1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên

63 331 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 4,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy carbon của một số loài cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp để xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng nói

Trang 1

PHẠM ĐỨC CẢNH

CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ TRỒNG XEN TRONG MÔ HÌNH NLKH TẠI XÃ VÔ TRANH,

PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : CHÍNH QUY Chuyên ngành : NÔNG LÂM KẾT HỢP

Khóa học : 2010 - 2014

THÁI NGUYÊN, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM ĐỨC CẢNH

CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ TRỒNG XEN TRONG MÔ HÌNH NLKH TẠI XÃ VÔ TRANH,

PHÚ LƯƠNG, THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Khóa học : 2010 - 2014

Giáo viên hướng dẫn: 1 Ths DƯƠNG VĂN ĐOÀN

2 TS NGUYỄN THANH TIẾN Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2014

XÁC NHẬN CỦA TẬP THỂ GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn đánh giá kết thúc quá trình nghiên cứu

và học tập của mỗi sinh viên Đây là khoảng thời gian để cho sinh viên làm

quen với công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời giúp cho sinh viên củng cố

và hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu

cũng như công việc ngoài thực tế, từ đó nâng cao năng lực tri thức sáng tạo

của bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc

Sau một thời gian tiến hành làm việc nghiêm túc tôi đã hoàn thành bản

khóa luận tốt nghiệp Lời đầu tiên tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban

giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm

nghiệp, xin cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt

bốn năm qua

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới thầy giáo Ths Dương

Văn Đoàn và TS Nguyễn Thanh Tiến, là người đã tận tình chỉ bảo, hướng

dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã và tập thể nhân dân xã Vô Tranh

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập

Nhân dịp này tôi cũng gửi lời cảm ơn tới bạn bè và gia đình tôi những

người luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành

khóa luận tốt nghiệp của mình

Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian có hạn cộng với vốn kiến thức

bản thân còn nhiều hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những sai sót

Vì vậy tôi rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo

và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Phạm Đức Cảnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3.1 Mục tiêu về lý luận 3

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Nghiên cứu hấp thụ CO2 của rừng 4

2.1.2 Chi trả dịch vụ môi trường hấp thụ CO2 của rừng 6

2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10

2.2.3 Nhận xét chung 14

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 15

2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 15

2.3.1.1 Vị trí địa lý 15

2.3.1.2 Địa hình, địa thế 15

2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn 15

2.3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 16

Trang 6

2.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 16

2.3.2.1 Dân số và lao động 16

2.3.2.2 Cơ sở hạ tầng 16

2.3.3 Nhận xét chung 19

2.3.3.1 Thuận lợi 19

2.3.3.2 Khó khăn 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Phương pháp luận 21

3.4.2 Đề xuất phương pháp xác định lượng CO2 hấp thụ ở một số loài cây gỗ trồng trong mô hình NLKH tại khu vức nghiên cứu 22

3.4.3 Điều tra nghiên cứu thực địa 22

3.4.3.1 Khảo sát và lập OTC 22

3.4.3.2 Phương pháp lấy mẫu 23

3.4.3.3 Lấy mẫu tiêu biểu và ký hiệu mẫu 24

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 24

3.4.4.1 Xử lý mẫu 24

3.4.4.2 Phương pháp sấy mẫu 24

3.4.4.3 Xử lý số liệu 25

Trang 7

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Khái quát mô hình Nông lâm kết hợp và tình hình sinh trưởng của một số loài cây gỗ tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 27

4.1.1 Khái quát diện tích mô hình NLKH 27

4.1.2 Khái quát tình hình sinh trưởng của một số loài cây gỗ trồng trong mô hình NLKH 28

4.1.2.1 Đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây gỗ 28

4.1.2.2 Phân bố N/D 29

4.1.2.3 Quy luật tương quan 30

4.2 Đặc điểm sinh khối của một số loài cây gỗ trồng trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 31

4.2.1 Đặc điểm cấu trúc sinh khối tươi 31

4.2.2 Đặc điểm cấu trúc sinh khối khô 33

4.3 Xác định lượng Carbon tích lũy và lượng CO2 hấp thụ ở cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp Chè - Rừng 34

4.3.1 Lượng Carbon tích lũy ở một số loài cây gỗ trồng trong mô hình NLKH 34

4.3.2 Lượng CO2 hấp thụ ở cây gỗ trồng trong mô hình NLKH 36

4.4 Phân tích giá trị kinh tế môi trường hấp thụ CO2 của cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp 40

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Kiến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ICRAF International Centre for Research in Agroforestry

(Trung tâm nghiên cứu quốc tế về Nông lâm kết hợp)

FAO Food and Agriculture Organization

(Nông lương liên hợp quốc)

CDM Clean Development Mechanism

(Cơ chế phát triển sạch)

CIFOR Center for International Forestry Research

(Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế)

REDD Reducing Emissions from Deforestation and Forest

Degradation (Giảm phát thải từ suy thoái rừng và mất rừng)

SKSS/KHHGĐ Sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình

UBND Ủy ban nhân dân xã

D 1.3 Đường kính ngang ngực (cách mặt đất 1,3m)

H vn Chiều cao vút ngọn

VNĐ Đơn vị tiền tệ Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN

Trang

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí ÔTC 22 Hình 4.1 Biểu đồ phân bố số cây theo D1.3 của một số loài cây gỗ

một số loài cây gỗ trồng trong mô hình NLKH 39

Trang 11

tự nhiên và các phương thức canh tác Nông lâm nghiệp làm cơ sở khuyến khích xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường Đây chính là những vấn đề

còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam

Sự biến đổi khí hậu là chủ đề nóng bỏng hiện nay trên toàn cầu, không chỉ các nhà khoa học mà các nhà chính trị, kinh tế và xã hội đều quan tâm Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do các hoạt động của con người như: Việc đốt cháy nhiên liệu, các hoạt động sản xuất công nghiệp (khai thác khoáng sản, sản xuất hoá chất…), sản xuất nông lâm nghiệp (cháy rừng, chặt phá rừng…) và quản lý chất thải Chính các hoạt động này của con người đã thải vào môi trường các chất khí độc hại (CO2, CH4, NOx, CFC…) gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính và đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu trong những năm gần đây Để giải quyết tận gốc vấn

đề trên thì cần nhanh chóng giảm lượng khí thải nhà kính và phát triển theo

“Cơ chế phát triển sạch - CDM” Vì vậy, các hệ sinh thái rừng và các phương thức canh tác Nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng góp phần cải thiện và giảm tác động xấu của biến đổi khí hậu

