Kết quả nghiờn cứu về sinh trưởng đường kớnh cổ rễ D00 của cõy Phượng vĩ giai đoạn vườn ươm ở cỏc cụng thức thớ nghiệm .... Trang 8 Xuất phỏt từ những vấn đề trờn, tụi đó thực hiện đề t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
NGUYỄN VĂN THƯƠNG
Tờn đề tài:
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá
đến sinh trưởng của cây Phượng Vĩ giai đoạn Vườn ươm
tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Lõm nghiệp Khoa : Lõm nghiệp Khoỏ học : 2010 - 2014
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
NGUYỄN VĂN THƯƠNG
Tờn đề tài:
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá
đến sinh trưởng của cây Phượng Vĩ giai đoạn Vườn ươm
tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Lõm nghiệp
Khoa : Lõm nghiệp Khoỏ học : 2010 - 2014 Giảng viờn hướng dẫn : ThS Lờ Sỹ Hồng
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khoá luận là trung thực Khoá luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
ThS Lê Sỹ Hồng
Sinh viên
Nguyễn Văn Thương
Giảng viên phản biện
( Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất 9 Bảng 4.1: Kết quả sinh trưởng H vn của cây Phượng vĩ giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 20 Bảng 4.2: Bảng tổng hợp kết quả sinh trưởng chiều cao vút ngọn (cm) của các loại phân bón lá đến sinh trưởng của cây phượng vĩ ở giai đoạn vườn ươm 21 Bảng 4.3 Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với loại phân bón lá tới sinh trưởng chiều cao cây Phượng vĩ 22 Bảng 4.4: Bảng sai dị từng cặp xi−xj cho sinh trưởng về chiều cao vút ngọn của Phượng vĩ 22 Bảng 4.5: Kết quả sinh trưởng D00của cây Phượng vĩ giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 23 Bảng 4.6: Bảng tổng hợp kết quả sinh đường kính cổ rễ (cm) của các loại phân bón
lá đến sinh trưởng của cây phượng vĩ ở giai đoạn vườn ươm 24 Bảng 4.7: Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với loại phân bón lá tới sinh trưởngđường kính cổ rễcủa cây Phượng vĩ 25 Bảng 4.8: Bảng sai dị từng cặp cho sự tăng trưởng về đường kính cổ rễ 25 Bảng 4.9: Ảnh hưởng của loại phân bón lá đến động thái ra lá của cây Phượng vĩ ở các công thức thí nghiệm 26 Bảng 4.10: Tỷ lệ xuất vườn của cây Phượng vĩ ở các CTNN 27
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn sinh trưởngH vn của cây Phượng Vĩ ở các công thức thí nghiệm 20 Hình 4.2: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ (cm) của cây Phượng Vĩ
ở các công thức thí nghiệm 24
Hình 4.3: Đồ thị biểu diễn động thái ra lá của cây Phượng vĩ ở các công thức
thí nghiệm 27 Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ % cây tốt, trung bình, xấu của Phượng Vĩ ở các công thức thí nghiệm 28 Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ % cây con xuất vườn 29 Hình 4.6: Một số hình ảnh cây phượng vĩở các công thức thí nghiệm 30
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu 2
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 6
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 8
2.5 Một số thông tin về loài cây Phượng vĩ 9
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
3.3 Nội dung nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 11
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng về chiều cao của cây Phượng Vĩ dưới ảnh hưởng của các loại phân bón 20
4.2 Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng đường kính cổ rễ D00 của cây Phượng vĩ giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 23
4.3 Kết quả nghiên cứu về động thái ra lá của cây Phượng vĩ ở các CTTN 26
4.4 Tỷ lệ xuất vườn của cây Phượng vĩ ở các công thức thí nghiệm 27
Phần 5: KẾT LUẬN, VÀ KIẾN NGHỊ 31
5.1 Kết luận 31
5.2 Kiến nghị 32
Trang 7Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, nếu chúng ta biết khai thác và sử dụng, bảo vệ một cách hợp lý Rừng không chỉ cung cấp những vật dụng thực phẩm lâm đặc sản như:thuốc men, gỗ củi, tre, nứa…mà rừng còn là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí quyển, hấp thu chất độc hại như: CO2, SO2 và làm cân bằng môi trường sinh thái đem lại cuộc sống trong lành cho con người và mọi sinh vật
Mặc dù rừng có vai trò to lớn như vậy những diện tích rừng không những trong nước mà ở một số nước khác diện tích rừng ngày càng giảm về
số lượng và chất lượng [6] Do việc tăng lên về dân số và sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp đã dẫn tới việc phá rừng, lạm dụng tài nguyên rừng một cách trầm trọng Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: xói mòn, rửa trôi, cạn kiệt nguồn nước, phá hủy môi trường sống của động vật, làm mất đa dạng sinh học, gây nên biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… hàng loạt những hậu quả xấu diễn ra khi diện tích rừng bị giảm
