Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân được sự nhất trí của khoa Lâm Nghiệp, ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu đặc điểm cấu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LỤC VĂN TÌNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC QUẦN THỂ
LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN
(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KIM HỶ
TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Giáo viên hướng dẫn : TS Dương Văn Thảo
ThS Lê Văn Phúc
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi sinh viên
sau quá trình học tập Đây là thời gian để cho sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu, cũng như tiếp xúc cọ sát với thực tế, đồng thời giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu cũng như công việc ngoài thực tế, từ đó nâng cao năng lực tri thức sáng tạo của bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc sau này
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân được sự nhất trí của khoa Lâm Nghiệp, ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi
tiến hành thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn”
Trong quá trình thực tập được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận
tình của các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là của thầy TS Dương Văn
Thảo và thầy ThS Lê Văn Phúc, sự giúp đỡ của các ban ngành xã Kim Hỷ,
xã Ân Tình huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, cùng với sự cố gắng của bản thân đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề này
Do điều kiện và thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được
ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè để chuyên đề hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Lục Văn Tình
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1.Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.2.1 Trên thế giới 4
2.2.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 4
2.2.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng 7
2.2.2 Ở Việt Nam 9
2.2.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam 9
2.2.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam 13
2.2.3 Tổng quan loài Thiết sam giả lá ngắn 15
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 22
2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 22
2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
2.2.2.Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 25
2.2.2.1.Dân tộc, dân số, và lao động và phân bố dân cư 25
2.2.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng 26
2.2.3 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 27
2.2.3.1 Diện tích các loại đất đai 27
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng nghiên cứu 31
Trang 43.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.2.1 Địa diểm tiến hành nghiên cứu 31
3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ 31
3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 31
3.3.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài 31
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Công tác chuẩn bị 32
3.4.2 Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương 32
3.4.3 Ngoại nghiệp 32
3.4.3.1 Phỏng vấn người dân 32
3.4.3.2 Phương pháp điều tra theo tuyến 32
3.4.4 Phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn 32
3.4.5 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu 35
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ 38
4.1.1 Ở độ cao dưới 700m 38
4.1.2 Ở độ cao trên 700m 43
4.1.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 50
4.3 Đề xuất một số giải pháp 53
4.3.1 Nâng cao nhận thức về tài nguyên thiên nhiên và luật quản lý bảo vệ rừng 53
4.3.2 Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 54
4.3.3 Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ 54
4.3.4 Giải pháp lâm sinh 55
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Hvn : Chiều cao vút ngọn (m)
D1.3 : Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m
Dt : Đường kính tán cây (m)
N/D1.3 : Phân bố số cây theo cấp đường kính 1,3m
N/Hvn : Phân bố số cây theo cấp chiều cao vút ngọn
NL/D1.3 : Phân bố số loài theo cỡ đường kính
NL/Hvn : Phân bố số loài theo cỡ chiều cao
Hvn/D1.3 : Tương quan giữa chiều cao vút ngọn với đường kính tại 1,3m OTC : Ô tiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
N% : Tỷ lệ phần trăm mật độ
G% : Tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang
IV% : Chỉ số quan trọng loài
TSGLN : Thiết sam giả lá ngắn
KBTTN : Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên
BVR : Bảo vệ rừng
PCCCR : Phòng cháy chữa cháy rừng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê dân số theo xã KBTTN Kim Hỷ 25
Bảng 2.2: Thống kê diện tích và hiện trạng sử dụng đất các xã trong vùng quy hoạch 28
Bảng 2.3: Thống kê tổng diện tích, hiện trạng rừng vùng lõi theo xã 30
Bảng 4.1: Tổ thành và mật độ tầng cây gỗ ở vị trí độ cao dưới 700m 39
Bảng 4.2: Phân bố số cây theo cấp đường kính ở vị trí độ cao dưới 700m 40
Bảng 4.3: Phân bố số cây theo cấp chiều cao ở độ cao dưới 700m 42
Bảng 4.4: Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ ở vị trí độ cao trên 700m 43
Bảng 4.5: Phân bố số cây theo cấp đường kính ở vị trí độ cao trên 700m 45 Bảng 4.6: Phân bố số cây theo cấp chiều cao ở độ cao trên 700m 46
Bảng 4.7: Cấu trúc tổ thành mật độ cây tái sinh dưới 700m 48
Bảng 4.8: Cấu trúc tổ thành mật độ cây tái sinh ở độ cao trên 700m 49
Bảng 4.9: Tổng hợp mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao 50
Bảng 4.10: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 52
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Hình thái thân cây TSGLN 16
Hình 2.2: Cây TSGLN tái sinh 17
Hình 2.3: Cây TSGLN trưởng thành 18
Hình 2.4: Lá cây TSGLN tái sinh 19
Hình 2.5: Lá non cây TSGLN 20
Hình 2.6: Quả cây TSGLN 21
Hình 4.1: Biểu đồ phân bố số cây theo cấp đường kính ở độ cao dưới 700m 41
Hình 4.2: Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao ở độ cao dưới 700m 42
Hình 4.3: Biểu đồ phân bố số cây theo cấp đường kính ở độ cao trên 700m 45
Hình 4.4: Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao ở độ cao trên 700m 47
Hình 4.5: Đồ thị mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao 51
Trang 8PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Rừng là lá phổi xanh của nhân loại, rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người, rừng có thể điều hòa khí hậu, giảm thiên tai, bão lụt, hiệu ứng nhà kính là nơi trú ẩn của động vật, làm thức ăn cho động vật và con người Đặc biệt các loài thực vật rừng còn có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với đời sống con người như: cung cấp các nguyên liệu cho xây dựng, các
nghành công, nông nghiệp, cho các chất tinh dầu, chất béo, làm thuốc, làm cảnh và nhiều tác dụng khác
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng bị giảm sút cả về số lượng và chất lượng Do quá trình đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng, các nghành công nghiệp phát triển mạnh Các công trình xây dựng chiếm một phần không nhỏ diện tích đất nông nghiệp và đất rừng Bên cạnh đó nạn khai thac
gỗ và các loại lâm sản khác vẫn diễn ra thường xuyên nhiều loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng, đặc biệt là các loài quý hiếm nếu không có biện pháp kịp thời trong tương lai nguồn tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt
Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,
1975), theo sách “Thông Việt Nam: Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn năm 2004” thì Thiết sam giả lá ngắn là 1 trong số 33 loài Thông của Việt Nam
được xếp vào danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia và
quốc tế
Trên thế giới, Thiết sam giả lá ngắn gặp ở các vùng núi đá vôi của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Ở Việt Nam, kết quả điều tra nhiều năm cho thấy, Thiết sam giả lá ngắn được phân bố trên núi đá vôi của các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn ở độ cao từ 500 đến 1500 m so với mực nước biển Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương
Trang 9mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan Hiện nay vùng phân bố đang
bị thu hẹp dần, số lượng cá thể loài còn lại rất ít do con người khai thác vì mục đích thương mại, làm đồ thủ công mỹ nghệ, khả năng tái sinh trong tự nhiên kém dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng
Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị loài bổ xung vào danh lục các loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác
và sử dụng với mục đích thương mại Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam
2007 và danh lục đỏ IUCN
Hiện nay ở nước ta các nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn còn hạn chế, các nghiên cứu chỉ tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, các thông tin về khả năng tái sinh trong tự nhiên còn ít
Vậy để bảo tồn loài thiết sam giả lá ngắn cần phải nghiên cứu về đặc
điểm phân bố, sinh vật học, sinh thái học, vật hậu các yếu tố ảnh hưởng đến
khả năng tái sinh Để làm được điều này chúng ta phải hiểu biết đấy đủ những quy luật sinh sống của quần thể Thiết sam giả lá ngắn, từ thực tế trên kết hợp với những kiến thức đã học và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, sự giúp đỡ tạo điều kiện của Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ huyện Na Rì tỉnh Bắc Cạn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của quần thể loài thiết sam giả lá ngắn Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc phục hồi và phát triển quần thể loài nêu trên
Đế xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh xúc tiến việc tái sinh, phát
triển và phục hồi quần thể loài thiết sam giả lá ngắn hiệu quả hơn
Trang 101.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra, phân tích được cấu trúc và tái sinh của loài thiết sam giả lá ngắn tại khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn
- Xây dựng một số biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên và phục hồi loài thiết sam giả lá ngắn tại địa bàn nghiên cứu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thực hiện đề tài củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu quả Sau khi thực hiện đề tài này, sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lý, tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả, cũng như viết một báo cáo nghiên cứu, một phần việc quan trọng cho công việc trong tương lai
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Nghiên cứu cấu trúc trạng thái quần thể loài thiết sam giả lá ngắn giúp chúng ta tìm hiểu được cấu trúc của loài, mức dộ đa dạng về thành phần tại
địa bàn nghiên cứu Từ đó đề ra các biện pháp tái sinh loài ở trạng thái tự
nhiên bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp các thành phần tạo nên rừng, là nhân tố quan trọng Vì vậy, cấu trúc rừng tự nhiên được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến từ những năm đầu của thế kỉ XX Các công trình nghiên cứu về vấn đề này nhằm xây dựng các cơ sở khoa học phục vụ quản lý, bảo
vệ, kinh doanh rừng hợp lý, có hiệu quả cao, đạt yêu cầu về kinh tế lẫn môi trường sinh thái Những nghiên cứu về cấu trúc phát triển từ thấp đến cao bước đầu là định tính, mô tả nay chuyển sang định lượng, chính xác với sự
ứng dụng của toán thống kê và tin học Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã thực vật rừng từ đó
có cơ sở đề xuất biện pháp kĩ thuật tác động phù hợp, song với sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới tại Việt Nam thì vấn đề nghiên cứu cấu trúc rừng vẫn là một ẩn số đối với các nhà nghiên cứu
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Trên thế giới
2.2.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là hình thức thể hiện bên ngoài của những mối quan hệ bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ bên trong của quần xã, từ
đó có cơ sở đề xuất biện pháp tác động phù hợp Nghiên cứu cấu trúc rừng,
người ta chia thành ba dạng cấu trúc: cấu trúc hình thái, cấu trúc không gian
và cấu trúc thời gian
* Về quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3):
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là một quy luật kết cấu cơ bản của lâm phần và đã được nhiều nhà lâm học nghiên cứu từ những năm
đầu của thế kỷ 20 Để nghiên cứu mô tả quy luật này, hầu hết các tác giả đã
Trang 12dùng phương pháp giải tích, tìm các phương trình toán học dưới dạng nhiều phân bố xác suất khác nhau Phải kể đến các công trình như sau:
Meyer (1952), đã mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay gọi là hàm Meyer
Richards P.W (1952) [51] trong cuốn “Rừng mưa nhiệt đới” cũng đề cập đến phân bố số cây theo cấp đường kính, Ông coi dạng phân bố là một dạng đặc trưng của rừng tự nhiên
Tiếp đó nhiều tác giả dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình của đường cong phân bố Bally (1973) sử dụng hàm Weibull, Schiffel (theo Phạm Ngọc Giao, (1997) [10] biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba Prođan.M và Patatscase (1964), Bill và Kem k.A (1964) đã tiếp cận phân bố này bằng phương trình logarit chính thái Diatchenko Z.N (theo Phạm Ngọc Giao, 1997) [10] sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới Đặc biệt,
để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả hay dùng các hàm khác như Loetsch
(1973) (theo Phạm Ngọc Giao, (1997) [10] dùng hàm Beta để nắm phân bố thực nghiệm, J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19
ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N/D1.3 Nhiều tác giả khác dùng hàm Hepesbol, hàm Poisson, hàm Logarit chuẩn, hàm Pearson
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về dạng phân bố đem lại kết quả toàn diện và đa dạng nhất về quy luật kết cấu đường kính lâm phần rừng
* Về quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N/H):
Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiều thẳng
đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao Phương pháp nghiên cứu
cấu trúc đứng rừng tự nhiên là vẽ các phẫu đồ đứng với các kích thước khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu Các phẫu đồ mang lại hình ảnh khái quát
Trang 13về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều thẳng đứng từ đó rút ra các nhận xét và đề xuất ứng dụng thực tế Phương pháp này được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng như: Rollet (1979), Meyer (1952), Richards P.W (1952) [51]
* Nghiên cứu quy luật tương quan chiều cao với đường kính thân cây
(H/D1.3):
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ kính cho trước luôn tăng theo tuổi đó là kết quả tự nhiên của sự sinh trưởng Trong mỗi cỡ kính xác định ở các tuổi khác nhau, cây rừng thuộc cấp sinh truởng khác nhau, cấp sinh trưởng giảm khi tuổi các lâm phần tăng lên, dẫn đến tỷ lệ H/D tăng theo tuổi, từ đó đường cong quan hệ giữa H và D có thể thay đổi dạng và luôn dịch chuyển về phía trên khi tuổi lâm phần tăng lên Rollet (1971), đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao với đường kính bằng hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả đã sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính loài Thông theo mô hình của Schumarcher
Tiourin, A.V (1972) (theo Phạm Ngọc Giao, 1997) [10] đã phát hiện hiện tượng này khi ông xác lập đường cong chiều cao cho các cấp tuổi khác nhau Curtis.R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường kính (D) và tuổi (A) theo dạng phương trình:
A d
b A
b d b d Logh
⋅
⋅ +
⋅ +
⋅ +
= 1 1 2 1 3 1 (1.1) Krauter.G (1958) và Tiourin.A.V (1932) nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi Kết quả cho thấy, khi dãy phân hoá thành các cấp chiều cao, thì mối quan hệ này không cần xét đến cấp đất hay cấp tuổi Vì những nhân tố này đã được phản ánh trong kích thước của cây, nghĩa là đường kính và chiều cao trong quan
hệ đã bao hàm tác động của hoàn cảnh và tuổi
Trang 14Như vậy, biểu thị sự tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây có thể sử dụng nhiều dạng phương trình Việc sử dụng phương trình nào cho thích hợp nhất cho từng đối tượng thì chưa được nghiên cứu đầy đủ Nói chung, để biểu đường cong chiều cao thì tùy vào đặc điểm loài cây mà sử dụng một dạng phương trình thích hợp, dạng phương trình thường được sử dụng là dạng phương trình Parabol và phương trình logarit
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và đặc điểm rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, đã
có nhiều công trình nghiên cứu đạt hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng đặc dụng còn ít
2.2.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi, vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác
định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm
phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) [54] Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra
Trang 15nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng,
để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) [61] đã đề
nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau
Richards P.W (1952) [51] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các
ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp “điều tra chuẩn đoán” mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Bara (1954), Budowski (1956) có nhận định dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh là cần thiết Nhờ những nghiên cứu này, nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể
Van Steenis (1956)[61] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh, một hiện tượng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G.N (1952, 1964) [2] cho rằng, trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của cây con, sự nảy mầm và phát triển của cây nảy mầm thì ảnh hưởng là không rõ ràng Ngoài ra các tác giả nhận định: Thảm cỏ và cây
bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn
ảnh hưởng đến cây tái sinh Đối với rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên
Trang 16một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Số lượng loài cây có giá trị về kinh tế không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng Vì vậy khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy
đủ tất cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để có những đánh giá
chính xác tình hình tái sinh rừng và có biện pháp tác động thích hợp
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững
2.2.2 Ở Việt Nam
2.2.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề suất một số giải pháp kỹ thuật phù hợp cho rừng, tạo điều
kiện cho rừng sinh trưởng phát triển Trong những năm gần đây vấn đề nghiên cứu về cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả đề cập:
Trần Ngũ Phương (1970) [33] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát
về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Thái Văn Trừng (1978) [46] đã tiến hành phân chia thực vật rừng nhiệt đới thành 5 tầng: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C)
Trong những năm gần đây, do có sự hỗ trợ của các phần mềm toán học thống kê, nên có rất nhiều công trình nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng, nổi bật là các công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Trang 17Phạm Minh Nguyệt (1994) [32] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài
Nguyễn Văn Trương (1982) [48] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn Ông cho rằng nếu áp dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng
Vũ Đình Phương (1987)[34] trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là c ơ sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng
Nguyễn Hải Tuất (1991)[49], nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một
hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng
Trần Văn Con (1992) ứng dụng mô phỏng toá n học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum) đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương
Trang 18quan nhất định [5]
Võ Đại Hải (1996), đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng
hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng [13]
* Về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3):
Tác giả Đồng Sĩ Hiền (1974) [19] đã chọn hàm Pearson với 7 họ
đường cong khác nhau để biểu diễn phân bố số cây theo cỡ đường kính rừng
tự nhiên Nguyễn Hải Tuất (1975, 1982, 1990) [49] sử dụng hàm Mayer và hàm phân bố khoảng cách biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh Nguyễn Văn Trương (1982) [48] sử dụng phân bố Poisson nghiên cứu mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính thân cây rừng cho đối tượng rừng hỗn giao khác tuổi Phạm Ngọc Giao (1997) [10] khi nghiên cứu quy luật N/D cho Thông
đuôi ngựa vùng Đông Bắc đã chứng minh tính thiết ứng của hàm Weibull và
xây dựng mô hình cấu trúc đường kính cho lâm phần Thông đuôi ngựa
Lê Sáu (1996)[53] đã dùng phân bố weibull để mô phỏng cho hầu hết các phân bố thực nghiệm như phân bố N/D1.3 ở các ô tiêu chuẩn cho kết quả tốt
* Về phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H):
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đồng Sỹ Hiển (1974) [19] cho thấy, phân bố số cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn Thái Văn Trừng (1978) [46] trong nghiên cứu của mình đã đưa ra kết quả nghiên cứu cấu trúc của tầng cây gỗ rừng loại IV
Bảo Huy (1993) [22], Đào Công Khanh (1996)[24], Lê Sáu (1996)[53], Trần Cẩm Tú (1999) [50] đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây, các tác giả đã đi đến nhận xét chung là phân bố N/H có dạng một đỉnh, nhiều đỉnh phụ răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull
Trang 19* Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính:
Đã có rất nhiều tác giả đề cập mối quan hệ tương quan giữa chiều cao vút ngọn với đường kính ngang ngực, tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau:
Đồng Sỹ Hiền (1974) [19] đã sử dụng phương trình logarit hai chiều hoặc hàm mũ để mô tả H/D đồng thời cho thấy khả năng sử dụng một phương trình chung cho cả nhóm loài cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau
Vũ Đình Phương (1975, 1987) [34] cho rằng có thể lập biểu cấp chiều cao lâm phần Bồ đề tự nhiên từ phương trình Parabol bậc 2 mà không cần phân biệt cấp đất và tuổi
Phạm Ngọc Giao (1997) [10] sử dụng phương trình logarit một chiều
để mô tả quan hệ H/D của các lâm phần Thông đuôi ngựa
Kết quả là phương trình dạng: Logh = a + b*logd1.3 đã được chọn để
mô tả tương quan H/D cho từng loài ưu thế: Bằng lăng, Cẩm xe, Kháo và Chiêu liêu
Lê Sáu (1996)[53] sử dụng hàm Weibull mô phỏng phân bố đường kính và chiều cao cho rừng tự nhiên ở Kon Hà Nừng Trần Cẩm Tú (1999) [50] thử nghiệm hàm Weibull, Meyer và hàm khoảng cách, cuối cùng tác giả chọn hàm khoảng cách để mô phỏng, vì hàm này khi kiểm tra cho tỷ lệ chấp nhận cao nhất
Trang 20Nguyễn Thị Hải Yến (2002) nghiên cứu các lâm phần Cao Su ở các tuổi khác nhau, đã thử nghiệm ba dạng phương trình:
Phương trình được chọn là phương trình được sử dụng đơn giản, hệ
số tương quan cao nhất, sai số nhỏ nhất Cuối cùng tác giả chọn hàm (1.14)
để thể hiện quan hệ giưa H/D cho các lâm phần Cao su
2.2.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam
Ở nước ta, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về tái sinh rừng, đặc biệt là tái sinh tự nhiên, một số kết quả về nghiên cứu tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật trong các báo cáo khoa học
Trong thời gian từ năm 1962 đến 1969, Viện Điều Tra Quy Hoạch rừng đã điều tra tình tái sinh tự nhiên theo các “Loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969), và Lạng Sơn (1969), đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964), bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả
điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969, 1984)
[21], đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật độ tái sinh tương ứng là: trên 12000 cây/ha, 8000-
12000 cây/ha, 4000-8000 cây/ha, 2000- 4000 cây/ha và dưới 2000 cây/ha Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập
đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề
(1975, 1984) đã tổng kết và rút ra nhận xét: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo
Trang 21đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng (ghi theo Lê Thị Xuân Thu, 2007) [41]
Khi nghiên cứu về tái sinh rừng không thể không nhắc tới hiện tượng tái sinh lỗ trống Theo Phạm Đình Tam (1987)[38]: Số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn những nơi kín tán Đây là một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới
Trần Ngũ Phương (2000)[33] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế Trường hợp chỉ có 1 tầng trong khi nó già cỗi 1 lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi” Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật của loại hình rừng tự nhiên, xây dựng bản cân đối giữa một bên là mặt thoái hóa với mặt phục hồi
tự nhiên, tác giả này và các cộng tác viên đã kết luận: “Mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái hóa về số lượng cũng như chất lượng, nên muốn đảm bảo độ che phủ thích hợp, chúng ta dựa vào tái sinh nhân tạo’’
Thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay nhiều khu vực vẫn phải trồng vào khu vực tái sinh tự nhiên, còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hẹp Vì vậy nghiên cứu tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng
cụ thể là hết sức cần thiết nhằm đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác
Nhận xét chung: Nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác
giả đều đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích
Trang 22hợp Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai
đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
2.2.3 Tổng quan loài Thiết sam giả lá ngắn
Thiết sam giả lá ngắn tên khoa học (Pseudotsuga
brevifoliaW.C.Cheng & L.K.Fu, 1975), họ ThôngPinaceae, bộ
Thông Pinales
Cây gỗ cao 15 m, đường kính tới 80 cm Cây mọc đứng, cây ngắn tán rộng, tròn Vỏ nứt sâu dạng vảy, màu xám nâu Lá trưởng thành xếp hình xoắn ốc, thành 2 hàng, dạng dải với đầu tù, gân giữa lõm vào ở mặt trên, 2 dải
lỗ khí phân biệt ở mặt dưới, xoắn ở gốc Cây non lá có thể dài tới 5,5 cm, rộng 5mm, dạng dải hoặc hơi cong lưỡi liềm với đầu nhọn, hai dải lỗ khí phân biệt Nón cái mọc đơn độc trên các chồi bên ngắn, rủ xuống, hình trứng, dài tới 6 cm
và đường kính 5 cm; vảy hoá gỗ, rộng, tròn; vảy kèm thò ra dưới vảy nón, phản quang khi chín, chia thành 3 thuỳ, các thuỳ bên ngắn hơn thuỳ giữa; nón cái chín trong 1 năm, tách và giải phóng hạt khi còn trên cây, không rụng Hạt hình trứng ba cạnh, cánh màu nâu đỏ Nón cái già còn đính trên cành luôn ở tư thế mọc chúc xuống Khác với Du sam ở chỗ lá và nón cái thường lớn hơn Thiết sam giả lá ngắn mọc trên đỉnh và đường đỉnh núi đá vôi ở một số tình miền núi phía Bắc như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn (Bắc Sơn), trên độ cao từ 500 đến 1500 m so với mực nước biển
Gỗ có giác lõi phân biệt Lõi có màu nâu đỏ, giác màu nâu nhạt Thớ thẳng,
dễ gia công, được dùng trong xây dựng, làm cầu, đồ gia dụng, cột điện Thân thẳng, dáng đẹp, có thể trồng làm cảnh Cây lớn có thể sử dụng để làm nhà hay làm đồ gỗ
* Một số hình ảnh cây TSGLN tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn:
Trang 23Hình 2.1: Hình thái thân cây TSGLN
Trang 24Hình 2.2: Cây TSGLN tái sinh
Trang 25Hình 2.3: Cây TSGLN trưởng thành
Trang 26Hình 2.4: Lá cây TSGLN tái sinh
Trang 27Hình 2.5: Lá non cây TSGLN
Trang 28Hình 2.6: Quả cây TSGLN
Trang 292.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn nằm trên địa bàn của các xã: Kim Hỷ, Ân Tình, Lạng San, Lương Thượng, Cao Sơn, Vũ Muộn thuộc địa bàn của các huyện Na Rì, Bạch Thông (Bắc Kạn) Được đề xuất thành lập Khu bảo tồn từ năm 1997, đến 2003 KBTTN Kim Hỷ mới chính thức được thành lập theo Quyết định 1804/QĐ-UB ngày 01/09/2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn.Tổng diện tích tự nhiên 14.772 ha Diện tích vùng
- Phía Bắc: giáp huyện Ngân Sơn
- Phía Đông: giáp xã Văn Học, Lương Thành, Văn Minh
- Phía Nam: giáp xã Quang Phong và phần còn lại của xã Côn Minh
- Phía Tây: giáp xã Tân Sơn và phần còn lại của 2 xã Cao Sơn – Vũ Muộn
b) Địa hình
Khu vực có địa hình chủ yếu là núi đá vôi, có độ cao trung bình, thuộc
hệ thống cánh cung Ngân Sơn và Bắc Sơn Địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá vôi, núi đá, đồi đất độc lập và các thung lũng hẹp
Trang 30Vùng núi đá: Nằm ở phía Tây và Tây Nam khu vực, đây là vùng rừng
trên núi đá vôi tập trung, địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh cao, độ cao trung bình 600-700m độ dốc 25-35độ có nơi >45độ, đường đi lại khó khăn, tài nguyên thực vật rừng nói chung ít bị tác động
Vùng núi đất: Nằm ở phía Bắc và phía Đông - Đông Nam khu vực địa
hình ít phức tạp, độ cao trung bình ừ 400-600m độ dốc từ 25-30 độ Đây là nơi dân cư tập trung đông, giao thông đi lại dễ dàng, có tiềm năng để phát
triển sản xuất nông – lâm nghiệp
c Địa chất, đất đai
Địa chất:
Nền địa chất khu vực nghiên cứu có nguồn gốc trầm tích nằm trong quy luật tạo sơn chung của vùng Đông Bắc nước ta, với các sản phẩm trầm tích chủ yếu là bột kết và cát kết phân lớp mỏng, phiến thạch sét, cuội kết hạt nhỏ và sỏi kết màu xám cùng đá vôi màu đen và xám sáng khó phong hóa
Đất đai:
Khu vực có 4 loại đất chính phát triển trên đá vôi, đá Cabro, phiến thạch sét và đá biến chất Trong đó chủ yếu là đất Feralit phát triển trên các sản phẩm của đá vôi Nhìn trung đất trong khu vực có tầng từ trung bình đến
dày, đất tốt thích hợp cho nhiều loài cây Nông, Lâm nghiệp phát triển
d) Khí hậu thủy văn
Khí hậu:
- Khu vực Kim Hỷ thuộc vùng núi cao Bắc Việt Nam, một năm có 2 mùa rõ rệt
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9
+ Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
+ Lượng mưa bình quân hàng năm 1500 mm, cao nhất là 1680mm, mưa tập trung vào tháng 6, 7 chiếm 60% lượng mưa cả năm
Trang 31+ Lượng bốc hơi: trung bình năm là 862mm, tuy lượng bốc hơi khá nhỏ, nhưng do có nhiều suối ngầm nên đất đai khu vực nghiên cứu rất khô
và thiếu nước về mùa hạn
+ Độ ẩm không khí bình quân năm là 82%, cao nhất là 89% vào các tháng 6-7, thấp nhất là 70% vào tháng 12
Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ bình quân năm là 21, 6độC
+ Nhiệt độ tối cao 38, 6 độC, nhiệt độ tối thấp là 2 độC
Nhìn chung khí hậu khu vực nghiên cứu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa miền núi phía Bắc Việt Nam, mưa ẩm vào mùa hè, lạnh khô vào mùa đông Riêng mùa đông lạnh có sương mù sương muối, đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất Nông-Lâm nghiệp
Thủy văn
Trong khu vực nghiên cứu có sông Bắc Giang và hệ thống suối bắt nguồn từ các núi cao, các thung, áng trên các dãy núi đá vôi dẫn nước đưa về sông Bắc Giang Hướng chảy từ Tây sang Đông khu vực, lưu lượng nước chảy mạnh về mùa hè, mùa đông nước rất cạn
Các hệ suối gồm có: Suối Pắc Bó (xã Ân Tình) suối Kim Vân, Khuổi Luộc, Khuổi Khoang xã Kim Hỷ, suối Khau Lẹ, Khuổi Sua xã Lạng San, suối Lũng Pảng xã Côn Minh có nước quanh năm nhưng lúc nhiều lúc ít theo
Trang 32mùa mưa Do hiện tượng Caster, nước ở các suối tụt xuống các ngầm sâu nên một số con suối có đoạn chảy nổi trên mặt đất, có đoạn chảy ngầm trong long đất, mùa mưa nước chảy mạnh, mua khô rất thiếu nước, nên lũ lụt ít xảy
ra Nói chung khu vực có mật độ suối cao nhưng rất khan hiếm nước vào mùa khô
2.2.2.Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.2.1.Dân tộc, dân số, và lao động và phân bố dân cư
Về thành phần dân tộc: Trong khu vực có 5 dân tộc chủ yếu sinh sống là Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’ Mông, trong đó người dân tộc Tày và Dao là chiếm đa số
Tại 7 xã quanh KBT có 61 thôn bản với 2.703 hộ, 10.868 nhân khẩu, mật độ dân số trung bình là 27,74 người/ Km2
Bảng 2.1: Thống kê dân số theo xã KBTTN Kim Hỷ
TT
Dân số 2011 (người)-
Mật độ dân số (người/km 2 )
Trang 33* Tập quán sinh hoạt, sản xuất:
Sản xuất nông nghiệp trong khu vực chiếm tỷ trọng cao (94,3%) tỷ trọng sản xuất lâm nghiệp còn nhỏ, dịch vụ chậm phát triển Nhìn chung trong khu vực nền kinh tế bước đầu đã có sự chuyển dịch từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, nhưng cần có sự chuyển đổi cơ cấu thật nhanh mới
có thể tiến kịp và hòa nhập với xu thế chung của các vùng trong tỉnh Số hộ
đói nghèo giảm từ 18% năm 2011 xuống còn 13% năm 2012, thu nhập bình
quân đầu người từ 4-5tr/năm Năng suất lúa bình quân đạt 45-50 tạ/ha, bình quân lương thực 250kg/năm/người
2.2.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng
+ Giao thông:
Mạng lưới đường thiết kế hợp lý, chất lượng khá, đi lại thuận lợi, nhưng một số bản vùng cao chưa được xây dựng nên đi lại còn nhiều khó khăn
+ Thủy lợi
Khu vực Kim Hỷ phần lớn là diện tích núi đá vôi nên rất ít sông suối
và nước mặt vì vậy công tác thủy lợi đã được quan tâm, hệ thống kênh mương hầu hết đã được nhà nước đầu tư bê tông hóa, đảm bảo nước sinh hoạt và sản xuất đối với các bản vùng thấp, vùng cao vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nước thiên nhiên:
+ Y tế:
Các xã đều có trạm y tế tại trung tâm xã, các thôn bản có cán bộ y tế thôn bản, tuy nhiên trang thiết bị nghèo nàn, trình độ cán bộ y tế còn thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh của bà con nhân dân
+ Giáo dục:
Các xã đều có trường tiểu học, phòng học là nhà cấp 3 và cấp 4 nhưng trang thiết bị và đồ dùng học tập còn thiếu, tỷ lệ học sinh tới trường học đạt 95-96%, chất lượng việc dạy và học tập còn thiếu
Trang 34+ Đời sống văn hóa xã hội
Khu vực KBTTN Kim Hỷ là những vùng xã vùng sâu của 2 huyện Na
Rì và Bạch Thông, nên đời sống văn hóa xã hội của người dân còn thấp
Được sự quan tâm của nhà nước, các xã trong khu vực đều đã có điện lưới
quốc gia, hầu hết các giá đình có Tivi nên có điều kiện nâng cao dân trí và
tiếp cận thôn tin khoa học kỹ thuật phục vụ đời sống và sản xuất
2.2.3 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
2.2.3.1 Diện tích các loại đất đai
Theo Quyết định 1804/QĐ-UB, ngày 01/9/2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích là 15.416 ha, nằm trên địa bàn các xã: Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San, Ân Tình, Côn Minh huyện Na Rì và xã Cao Sơn, Vũ Muộn huyện Bạch Thông.,
Sau rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn, Theo Quyết định
số 757/2007/QĐ-UBND, ngày 21/5/2007 của UBND tỉnh Bắc Kạn diện tích vùng lõi Khu bảo tồn là 14.772 ha và vùng đệm có diện tích là 18.931 ha thuộc 7 xã Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San, Ân Tình, Văn Minh, Côn Minh huyện Na Rì và xã Cao Sơn, Vũ Muộn huyện Bạch Thông
Theo kết quả điều tra, diện tích các loại đất trong vùng quy hoạch (7 xã) được thể hiện tại bảng 2.2:
Trang 35Bảng 2.2: Thống kê diện tích và hiện trạng sử dụng đất các xã trong vùng quy hoạch
2 , Đất trống 2 106 ,12 308 ,45 407 ,08 314 ,41 234 ,64 552 ,13 116 ,54 172 ,89
II , Đất khác 3 379 ,55 571 ,25 401 ,03 544 ,68 290 ,97 628 ,55 440 ,02 503 ,04
Trang 36Khu vực quy hoạch có tổng diện tích tự nhiên là 33.692,68 ha trong đó các loại đất Đất lâm nghiệp có diện tích lớn 30.313,13 4 ha chiếm 89,97% diện tích tự nhiên, đất có rừng tự nhiên là 26.913,21 ha chiếm 79,88% diện tích tự nhiên, đây thực sự là nơi còn tỉ lệ rừng tự nhiên cao, đặc biệt ở đây có 12.844,46 ha rừng tự nhiên trên núi đá vôi (chiếm 38,12% diện tích rừng tự nhiên) nhiều nơi còn giữ đặc tính nguyên sinh và là nơi cư trú chính của các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp – quý hiếm, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen
Vùng lõi KBT
Kết quả thống kê cho thấy, tổng diện tích vùng lõi KBT (bao gồm diện tích KBT và vùng đệm trong) là 14.748,4 ha Có sự sai khác so với diện tích được phê duyệt là 14.772 ha theo Quyết định số 757/2007/QĐ-UBND, của UBND tỉnh Bắc Kạn (giảm 33,6ha), do trong quá trình rà soát 3 loại rừng, phần diện tích này là ruộng, nương rẫy cố định gần ranh giới KBT
được tách ra khỏi vùng lõi
- Trong tổng diện tích 14.748,4 ha vùng lõi, xã Côn Minh chiếm diện tích lớn nhất, 4.538,25 ha (30,8%), xã Kim Hỷ 3.784,89 ha (25,7%), xã Cao Sơn 2.805,94 ha (19%), các xã còn lại chiếm diện tích nhỏ hơn từ 2-7%
Trang 37Bảng 2.3: Thống kê tổng diện tích, hiện trạng rừng vùng lõi theo xã
Chia ra các xã Lạng
San
Lương
Tổng DT tự nhiên 14 748 ,41 339 ,87 1 097 ,45 3 784 ,89 1 050 ,11 4 538 ,25 2 805 ,94 1 131 ,91 I.DT đất LN 14 103 ,02 339 ,87 1 058 ,84 3 666 ,54 1 006 ,90 4 311 ,66 2 620 ,51 1 098 ,70 1.DT đất có rừng 13 495 ,95 339 ,87 1 030 ,26 3 618 ,69 984 ,64 3 856 ,81 2 585 ,44 1 080 ,24 1.1 , Rừng tự nhiên 13 161 ,18 339 ,87 1 029 ,65 3 468 ,09 984 ,64 3 673 ,81 2 584 ,88 1 080 ,24 1.1.1 Rừng trên núi đất 1 772 ,53 0 ,00 37 ,47 155 ,86 17 ,95 987 ,54 529 ,67 44 ,03