Mặt khác, hiện nay trên thế giới việc nghiên cứu để lượng hóa những giá trị về mặt môi trường của rừng mới trong giai đoạn khởi đầu và hoàn toàn mới ở Việt Nam Chính vì vậy, nghiên cứu sự tích lũy carbon của một số loài cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp để xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng nói chung, cây rừng trong

mô hình Nông lâm kết hợp nói riêng là một hướng nghiên cứu mới cần quan

Trang 12

tâm Kết quả những nghiên cứu mang tính định lượng này sẽ là cơ sở để xác định giá trị chi trả cho các mô hình, trong đó tập trung vào nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của các loài cây gỗ trong mô hình và chỉ ra vai trò của Nông lâm kết hợp trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, định hướng cho việc tiếp tục phát triển Nông lâm kết hợp không chỉ về hiệu quả kinh tế mà còn đóng góp vào giá trị môi trường, cải thiện đất, giữ nước, hấp thụ và lưu giữ khí CO2

trong hệ thống, giảm khí gây hiệu ứng nhà kính và thay đổi khí hậu

Phú Lương là vùng trung du, địa hình tương đối bằng phẳng do đó các phương thức canh tác độc canh sẽ mang lại nhiều nguy cơ về môi trường và thiếu bền vững Trong thực tế, nhiều nơi nông dân cũng đã nhận thức được điều này và từng bước áp dụng các mô hình Nông lâm kết hợp Mô hình Nông lâm kết hợp Chè - Rừng là một trong số các mô hình đó

Vô Tranh là một xã của huyện Phú Lương, ở đây mô hình Nông lâm kết hợp Chè - Rừng được trồng khá phổ biến, tạo nên khối lượng sản phẩm khá ổn định và đóng góp quan trọng trong thu nhập của nông dân Mô hình này đã khắc phục được nhược điểm của canh tác cây chè độc canh Cây rừng trồng xen với chè giúp cản gió, ngăn cản tác động của mưa bão Với sự đóng góp của cây rừng đã tạo nên việc sử dụng đất khá bền vững, nông dân có thể kinh doanh dài ngày và có thu nhập ổn định Bên cạnh giá trị về kinh tế và ổn định về đất đai, mô hình với cây rừng được kinh doanh theo nhiều chu kỳ đã giúp cho việc hấp thụ và lưu giữ một lượng carbon, như vậy nó còn có ý nghĩa làm giảm khí gây hiệu ứng hiện nay

Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm kết hợp thế giới đã đánh giá, Nông lâm kết hợp có thể được coi là giải pháp tốt nhất để giảm sự nóng lên toàn cầu, đồng thời giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển (ICRAF, 2001) [22] Tuy nhiên khả năng hấp thụ CO2 của từng hệ thống, từng phương thức Nông lâm kết hợp là bao nhiêu, nhất là trong điều kiện Việt Nam thì chưa được quan tâm Hơn nữa vấn đề thể chế hóa “Thương mại carbon” ở nước ta còn chưa chính thức được thông qua, đồng thời hợp phần Nông lâm kết hợp còn thiếu quá nhiều cơ sở lý luận để xác lập cơ chế

Trang 13

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

khả năng hấp thụ CO 2 của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm cung cấp thêm những thông tin khoa học về giá trị môi trường rừng của mô hình Nông lâm kết hợp nói chung và tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được lượng CO2 hấp thụ ở một số loài cây gỗ trồng trong mô

hình Nông lâm kết hợp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất được hướng dẫn phương pháp xác định lượng CO2 hấp thụ ở một số loài cây gỗ trong hệ thống mô hình Nông lâm kết hợp tại khu vực nghiên cứu và ước tính giá trị môi trường thông qua CO2

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

Giúp cho sinh viên tích lũy được kĩ năng học tập và quan sát, thực hành Hiểu rõ các hoạt động diễn biến xảy ra trong tự nhiên cũng như sự tác động của con người vào tự nhiên Tập duyệt cho sinh viên có một phương pháp nghiên cứu trong khoa học giải quyết các vấn đề dặt ra, biết phân bổ thời gian hợp lý để đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở củng cố những kiến thức đã học ở nhà trường để đi vào thực tế

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần xác định được khả năng hấp thụ CO2 của một số loài cây

gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp, từ đó có thể làm tư liệu tham khảo cho các cấp, các ngành trong việc chi trả dịch vụ môi trường từ rừng nói chung và cho cơ quan quản lý nhà nước tại Vô tranh nói riêng

Trang 14

Phần 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Nghiên cứu hấp thụ CO 2 của rừng

Với tầm quan trọng của các bể chứa carbon ở rừng nhiệt đới, trong hệ

thống NLKH, trong gần một thập niên qua, nhiều tổ chức trên thế giới đã có các nghiên cứu liên quan đến sinh khối rừng và lượng carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng để đưa ra phương pháp luận hoặc các đề xuất về thể chế chính sách trong việc bảo vệ các khu rừng nhiệt đới, sử dụng bền vững vì giá trị môi trường trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó những giá trị môi trường rừng đặc biệt là khả năng hấp thụ CO2 của rừng được xem là

biện pháp rẻ tiền, có hiệu quả lâu dài, do vậy rất được quan tâm nghiên cứu

Tại trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế - CIFOR (2007) đưa ra

nhu cầu nghiên cứu để theo dõi thay đổi che phủ rừng, bể chứa carbon và chính sách để thực hiện chương trình REDD Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới - ICRAF (2007), đã phát triển các phương pháp dự báo năng lượng carbon lưu giữ thông qua việc giám sát thay đổi sử dụng đất bằng phân tích ảnh viễn thám, lập ô mẫu nghiên cứu sinh khối và ước tính lượng carbon tích

lũy một cách phù hợp hơn đối với các hệ sinh thái rừng của Việt Nam

Qua kết quả nghiên cứu của trường đại học tổng hợp Wageningen, Hà Lan đã phát triển phần mềm CO2Fix V3.1 để ứng dụng trong tính toán sinh khối và lượng carbon tích lũy của rừng Phần mềm này thực chất là xuất ra các dữ liệu tổng hợp, thông tin về sinh khối và lượng carbon lưu giữ trên cơ

sở phải có các thông tin đầu vào thích hợp như trữ lượng, tăng trưởng, sinh khối rừng, lượng carbon lưu giữ ban đầu, tuổi rừng, và chủ yếu là cho các khu rừng thuần loài, đồng tuổi Vì vậy phần mềm này chưa tương thích với các hệ sinh thái rừng Việt Nam, tuy nhiên tiếp cận theo hướng lập phần mềm để đưa

ra thông tin giữ liệu về sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng nhiệt đới hỗn loài khác tuổi là một cách làm cần quan tâm ứng dụng