Trước thực trạng đó Nhà Nước ta đã quan tâm phát triển rừng để phủ xanh đất trống, nâng cao chất lượng rừng
Trong những năm gần đây, việc trồng rừng ngày càng được nười dân quan tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu về gỗ, lâm sản ngoài gỗ nâng cao thu nhập đồng thời cải thiện các chức năng phòng hộ, cảnh quan, điều hòa khí hậu…
Giống là một khâu đặc biệt quan trọng trong các chương trình trồng rừng kể cả trong rừng kinh tế, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng cây phân tán Công tác giống đóng vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho nghề rừng được lâu dài, sớm phát huy tác dụng phòng
hộ và bảo vệ môi trường
Để có cây con đản bảo cả về số lượng, chất lượng cung cấp cho trồng rừng hàng năm, cần đảm bảo tốt các khâu kỹ thuật trong sản xuất Tuy nhiên trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có phân bón
Trang 8Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của cây Phượng
Vĩ giai đoạn Vườn Uơm tại trường Đại Học Nông LâmThái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ chọn ra loại phân bón phù hợp với sinh trưởng của cây Phượng Vĩ ở giai đoạn vườn ươm nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí sản xuất, ít gây ô nhiễm môi trường, tạo cảnh quan
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được sinh trưởng của cây Phượng Vĩ giai đoạn vườn ươm, dưới ảnh hưởng của phân bón lá
- Lựa chọn được loại phân bón qua lá tốt nhất đối với sinh trưởng của cây Phượng Vĩ về chiều cao, đường kính cổ rễ, số lá của cây Phượng vĩ giai đoạn vườn ươm
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu
-Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kỹ thuật gieo ươm cây Phượng vĩ
+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản suất, biết áp dụng và kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc làm tự lập khi ra thực tế
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
+ Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất cây giống PhượngVĩ + Đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con Phượng Vĩ ở giai đoạn vườn ươm Tạo cây con đảm bảo có chất lượng
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của phân bón Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có quan hệ mật thiết với điều kiện bên ngoài
Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây [1]
Có hai cách bón phân cho cây trồng: Bón phân qua rễ và bón phân qua lá [16]
+ Bón phân qua rễ: Lượng phân bón trực tiếp vào đất, chất dinh dưỡng được ngấm vào đất Bộ rễ của cây hút chất dinh dưỡng từ đất chuyển lên các bộ phận lên trên mặt đất của cây (thân, lá, hoa quả) cây trồng phát triển bình thường
+ Bón phân qua lá: (Lá , thân, cành, quả) lượng phân hòa tan vào nước
ở một nồng độ cho phép Phun ướt đẫm lá và thân cây quả, chất dinh dưỡng được ngấm qua lá
Bón phân vào đất (qua rễ) cây hấp thụ thường không hết nên giữ lại trong đất hoặc tự rửa trôi Còn bón phân qua lá nồng độ bón phân qua lá thường nhỏ Nếu bón nồng độ cao thì cây tự xót và chết Nếu bón nồng độ quá thấp thì hiệu quả không rõ Vì vậy trong một đời cây phải bón nhiều lần ở những nồng độ thích hợp Trong vườn ươm hầu hết phân bón được trộn với đất trong hỗn hợp ruột bầu, tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỉ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp Bón phân cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh thường xuyên để phát huy tối đa hiệu lực của phân bón
Trang 10Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật, nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của cơ thể thực vật
Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chỉ sử dụng phân bón chiếm 30% Việc kết hợp cân đối nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, thể thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản suất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững [15]
Phân bón là chất dùng để cũng cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên học được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác động như nhau đối với sinh trưởng của cây, trong các biện pháp
kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt [14]
Các loài phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón [8]
Trong sản xuất nông nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sinh sống trực
tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây Đất tốt, cây sinh trưởng tốt ra hoa kết quả sớm, sản lượng - chất lượng quả, hạt cao chu kỳ sai quả ngắn và ngược lại Đất tốt là đất giàu dinh dưỡng chủ yếu là N,
