sống trên địa bàn 15 thôn, bản Có tổng số hộ là 623
hộ với 3075 nhân khẩu (Bình quân 5 khẩu/hộ), trongđó :
- Dân tộc Kinh 1.476 người, chiếm 48.0%
- Dân tộc Tày: 1.184 người, chiếm 38.5%
- Dân tộc Dao: 231 người, chiếm 7.5%
- Dân tộc Nùng: 184 người, chiếm 6.0%
Nhiều hộ đồng bào dân tộc Tày, Dao có số con đông, cá biệt có hộ gia đình sinh 8 đến 9 người con Mật độ dân cư thưa, phân tán thành nhiều chòm xóm nhỏ, trình độ dân trí không đồng đều, cò nhiều phong tục tập
quán lạc hậu
2.2.2 Kinh tế
Đời sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, nguồn thu nhập chính của người dân xã Tân Hợp là dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp là chính, chỉ có một vài hộ bán hàng tạp hoá nhỏ ở gần trung tâm xã Số hộ nghèo chiếm tỉ lệ 44%, một số thôn vùng sâu vùng xa không có đủ đất nông nghiệp để canh tác thường phát đốt rừng nương làm rẫy, vào rừng thu
hái lâm sản phụ, khai thác gỗ để giải quyết nhu cầu lương thực hàng ngày Đồng thời cũng là những người có kinh nghiệm về rừng
2.2.3 Văn hoá, xã hội
- Giáo dục: Xác định giáo dục là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển
kinh tế xã hội Những năm qua xã đã rất quan tâm đầu tư cho công tác giáo dục, đến nay xã đã đạt chuẩn về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ
Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy cũng được đầu tư, xây dựng Toàn xã
có 01 Trường trung học cơ sở ở trung tâm xã; bậc Tiểu học có 01 trường chính và 02 phân trường được xây dựng kiên cố, còn lại các thôn bản vùng
Trang 25sâu, vùng xa cũng đã có các phân trường tạo thuận lợi cho các em học tập, tuy nhiên các lớp học phân trường còn rất tạm bợ thiếu thốn, chưa đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập của thầy và trò vùng sâu xa
- Y tế: Tân Hợp có 01 Trạm y tế tại trung tâm xã đã được đầu tư xây
dựng kiên cố, có đủ y sĩ, y tá, cơ số thuốc và trang bị trang thiết bị khám chữa bệnh, đảm bảo đáp ứng công tác khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân, ở các 15/15 thôn bản đều có cán bộ y tế thôn
- Giao thông: Xã có đường ô tô liên xã đã rải nhựa đi qua trung tâm
và một số thôn vùng thấp, còn lại là các đường liên thôn do nhân dân tự mở
đi lại rất khó khăn nhất là các thôn vùng cao, vùng sâu, vùng xa chủ yếu là
đi bộ Đây là một rào cản trong việc phát triển kinh tế của địa phương
- Thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi của xã kém phát triển, cả xã chỉ có 3
công trình mương phai lớn kiên cố, còn lại chủ yếu là nhỏ lẻ mương máng tạm thời do dân tự đắp, không đảm bảo cho nhu cầu sản xuất, một phần
diện tích gieo cấy vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên
- Thông tin liên lạc: Mạng lưới thông tin liên lạc đã được đầu tư xây
dựng, kết nối mạng điện thoại di động và cố định ở trung tâm xã và một số thôn Xã có 01 trạm tiếp sóng phát thanh truyền hình đặt ở khu vực trung tâm xã, phục vụ tiếp sóng đài phát thanh truyền hình Trung ương và địa phương cho các thôn vùng thấp
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Một số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu để sản xuất Hương: cây quế, cây hương bài, cây thiên niên kiện của đồng bào dân tộc Tày tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Đề tài này được tiến hành nghiên cứu tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Thời gian thực hiện bắt đầu từ tháng 1-5 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình sử dụng 1 số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương của dân tộc Tày tại xã tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu một số đặc điểm của cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương
- Tìm hiểu kinh nghiệm và cách chế biến, sản xuất Hương của đồng bào dân tộc Tày tại xã tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc sản xuất Hương của địa phương
- Đề xuất giải pháp quản lý phát triển và sử dụng hợp lý tập đoàn cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương của dân tộc Tày tại địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
- Tìm hiểu việc sử dụng nguyên liệu để sản xuất Hương, quá trình sản xuất, phụ gia được sử dụng, cách bảo quản
Trang 27- Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp các chủ sản xuất Hương và 30 hộ dân làm hương trong địa bàn xã
- Qua đó, biết được các cây có ở địa phương được sử dụng để làm Hương, việc phỏng vấn các hộ dân sẽ cho biết tình hình sử dụng các cây nguyên liệu, biết được tên địa phương, mùa thu hái, bộ phận sử dụng của cây
đó, mức độ được dùng nhiều hay ít và thuộc loại rừng tự nhiên hay rừng trồng…
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Tính kế thừa
Đề tài có kế thừa một số tư liệu:
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu
- Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
3.4.2.2 Chuẩn bị dụng cụ và thu thập tài liệu thứ cấp
- Để tiến hành thu thập tài liệu ta chuẩn bị trước bộ câu hỏi phỏng vấn dành cho người dân, giấy, bút ghi lại các thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung đề tài
- Đã điều tra 30 hộ dân ở các thôn trong xã, tổng hợp phiếu điều tra làm tài liệu thứ cấp
- Phỏng vấn người dân về sự hiểu biết các loài cây dùng để làm nguyên liệu sản xuất hương được sử dụng, về kinh nghiệm thu hái, bảo
vệ, gây trồng và phát triển trong khu vực nghiên cứu thông qua bộ câu hỏi theo mẫu
Trang 28Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng sử dụng 1 số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương
Khảo sát tình hình sử dụng 1 số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương của dân tộc Tày tại xã Tân Hợp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Tân Hợp là một xã miền núi vùng sâu của huyện, đời sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính Nhiều hộ gia đình ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số do thiếu đất canh tác nên thường phát đốt rừng làm nương rẫy, săn bắn, thu hái lâm sản trong rừng để giải quyết nhu cầu lương thực hàng ngày Đây là những người thường xuyên gắn bó với rừng, trải qua quá trình sinh sống, canh tác lâu dài từ nhiều đời nay nên người dân bản địa đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu và truyền lại cho con cháu Nhất là những kiến thức hiểu biết về tài nguyên rừng, đây là cơ sở quan trọng cho việc điều tra, nghiên cứu lựa chọn các loài cây làm hương tại khu vực nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề đã tiến hành phỏng vấn 30 hộ gia
đình, kết quả thu được như ở bảng 4.1.như sau
Trang 29Bảng 4.1: Kiến thức của người dân địa phương về những loài
Cây được làm hương
tộc Loài cây làm Hương
1 Hoàng Văn Quyên 50 Tày Quế, Hương bài, Sơn thục
2 Hoàng Văn Chắn 37 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
3 Triệu Văn Định 55 Tày Quế, Sơn thục, Hương bài
4 Lý Văn Viện 48 Tày Tre, Quế,Thiên niên kiện
5 Lý Văn Nái 40 Tày Tre, Quế, Hương bài, Sơn thục
6 Triệu Văn Trìu 45 Tày Hương bài, Thiên niên kiện
7 Triệu Hữu Phúc 60 Tày Tre, Quế, Hương bài
8 Triệu Hữu Vẩn 35 Tày Quế,Thiên niên kiện
9 Triệu Văn Phát 50 Tày Tre, Quế, Hương bài, Sơn thục
10 Triệu Văn Chòi 60 Tày Quế, Hương bài
11 Triệu Văn Phin 45 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
12 Hoàng Văn Lâm 63 Tày Tre, Quế, Hương bài
13 Hoàng Đức Quan 48 Tày Sơn thục,Tre, Quế, Hương bài
14 HoàngQuang Chinh 45 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
15 HoàngQuangHuyến 51 Tày Quế,Thiên niên kiện ,Hương bài,
16 Nông Văn Chiến 43 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
17 Nông Công Canh 54 Tày Hương bài, Thiên niên kiện,Quế
18 Nông Quang Hang 60 Tày Tre, Quế, Hương bài
19 Nông Xuân Cắm 58 Tày Hương bài , Quế, Thiên niên kiện
20 Hoàng Văn Hỏi 57 Tày Tre, Quế, Hương bài, Sơn thục
21 Hoàng Văn TRắn 60 Tày Quế, Sơn thục, Hương bài
22 HoàngVăn Thắng 46 Tày Quế,Thiên niên kiện, Hương bài
23 Nông Tiến Ngại 40 Tày Hương bài, Sơn thục, Quế
24 Nông Văn Khải 64 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
25 Nông Đức Bình 65 Tày Quế, Hương bài, Sơn thục
26 HoàngVăn Vạng 48 Tày Sơn thục, Quế, Hương bài
27 Nông Tiến Duẩn 55 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
28 Nông Khánh Chi 50 Tày Quế, Hương bài, Sơn thục
29 Hoàng Văn Phương 60 Tày Quế, Hương bài, Thiên niên kiện
30 Nông Tiến Nhất 45 Tày Quế, Hương bài
Qua bảng 4.1 cho thấy: Trong thời gian thực hiện đề tài tại khu vực nghiên cứu, phỏng vấn trực tiếp với 30 hộ dân ở 5 thôn bản, tập trung chủ yếu là người dân tộc Tày (30/30 người chiếm 100%), độ tuổi trung bình là
Trang 3052 tuổi, người có tuổi cao nhất là 68 tuổi, trẻ nhất là 35 tuổi Đây đều là những người có kinh nghiệm về rừng Kết quả thu được từ nguồn kiến thức người dân cung cấp gồm có tên 3 cây thuộc 3 loài là: Quế, Thiên niên kiện, Hương bài Ngoài ra cây tre cũng được sử dụng để làm chân hương
Bảng 4.2: Mức độ xuất hiện của những loài cây ở xã Tân Hợp
qua điều tra kiến thức bản địa
Địa phương Tên phổ thông
Trang 31loài cây là rất đa dạng và phong phú Có 27 loài cây trong đó loài cây xuất hiện nhiều nhất là cây Tre (21/231 cây chiếm 9,09%) Cây xuất hiện ít nhất là cây Núc nác (2/231 cây chiếm 0,86%).Và có nhiều loài cây xuất hiện trung bình như cây Nhội, Thành ngạnh…(8/231 cây chiếm 3,46%)
Bảng 4.3: Những loài cây chủ yếu dược làm hương ở xã Tân Hợp
qua điều tra kiến thức của người dân bản địa
STT Địa phương Tên phổ thông Tên khoa học
Hiện nay cây Quế đang được trồng rất phổ biến ,cây Quế đem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân địa phương ,ngoài bán các sản phẩm từ Quế ra ngoài thị trường người dân còn sử dụng để làm hương
Cây sơn thục,cây hương bài cũng đang được người dân gây trồng ngày càng nhiều
Trang 324.2 Đặc điểm của một số loài dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương
4.2.1 Cây Hương bài
Hình 4.1: Cây Hương bài
Tên khoa học Dianella ensifolia DC
Cây hương bài còn gọi là cát cánh lan, lưỡi đòng, huệ rừng, hương lâu, rẽ quạt, xường quạt, sơn gian lan
* Thuộc họ lúa poaceae
Cây hương bài sở dĩ có tên như vậy là do rễ cây này được dùng làm hương đốt trong những ngày tết, dáng cây trong giống như cỗ bài
Hương bài là một loại cỏ sống dai, có thân rễ nằm ngang, thân cao chừng 40-50cm, có thể tới 1m Lá mọc so le, ôm lấy thân theo hai bên hình nan quạt giấy trong như chiếc quạt hay quân bài, do đó có tên rẻ quạt hay hương bài Lá hình mác dài 40-70cm, rộng 1,5-3,5cm, không cuống, phía
Trang 33dưới thành bẹ dài ôm lấy thân Cụm hoa tận cùng, dài 10-20cm (không kể cuống) mọc thành thùy xim ngắn Hoa màu vàng nhạt hay hơi tím nhạt, khi còn là nụ có hình trứng, 3 lá đài, 3 cánh tràng, 6 nhị, bầu hình cầu, 3 ngăn, quả mọng màu đỏ tía sẫm hay xanh đen, hình cầu đường kính 8-9mm ngăn
có 1-3 hạt hình trứng
- Sản phẩm : thân, lá làm thức ăn gia súc, rễ dùng để làm bột hương
4.2.1.1 Phân bố và đặc điểm hình thái
a, Phân bố
Cây hương bài được trồng và mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta: tại các tỉnh miền Bắc, trồng chủ yếu là ở các làng quanh vùng Tiền Hải tỉnh Thái Bình để lấy rễ làm hương thắp, còn trồng nhiều ở: Thanh Hoá, Nghệ
An, Hà Tĩnh
Chưa được trồng trên quy mô kỹ nghệ, thường chỉ thấy mỗi gia đình trồng vài khóm để dùng trong dịp tết, cây có thể trồng trong bóng râm và có thể trồng ngoài nắng Mùa hoa tháng 6-7 Đất trồng là đất mùn, đất vườn Vào cuối mùa thu, đào lấy rễ và thân rễ, rửa sạch phơi khô
Sơ bộ chúng tôi thấy rễ nó rất ít tinh dầu mùi thơm nhẹ đặc biệt
b, Đặc điểm hình thái
Rễ: Rễ cây Hương bài là hệ rễ chùm gồm có nhiều rễ phụ Rễ phụ thường không mọc lan rộng mà đâm thẳng và cắm sâu vào đất Rễ dài từ 3-4m sau hai năm trồng
Trong môi trường đất khô, rễ có kích thước nhỏ và ngắn Trong môi trường đất ngập nước, rễ có kích thước lớn và dài
Rễ có cấu tạo điển hình của rễ cây họ lúa, phần biểu bì và ngoại bì tương đối dày, phần nhu mô vỏ gồm các tế bào có kích thước lớn, giữa các
tế bào có các khoảng gian bào chứa khí - đây là đặc điểm thích nghi của những cây sống ở vùng ngập nước