Trang 15

Sự ước lượng carbon hấp thụ trong cây rừng nói chung theo cách tiếp cận dựa trên dữ liệu điều tra như thể tích thân cây để tính ra sinh khối và lượng carbon trong cây, các mô hình kinh nghiệm hay lý thuyết thường được

sử dụng để ước lượng carbon trong các thành phần khác nhau trong hệ sinh thái rừng như cây sống, cây chết, hay trong đất

Với việc ước tính carbon trong cây rừng, lâm phần thường được tính trên

cơ sở dự báo khối lượng sinh khối khô của rừng trên đơn vị diện tích (tấn/ha) tại từng thời điểm trong quá trình sinh trưởng Từ đó tính trực tiếp lượng CO2 hấp thụ và tồn trữ trong vật chất hữu cơ của rừng, hoặc tính khối lượng carbon (C) với bình quân là 50% của khối lượng sinh khối khô rồi từ carbon suy ra CO2

Ở Việt Nam cho đến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh về xác định sinh khối và carbon tích lũy trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên, các

mô hình NLKH ở Việt Nam để làm cơ sở lượng giá dịch vụ môi trường hấp thụ CO2 của các kiểu rừng, canh tác NLKH khác nhau

Nghiên cứu của Trung tâm sinh thái rừng và môi trường thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã xác định trữ lượng carbon của thảm tươi cây bụi, tương ứng với trạng thái rừng IA, IB, để cung cấp thông tin nhằm xác định đường carbon cơ sở trong các dự án trồng rừng theo cơ chế CDM Việc xác định sinh khối tươi, khô được thực hiện theo từng bộ phận thân, cành và

lá Trữ lượng carbon được xác định thông qua sinh khối khô của các bộ phận

và hệ số chuyển đổi 0,5 Tuy nhiên nghiên cứu chấp nhận lượng carbon lưu giữ được chuyển đổi theo hệ số, chưa được phân tích hàm lượng trong từng bộ phận thực vật cụ thể

Về nghiên cứu hấp thụ carbon trong các khu rừng trồng, trung tâm sinh thái rừng và môi trường trong đề tài nghiên cứu định giá đã đưa ra ước tính carbon thông qua đường kính cây rừng cho 5 loài trồng rừng là Acacia mangium; A Auriculifomis; A Hybrid; Pinus assoniana và P Merkusii

Nghiên cứu dự báo khả năng hấp thụ CO2 của rừng lá rộng thường xanh

ở Tây Nguyên của Bảo Huy, Phạm Tuấn Anh (2007-2008) [18] với sự tài trợ của Tổ chức Nông Lâm kết hợp thế giới (ICRAF) Kết quả đã xây dựng được phương pháp nghiên cứu, phân tích hàm lượng carbon hấp thụ của cây rừng và

Trang 16

lâm phần trên mặt đất rừng bao gồm trong thân, vỏ, lá, cành của cây gỗ và cho lâm phần Trên cơ sở đó, Bảo Huy (2009) [5] đã phát triển phương pháp nghiên cứu ước tính trữ lượng carbon trong các bể chứa ở các hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam

2.1.2 Chi trả dịch vụ môi trường hấp thụ CO 2 của rừng

Từ các dịch vụ môi trường mà những cộng đồng vùng cao có thể được đền bù (hấp thụ carbon, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học) thì cơ chế đền bù cho thị trường carbon là cao hơn cả, thậm chí rừng carbon được xem là một đóng góp quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo Đây là cơ hội cho những người dân sống bằng nghề rừng có thể tiếp cận được nguồn đầu tư tài chính, cũng như cơ hội để phát triển nguồn nhân lực thông qua việc chuyển giao công nghệ, giúp người dân xây dựng môi trường sống an toàn, bền vững, đặc biệt ở những nước đang phát triển Các kế hoạch đền bù carbon hiện cũng đang tăng lên nhanh chóng

Từ cơ sở này hình thành khái niệm rừng carbon (Carbon Forestry), đó là các khu rừng được xác định với mục tiêu điều hoà và lưu giữ khí carbon phát thải từ công nghiệp Khái niệm rừng carbon thường gắn với các chương trình

dự án cải thiện đời sống cho cư dân sống trong và gần rừng, đang bảo vệ rừng

Họ là những người bảo vệ rừng và chịu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu toàn cầu, do đó cần có sự đền bù, chi trả thích hợp, có như vậy mới vừa góp phần nâng cao sinh kế cho người giữ rừng đồng thời bảo vệ môi trường khí hậu bền vững trong tương lai, hay nói cách khác là các hoạt động nhằm tích lũy carbon dựa vào cộng đồng chỉ có thể thành công nếu như có một cơ chế cụ thể để duy trì và bảo vệ lượng carbon lưu trữ gắn với sinh kế của người dân sống gần rừng

và đang sử dụng đất rừng

Hiện nay cơ chế trao đổi carbon vẫn đang được tranh luận, từ chương trình CDM và cho đến nay khái niệm mới là REDD cũng mới ở bước phát triển khung khái niệm, tiếp cận và một số nơi đang được thúc đẩy thử nghiệm Tuy nhiên với xu thế biến đổi khí hậu hiện nay do lượng CO2 phát thải không giảm xuống, thì việc bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên là một chiến lược đúng đắn nhằm cân bằng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời với

Trang 17

nó các quốc gia đang gần đến các thỏa thuận để đền bù, chi trả cho các cộng đồng ở các quốc gia đang phát triển để bảo vệ và phát triển rừng với mục đích lưu giữ và tăng khả năng hấp thụ CO2 của các hệ sinh thái rừng, các kiểu sử dụng đất ở vùng nhiệt đới

Việc thực hiện CDM ở Việt Nam thực ra đó là sự thu hút vốn đầu tư từ các tổ chức phi chính phủ, các nước công nghiệp phát triển và định hướng, chính sách phát triển Lâm nghiệp của chính phủ trong việc bảo vệ, tái tạo rừng, phục hồi đất Lâm nghiệp, thực hiện xã hội hóa Lâm nghiệp Nhằm tạo

ra một môi trường hấp dẫn đối với các nước trong việc đầu tư buôn bán phát thải CO2 Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên Môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và CDM

Là một nước đang phát triển, chúng ta chưa phải chịu trách nhiệm cắt giảm khí thải nhà kính theo Nghị định thư Kyoto Đây là một điều kiện thuận lợi để chúng ta nghiên cứu thị trường này trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới vì qua thị trường này có thể chúng ta sẽ thu được những khoản tiền và tài trợ lớn từ các nước phát triển khi họ muốn trao đổi thị phần phát thải khí nhà kính với ta Mặt khác, nghiên cứu thị trường này cũng giúp chúng ta có thêm hiểu biết về những quy định chung về việc sử dụng công nghệ sạch và khí thải nhà kính trên thế giới để tránh cho nước ta trở thành nơi tiếp nhận các công nghệ gây ô nhiễm

2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Đã có 16 dự án về hấp thụ carbon qua việc trồng mới và tái trồng rừng được thực hiện đến năm 2004, trong đó châu Mỹ - Latin có 4 dự án, châu Phi

có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [20] Tại Mexico một dự

án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung cấp 18.000 tấn CO2/năm với giá 2,7 USD/tấn CO2, dự án đã lôi cuốn trên 400 thành viên thuộc trên 33 cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với nhiều hệ thống Nông lâm kết hợp khác nhau Kết quả của dự án đã làm tăng lượng carbon tích luỹ, tăng cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản xuất

Trang 18

Nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4] Một dự án nâng cao hấp thụ carbon đang được thực hiện trong thời gian 50 năm tại Ấn Độ, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được từ 0,4-0,6 Mt C, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44 tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định được 58,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha)

Một dự án khác nhằm giảm những thiệt hại do nóng lên toàn cầu và giảm tỷ lệ đói nghèo của người dân trong vùng được thực hiện tại Tây Phi thông qua việc tăng cường khả năng hấp thụ carbon của trảng cỏ Savannah (FAO, 2004) [20] Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng hấp thụ carbon biến động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador (FAO, 2004) [20]

Trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới các bể chứa carbon chính là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết của vật rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất Carbon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất

và ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi nạn phá rừng và suy thoái Như vậy, ước tính carbon trong sinh khối trên mặt đất của rừng là bước quan trọng nhất trong việc xác định số lượng, dòng carbon từ rừng nhiệt đới Phương thức đo lường đối với các bể chứa carbon khác nhau đã được mô tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown và Masera (2003), Pearson và cs (2005), IPCC (2006) (dẫn theo Đỗ Hoàng Chung, 2012) [1]

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung Quốc với rừng trồng hỗn loài giữa Pinus massoniana và Schima superba cho thấy, lượng C biến động từ 146,35 - 215,30 tấn/ha, trong đó lượng C của cây trồng và thảm thực vật dưới tán rừng chiếm 61,9% - 69,9%, lượng C trong đất chiếm từ 28,5- 35,5% và lượng C trong vật rơi rụng chiếm từ 1,6- 2,8% (Fang Yunting và cộng sự,

2003) [21] Đối với rừng trồng thuần loài Pinus massoniana, khả năng cố

định C cũng đã được đánh giá cho từng giai đoạn sinh trưởng Theo Wei Haidong và Ma Xiangqing (2007), lượng C của cây trồng, vật rơi rụng và đất

Trang 19

của rừng 30 năm tuổi (rừng già) cao hơn lượng C của rừng 20 năm tuổi (rừng trung niên) và hai loại rừng trên đều có lượng carbon tích trữ cao hơn so với rừng 7 năm tuổi (rừng non) Tuy nhiên, đối với thảm thực vật dưới tán rừng thì lượng C cao nhất được ghi nhận ở rừng già, sau đó đến rừng non và thấp nhất là rừng trung niên

Năm 1995 Murdiyarso D đã nghiên cứu và đưa ra dẫn liệu rừng Indonesia có lượng carbon hấp thụ từ 161 - 300 tấn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất Tại Thái Lan, Noonpragop K đã xác định lượng carbon trong sinh khối trên mặt đất là 72 - 182 tấn/ha Ở Malaysia lượng carbon trong rừng biến động từ 100 - 160 tấn/ha và tính cả trong sinh khối và đất là 90 - 780 tấn/ha (ICRAF, 2001) [22]

Putz F.E & Pinard M.A (1993), phương thức khai thác cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới mức thiệt hại do khai thác hay lượng carbon bị giảm Bằng việc áp dụng phương thức khai thác giảm thiểu (RIL) tác động ở Sabah (Malaysia) sau khai thác một năm, lượng sinh khối đã đạt 44 - 67% so với trước khai thác Lượng carbon trong lâm phần sau khai thác theo RIL cao hơn lâm phần khai thác theo phương thức thông thường đến 88 tấn/ha (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4]

Nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng hỗn giao giữa P

massoniana và Cunninghamia lanceolata kết quả nghiên cứu cho thấy, đối

với cả 2 loài, hàm lượng carbon tập trung chủ yếu ở tầng cây gỗ đạt trung bình 51,1%, tiếp đến là vật rơi rụng chiếm 48,3%, cây bụi chiếm 44,1% và thấp nhất là trong cỏ chỉ chiếm khoảng 33,0% so với tổng sinh khối khô từng

bộ phận tương ứng Khả năng hấp thụ carbon của loài P massoniana lớn hơn lượng carbon của C Lanceolata, trong đó hàm lượng carbon chứa trong gỗ,

rễ, cành, vỏ, lá của P masoniana lần lượt là 58,6%, 56,3%, 51,2%, 49,8% và 46,8%, trong khi đó loài C lanceolata có hàm lượng carbon lần lượt là vỏ

(52,2%), lá (51,8%), gỗ (50,2%), rễ (47,5%) và cành thấp nhất là 46,7% (Kang Bing và cs, 2006) [23]

Trang 20

Tại Ireland khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng đã được đánh giá lại cho thời gian từ năm 1906 đến năm 2012 và được chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1906 - 2002 và giai đoạn 2 từ 2003-2012 Đến năm 2002, tổng lượng carbon của rừng trồng ở Ireland đã tích trữ được 37,7 Mt (megatonnes), trong đó từ năm 1990 - 2002 lượng carbon cố định được là 14,8 Mt Theo dự đoán trong thời gian từ 2008-2012, trung bình mỗi năm rừng trồng ở đây có thể cố định được 0,9 Mt carbon/năm Với lượng carbon cố định được từ rừng trồng có thể đáp ứng được 22% lượng phát thải khí nhà kính cần giảm theo nghị định thư Kyoto mà nước này cam kết (Byrne và Milne, 2006) [19]

Lượng carbon dự trữ của một số dạng rừng trồng tại Ireland cũng đã

được các nhà khoa học ước tính, kết quả cho thấy, 1 ha rừng Larix sibirica

khi đến tuổi 32, trung bình có thể cố định được 2,6 tấn/carbon/năm, đối với

rừng Betula pubescens một năm có thể cố định được 1,0 tấn carbon/năm và rừng Picea sitchensis có thể cố định được 3,0 tấn carbon/năm

Ở Philippines khi nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của cây Lõi thọ tác giả Leuvina thấy rằng: lượng carbon chiếm 44,73% so với tổng sinh khối của cây Lõi thọ, trong đó hàm lượng carbon trong lá 44,89%, trong cành 44,47% và trong thân 43,53% Với mật độ 1000 cây/ha, rừng Lõi thọ ở độ tuổi 12 có thể cố định 200 tấn carbon, tương đương 736 tấn CO2 (Leuvina, 2007) [24]

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Mặc dù các nghiên cứu trong nước chưa thực sự đa dạng, chưa đánh giá được một cách đầy đủ và toàn diện về khả năng tích lũy carbon của rừng tự nhiên, rừng trồng và các phương thức canh tác Nông lâm nghiệp nhưng những nghiên cứu ban đầu về lĩnh vực này có ý nghĩa rất quan trọng, làm nền tảng thiết lập thị trường giao dịch carbon trong nước Một

số kết quả nghiên cứu đã được ghi nhận như:

Ngô Đình Quế và cộng tác viên (2005) [11] tuỳ thuộc vào năng suất lâm phần ở các tuổi nhất định mà khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phần có

sự khác nhau Để tích luỹ khoảng 100 tấn CO2/ha, Thông nhựa phải đến tuổi

16 - 17, Thông mã vĩ và Thông 3 lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng

5 - 6 tuổi và Bạch đàn uro ở tuổi 4 - 5 Tác giả đã lập phương trình tương

Trang 21

quan hồi quy tuyến tính giữa lượng CO2 hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ

và năng suất sinh học, từ đó tính ra được khả năng hấp thụ CO2 thực tế ở nước

ta đối với 5 loài cây trên Cũng theo Ngô Đình Quế (2005), với tổng diện tích 123,95 ha khi trồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông 3 lá 15 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi tổng lượng C của đường cơ sở, lượng C thực tế thu được qua việc trồng rừng CDM là 7.553,6 tấn C hoặc 27.721,9 tấn CO2

Theo Nguyễn Văn Dũng (2005) [2], rừng trồng Thông mã vĩ thuần loại trồng tại Hà Tây ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là 173,4-266,2 tấn/ha và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối khô là 132,2-223,4 tấn/ha Lượng carbon tích luỹ của rừng Thông mã vĩ biến động từ 80,7-122 tấn/ha và của rừng Keo lá tràm là 62,5-103,1 tấn/ha

Nguyễn Viết Khoa, Võ Đại Hải (2007) [6] sau khi thực hiện đề tài

“Nghiên cứu khả năng hấp thụ C của rừng trồng keo lai thuần loài tại một số tỉnh phía Bắc” thu được kết quả là tổng lượng carbon tích lũy trong lâm phần Keo lai thuần loài rất lớn, dao động từ 49,6- 113,8 tấn/ha, trong đó tích lũy C trong đất chiếm 67,9% và C tầng cây gỗ chiếm 27,5%; C trong vật rơi rụng chiếm 3,1%, trong cây bụi thảm tươi là 1,5% Lượng tích lũy C trong lâm phần Keo lai theo các cấp đất và cấp tuổi khác nhau là khác nhau Thông thường ở cấp đất tốt hơn, tuổi cao hơn, mật độ rừng lớn hơn thì lượng

C tích lũy sẽ lớn hơn

Tại Yên Bái khi nghiên cứu khả năng tích lũy carbon rừng Bạch đàn

Urophylla tuổi 4, 5, 6 cho thấy:

+ Ở tuổi 4: Tổng trữ lượng carbon là 32,81 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 25,51 tấn C/ha chiếm 77,77%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 5,48 tấn C/ha chiếm 16,69% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,82 tấn C/ha chiếm 5,54% tổng trữ lượng carbon

+ Ở tuổi 5: Tổng trữ lượng carbon là 36,38 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 25,32 tấn C/ha chiếm 69,60%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 9,32 tấn C/ha chiếm 25,36% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,83 tấn C/ha chiếm 5,04% tổng trữ lượng carbon

Trang 22

+ Ở tuổi 6: Tổng trữ lượng carbon là 47,37 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 37,17 tấn C/ha chiếm 78,47%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 8,40 tấn C/ha chiếm 17,74% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,79 tấn

C/ha chiếm 3,79% tổng trữ lượng carbon (Nguyễn Văn Tấn, 2006) [13]

Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường Vân (2004) [9] đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối để tính toán sinh khối cho một số loại rừng Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) [8], đã nghiên cứu Thông ba lá, cấp đất III tuổi chặt 60, khi D = 40 cm, H = 27,6 cm, G = 48,3

m2/ha, M = 586 m3/ha, tỷ lệ khối lượng khô/tươi cây lớn là 53,2% Hệ số chuyển đổi từ thể tích thân cây sang toàn cây là 1,3736 Tính ra sinh khối thân cây khô tuyệt đối là 311,75 tấn, tổng sinh khối toàn rừng là 428,2 tấn Còn nếu tính theo biểu sinh khối thì giá trị là 434,2 tấn/ha Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu sản lượng là 1,4%

Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng trồng Keo tai tượng

(Acacia mangium) tại Tuyên Quang, Nguyễn Duy Kiên (2007) [7] đã cho thấy

sinh khối tươi trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng cây gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối tầng cây dưới tán chiếm tỷ trọng 17-20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5%

Trong khi đó Vũ Tấn Phương và Ngô Đình Quế (2006) [10] cho rằng, khả năng hấp thụ CO2 của một số loại rừng trồng như Quế, Bạch đàn, Keo, Thông bình quân đạt từ 11-20 tấn/ha/năm, tương đương 50-100 USD/ha/năm

Qua nghiên cứu sinh khối và khả năng cố định carbon của rừng Mỡ

(Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và Phú Thọ cho thấy, cấu

trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần thân, cành, lá và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%; tổng sinh khối tươi của một ha rừng trồng Mỡ biến động trong khoảng từ 53,4 - 309 tấn/ha, trong đó: 86% là sinh khối tầng cây gỗ, 6% là sinh khối tầng cây dưới tán và 8% là sinh khối của vật rơi rụng (Lý Thu Quỳnh, 2007) [12]

Hoàng Xuân Tý (2004) [16], nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/ năm, tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm tương đương 15 tấn CO2/ha/năm

Trang 23

Trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng hấp thụ và giá trị

thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam” của Võ

Đại Hải và cộng sự (2009) [3], đã tiến hành nghiên cứu năng suất sinh khối của một số loài cây trồng rừng như: Mỡ, Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm,… Kết quả đã đánh giá được cấu trúc sinh khối cây cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng trồng, tìm hiểu rõ được mối quan hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các nhân tố điều tra,… Góp phần quan trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng trồng và nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của một số loài cây trồng rừng sản xuất chủ yếu ở nước ta hiện nay

Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng cố định carbon của rừng trồng

Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lambert) và Thông nhựa (Pinus merkusii

Jungh et de Vriese) làm cơ sở xác định giá trị môi trường rừng theo cơ chế

phát triển sạch ở Việt Nam” của Đặng Thịnh Triều (2010) [15], đã xác định

được khả năng hấp thụ carbon ở cấp tuổi 6 của lâm phần Thông mã vĩ khoảng

từ 115,21 - 178,68 tấn/ha, của lâm phần Thông nhựa khoảng 117,05 - 135,54 tấn/ha tùy thuộc vào cấp đất, đồng thời tác giả cũng đã xây dựng được bảng tra khả năng hấp thụ carbon của cây cá thể cũng như lâm phần Thông mã vĩ và Thông nhựa chung và riêng cho từng cấp đất, xác định được giá trị thương mại carbon của rừng trồng Thông nhựa và Thông mã vĩ theo từng cấp đất

Nguyễn Thanh Tiến (2012) [14] đã nghiên cứu khả năng hấp thu CO2

của rừng phục hồi IIB tại Thái Nguyên đã chỉ ra: Lượng CO2 hấp thụ trong tầng cây gỗ, tầng tầng cây dưới tán, vật rơi rụng và trong đất rừng Tổng lượng CO2 hấp thụ trong lâm phần rừng IIB là rất lớn, biến động từ 383,68 - 505,87 tấn CO2/ha, trung bình 460,69 tấn CO2/ha, trong đó lượng CO2 hấp thụ tập trung chủ yếu ở tầng đất dưới tán rừng là 322,83 tấn/ha, tiếp đến là tầng cây gỗ 106,91 tấn/ha, tầng cây dưới tán 15,6 tấn/ha và vật rơi rụng là 15,34 tấn/ha Tổng lượng CO2 hấp thụ trong lâm phần rừng IIB ở các huyện khác nhau cũng có sự khác biệt, đạt lớn nhất ở huyện Võ Nhai đạt 485,0 tấn/ha tiếp đến là huyện Định Hóa đạt 446,335 tấn/ha và thấp nhất là huyện Đại Từ đạt 450,809 tấn/ha

Trang 24

2.2.3 Nhận xét chung

- Phương pháp luận, tiếp cận và nghiên cứu cụ thể ước tính lượng carbon tích lũy trong cây rừng đã được phát triển trong và ngoài nước Phương pháp chủ yếu là lập ô mẫu, đo tính sinh khối, lập các mô hình quan hệ

để ước tính

- Sinh khối khô với các nhân tố điều tra rừng, từ đó suy ra trữ lượng carbon bằng 50% sinh khối khô Điều này vẫn còn nhiều hạn chế như chưa xác định được chính xác lượng carbon theo loài, việc quy đổi C = 50% sinh khối khô là chưa thật chính xác, đồng thời đa số dừng lại ở xác định carbon cây cá thể, việc xác định carbon trong các lâm phần chưa làm rõ, đặc biệt là trong các kiểu rừng hỗn loài

- Nghiên cứu khả năng tích lũy carbon trong rừng trồng đã được tiến hành trong vài năm qua, tập trung cho các loài cây trồng rừng thuần loài chính

ở Việt Nam, trong khi đó mô hình NLKH, một kiểu sử dụng đất bền vững hơn

về môi trường chưa được nghiên cứu lượng carbon hấp thụ để chỉ ra ý nghĩa

về môi trường của phương thức này

- Vấn đề chi trả dịch vụ môi trường trong hấp thụ CO2 của rừng trồng đã được đưa vào chương trình CDM, và để giảm thiểu mất rừng tự nhiên, việc chi trả để giảm phát thải từ suy thoái và mất rừng tự nhiên trong chương trình REDD cũng đang được xúc tiến Trong khi đó mô hình NLKH, một phương thức hài hòa giữa lợi ích kinh tế sử dụng đất của nông dân với lợi ích môi trường, thì chưa được đề cập để lượng hóa giá trị hấp thụ CO2 của nó

Vì vậy các vấn đề liên quan cần được nghiên cứu hoàn thiện là:

- Phương pháp nghiên cứu xác định lượng sinh khối, lượng carbon tích lũy trong hệ thống NLKH

- Lượng hóa được giá trị dịch vụ hấp thụ CO2 của các mô hình NLKH và thúc đẩy một cơ chế chi trả nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý sử dụng đất một cách bền vững và có hiệu quả nhiều mặt

Trang 25

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

+ Phía Tây giáp với thị trấn Giang Tiên và xã Phấn Mễ

+ Phía Nam giáp với các xã Cổ Lũng và xã Sơn Cẩm

+ Phía Bắc giáp với xã Tức Tranh

2.3.1.2 Địa hình, địa thế

Vô Tranh là một xã vùng trung du miền núi diện tích đất nông nghiệp chiếm đa số, có địa hình tương đối bằng phằng, phía Đông giáp với Sông Cầu đảm bảo nguồn nước phục vụ lâu dài cho phát triển sản xuất nông nghiệp Phía Tây giáp với Quốc lộ 3, đây là một thuận lợi rất lớn cho lưu thông hàng

hóa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội (UBND xã Vô Tranh, 2013) [17]

2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn

* Khí hậu

Vô Tranh mang đặc điểm chung của kiểu khí hậu miền núi Bắc Bộ Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp, có khi xuống tới30C, thường xuyên có các đợt gió mùa Đông Bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C, tổng tích nhiệt khoảng 8.0000C

Nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa nóng 27,20C (cao nhất là tháng

7 có năm lên tới 280C - 290C) Nhiệt độ bình quân thấp nhất trong mùa lạnh là

200C, (thấp nhất là tháng 1: 15,60C)

* Chế độ thủy văn

Nguồn nước trên địa bàn xã Vô Tranh khá phong phú, có hệ thống sông suối phân bố đều trên địa bàn Phía Đông giáp với Sông Cầu đảm bảo nguồn nước phục vụ lâu dài cho phát triển sản xuất nông nghiệp

Trang 26

2.3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

* Thổ nhưỡng

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, đất đai xã Vô Tranh có thể chia thành các nhóm chính sau:

- Đất ferarit đỏ vàng hoặc vàng nhạt phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét

- Đất ferarit phát triển trên sa thạch

- Đất ferarit phát triển trên macma axit

* Tài nguyên rừng và thực vật

Đất rừng chủ yếu là phân tán, diện tích không tập trung, nhân dân chủ yếu là trồng Keo tai tượng và Keo lai, không mang tính chất sản xuất hàng hóa, thu thập từ trồng rừng còn hạn chế

Diện tích đất tự nhiên là: 1.837,60 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là: 1.461,06 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 1124,19 ha, đất trồng cây hàng năm là: 362,24 ha Đất trồng cây lâu năm là: 761,95 ha, đất lâm nghiệp là: 308,81 ha và đất nuôi trồng thủy sản là: 33,10 ha

2.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.2.1 Dân số và lao động

Toàn xã Vô Tranh có 2.317 hộ với 8.423 nhân khẩu Số lao động trong

độ tuổi là: 5.127, tỷ lệ lao động qua đào tạo là: 1.767/5.127 Nguồn nhân lực ở trong độ tuổi ở địa phương rồi dào, tuy nhiên số lao động được đào tạo thì lại thấp Hàng năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 3%, thu nhập bình quân đạt 13.420.000đ/người/năm

Về cơ cấu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ trên 90% Số lao động trong độ tuổi đi làm ngoài địa phương chiếm khoảng 20%

Do vậy thu nhập từ nguồn lực lao động trong độ tuổi còn thấp, đây là một vấn

đề khó khăn rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương

2.3.2.2 Cơ sở hạ tầng

- Về giao thông: Hệ thống giao thông trên địa bàn đã cơ bản nối liền

các khu dân cư và các xã Về chất lượng mặt đường còn gặp nhiều khó khăn

vì chủ yếu là đường đất Tổng số đường giao thông trong xã là: 54,86 km Trong đó:

Trang 27

+ Đường trục xã, liên xã là: 12 km đã nhựa hóa, bê tông hóa: 7,5 km đạt tỷ lệ 62,5%

+ Đường trục thôn xóm: 32 km, đã cứng hóa 2,3 km đạt tỷ lệ 0,71% + Đường nội đồng: 10 km chưa cứng hóa, tỷ lệ 0%

+ Trên toàn xã có 6 km đường liên xã là đường nhựa cấp 6 1,5 km đường bê tông, 2,5 km đường xóm được bê tông hóa theo trương trình 70/30 (Vốn nhà nước 70% và 30% vốn nhân dân đóng góp) Còn lại toàn

bộ các tuyến đường trên toàn xã là đường đất, hiện trạng lầy nội vào mùa mưa với tổng chiều dài đường trục xã là 12 km, đường xóm là 16 km, đường nội đồng là 10 km

- Về thủy lợi:

+ Các công trình thủy lợi trên địa bàn toàn xã đã xuống cấp không đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, chỉ có 2 đập nước mới xây dựng năm 2009 trên suối Khe Dạt phục vụ tốt cho một số vùng sản xuất chè

+ Hiện nay trên toàn xã có 6 đầm nước nhỏ, 4 trạm bơm điện, 3 đập nước tưới vùng chè

+ Tổng số kênh chính là 14,3 km và 10 km mương nội đồng

+ Trong đó đã cường hóa được 5 km mương chính nhưng nay đã xuống cấp nghiêm trọng, không đáp ứng cho việc sản xuất của nhân dân

- Về văn hóa - thể thao:

Tổ chức tuyên truyền đến nhân dân các chủ trương chính sách mới của Nhà nước và của địa phương như: Các ngày lễ lớn của đất nước ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giải phóng miền nam, ngày quốc tế lao động, ngày quốc khánh… làm tốt công tác tuyên truyền lễ công bố quy hoạch xây dựng nông thôn mới, Đại hội thể dục thể thao xã lần thứ IV, phát hành cuốn sách lịch sử Đảng bộ xã Vô Tranh giai đoạn 1945 - 2010, lễ công bố nhãn

hiệu chè tập thể xã Vô Tranh, diễn tập chiến đấu trị an năm 2013

Công tác truyền thanh ở cơ sở được đảm bảo duy trì số lượng, chất lượng tin bài hàng tuần, duy trì tốt việc tiếp âm của đài huyện gắn liền với công tác kiểm tra các cụm loa FM được tiến hành từ đầu năm Đã có 5 xóm đăng ký lắp đặt cụm loa với đài cấp trên

Trang 28

+ Về văn hóa, văn nghệ trong năm: Tham gia lễ hội Đuổm với 3 phần thi do ban tổ chức đề ra, kết quả đạt 1 giải nhì, 2 giải khuyến khích

Tổ chức thành công lễ hội vui xuân, giao lưu các trò chơi dân gian như kéo co, tung còn, cờ tướng đã trao 9 giải đạt 150% kế hoạch, 1 lễ xuống Đồng

ở xóm Cầu Bình

Tổng số buổi giao lưu văn nghệ 18 buổi và tổ chức 2 đêm giao lưu văn nghệ ở xã và các xóm trong toàn xã, đã tổ chức hội thi luật phòng chống bạo lực gia đình gồm 22 đội tham gia, ban tổ chức trao 1 giải nhất, 2 giải nhì, 6 giải 3 và 13 giải khuyến khích, phối hợp với công an xã tổ chức thành công hội thi “Tiếng hát cụm an ninh khu vực phía Nam năm 2013”

Có 86,01% gia đình đạt gia đình văn hóa trên toàn xã, có 16/25 làng đạt làng văn hóa Có 2 nhà văn hóa được xây dựng trong năm 2013 đạt 100% kế hoạch giao

- Về giáo dục - đào tạo:

Công tác giáo dục và đào tạo thường xuyên được quan tâm đầu tư phát triển, tiếp tục có chuyển biến tiến bộ, công tác quản lý nhà nước về giáo dục được tăng cường, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, duy trì nề nếp dạy và học, chất lượng dạy và học tiếp tục được nâng lên, đã gắn kết giữa giáo dục tri thức với giáo dục nhân cách cho học sinh Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực xây dựng trường chuẩn, thư viện đạt chuẩn quốc gia ở bậc tiểu học, trung học cơ sở,

số trường học trên địa bàn xã 04 trường trong đó 1 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II, từng bước hoàn thành công tác phổ cập giáo dục ở tất cả các cấp học

+ Số trường học 04 trường Trong đó: 1 Mầm Non, 2 trường Tiểu học,

1 trường Trung học cơ sở

+ Tổng số phòng học 52 Trong đó: Mầm Non 14, 2 trường Tiểu học 25 phòng, Trung học cơ sở13 phòng

+ Tổng số học sinh đầu năm học của cả 4 trường là 1.375 em

Trang 29

- Về y tế:

Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, trú trọng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân tại các xóm, trong tháng do thời tiết nắng nóng nên số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh tăng cao (trạm y tế xã

đã tổ chức khám bệnh cho 5.150 lượt người) Tổ chức tiêm chủng định kỳ

cho 116 trẻ dưới 1 tuổi các loại vácxin đảm bảo an toàn, đủ mũi

Tiếp tục tuyên truyền thực hiện chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại các xóm, duy trì tốt hoạt động của đội ngũ cộng tác viên dân số tại các xóm

để vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình Số sinh tính đến ngày 25/12/2013 là 105 trẻ (tăng 9 trẻ so cùng kỳ), trong đó con thứ ba trở lên là 7

ra sức tăng gia sản xuất, đời sống của nhân dân ngày một nâng lên

Điều kiện tự nhiên của xã phù hợp cho sự phát triển Nông lâm nghiệp

và trồng cây chè Nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây chè đem lại sản lượng cao và giá trị kinh tế lớn Đây là lợi thế

để phát triển kinh tế hàng nông sản, đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế

hộ gia đình góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân trong toàn xã

2.3.3.2 Khó khăn

- Vô Tranh là một xã thuần nông nên việc nhận thức xây dựng nông thôn mới đối với cán bộ , nhân dân còn hạn chế, hạ tầng cơ sở còn khó khăn như điện, đường, thủy lợi…

Trang 30

- Một số bộ phận chuyên môn, các ngành đoàn thể còn thiếu chủ động, chưa linh hoạt, phối hợp chưa chặt chẽ để tham mưu cho UBND xã chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

- Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông trên địa bàn còn diễn biến phức tạp tệ nạn cờ bạc, trộm cắp, còn diễn ra ở một số xóm, các phương tiện tham gia giao thông một số xe quá trọng tải gây hư hỏng một số đoạn đường trên địa bàn xã

- Một phần diện tích của xã còn phải chịu tình trạng thiếu nước vào mùa khô do lượng nước phân bố không đều Hàng năm, điều kiện bất lợi của thời tiết như mưa nhiều, gây ngập úng, sạt lở đất đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến của cải vật chất và đời sống cũng như hoạt động sản xuất của nhân dân

- Tình trạng sản xuất vẫn nhỏ lẻ chưa có các cơ sở chế biến tập trung cũng như các vùng chuyên canh nên dẫn đến chất lượng nông sản chưa cao đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp còn bấp bênh

Trang 31

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số loài cây gỗ (Cây Keo lai, Keo tai tượng, Mỡ, Xoan ta…) trồng

xen trong mô hình NLKH “Chè - Rừng” tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương,

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

(1) Khái quát mô hình Nông lâm kết hợp và tình hình sinh trưởng của

một số loài cây gỗ tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

(2) Nghiên cứu sinh khối của một số loài cây gỗ trồng trong mô hình

Nông lâm kết hợp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

(3) Xác định lượng CO2 hấp thụ thông qua lượng carbon tích lũy ở cây

gỗ trồng trong mô hình Nông lâm kết hợp Chè - Rừng

(4) Phân tích giá trị kinh tế môi trường hấp thụ CO2 của cây gỗ trồng

trong mô hình Nông lâm kết hợp

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp luận

Sinh khối và lượng carbon tích lũy trong thực vật thân gỗ có mối quan

hệ hữu cơ, đồng thời năng lực tích lũy carbon của thực vật thân gỗ trong mô hình NLKH có mối quan hệ với các nhân tố sinh thái, thay đổi theo tỷ lệ kết hợp giữa cây thân gỗ với cây nông nghiệp, mật độ cây gỗ, thời gian kết hợp,

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí ÔTC - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí ÔTC (Trang 32)
Bảng 4.2. Tổng hợp phân bố N/D của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Bảng 4.2. Tổng hợp phân bố N/D của một số loài cây gỗ trồng (Trang 39)
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố số cây theo D 1.3  của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố số cây theo D 1.3 của một số loài cây gỗ trồng (Trang 40)
Bảng 4.3. Quy luật tương quan H/D của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Bảng 4.3. Quy luật tương quan H/D của một số loài cây gỗ trồng (Trang 40)
Bảng 4.4. Cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Bảng 4.4. Cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng (Trang 41)
Hình 4.2. Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.2. Biểu đồ cấu trúc sinh khối tươi của một số loài cây gỗ trồng (Trang 42)
Bảng 4.5. Cấu trúc sinh khối khô của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Bảng 4.5. Cấu trúc sinh khối khô của một số loài cây gỗ trồng (Trang 43)
Hình 4.4.  Biểu đồ cấu trúc lượng tích lũy carbon củ a một số loài cây gỗ - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.4. Biểu đồ cấu trúc lượng tích lũy carbon củ a một số loài cây gỗ (Trang 46)
Bảng 4.7. Lượng CO 2  hấp thụ của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Bảng 4.7. Lượng CO 2 hấp thụ của một số loài cây gỗ trồng (Trang 46)
Hình 4.5. Cấu trúc CO 2  hấp thụ của một số loài cây gỗ trồng - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.5. Cấu trúc CO 2 hấp thụ của một số loài cây gỗ trồng (Trang 47)
Hình 4.7. So sánh tỷ lệ bình quân hấp thụ CO 2  của các loài cây gỗ - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.7. So sánh tỷ lệ bình quân hấp thụ CO 2 của các loài cây gỗ (Trang 48)
Hình 4.6. Tỷ lệ phần trăm lượng CO 2  hấp thụ của một số - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.6. Tỷ lệ phần trăm lượng CO 2 hấp thụ của một số (Trang 48)
Hình 4.8. Biểu đồ lượng CO 2  hấp thụ trên mặt đất và dưới mặt đất của - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
Hình 4.8. Biểu đồ lượng CO 2 hấp thụ trên mặt đất và dưới mặt đất của (Trang 49)
Hình ảnh băm nhỏ mẫu  Cân mẫu đem sấy (30g) - Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Vô Tranh, Phú Lương Thái Nguyên
nh ảnh băm nhỏ mẫu Cân mẫu đem sấy (30g) (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w