P, K và các nguyên tố vi lượng cần thiết đồng thời các thành phần đó có một tỉ lệ thích hợp [3]
Trong gieo ươm:
- Điều kiện đất đai:
Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con sinh trưởng, phát triển tốt hay sấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước
và không khí cho cây
Trang 11Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định
+ Thành phần cơ giới của đất:Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ
giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn,… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tính sinh học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất
dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận rễ, thân, cành, lá phát triển cân đối
+ Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân
đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho loại đất cát pha ở độ sâu là 1,5 - 2m, đất sét là trên 2,5m
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước
+ Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nẩy mầm của hạt giống và
sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ pH trung tính, cá biệt có loài ưa chua như cây Thông, ưa kiềm như Phi lao [13]
Ruột bầu: Là môi trường trực tiếp nuôi cây, thành phần ruột bầu gồm
đất và phân bón Đất làm ruột bầu thường sử dụng loại đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoai mục (phân chuồng, phân xanh), phân vi sinh và phân vô cơ Tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỷ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp [12]
Trang 12-Sâu bệnh hại:
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu, bệnh hại, làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi còn dẫn đến thất bại hoàn toàn Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp xử lý đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm ở những nơi bị nhiễm sâu bệnh nặng
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Phân bón lá đã được sử dụng từ lâu trên thế giới Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn phân bón [9]
Mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan - Van Helmont (1629) ông đã trồng cây Liễu nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất Một năm sau cây liễu nặng 66kg trong khi đất chỉ giảm 66g Tác giả kết luận cây chỉ cần nước để sống
Vào cuối thế kỷ XVIII đầi thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đề xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người Đức Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng Liibig cho rằng độ mầu mỡ của đất là do muối khoáng trong đất Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hóa học cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng Năm 1963 Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuối cây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân cón không cần thiết Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh trưởng chậm và chất lượng kém
Năm 1974 polster, Fidler và lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây than gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mối cây than gỗ ở mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau
Chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá
Trang 13Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức
độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
Ở Mỹ, Canada, Braxin,… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha [7] Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư
Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại
Theo Thomas (1985) chất lượng cây con có quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nito và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua mầu sắc lá Phân tích thành phần hóa học của mô là cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc,… đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất cho nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen,… ( Nhật Bản ), Bloom, Blus, Solu, Spray-NGrow… ( Hoa Kỳ), Diệp lục tố, đặc phong,… ( Trung Quốc ) Nhiều chế phẩm đã được nghiện cứu và cho phép sử dụng trong sản suất nông nghiệp ở Việt Nam
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Hữu Thước (1963), Nguyễn ngọc Tân (1985), Nguyễn Xuân Quát (1985), Trần Gia Biển (1985)…các tác giả đều đi đến kết luận chung cho rằng mỗi loại cây trồng đều có yêu cầu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗn hợp hoàn toàn khác nhau
Nước ta là một nước có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp nên việc
sử dụng phân bón đã được dùng trong canh tác từ lâu Chúng ta cũng luôn tìm tòi nghiên cứu để tìm ra các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng
Trang 14cho nền nông nghiệp với mong muốn không ngừng nâng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc sống ngày càng tăng
Một trong các biện pháp kỹ thuật đó là dựa vào tính ưu việt của các chế phẩm sinh học có khả năng cung cấp một cách nhanh chóng dưỡng chất cho cây, phát huy hiệu lực của phân đa lượng, giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả kinh tế cao Vì vậy các nhà nghiên cứu, các nhà sản xuất nông nghiệp đã chú trọng đầu tư nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học
Hướng tới nền sản xuất nông nghiệp sạch, các cơ quan nghiên cứu, các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế đã và đang sản xuất ra nhiều sản phẩm phân bón đa dạng, phân bón sinh học trở thành phân bón không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp do đó: Phân vi sinh, phân bón lá, phân hữu cơ cũng được ra đời và đã được sản xuất tại Việt Nam như: Công ty xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật Henco, công ty sinh hóa nông nghiệp và thương mại Thiên Sinh,… đã cho ra thị trường nhiều loại phân bón có tác dụng đối với nhiều loại cây trồng như: NPK Lâm Thao, Supe Lân,… khi chúng ta sử dụng phân bón vào sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả khả quan
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất Do trên mỗi lá có hàng triệu khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao [11]
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
*Vị trí địa lý
- Đề tài được tiến hành tại vườn ươm Trung Tâm nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 15* Địa hình
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao Độ dốc trung bình 10- 15°, độ cao trung bình 50 - 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì ta nhận thấy:
- Độ pH của đất thấp điều đó chứng tỏ đất ở đây chua
- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
Độ sâu
tầng đất
(cm)
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên)
2.5 Một số thông tin về loài cây Phượng vĩ
- Cây gỗ lớn cao từ 10 đến 15 m, vỏ thân màu xám trắng, nhẵn, phân cành nhánh nhiều, lớn, dài, mọc nghiêng, tán rộng Lá kép lông chim 2 lần với
20 đôi lá phụ, lá rụng thưa vào mùa khô tháng 1 - 3 hàng năm, sắc lá có màu xanh bóng Hoa nở đỏ rực vào những cơn mưa đầu mùa cuối tháng 4 đầu tháng 5 Hoa cụm lớn dài 20 - 30 cm, nang hoa xếp thưa, xòe rộng, hoa lớn màu đỏ tươi hay đỏ camvới cánh tràng có cuống dài, phiến rộng, dúm răn reo, trong đó có cánh lớn màu cam đỏ và các vạch đốm màu trắng, nhị có bao phấn cong màu đỏ
- Quả rất lớn dài 20 - 60 cm, rộng 4 - 6 cm, dẹp, vỏ hóa gỗ, hạt cứng, dài, đen có vân màu
- Gốc cây có rễ ăn gần mặt đất, rễ cọc kém phát triển, rễ bàng phát triển mạnh có thể làm hư hại một phần lớp đất mặt quanh gốc cây
Trang 16Phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới ẩm, được du nhập vào Việt Nam
từ giữa thế kỷ 19, mọc tốt ở những nơi có lượng mưa từ 1.000 đến 2.000 mm/năm
Trước khi gieo, xử lý kích thích hạt bằng nước sôi, ngâm hạt trong nước ấm và để nguội dần sau 12 giờ Sau đó đãi hạt lép bỏ đi, rồi ủ trong túi vải, mỗi ngày rửa chua 1 lần sau 4 ngày hạt nhú mầm, cấy vào bầu
- Vỏ bầu bằng túi P.E, kích thước 9 x 13cm Ruột bầu: 99% lớp đất mặt tại chỗ 1% phân Supelan Tưới đẩm bầu trước khi gieo hạt
- Thời vụ gieo ươm: tùy theo điều kiện tại chỗ và nguồn giống, có thể gieo ươm ở các tháng thích hợp Tháng 2 - 3 dương lịch là thời điểm thích hợp nhất
* Chăm sóc cây con:
- Thời gian đầu cần phải có giàn che, sau đó giảm độ che phủ từ từ và cho cây ra ánh sáng hoàn toàn.bằng cách giảm bớt giàn che, tăng thời gian chiếu sáng (chỉ che đậy khi nắng gắt hoặc trời mưa lớn)
- Luôn đảm bảo cho cây đủ ẩm, 2 tuần/lần làm cỏ, phá váng, tưới thêm một ít phân NPK: 30 – 30 – 30, pha loãng 1% để tưới Sau khi tưới phân cần tưới lại nước lã , để không làm cháy lá cây
* Tiêu chuẩn cây giống:
Cây con khỏe mạnh, không sâu bệnh, cong queo, chiều cao tối thiểu 40cm – 80 cm, nhưng tùy theo nhu cầu có thể trồng cây lớn hơn 1m
* Kỹ thuật trồng:
- Cây Phượng Vĩ được trồng chủ yếu cho nhu cầu cảnh quan, nơi công
sở, trường học, thường được trồng phân tán, riêng rẻ
- Cự ly trồng 6 x 6 m, hoặc 4 x 4m, mật độ trồng 280 cây - 625 cây, tùy theo điều kiện đất tốt hay xấu mà bố trí mật độ trồng cho thích hợp
- Trước khi trồng cần tiến hành đào hố 40 x 40 x 40cm hay 60 x 60 x 60cm
- Tiến hành bón phân: phân chuồng hoai (5 – 10 kg/ hố) và phân NPK (100gr/hố) trước khi đặt cây xuống hố ít nhất 15 ngày
- Cách trồng: Dùng cuốc moi đất sao cho vừa đủ đặt cây con vào hố, đặt miệng bầu ngang mặt hố, nén chặt đất xung quanh, rồi lấp đất bằng mặt đất Lấp đến đâu ặm chặt đến đất Tưới nước sau khi lấp xong đất Cây thường được trồng vào đầu mùa mưa
