1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.

61 377 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy Carbon của một số loài cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp để xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng nói

Trang 1

ĐỒNG VIỆT HUÂN

LOÀI CÂY GỖ TRỒNG XEN TRONG MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI XÃ TỨC TRANH, HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

ĐỒNG VIỆT HUÂN

LOÀI CÂY GỖ TRỒNG XEN TRONG MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI XÃ TỨC TRANH, HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: 1 TS NGUYỄN THANH TIẾN

2 Ths NGUYỄN ĐĂNG CƯỜNG Khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trang 3

tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm !

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014

XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Đồng ý cho bảo vệ kết quả

trước hội đồng khoa học!

TS Nguyễn Thanh Tiến Đồng Việt Huân

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ lượng kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Qua đó giúp sinh viên có điều kiện củng cố, hoàn thiện hơn về kiến thức lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này

Sau thời gian thực tập, đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành

Có được kết quả như hôm nay, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy,cô giáo khoa Lâm Nghiệp, các đồng nghiệp, các chú, các anh và bà con nhân dân tại khu vực tôi thực tập Đặc biệt là sự chỉ bảo,

giúp đỡ trực tiếp và tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Thanh Tiến và thầy giáo Th.s Nguyễn Đăng Cường

Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Thanh Tiến và thầy giáo Th.s Nguyễn Đăng Cường cùng

toàn thể thầy, cô giáo khoa Lâm nghiệp, các bạn đồng nghiệp, các chú, các anh và bà con nhân dân xã Tức Tranh nơi tôi tiến hành thực tập đã giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành khóa luận này

Do thời gian, trình độ bản thân có hạn nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong sự góp ý của các thầy

cô giáo và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh./

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái nguyên, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực tập

ĐỒNG VIỆT HUÂN

Trang 5

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3.1 Mục tiêu về lý luận 3

1.3.2 Mục tiêu thực tiễn 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Khái quát về vấn đề nghiên cứu 4

2.1.2 Thị trường Carbon 5

2.1.3 Chi trả dịch vụ môi trường hấp thụ CO2 của rừng 6

2.1.4 Những nghiên cứu trên thế giới 7

2.1.5 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10

2.1.5 Nhận xét chung 14

2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 15

2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 15

2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17

2.2.3 Nhận xét và đánh giá chung 20

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Cách tiếp cận 22

Trang 6

4.1 Khái quát mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh

Thái Nguyên 28

4.1.1 Khái quát diện tích mô hình NLKH 28

4.1.2 Khái quát tình hình sinh trưởng của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 29

4.2 Đặc điểm sinh khối của một số loài cây gỗ trồng trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 33

4.2.1 Đặc điểm cấu trúc sinh khối tươi 33

4.2.2 Đặc điểm cấu trúc sinh khối khô 34

4.3 Xác định lượng C tích lũy và CO2 hấp thụ của một số cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 36

4.3.1 Hàm lượng C trong các mẫu đi phân tích 36

4.3.2 Lượng C tích lũy của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 37

4.3.3 Lượng CO2 hấp thụ của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 39

4.4 Lượng giá giá trị môi trường hấp thụ CO2 của cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 41

Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Tồn tại 42

5.3 Kiến nghị 44

Trang 7

C Carbon

CDM Clean Development Mechanism

Cơ chế phát triển sạch

CIFOR Center for International Forestry Research

Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế

D 1.3 Đường kính ngang ngực (cách mặt đất 1,3m)

H vn Chiều cao vút ngọn

ICRAF International Centre for Research in Agroforestry

Trung tâm nghiên cứu quốc tế về Nông lâm kết hợp

NLKH Nông lâm kết hợp

REDD Reducing Emissions from Deforestation and Forest

Degradation Giảm phát thải từ suy thoái rừng và mất rừng

USD Đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ

VND Đơn vị tiền tệ Việt Nam

Trang 9

Hình 4.1 Biểu đồ phân bố số cây theo D1.3 của một số loài cây gỗ trồng

trong mô hình Nông lâm kết hợp 31

Hình 4.2 Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng trong

mô hình Nông lâm kết hợp 34

Hình 4.3 Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô của một số loài cây gỗ trồng xen

trong mô hình Nông lâm kết hợp 36

Hình 4.4 Biểu đồ cấu trúc tích lũy carbon của một số loài cây gỗ trồng xen

trong mô hình Nông kết hợp 38

xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 40

số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp 40

Trang 10

1.1 Đặt vấn đề

Sự biến đổi khí hậu là chủ đề nóng bỏng hiện nay trên toàn cầu, không chỉ các nhà khoa học mà các nhà chính trị, kinh tế và xã hội đều quan tâm Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do các hoạt động của con người như: Việc đốt cháy nhiên liệu, các hoạt động sản xuất công nghiệp (khai thác khoáng sản, sản xuất hoá chất,…), sản xuất nông lâm nghiệp (đốt nương, cháy rừng, chặt phá rừng…) và quản lý chất thải Chính các hoạt động này của con người đã thải vào môi trường các chất khí độc hại (CO2, CH4, NOx, CFC…) gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính và đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu trong những năm gần đây Để giải quyết tận gốc vấn đề trên thì cần nhanh chóng giảm lượng khí thải nhà kính và phát triển theo “Cơ chế phát triển sạch CDM” Vì vậy, các hệ sinh thái rừng và các phương thức canh tác Nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng góp phần cải thiện và giảm tác động xấu của biến đổi khí hậu

Nghị định thư Kyoto với cơ chế phát triển sạch CDM mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển trong việc tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện các dự án lớn về Lâm nghiệp như (trồng rừng, phục hồi rừng, quản lý bảo vệ rừng tự nhiên, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng Nông lâm kết hợp…) góp phần phát triển đất nước mình theo hướng bền vững Nghiên cứu về khả năng hấp thụ lượng CO2 là một hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm và phát triển Do vậy, đây cũng được xem là hướng đi quan trọng đối với những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trong việc tiến tới xóa đói, giảm nghèo phát triển kinh tế từ những giá trị thu được từ dịch vụ môi trường rừng

Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy Carbon của một số loài cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp để xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng nói chung, cây rừng trong mô hình Nông lâm kết hợp nói riêng là một hướng nghiên cứu cần được quan tâm, trong đó tập trung vào nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của một số

Trang 11

loài cây gỗ trồng xen trong mô hình và chỉ ra vai trò của Nông lâm kết hợp trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu và định hướng cho việc tiếp tục phát triển Nông lâm kết hợp không chỉ về hiệu quả kinh tế mà còn đóng góp vào giá trị môi trường, cải thiện đất, giữ nước, hấp thụ và lưu giữ khí CO2 trong hệ thống, giảm khí gây hiệu ứng nhà kính và thay đổi khí hậu

Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm kết hợp thế giới đã đánh giá, Nông lâm kết hợp có thể được coi là giải pháp tốt nhất để giảm sự nóng lên toàn cầu, đồng thời giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển Tuy nhiên khả năng hấp thụ CO2 của từng hệ thống, từng phương thức Nông lâm kết hợp

là bao nhiêu, nhất là trong điều kiện Việt Nam thì chưa được quan tâm Hơn nữa vấn đề thể chế hóa “Thương mại carbon” ở nước ta còn chưa chính thức được thông qua, đồng thời hợp phần Nông lâm kết hợp còn thiếu quá nhiều cơ sở lý luận để xác lập cơ chế

Tức Tranh thuộc huyện Phú Lương, là một xã phát triển về nghề trồng chè, dự án tưới tiêu thủy lợi vùng đồi của xã nhận hơn 4 tỷ đồng ngân sách nhà nước xây dựng các công trình đập chứa nước, mô hình “Chè-Rừng” cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước, che bóng cho cây chè Với sự đóng góp của cây rừng đã tạo nên việc sử dụng đất khá bền vững, nông dân có thể kinh doanh dài ngày và có thu nhập ổn định Bên cạnh giá trị về kinh tế và ổn định về đất đai, mô hình với cây rừng được kinh doanh theo nhiều chu kỳ đã giúp cho việc hấp thụ và lưu giữ một lượng carbon không hề nhỏ, và như vậy nó còn có ý nghĩa làm giảm khí gây hiệu ứng hiện nay Vì vậy các mô hình Nông lâm kết hợp đưa vào thực tiễn sản xuất đóng góp vai trò quan trọng nhằm nâng cao đời sống người dân và giúp bảo vệ môi trường sinh thái

Trong bối cảnh đó, các vấn đề nghiên cứu được đặt ra như sau: + Làm thế nào để lượng hoá được khả năng hấp thụ CO2 của các loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp khác nhau

+ Định lượng cụ thể giá trị kinh tế của mô hình gắn với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái, hỗ trợ ra quyết định đề ra những chính sách đầu tư hoặc làm cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế cho việc phát triển

mô hình của người dân để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên

Trang 12

Được sự thống nhất của Khoa Lâm Nghiệp, cùng với sự hướng dẫn của

TS Nguyễn Thanh Tiến và Ths Nguyễn Đăng Cường, tôi đã tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO 2 của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh,

huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm cung cấp thêm những thông tin khoa học về giá trị môi trường rừng của mô hình Nông lâm kết hợp nói chung và tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu về lý luận

Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc định lượng giá trị môi trường của rừng trong hệ thống Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và định giá rừng Việt Nam nói chung

1.3.2 Mục tiêu thực tiễn

- Xác định được lượng CO2 hấp thụ ở một số loài cây gỗ trồng trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất được hướng dẫn phương pháp xác định lượng CO2 hấp thụ

ở một số loài cây gỗ trồng trong hệ thống mô hình Nông lâm kết hợp khu vực nghiên cứu và ước tính giá trị môi trường thông qua CO2

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

Tích lũy được kĩ năng học tập và quan sát, thực hành Hiểu rõ các hoạt động diễn biến sảy ra trong tự nhiên cũng như sự tác động của con người vào tự nhiên Được thực hành nghiên cứu khoa học, biết phân bổ thời gian hợp lý để đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là

cơ sở củng cố những kiến thức đã học ở nhà trường để đi vào thực tế

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần xác định được khả năng hấp thụ CO2 của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp, từ đó có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành và là cơ sở khoa học cho việc hình thành các chính sách

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Khái quát về vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu là tất yếu của sự nóng lên toàn cầu làm tất cả các thành phần của môi trường sống như nước biển dâng cao, gia tăng hạn hán, ngập lụt, khí hậu thay đổi, nhiều loại bệnh tật xuất hiện ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người

Với tầm quan trọng của các bể chứa carbon ở rừng nhiệt đới, trong gần một thập niên qua, nhiều tổ chức trên thế giới đã có các nghiên cứu liên quan đến sinh khối rừng và lượng carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng để đưa ra phương pháp luận hoặc các đề xuất về thể chế chính sách trong việc bảo vệ các khu rừng nhiệt đới, sử dụng đất rừng bền vững vì giá trị môi trường trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu

Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế CIFOR (2007) đưa ra nhu cầu nghiên cứu để theo dõi thay đổi che phủ rừng, bể chứa carbon và chính sách để thực hiện chương trình REDD Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới ICRAF (2007) đã phát triển các phương pháp dự báo nhanh lượng carbon lưu giữ thông qua việc giám sát thay đổi sử dụng đất bằng phân tích ảnh viễn thám, lập ô mẫu nghiên cứu sinh khối và ước tính lượng carbon tích lũy Các phương pháp này cần được kế thừa và xem xét áp dụng một cách phù hợp hơn đối với các hệ sinh thái rừng của Việt Nam

Ở Việt Nam cho đến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh

về xác định sinh khối (biomass) và carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên, các mô hình NLKH ở Việt Nam để làm cơ sở lượng giá dịch

vụ môi trường hấp thụ CO2 của các kiểu rừng, canh tác NLKH khác nhau

Nghiên cứu của Trung tâm sinh thái rừng và môi trường thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã xác định trữ lượng carbon của thảm tươi cây bụi, tương ứng với trạng thái rừng IA, IB, để cung cấp thông tin nhằm xác định đường carbon cơ sở trong các dự án trồng rừng theo cơ chế CDM Việc xác định sinh khối tươi khô được thực hiện theo từng bộ phận thân, cành và lá Trữ lượng carbon được xác định thông qua sinh khối khô

Trang 14

của các bộ phận và hệ số chuyển đổi 0.5 Tuy nhiên nghiên cứu chấp nhận lượng carbon lưu giữ được chuyển đổi theo hệ số, chưa được phân tích hàm lượng trong từng bộ phận thực vật cụ thể

2.1.2 Thị trường Carbon

Tháng 8 năm 2001 thị trường về mua bán chỉ tiêu phát thải khí nhà kính đã được khai trương ở London Tại thị trường này trước tiên có 06 loại khí nhà kính sẽ được giao dịch trong đó quan trọng nhất là khí Carbon dioxit (CO2) Đơn vị đó các loại hàng hóa khí thải nhà kính được tính theo tấn khí CO2 và khối lượng quy đổi các loại khí khác Hiện tại, khách hàng tham gia thị trường Quốc tế tại London về chỉ tiêu phát thải gồm 34 tập đoàn và hơn 6000 doanh nghiệp nhỏ Trong đó 34 tập đoàn Sell, Ford, Roll – Royce, Dalkia và Dupont được xem là lớn hơn cả Để tạo nguồn hàng ban đầu, chính phủ Anh đã khuyến khích 34 tập đoàn trên khí thải để đổi lại khoản ưu đãi 215 triệu bảng Anh Với khoản tiền này, 34 tập đoàn lớn đã thiết lập mức giá khởi điểm cho một đơn vị khí thải là 53,37 bảng Anh Ngày 5/2/2010 chỉnh phủ Anh đã tổ chức bán đấu giá giấy phép carbon lần thứ 9 với 4,4 triệu định mức xả thải châu Âu đã được bán ra mức 12,66 euro/tấn

Tại New Zealand tháng 8/2009 đề án thương mại phát thải đã được luật hóa và sử đổi vào tháng 11/2009

Tháng 12/2009 Công ty cổ phần tài chính dầu khí Việt Nam đưa ra bán đấu giá 350.000 CER từ dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mở rộng dự

án phát triển sạch (dự án CDM 0125) đầu tiên được chứng nhận giam phát thải

Tháng 4/2010 Tokyo (Nhật Bản) đã khởi động chương trình buôn bán phát thải carbon Trong chương trình này 1400 tổ chức chuyên sâu về năng lượng và carbon của thành phố này phải đáp ứng mục tiêu giảm thải ràng buộc về mặt pháp lý Giai đoạn đầu của chương trình này kéo dài đến năm 2014, trong thời gian đó các tổ chức tham gia phải cắt giảm khí thải carbon ở mức 6% Những công ty nào không tuân thủ theo các quy định mới sẽ phải nộp phạt và bị chính phủ lên án, nhưng đơn vị nào hoạt động

Trang 15

trong hạn mức phát thải sẽ bị ra lệch cắt giảm phát thải 1,3 lần so với mức ban đầu trong suốt giai đoạn đầu tiên của chương trình

Theo nguồn tin từ Công ty phân tích thị trường Point Carbon có trụ

sở tại Na Uy cho thấy sự phát triển vượt bậc về quy mô và giá trị giao dịch của thị trường Carbon Năm 2005 giá trị giao dịch của thị trường tài chính carbon đạt 10,908 tỷ USD với khối lượng giao dịch khoảng 718 tỷ tấn, năm

2006 đạt 31,235 tỷ USD với khối lượng 1,735 tỷ tấn, năm 2007 đạt đến mức 64,035 tỷ USD cho 2,983 tỷ tấn và đến năm 2008 đã đến mức 126,345

tỷ USD cho mức giao dịch của 4,811 tỷ tấn Năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nên giá trị giao dịch của thị trường carbon giảm, với khối lượng 8,2 tỷ tấn khí thải CO2 đã được trao đổi trên thị trường mua bán hạn ngạch khí thải thế giới với giá trị giao dịch khoảng

135 tỷ USD

Từ các dịch vụ môi trường mà những cộng đồng vùng cao có thể được đền bù (hấp thụ carbon, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học) thì cơ chế đền bù cho thị trường carbon là cao hơn cả, thậm chí rừng carbon được xem là một đóng góp quan trọng trong giảm nghèo Các

kế hoạch đền bù carbon hiện cũng đang tăng lên nhanh chóng chính vì vậy Smith và Scherr cho rằng có tiềm năng sinh kế từ các dự án rừng carbon

Khái niệm trao đổi carbon vẫn đang được tranh luận, nhiều nhóm nghiên cứu môi trường cho rằng đó chính là kẽ hở cho phép các nước công nghiệp tiếp tục gây ô nhiễm thay vì tiến hành những biện pháp tốn kém để kiểm soát mước độ ô nhiễm của họ Tuy vậy “trao đổi carbon” là một giải pháp có khả năng thực thi và đang tìm kiếm các cơ hội cho việc thực hiện trao đổi carbon nhằm đền bù cho những người nông dân vùng cao Châu Á, người đóng vai trò bảo vệ tài nguyên, những cộng đồng đó

sẽ được chuẩn bị tốt hơn để hưởng lợi từ việc trao đổi carbon, khi cơ chế này trở nên khả thi hơn so với những cộng đồng mà ở đây chưa có bất kỳ loại cơ chế đền bù nào

Từ cơ sở này hình thành khái niệm rừng carbon (Carbon Forestry), đó

là các khu rừng được xác định với mục tiêu điều hoà và lưu giữ khí carbon

Trang 16

phát thải từ công nghiệp Khái niệm rừng carbon thường gắn với các chương trình dự án cải thiện đời sống cho cư dân sống trong và gần rừng, đang bảo

vệ rừng Họ là những người bảo vệ rừng và chịu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu toàn cầu, do đó cần có sự đền bù, chi trả thích hợp, có như vậy mới vừa góp phần nâng cao sinh kế cho người giữ rừng đồng thời bảo vệ môi trường khí hậu bền vững trong tương lai, hay nói cách khác là các hoạt động nhằm tích lũy carbon dựa vào cộng đồng chỉ có thể thành công nếu như có một cơ chế cụ thể để duy trì và bảo vệ lượng carbon lưu trữ gắn với sinh kế của người dân sống gần rừng và đang sử dụng đất rừng

Hiện nay cơ chế trao đổi carbon vẫn đang được tranh luận, từ chương trình CDM và cho đến nay khái niệm mới là REDD cũng mới ở bước phát triển khung khái niệm, tiếp cận và một số nơi đang được thúc đẩy thử nghiệm Tuy nhiên với xu thế biến đối khí hậu hiện nay do lượng

CO2 phát thải không giảm xuống, thì việc bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên

là một chiến lược đúng đắn nhằm cân bằng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính; đồng thời với nó các quốc gia đang gần đến các thỏa thuận

để đền bù, chi trả cho các cộng đồng ở các quốc gia đang phát triển để bảo

vệ và phát triển rừng với mục đích lưu giữ và tăng khả năng hấp thụ CO2của các hệ sinh thái rừng, các kiểu sử dụng đất ở vùng nhiệt đới

2.1.4 Những nghiên cứu trên thế giới

Sự tăng cao hàm lượng CO2 trong không khí sẽ dẫn tới nhiều hậu quả ô nhiễm môi trường Sự tăng cao này đến một mức độ nào đó sẽ gây hại cho sự

sống của con người và sinh vật Có 2 cứu tinh có khả năng hấp thụ một khối lượng lớn dioxit carbon phát thải vào không khí bởi con người là đại dương và thảm thực vật, nhờ đó mà hàm lượng CO2 làm ô nhiễm không khí

đã giảm đi Trước đây, các nhà khoa học cho rằng một nửa khối lượng dioxit carbon tích tụ trong không khí, phần còn lại do đại dương và cây xanh hấp thụ Ngày nay, các đo lường của các nhà khoa học đã cho thấy thảm thực vật đã thu giữ 1 trữ lượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch trên thế giới Và từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vật trên Trái đất đã tạo ra

Trang 17

được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật Khám phá này càng khẳng định thêm vai trò của cây xanh: việc trồng nhiều cây xanh làm giảm hàm lượng dioxit carbon khí quyển hay ngược lại việc phá rừng đã làm tăng hàm lượng đó trong khí quyển Các nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí bởi dioxit carbon và những dẫn liệu có liên quan đến sự biến động CO2 trong khí quyển:

+ Trong những năm gần đây, các nhà máy công nghiệp và các hoạt động khác của con người trên toàn cầu đã đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ và khí đốt) hơn 10 tỷ tấn quy ra than đá trong một năm Đó chính là nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng dioxit carbon trong khí quyển

+ Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về gây ô nhiễm không khí bởi

CO2 và các loại khí thải khác Mỹ, Canada và Mexico đã tiêu thụ gần 40% năng lượng hóa thạch tiêu thụ trên thế giới

+ Còn ở châu Á, Trung Quốc là nước đứng đầu trong phát thải CO2

và các khí khác vào môi trường, tiếp theo đó là Nhật Bản

+ Hoạt động giao thông vận tải cũng là một nguyên nhân quan trọng làm phát thải khí carbonic và các loại khí khác Một nghiên cứu cho biết hoạt động của các ôtô Mỹ đã phát thải vào không khí khoảng 72 triệu tấn CO2/năm

+ Các vụ nổ hạt nhân hay các tên lửa hạt nhân đã đốt cháy một khối lượng ôxy rất lớn và cũng tạo ra một khối lượng dioxit carbon khổng lồ

+ Việc đốt rừng làm rẫy và nạn phá rừng ở các nước đang phát triển cùng với nạn cháy rừng ở khắp các Châu lục đã làm phát sinh một lượng dioxit carbon không kém phần quan trọng

+ Các vật dụng như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ cũng góp phần làm tăng nồng độ CO2 trong không khí

Vì vậy các tổ chức nghiên cứu, các nhà sinh thái trên toàn thế giới đã nghiên cứu và dành sự quan tâm đặc biệt đến liên quan đến sinh khối rừng và lượng carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng để đưa ra các biện pháp cũng như đề xuất các chính sách liên quan đến việc bảo vệ các khu rừng nhiệt đới, các hệ sinh thái, sự dụng đất bền vững trong tình hình biến đổi khí hậu toàn

Trang 18

cầu Sự phát triển của khoa học kĩ thuật, áp dụng các biện phápnhư hoá phân tích, hoá thực vật và đặc biệt là vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu được những thành tựu đáng kể Tiêu biểu cho lĩnh vực này có thể kể tới một số tác giả sau:

Chương trình lâm nghiệp tư nhân tại Costa Rica đã khuyến khích các chủ đất lựa chọn phương thức sử dụng đất gắn liền với lâm nghiệp thông qua việc cung cấp cho các dịch vụ cố định carbon Với chương trình này, đợt đầu tiên các chủ đất đã bán được 200.000 tấn carbon với giá 2 triệu USD cho Na Uy của Saytyanarayana M (2007) [20]

Nghiên cứu của Jianhua Zhu (2007) [16], khả năng hấp thụ CO2 của

rừng trồng Larix potaninii có độ tuổi từ 2 - 40 cho thấy, hàm lượng carbon

của sinh khối trên mặt đất chứa 49,70% và hàm lượng carbon của sinh khối dưới mặt đất chứa 48,99% Hàm lượng carbon trong thân cây chứa 49,47%, trong khi hàm lượng carbon trong cành chiếm 50,03% và hàm lượng carbon trong lá chiếm 49,61% so với sinh khối khô của nó

Nghiên cứu lượng C lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy, Romain Pirard (2005) [19] đã tính lượng C lưu trữ dựa trên tổng sinh khối tươi trên mặt đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy tổng sinh khối tươi nhân với hệ số 0.49, sau đó nhân sinh khối khô với hệ số 0.5 để xác định lượng C lưu trữ trong cây

Theo nghiên cứu của Kang Binh và cs (2006) [18], về khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng hỗn giao giữa P massoniana và Cunninghamia

lanceolata kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với cả 2 loài, hàm lượng

carbon tập trung chủ yếu ở tầng cây gỗ đạt trung bình 51,1%, tiếp đến là vật rơi rụng chiếm 48,3%, cây bụi chiếm 44,1% và thấp nhất là trong cỏ chỉ chiếm khoảng 33,0% so với tổng sinh khối khô từng bộ phận tương ứng

Khả năng hấp thụ carbon của loài P massoniana lớn hơn lượng carbon của

C lanceolata, trong đó hàm lượng carbon chứa trong gỗ, rễ, cành, vỏ, lá

của P masoniana lần lượt là 58,6%, 56,3%, 51,2%, 49,8% và 46,8%, trong khi đó loài C lanceolata có hàm lượng carbon lần lượt là vỏ (52,2%), lá

(51,8%), gỗ (50,2%), rễ (47,5%) và cành thấp nhất là 46,7%

Trang 19

Một nghiên cứu của Joyotee Smith và Sara J.Scherr (2002) [17], đã định lượng được lượng carbon lưu giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử dụng đất ở Brazil, Inđônêxia và Cameroon bao gồm trong sinh khối thực vật trên mặt đất và dưới mặt đất 0-20 cm Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng C lưu trữ trong thực vật giảm dần từ kiểu rừng nguyên sinh đến rừng phục hồi sau nương rẫy và giảm mạnh đối với các loại đất nông nghiệp Trong khi đó dưới mặt đất lượng carbon ít biến động hơn, nhưng cũng có xu hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng

Theo Wei Haidong và Ma Xiangqing (2007) [21], lượng C của cây trồng, vật rơi rụng và đất của rừng 30 năm tuổi (rừng già) cao hơn lượng C của rừng 20 năm tuổi (rừng trung niên) và hai loại rừng trên đều có lượng carbon tích trữ cao hơn so với rừng 7 năm tuổi (rừng non) Tuy nhiên, đối với thảm thực vật dưới tán rừng thì lượng C cao nhất được ghi nhận ở rừng già, sau đó đến rừng non và thấp nhất là rừng trung niên

2.1.5 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Khái quát một số tổng quan nghiên cứu mô hình Nông lâm kết hợp tại Việt Nam, mô hình Nông lâm kết hợp trên đất gò đồi và trung du

Việt Nam là một nước có tiềm năng để thực hiện việc giảm khí phát thải, là nước đang phát triển Việt Nam nhanh chóng tham gia cam kết với các tổ chức quốc tế như: Công ước khung, nghị định thư Kyoto, tham gia các dự án CDM, Bên cạnh đó trong những năm gần đây, Việt Nam đã

có những nỗ lực thực hiện một số nghiên cứu về sinh khối, lượng carbon tích lũy và các hoạt đông liên quan đến biến đổi khí hậu tuy chưa đa dạng

và đầy đủ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu sau này, một

số nghiên cứu như:

Trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới các bể chứa carbon chính là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết của vật rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất Carbon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi nạn phá rừng và suy thoái Như vậy, ước tính carbon trong sinh khối trên mặt đất của rừng là bước quan trọng

Trang 20

nhất trong việc xác định số lượng, dòng carbon từ rừng nhiệt đới Phương thức đo lường đối với các bể chứa carbon khác nhau đã được mô tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown và Masera (2003), Pearson và cs (2005), IPCC (2006), Đỗ Hoàng Chung (2013) [1]

Chu kì kinh doanh bời lời từ 5-10 năm, khí CO2 được hấp thụ biến động từ 25-84 tấn/ha với giá trị môi trường từ 500-1500 USA/ha, đạt khoảng 20% giá trị tổng sản phẩm của bời lời và sắn trong mô hình Bảo Huy (2009) [7]

Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng trồng Keo tai tượng (Acacia

mangium) của Nguyễn Duy Kiên (2007) [9], tại Tuyên Quang đã cho thấy

sinh khối tươi trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng cây gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối tầng cây dưới tán chiếm tỷ trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5%

Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [3], rừng trồng Thông mã vĩ thuần loại trồng tại Hà Tây ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là 173,4 - 266,2 tấn/ha và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối khô là 132,2- 223,4 tấn/ha Lượng tích luỹ C của rừng Thông mã vĩ biến động từ 80,7 -

122 tấn/ha và của rừng Keo lá tràm là 62,5 - 103,1 tấn/ha

Tại Yên Bái khi nghiên cứu khả năng tích lũy carbon rừng Bạch đàn

Urophylla tuổi 4, 5, 6 cho thấy:

+ Ở tuổi 4: Tổng trữ lượng carbon là 32,81 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 25,51 tấn C/ha chiếm 77,77%; trữ lượng carbon dưới mặt đất

là 5,48 tấn C/ha chiếm 16,69% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,82 tấn C/ha chiếm 5,54% tổng trữ lượng carbon

+ Ở tuổi 5: Tổng trữ lượng carbon là 36,38 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 25,32 tấn C/ha chiếm 69,60%; trữ lượng carbon dưới mặt đất

là 9,32 tấn C/ha chiếm 25,36% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,83 tấn C/ha chiếm 5,04% tổng trữ lượng carbon

+ Ở tuổi 6: Tổng trữ lượng carbon là 47,37 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 37,17 tấn C/ha chiếm 78,47%; trữ lượng carbon dưới mặt đất

Trang 21

là 8,40 tấn C/ha chiếm 17,74% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,79 tấn C/ha chiếm 3,79% tổng trữ lượng carbon Nguyễn Văn Tấn (2006) [11] Hoàng Xuân Tý (2004) [14], nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/năm, tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm tương đương 15 tấn CO2/ha/năm, với giá thương mại cacbonic tháng 5/2004 biến động từ 3-5 USD/tấn CO2, thì một ha rừng như vậy có thể đem lại 45-75 USD (tương đương 675.000 - 1.120.000 đồng Việt Nam)

Võ Đại Hải và cs (2009) [5], trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả

năng hấp thụ và giá trị thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam” đã tiến hành nghiên cứu năng suất sinh khối của một số loài

cây trồng rừng như: Mỡ, Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm,… Kết quả đã đánh giá được cấu trúc sinh khối cây cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng trồng, tìm hiểu rõ được mối quan hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các nhân tố điều tra,… Góp phần quan trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng trồng và nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của một số loài cây trồng rừng sản xuất chủ yếu ở nước ta hiện nay

Bảo Huy, Phạm Tuấn Anh (2007 - 2008)[2], với sự tài trợ của Tổ chức Nông Lâm kết hợp thế giới (ICRAF) đã có nghiên cứu dự báo khả năng hấp thụ CO2 của rừng lá rộng thường xanh ở Tây Nguyên Kết quả đã xây dựng được phương pháp nghiên cứu, phân tích hàm lượng carbon hấp thụ của cây rừng và lâm phần trên mặt đất rừng bao gồm trong thân, vỏ, lá, cành của cây gỗ và cho lâm phần; đã đưa ra phương pháp dự báo lượng CO2 hấp thụ cho cây rừng và trên lâm phần Trên cơ sở năm 2009, Bảo Huy đã phát triển phương pháp nghiên cứu ước tính trữ lượng carbon trong

các bể chứa ở các hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam

Sau khi thực hiện đề tài “nghiên cứu khả năng hấp thụ C của rừng

trồng keo lai thuần loài tại một số tỉnh phía Bắc” của Nguyễn Viết Khoa và

TS Võ Đại Hải (2007) [6], thu được kết quả là tổng lượng carbon tích lũy trong lâm phần Keo lai thuần loài rất lớn, dao động từ 49,6- 113,8 tấn/ha, trong đó tích lũy C trong đất chiếm 67,9% và C tầng cây gỗ chiếm 27,5%;

C trong vật rơi rụng chiếm 3,1%, trong cây bụi thảm tươi là 1,5% Lượng tích lũy C trong lâm phần Keo lai theo các cấp đất và cấp tuổi khác nhau là

Trang 22

khác nhau Thông thường ở cấp đất tốt hơn, tuổi cao hơn, mật độ rừng lớn hơn thì lượng C tích lũy sẽ lớn hơn

Đề tài “Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO 2 và cải tạo đất của rừng trồng Keo lai ở một số tỉnh miền núi phía Bắc” đã xác định được cấu trúc

lượng carbon hấp thụ trong cây cá thể và lâm phần Keo lai tính trung bình cho các tuổi và cấp đất như sau:

+ Cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong cây cá thể Keo lai: Thân 54,31%, rễ 16,4%, cành 15,16%, lá 8,58%, vỏ 5,54%

+ Cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong lâm phần Keo lai: Đất rừng chiếm 67,74%, tầng cây gỗ 27,58%, tầng cây bụi thảm tươi chiếm 1,48%

và vật rơi rụng chiếm 3,2% của Nguyễn Viết Khoa (2010) [8]

Hoàng Văn Dưỡng (2000) [4], đã tìm ra quy luật quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh khối với các chi tiêu biểu thị kích thước của cây, quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô các bộ phận thân cây Keo lá tràm Nghiên cứu cũng đã lập được biểu tra sinh khối và ứng dụng biểu xác định sinh khối cây cá lẻ và lâm phần Keo lá tràm

Nghiên cứu về sinh khối và năng suất sơ cấp quần xã Mắm trắng

(Avicennia alba BL.) tự nhiên tại Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, kết quả

nghiên cứu sinh khối trung bình của cây rừng Mắm trắng là 98,91 tấn/ha trong luận án tiến sĩ của Viên Ngọc Nam (2003) [10]

Lượng CO2 hấp thụ trong tầng cây gỗ, tầng tầng cây dưới tán, vật rơi rụng và trong đất rừng Tổng lượng CO2 hấp thụ trong lâm phần rừng IIB là rất lớn, biến động từ 383,68 - 505,87 tấn CO2/ha, trung bình 460,69 tấn CO2/ha, trong đó lượng CO2 hấp thụ tập trung chủ yếu ở tầng đất dưới tán rừng là 322,83 tấn/ha, tiếp đến là tầng cây gỗ 106,91 tấn/ha, tầng cây dưới tán 15,6 tấn/ha và vật rơi rụng là 15,34 tấn/ha Tổng lượng CO2 hấp thụ trong lâm phần rừng IIB ở các huyện khác nhau cũng có sự khác biệt, đạt lớn nhất ở huyện Võ Nhai đạt 485,0 tấn/ha tiếp đến là huyện Định Hóa đạt 446,335 tấn/ha và thấp nhất là huyện Đại Từ đạt 450,809 tấn/ha Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Tiến (2012) [12]

Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng cố định carbon của rừng

trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lambert) và Thông nhựa (Pinus

Trang 23

merkusii Jungh et de Vriese) làm cơ sở xác định giá trị môi trường rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam” của Đặng Thịnh Triều (2010) [13],

đã xác định được khả năng hấp thụ carbon ở cấp tuổi 6 của lâm phần Thông

mã vĩ khoảng từ 115,21 - 178,68 tấn/ha, của lâm phần Thông nhựa khoảng 117,05 - 135,54 tấn/ha tùy thuộc vào cấp đất, đồng thời tác giả cũng đã xây dựng được bảng tra khả năng hấp thụ carbon của cây cá thể cũng như lâm phần Thông mã vĩ và Thông nhựa chung và riêng cho từng cấp đất, xác định được giá trị thương mại carbon của rừng trồng Thông nhựa và Thông mã vĩ theo từng cấp đất

+ Đối với Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khả năng hấp thụ lượng CO2của rừng được nghiên cứu khá muộn so với thế giới, tuy nhiên đây là lĩnh vực đã được sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội và bước đầu cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là đối với một số loài cây trồng rừng phổ biến ở nước ta như: Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, Mỡ, Bạch đàn, Keo lai, Keo lá tràm… Góp phần quan trọng trong việc định lượng giá trị môi trường rừng ở nước ta Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu khả năng hấp thụ lượng CO2 ở nước ta mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cho đối tượng là rừng trồng, đối tượng rừng tự nhiên đặc biệt

là các mô hình NLKH vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Hiện nay, các mô hình NLKH chiếm một tỷ trọng khá lớn so với tổng diện tích rừng tự nhiên ở các tỉnh vùng núi phía bắc của nước ta, do vậy việc nghiên cứu khả năng hấp thụ lượng CO2 cho đối tượng rừng này là rất cần thiết trong tiến trình lượng hóa các giá trị môi trường rừng, chi

Trang 24

trả dịch vụ môi trường rừng và hướng tới thị trường thương mại carbon trên thế giới Thông qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong

và ngoài nước, đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc các phương pháp của các tác giả như: Võ Đại Hải, Bảo Huy, Vũ Tấn Phương, Ngô Đình Quế, Hoàng Văn Dưỡng…

+ Nghiên cứu hấp thụ carbon trong rừng trồng đã được tiến hành trong vài năm qua, tập trung cho các loài cây trồng rừng thuần loài chính ở Việt Nam, trong khi đó mô hình NLKH, một kiểu sử dụng đất bền vững hơn về môi trường chưa được nghiên cứu lượng carbon hấp thụ để chỉ ra ý nghĩa về môi trường của phương thức này

+ Vấn đề chi trả dịch vụ môi trường trong hấp thụ CO2 của rừng trồng đã được đưa vào chương trình CMD, và để giảm thiểu mất rừng tự nhiên, việc chi trả để giảm phát thải từ suy thoái và mất rừng tự nhiên trong chương trình REDD cũng đang được xúc tiến Trong khi đó mô hình NLKH, một phương thức hài hòa giữa lợi ích kinh tế sử dụng đất của nông dân với lợi ích môi trường, thì chưa được đề cập để lượng hóa giá trị hấp thụ CO2 của nó Vì vậy các vấn đề liên quan cần được nghiên cứu hoàn thiện là:

+ Phương pháp nghiên cứu ước lượng sinh khối, lượng carbon tích lũy trong hệ thống mô hình Nông lâm kết hợp

+ Lượng hóa được giá trị dịch vụ hấp thụ CO2 của các mô hình Nông lâm kết hợp và thúc đẩy một cơ chế chi trả nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý sử dụng đất một cách bền vững

và có hiệu quả nhiều mặt

2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Trang 25

+ Phía Đông giáp với xã Phú Đô và sông Cầu

+ Phía Tây giáp với xã Phấn Mễ

+ Phía Nam giáp với xã Vô Tranh

+ Phía Bắc giáp với Yên Lạc

2.2.1.2 Địa hình, địa thế

Tức Tranh là một xã vùng trung du miền núi diện tích đất nông nghiệp chiếm đa số, có địa hình tương đối bằng phằng, phía Đông giáp với Sông Cầu đảm bảo nguồn nước phục vụ lâu dài cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tưới tiêu chè Phía Tây giáp với Quốc lộ 3, đây là một thuận lợi rất lớn cho lưu thông hàng hóa trong quá trình lưu thông và phát triển kinh tế xã hội

2.2.1.3 Khí hậu, thủy văn

+ Mùa thu từ tháng 8 đến tháng 11 thời tiết mát mẻ, dễ chịu, tạo điều kiện tốt cho tăng gia sản xuất và cây chè đạt năng suất cao, giá cả tốt

+ Mùa đông (hanh, khô), từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, mùa này thời tiết lạnh, có những đợt gió mùa Đông bắc cách nhau từ 07 đến 10 ngày, mưa ít thiếu nước cho cây trồng vụ Đông

+ Nhiệt độ trung bình trong năm 220C, tổng tích ôn là 7000 đến

80000C

+ Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1700 đến 2210 mm Lượng mưa cao nhất tháng 8 và thấp nhất tháng 1 là 15,60C

+ Số giờ nắng trong năm rao động từ 1200 đến 1500 giờ được phân

bố tường đối đồng đều cho các tháng trong năm

Trang 26

+ Độ âm trung bình cả năm là 85%, độ ẩm cao nhất và ở tháng 6,7,8;

Độ ẩm thấp nhất vào tháng 11.12 hàng năm

* Chế độ thủy văn

Do ảnh hưởng của vị trị địa lý, đặc trưng của khí hậu Miền bắc nên lượng mưa nhiều, trung bình năm 1700 – 2210 mm rất thuận tiện cho xã trong việc tưới tiêu và sản xuất nông lâm nghiệp

Nguồn nước trên địa bàn xã Tức Tranh khá phong phú, có hệ thống sông suối phân bố đều trên địa bàn Phía Đông giáp với Sông Cầu đảm bảo nguồn nước phục vụ lâu dài cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tưới tiêu cây chè

2.2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên

* Thổ nhưỡng

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, đất đai xã Tức Tranh có thể chia thành các nhóm chính sau :

- Đất ferarit đỏ vàng hoặc vàng nhạt phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét

- Đất ferarit phát triển trên sa thạch

- Đất ferarit phát triển trên macma axit

* Tài nguyên rừng và thực vật

Đất rừng chủ yếu là phân tán, diện tích không tập trung, nhân dân chủ yếu là trồng Keo lai và Keo lá tràm, không mang tính chất sản xuất hàng hóa, thu thập từ trồng rừng còn hạn chế

Diện tích đất tự nhiên là: 2.614,09 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là: 2.364,09 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 1748,19 ha Đất trồng cây hàng năm là: 329,24 ha Đất trồng cây lâu năm là: 764,14 ha Đất lâm nghiệp là: 279,81 ha và đất nuôi trồng thủy sản là: 43,62 ha

2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.2.1 Dân số

Toàn xã Tức Tranh có 2.282 hộ với 8.569 nhân khẩu Số lao động trong độ tuổi là: 5.387, tỷ lệ lao động qua đào tạo là: 1.867/5.387 Nguồn nhân lực ở trong độ tuổi ở địa phương rồi dào, tuy nhiên số lao động được đào tạo thì lại thấp Năm 2013 tỷ lệ hộ thoát nghèo là 49 hộ đạt 85,7% và phát sinh mới là 24 hộ nghèo, số hộ nghèo năm 2013 là 139 hộ giảm 1,13%

Trang 27

2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng

Giao thông: năm 2013 hoàn thành và đưa vào sử dụng 02 tuyến

đường Đập tràn - Minh hợp; Đồng danh - Thâm găng và chứa rác thải Gốc gạo Triển khai xây dựng và đổ cấp phối tuyến đường các xóm Gốc mít, Thác dài, Đồng hút, Đồng danh, Quyết tiến, Gốc sim và Đồng tâm dài 5,2km bằng nguồn vốn dự án Thụy Sỹ Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân giải phóng mặt bằng để xây dựng các tuyến đường liên xã : xóm Cây thị - Khe xiêm hiến 9906m2, Quyết thắng 2800m2, Gốc mít 2000m2, Thác dài 1000m2, Gốc gạo 316m2

Các công trình đập chứa nước: Thác Dài, Tân Thái, Đồng Lương, Gốc Gạo, Minh Hợp… vẫn hoạt động và phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và tưới tiêu chăm sóc chè UBND xã đã triển khai xây dựng song 01 công trình nước sạch tại xã Số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh: 1890/2282 hộ đạt 82%

Điện: trên địa bàn toàn xã đã có 06 trạm biến áp, công suất từ 150 –

250 kw, đường dây chung thế là 8,1 km; đường dây hạ thế là 38 km; hệ thống hạ áp đạt 70% nhu cầu sử dụng Toàn bộ lưới điện đã được bàn giao cho ngành điện quản lý và vận hành Số lượng hộ dân sử dụng điện quốc gia đã đạt theo tiêu chí, tuy nhiên chất lượng điện vẫn chưa đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Do toàn bộ lưới điện đã bàn giao cho ngành điện nên vì vậy đề nghị ngành điện sớm có kế hoạch cải tạo, nâng cấp hệ thống điện và xây dựng thêm một số trạm biến áp để cung cấp điện ổn định cho nhân dân

Chợ: hiện nay xã có 02 chợ, 01 chợ ở xóm Cây Thị chủ yếu là hàng

hóa bà con trong xã trao đổi với nhau, 01 chợ chè ở xóm Đồng Danh họp vào các ngày 1 ngày 4 ngày ngày 6 ngày 9 theo lịch âm, trao đổi buôn bán chè quanh khu vực xã cũng như các thương lái nơi khác đến thu mua trao đổi Xã cũng nên từng bước xây dựng kế hoạch, vận động các doanh nghiệp, tư thương đầu tư vốn từng bước nâng cấp các cơ sở công trình của chợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và tư thương ở ngoài địa phương đến giao lưu hàng hóa

Trang 28

2.2.2.3.Văn hóa – Giáo dục

Về văn hóa tổ chức tuyên truyền các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của địa phương Đài truyền thanh xã đưa phát được 430 bài tin, treo 115 băng zôn khẩu hiệu

và tổ chức được 04 buổi giao lưu văn nghệ giữa các xóm Có 89,3% đạt gia đình văn hóa trên toàn xã, các xóm đạt 79,1% và cơ quan 100% đạt văn hóa Hoạt động thể dục thể thao duy trì và đẩy mạnh, tham gia thi đấu các môn thể thao chào mừng đại hội thể dục thể thao toàn Huyện như môn kéo

co, bóng chuyền, cầu lông, cờ vua, cờ tướng, bắn súng trường hơi… với kết quả đạt 02 giải nhất, 02 giải nhì (súng trường hơi), 01 giải ba (cờ vua, cờ tướng) và đạt giải 3 toàn đoàn Phối hợp với phòng văn hóa Huyện tổ chức thành công lễ hội cầu mùa của người dân tộc sán chay tại xóm Đồng Tâm

Về giáo dục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực xây dựng trường chuẩn, thư viện đạt chuẩn, trong năm đã xây dựng được 29 phòng học, 01 nhà hiệu bộ, 01 nhà đa năng và 01 số công trình như tường bao, sân khấu, sân bê tông Tỷ lệ học sinh xét đỗ tốt nghiệp lớp 5 và lớp 9 đạt 100% Số học sinh các trường như sau: trường Mầm non:

399 học sinh, trường Tiểu học: 756 học sinh, trường Trung học cơ sở: 526 học sinh

2.2.2.4 Y tế

Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát tình hình bệnh dịch trên địa bàn và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ cuộc sống người dân Tổng số lượt khám bệnh tại trạm là 7849 lượt, trong đó: Trẻ em là 1145, đối tượng chính sách 766, người nghèo 2064, còn lại là đối tượng khác Tiêm chủng định kì cho trẻ tại Trạm y tế đảm bảo an toàn và tiêm đủ cho

124 trẻ Thành lập ban chỉ đạo triển khai thực hiện luật người khuyết tật,

xã đã tiến hành mời các đối tượng và người nhà đến phỏng vấn xác định mức độ khuyết tật ban đầu, tiếp nhận và trao tặng 02 xe đạp từ quỹ vì trẻ thơ của Huyện Cấp mới BHYT cho người dân tộc tiểu số là 2792 thẻ, người nghèo 292 thẻ, cận nghèo là 663 thẻ

Trang 29

2.2.2.5 Kinh tế - kỹ thuật

Các cơ sở đẩy mạnh công tác sản xuất, phát huy lợi thế cung cấp sản phẩm phục vụ thị trường, đặc biệt là phát triển các làng nghề chè, bán buôn chè lẻ, chè khô, HTX chăn nuôi, các xưởng chế biến gỗ, vận tải Đến nay

cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ phát triển ổn định, tổng số hộ kinh doanh trên địa bàn là 148 hộ, trong đó buôn bán vật liệu xây dựng là 7, cơ khí là 10, chế biến gỗ là 11, thương nghiệp là 110, dịch vụ là 10 Các sản lượng chỉ tiêu về kinh tế đáp ứng tốt nhu cầu kế hoạch đề ra, sản lượng lương thực cây có hạt đạt 1.928,62 tấn, sản lượng chè búp tươi ước đạt 10.633 tấn Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 596.966.085 vnđ, tổng chi ngân sách đạt 6.024.545.640 vnđ và tạo việc làm mới cho 150 lao động Các hộ kinh doanh sản xuất chè cũng đã tham gia hàng hộ chợ triển lãm

“Công – Nông” nghiệp tiêu biểu lần thứ 2, Thái Nguyên năm 2013 Tham gia lễ hội Festivan chè Thái Nguyên lần thứ 2 và tham gia 03 phần thi đạt giải bàn tay vàng, thi hái đạt giải đồng và đạt giải đồng phần thi chế biến chè của các làng nghề

Tổ chức được 16 buổi tập huấn với trên 560 lượt người tham gia về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Tổ chức 01 buổi hội thảo hướng dẫn phân bón cho cây trồng với 200 lượt người tham gia và phối hợp với Trung tâm dạy nghề Huyện tổ chức mở 08 lớp sơ cấp nghề chế biến chè cho làng nghề, mỗi lớp có 35 học viên tham gia Phối hợp với trạm khuyến nông triển khai thức hiện mô hình bón phân khép kín cho chè kinh doanh với diện tích 1,5 ha và tổ chức hội thảo đánh giá kết quả mô hình, triển khai chương trình hộ trợ giống gà siêu trứng cho 11 hộ tham gia với số lượng

1000 con [15]

2.2.3 Nhận xét và đánh giá chung

2.2.3.1 Thuận lợi

+ Tức Tranh là xã có điều kiện tự nhiên phù hợp cho sự phát triển nông

lâm nghiệp và trồng cây chè Nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây chè đem lại sản lượng cao và giá trị kinh tế lớn Đây là lợi thế để phát triển mạnh kinh tế hàng nông sản, đáp ứng nhu cầu

Trang 30

phát triển của kinh tế hộ gia đình góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng

cao đời sống người dân trong toàn xã

+ Điều kiện kinh tế - xã hội trong thời gian qua đã có những bước phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện ở trong xã Với điều kiện cơ sở

hạ tầng được cải thiện như vậy, đặc biệt là giao thông và tiềm năng lớn về trồng cây nông sản, trong thời gian qua điều kiện kinh tế của nhân dân trong xã đã được từng bước nâng cao

+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy – Chính quyền, cán bộ và nhân dân đoàn kết, thống nhất tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, ra sức tăng gia sản xuất, đời sống của nhân dân ngày một nâng lên, năm sau cao hơn năm trước

2.2.3.2 Khó khăn

+ Một phần diện tích của địa phương còn phải chịu tình trạng thiếu nước vào mùa khô vì do lượng nước phân bố không đều Hàng năm, điều kiện bất lợi của thời tiết phức tạp, mưa nhiều, gây ngập úng, sạt lở đất đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến của cải vật chất và đời sống cũng như hoạt động sản xuất của nhân dân

+ Về mùa đông thời tiết rét, thiếu nước tưới tiêu và kèm theo sương muối hay gây hại đến chất lượng và sản phẩm của loài Chè cành làm giảm năng suất cây Chè ảnh hưởng đến kinh tế của nhân dân trong xã

+ Tức Tranh là một xã cách xa trung tâm huyện, giao thông nông thôn còn nhiều khó khăn nên quá trình trao đổi và lưu thông hàng hóa cũng như trao đổi các mặt hàng nông sản của xã còn nhiều hạn chế

+ Nguồn nhân lực trong độ tuổi ở địa phương dồi dào, tuy nhiên số lao động được đào tạo thì lại thấp Do vậy thu nhập từ nguồn lao động trong độ tuổi còn thấp, đây là vấn đề khó khăn rất lớn trog việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

+ Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông trên địa bàn còn diễn biến phức tạp tệ nạn cờ bạc, trộm cắp, còn diễn ra ở một số xóm, các phương tiện tham gia giao thông một số xe quá trọng tải gây hư hỏng một

số đoạn đường trên địa bàn xã

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Kích thước ÔTC - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Hình 3.1. Kích thước ÔTC (Trang 32)
Bảng 4.2. Bảng phân bố N/D của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.2. Bảng phân bố N/D của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô (Trang 39)
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố số cây theo D 1.3  của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố số cây theo D 1.3 của một số loài cây gỗ trồng (Trang 40)
Bảng 4.3. Quy luật tương quan H/D - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.3. Quy luật tương quan H/D (Trang 41)
Hình 4.2. Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.2. Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng (Trang 43)
Hình 4.3. Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.3. Biểu đồ cấu trúc sinh khối khô của một số loài cây gỗ trồng (Trang 45)
Bảng 4.6. Hàm lượng C và hệ số quy đổi - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.6. Hàm lượng C và hệ số quy đổi (Trang 45)
Hình 4.4. Biểu đồ cấu trúc tích lũy carbon của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.4. Biểu đồ cấu trúc tích lũy carbon của một số loài cây gỗ trồng (Trang 47)
Hình 4.5. Biểu đồ cấu trúc lượng CO 2  hấp thụ của một số loài cây gỗ - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.5. Biểu đồ cấu trúc lượng CO 2 hấp thụ của một số loài cây gỗ (Trang 49)
Bảng 4.8. Giá trị kinh tế hấp thụ CO 2  của cây gỗ trồng xen - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.8. Giá trị kinh tế hấp thụ CO 2 của cây gỗ trồng xen (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w