Trang 17Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây con Phượng Vĩ được gieo từ hạt trong giai đoạn vườn ươm
Phạm vi nghiên cứu:Ảnh hưởng của 4 loại phân bón lá (Phân bón cao cấp FERTI AMINO; KOMIX Phân bón siêu kali và kẽm; Thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng ATONIK; Phân bón lá cao cấp công mĩ nghệ SIÊU LÂN 10-60-7+TE) đến sinh trưởng của cây Phượng Vĩ trong giai đoạn vườn ươm
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tạivườn ươm Trung tâm nghiên cứu và phát triển Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian nghiên cứu từ tháng 02- 05/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sinh trưởng về chiều cao (Hvn) của cây Phượng Vĩ ở các công thức thí nghiệm phân bón lá
- Nghiên cứu sinh trưởng về đường kính (Doo) của cây Phượng Vĩ ở các công thức thí nghiệm phân bón lá
- Nghiên cứu về động thái ra lá của cây Phượng Vĩ ở các công thức thí nghiệm phân bón lá
- Tỷ lệ xuất vườn của cây Phương Vĩ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số liệu, kết quả đã nghiên cứu trước
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm - bố trí thí nghiệm
- Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra: Từ những số liệu thu thập qua các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, tôi tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học trong Lâm nghiệp
Trang 183.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp
Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu
- Hạt giống, túi bầu, đất tầng A, sàng đất
- Thước đo cao, thước dây, thước kép
Thí nghiệm được bố trí thành 4 công thức và 3 lần nhắc lại, tất cả là
12 ô thí nghiệm, các công thức thí nghiệm được bố trí cách nhau 10cm Mỗi công thức thí nghiệm có 90 cây, dung lượng mẫu quan sát là 30 cây trong 1 ô
- Công thức I: Phân bón cao cấp FERTI AMINO Thành phần gồm có N: 7%, P2O5: 6%, K2O: 5%, 5,3% Amino ; TE gồm: Cu,Zn,Fe,Bo,Mo
- Công thức II: KOMIX Phân bón siêu kali và kẽm, thành phầngồm có: Nts: 7,5%; P2O5hh: 12,5%; K2O: 36%; Zn: 11%; Ph: 5-7 :số CB: 09/2010/TS
- Công thức III: Phân bón lá cao cấp công mĩ nghệ SIÊU LÂN 7+TE, thành phần gồm có N: 10%; P2O5:60%; K2O: 7%.Trung vi lượng: B: 250ppm ; Zn:28ppm; Mn:250ppm; Cu:12ppm; Mo:7ppm; Fe: 120ppm
10-60-Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm
Trang 19Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm
Khi cây con đạt chiều cao 5 - 6 cm, tiến hành dỡ dần dàn che
+ Sâu bệnh hại: Trong quá trình chăm sóc thí nghiệm định kỳ phun thuốc phòng bệnh cho cây
Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Thời gian đo đếm các chỉ tiêu về sinh trưởng được tiến hành vào cuối đợt thí nghiệm Trong mỗi ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ cây
Đo đường kính cổ rễ (Doo):
Dùng thước dây đo chu vi rồi tính D00
Số lá: Đếm số lá theo thứ tự của các cây đo chiều cao, đườngkính cổ rễ của các công thức
Kết quả được ghi vào mẫu bảng 3.2:
Trang 20Mẫu bảng 3.2: Các chỉ tiêu sinh trưởng H vn , Số lá, D oo ,
chất lượng củacây con Phư ợng Vĩ
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp để tính chiều cao vút ngọn trung bình, đường kính cổ rễ trung bình thông qua các công thức tính:
D
1 00
1
Trong đó: H vn Là chiều cao vút ngọn trung bình
D 00: Là đường kính gốc trung bình
Di: Là giá trị đường kính gốc của một cây
Hi: Là giá trị chiều cao vút ngọn của một cây
n: Là dung lượng mẫu điều tra
i: Là thứ tự cây thứ i
- Phân tích và xử lý số liệu trên excel :
+ Các chỉ số thống kê như chỉ số trung bìnhH vn, D 00, được thực hiện bằng phần mềm excel với hàm sum( ), hàm average( )…
+ Để kiểm tra xem mức độ ảnh hưởng của mỗi công thức phân bón tới sinh trưởng của cây con như thế nào tôi dùng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố [10] Để kiểm tra kết quả thí nghiệm được xắp xếp như trình tự
trong mẫu bảng 3.3:
Trang 21Mẫu bảng 3.3: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích
phương sai 1 nhân tố
Trong đó coi:
- Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN)
Giả sử nhân tố A được chia làm a (a công thức thí nghiêm) cấp khác nhau, mỗi cấp các trị số quan sát lập lại (bi) lần, kết quả được sắp xếp vào
mẫu bảng 3.3:
- Cột 1: Các cấp của nhân tố A
- Cột 2: Các trị số quan sát (số lần nhắc lại cho mỗi công thức của nhân
tố A) Cột 3: Tổng giá trị quan sát trong mỗi cấp
- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát
- X số trung bình chung của n trị số quan sát
Đặt giả thuyết H0:µ1 = µ2 = µ3 = µ Nhân tố A tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệm