I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Quá trình đổi mới dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy học đòi hỏi nhiều yếu tố căn bản có tính chất nền tảng. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là con người người giáo viên người thầy. Đứng trên bục giảng, một người thầy (cô)(nói chung) đóng vai trò then chốt để có được những sản phẩm quan trọng: CON NGƯỜI. Thế nên, người thầy không phải chỉ dạy học kiểu truyền thụ kiến thức một chiều; điều cần thiết là sự định hướng, trao đổi, chia sẻ cùng học sinh các đơn vị kiến thức trong từng bài học và tất cả tình cảm nhiệt huyết và đặc biệt là kĩ năng sống (của chính người thầy) để làm nên thành công trong công việc có tính chất đặc thù. Để tạo được động lực mạnh mẽ thúc đẩy điều đó, một vấn đề quan tâm hàng đầu đó là cần đổi mới hoạt động ở tổ chuyên môn. Nghĩa là làm sao để chúng ta giảm việc có tính chất hành chính và tập trung vào các nghiệp vụ chuyên môn như: tìm hiểunghiên cứu thực tế và đặt vấn đề, trao đổi, thảo luận, rút kinh nghiệm để việc dạy học thiết thực và hiệu quả thật sự. Qua đó, kinh nghiệm, kĩ năng giảng dạy của mỗi giáo viên sẽ dần được nâng cao. Một tổ chuyên môn vững mạnh đúng nghĩa thì tất nhiên phải có những người thầy vững vàng về chuyên môn, có tâm huyết trong công việc và nghề nghiệp, có sự năng động, tích cực trong hợp tác và giúp đỡ nhau về chuyên mônkinh nghiệm giảng dạy. Vấn đề đặt ra ở đây là tương đối rộng. Tuy nhiên, từ những suy nghĩ và trăn trở trong nghề nghiệp, trong phụ trách công tác chuyên môn của tổ Ngữ Văn, bản thân tôi luôn có ý thức học hỏi và rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy cũng như trong sinh hoạt tổ chuyên môn để từ một số công việc, vấn đề có tính “ hàn lâm, xa vời” được ứng dụng vào thực tế nơi mình công tác một cách hiệu quả thiết thực. Đó chính là lí do tôi thực hiện nghiên cứu và thực hiện đề tài: Nâng cao kinh nghiệm, kĩ năng giảng dạy của giáo viên qua hình thức sinh hoạt chuyên môn “nghiên cứu bài học”. Với đề tài này, lựa chọn tối ưu của tôi chính là qua quá trình sinh hoạt ở tổ chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, kết hợp với thực tế giảng dạy, mỗi giáo viên có thêm kinh nghiệm, kĩ năng cần thiết và thiết thực nhất trong dạy học và đặc biệt, phù hợp với đối tượng học sinh trường THPT Tôn Đức Thắng nói riêng và học sinh THPT nói chung.
Trang 1I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quá trình đổi mới dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy học đòi hỏi nhiều yếu tố căn bản có tính chất nền tảng Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là con người- người giáo viên- người thầy Đứng trên bục giảng, một người thầy (cô)-(nói chung) đóng vai trò then chốt để có được những sản phẩm quan trọng: CON NGƯỜI Thế nên, người thầy không phải chỉ dạy học kiểu truyền thụ kiến thức một chiều; điều cần thiết là sự định hướng, trao đổi, chia sẻ cùng học sinh các đơn vị kiến thức trong từng bài học và tất cả tình cảm nhiệt huyết và đặc biệt là kĩ năng sống (của chính người thầy) để làm nên thành công trong công việc có tính chất đặc thù
Để tạo được động lực mạnh mẽ thúc đẩy điều đó, một vấn đề quan tâm hàng đầu đó là cần đổi mới hoạt động ở tổ chuyên môn Nghĩa là làm sao để chúng ta giảm việc có tính chất hành chính và tập trung vào các nghiệp vụ chuyên môn như: tìm hiểu-nghiên cứu thực tế và đặt vấn đề, trao đổi, thảo luận, rút kinh nghiệm để việc dạy học thiết thực và hiệu quả thật sự Qua đó, kinh nghiệm, kĩ năng giảng dạy của mỗi giáo viên sẽ dần được nâng cao Một tổ chuyên môn vững mạnh đúng nghĩa thì tất nhiên phải có những người thầy vững vàng về chuyên môn, có tâm huyết trong công việc và nghề nghiệp, có sự năng động, tích cực trong hợp tác và giúp đỡ nhau về chuyên môn-kinh nghiệm giảng dạy
Vấn đề đặt ra ở đây là tương đối rộng Tuy nhiên, từ những suy nghĩ và trăn trở trong nghề nghiệp, trong phụ trách công tác chuyên môn của tổ Ngữ Văn, bản thân tôi luôn có ý thức học hỏi và rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy cũng như trong sinh hoạt tổ chuyên môn để từ một số công việc, vấn đề có tính “ hàn lâm, xa vời” được ứng dụng vào thực tế nơi mình công tác một cách hiệu quả thiết thực Đó chính là lí do tôi thực hiện nghiên cứu
và thực hiện đề tài: Nâng cao kinh nghiệm, kĩ năng giảng dạy của giáo
viên qua hình thức sinh hoạt chuyên môn “nghiên cứu bài học”
Với đề tài này, lựa chọn tối ưu của tôi chính là qua quá trình sinh hoạt ở tổ chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, kết hợp với thực tế giảng dạy, mỗi giáo viên có thêm kinh nghiệm, kĩ năng cần thiết và thiết thực nhất trong dạy học và đặc biệt, phù hợp với đối tượng học sinh trường THPT Tôn Đức Thắng
Trang 2II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.Cơ sở lí luận
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”;
- Từ năm 2002 bắt đầu triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh
- Các sở giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo các trường thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hội thảo, các lớp bồi dưỡng, tập huấn về phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo cụm chuyên môn, cụm trường; tổ chức hội thi giáo viên giỏi các cấp, động viên khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và các hoạt động hỗ trợ chuyên môn khác
- Triển khai việc “Đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học” Đây là hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy hoạt động của học
sinh làm trung tâm, ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào?
2 Cơ sở thực tiễn
Từ năm 2013-2014, Sở giáo dục đào tạo Đồng Nai tổ chức tập huấn cho
tổ trưởng chuyên môn nhằm thực hiện công tác đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn
Trang 3Năm học 2014-2015, Sở tiếp tục triển khai tập huấn đổi mới cho Tổ trưởng chuyên môn, tổ chức hội thảo về dạy học môn Văn
Tài liệu tập huấn của Bộ giáo dục Đào tạo về đổi mới sinh hoạt chuyên môn là “ chỗ dựa” cho một số hoạt động có tính chất then chốt ở cả phương diện lí luận và ứng dụng vào thực tế
Quy chế chuyên môn ở trường THPT quy định rõ: mỗi tháng Tổ nhóm chuyên môn sịnh hoạt hai lần.Trong mỗi cuộc họp Tổ nhóm chuyên môn phải đi sâu đánh giá được hoạt động chuyên môn trong 2 tuần vừa qua và đề ra được nhiệm vụ chuyên môn trong 2 tuần kế tiếp (theo kế hoạch đã được xây dựng từ đầu năm học) đồng thời đi sâu thảo luận các vấn đề nổi cộm cần phải giải quyết, trình bày và thảo luận các chuyên đề đã được tập huấn (nếu có), bàn giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh
Tuy nhiên, về SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC, các tổ ở trường THPT Tôn Đức Thắng vẫn chưa thực hiện bài bản, Tổ chuyên môn Ngữ Văn vẫn chưa thực hiện tốt mà chỉ thực hiện được một phần thông qua các tiết hội giảng cấp tổ, cấp trường: thông qua giờ dạy của giáo viên thì dự giờ chủ yếu góp ý đánh giá tiết dạy của giáo viên về tác phong, phương pháp, kiến thức nội dung, chưa chú trọng đến quan sát và đánh giá học sinh trong tiết học.
Những nguyên nhân được xác định như sau:
- Điều kiện cơ sở vật chất chưa đảm bảo…
- Thời gian đầu tư để thực hiện sinh hoạt Chuyên môn nghiên cứu bài học còn
bị động khá nhiều.
- Giáo viên thường ngại đánh giá nhận xét, thực tế có khi né tránh phân tích, chỉ ra hạn chế giúp đồng nghiệp tiến bộ.
- Tiết dạy của Giáo viên thường do Giáo viên đó tự soạn, tự đầu tư, chưa có sự đóng góp của tổ…
-Một số giáo viên tự tìm tòi nghiên cứu thì chỉ mang tính cá nhân, chưa có sự trao đổi, chia sẻ để tìm đến tính phổ quát của vấn đề khi ứng dụng.
Cái nhìn khác từ phía học sinh:
Trang 41. Đầu vào quá thấp Học sinh tuyển vào lớp 10 trong các năm học dao động
ở số lượng 500 em Hết năm học lớp 10, số lượng này chưa tới 450 Như thế, sĩ số giảm hơn 1 lớp
Học sinh yếu kém bị thải loại là thực tế nhưng số liệu cho thấy đó là khó khăn
và là thách thức của người dạy học, tức là làm sao để con số bị thải loại kia ít đi!
2 Học sinh chưa thực sự chú trọng tới môn Văn bởi ảnh hưởng lối học vẹt, học chay Tâm lí học để kiểm tra đủ điểm 5 khiến cho quan điểm này phổ biến trong số đông học sinh Tâm lí này tạo ra tính ỳ trong học tập khiến người dạy vấp phải nhiều tình huống sư phạm phải xử lí
3 Một bộ phận học sinh tiếp cận sách học tốt, bài mẫu với mục đích là để vươn lên Tuy nhiên, hiệu quả thấp hoặc chưa có bởi học sinh không phân biệt
được “cái cần học” và “cái dở, yếu” của chính cuốn sách không chất lượng.
Một phần trong số này là học sinh trung bình-khá, bên cạnh khó khăn trên, các
em vẫn chưa biết cách học; tức là học cái gì, học thế nào từ sách, để mình nâng cao kiến thức, viết văn tốt hơn! Bộ phận này tự thành công là rất hiếm
4 Vai trò, công việc trong tương lai ở một số ngành nghề liên quan trực tiếp đến môn Văn là cánh cửa hẹp Từ đó dẫn đến việc học sinh không có lựa chọn cho những ngành này-môn học này Thiếu yêu thích, đam mê nên không
có động lực để học sinh vươn lên Số học sinh theo đuổi bộ môn Văn thật sự vẫn rất hiếm nên sức lan tỏa trong học tập không thể có!
5 Học sinh yếu kém ( yếu kém cả học lực và về ý thức) còn tồn tại cá biệt Bộ phận này có ảnh hưởng không tốt đến tâm lí của những em khác: không học, học chống đối và chấp nhận thi lại Sự ảnh hưởng này, tiếc thay, lớn hơn cả
sự ảnh hưởng từ những điều tốt đẹp
Như vậy, cả từ phía giáo viên và học sinh đều có những vấn đề cần đổi mới, đó là thách thức lớn Động lực thay đổi từ sinh hoạt chuyên môn phải là được quan tâm
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Chuẩn bị cho năm học mới 2014-2015, căn cứ nhiệm vụ năm học, căn cứ
tình hình thực tế của năm học mới, Kế hoạch năm học của nhà trường, tôi đã
xây dựng kế hoạch cho việc sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, coi
Trang 5đây là nhiệm vụ trọng tâm của tổ chuyên môn nhằm thúc đẩy quá trình dạy học
để phù hợp nhu cầu mới, tình hình mới
3.1 Vai trò của tổ trưởng chuyên môn
-Trước tiên, đó là sự chia sẻ cùng đồng nghiệp về nội dung đổi mới,
cách thức tiến hành công việc Các thành viên đã có nhận thức đúng đắn về
đổi mới phương pháp dạy học, cách thức nghiên cứu bài học Nhiều thành viên
đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học theo hướng đổi mới Một số giáo viên đã vận dụng được các phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá tích cực trong dạy học; kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong tổ chức hoạt động dạy học được nâng cao; vận dụng được qui trình kiểm tra, đánh giá mới
- Thứ hai, tổ trưởng xây dựng kế hoạch, thời gian thực hiện chuyên
đề và lấy ý kiến bổ sung, thống nhất.
-Thứ ba, lựa chọn bài học “ có vấn đề” để đưa vào nghiên cứu.
Thế nào là bài “ có vấn đề”?
-Bài có vấn đề là bài khó tiếp cận kiến thức Có thể, đó là bài khó dạy, phát sinh nhiều tình huống cần xử lí Thậm chí, bài học đó “ bị xem nhẹ”, tức là xem bài học đó không quan trọng! Điều này dẫn đến việc dạy qua loa, nhưng thực tế, nó lại rất quan trọng
Điều này, phải dựa vào quá trình dự giờ của tổ trưởng chuyên môn trong suốt quá trình công tác Tức, đó phải là kinh nghiệm của chính tổ trưởng chuyên môn
-Thứ tư, tổ trưởng làm chủ tọa việc phân tích bài học nghiên cứu:
Trang 6- Phân tích về việc lựa chọn nội dung trong chương trình và sách giáo khoa hiện hành để nghiên cứu bài học: vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của nó
- Xác định vấn đề chính cần giải quyết trong bài học
+ Định hướng thiết kế giáo án cho bài học: cấu trúc các nhiệm vụ học tập
dự kiến tổ chức hoạt động học của học sinh (theo tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được lựa chọn)
- Thời điểm thực hiện, thời lượng, cách thực hiện (GV…)
Trên cơ sở thảo luận lấy ý kiến, Tổ trưởng sẽ dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong bài học và trình bày cụ thể về:
- Kiến thức
- Kĩ năng
- Năng lực
-Thứ năm, tổ trưởng khuyến khích GV đăng ký dạy minh họa
GV đăng kí dạy, TTCM yêu cầu tất cả các GV cùng tham gia dự giờ, thảo luận, khuyến khích giáo viên vận dụng những điều học được vào thực tế
3.2 Lưu ý khi thảo luận về giờ dạy minh họa (Nguồn: Tài liệu hướng dẫn của
Bộ- không phải của người viết)
-Người chủ trì nêu mục đích của buổi thảo luận
-GV dạy minh họa trình bày mục tiêu, ý tưởng….cảm nhận sau khi dạy như sự hài lòng, băn khoăn…
-GV dự chia sẻ về quan sát, ghi chép, cảm nhận được Khuyến khích mọi người
đề có ý kiến Không để người dự mổ xẻ, phân tích , soi mới những hạn chế của
GV dạy minh họa Người dự cần căn cứ vào mục tiêu của bài để hiến kế giúp người dạy khắc phục hạn chế
-Mỗi người dự tự tìm ra những yếu tố tích cực, suy nghĩ xem mình đã học được những gì từ bài học này
-Không áp đặt ý kiến, kinh nghiệm chủ quan cá nhân, quá chú trọng đến quy trình truyền thống của một giờ dạy
Trang 7-Không đánh giá GV, không xếp lại giờ học và không kết luận cần phải thay đổi theo cách nào mà để GV tự suy nghĩ và lựa chọn giải pháp phù hợp với HS và điều kiện học tập của lớp mình
-Khi phân tích bài học cần căn cứ vào các tiêu chí sau: (Theo tài liệu hướng
dẫn của Bộ- không phải của người viết)
1.Quan sát hành vi HS – Đánh giá lớp học
Hình 1: Đồng thuận
Hình 2: Chú tâm và phân tâm
Hình 3: Tập trung và mất tập trung
Trang 8Hình 4: Mạnh dạn và nhút nhát
Hình 5: Không thể hiểu
Hình 6: Cần và bất cần
Trang 9Hình 7: Gặp phải khó khăn
Hình 8: Tự tin và mất tự tin
3.3 Những tiêu chí có thể làm căn cứ phân tích bài học (Nguồn: Tài liệu của
Bộ giáo dục-không phải của người viết )
1 Kế hoạch và tài liệu dạy học
-Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động học với MT, ND, PPDH được sử dụng.
-Mức độ rõ ràng của MT, ND, kĩ thuật tổ chức và sản phẩm cần đạt được của
mỗi nhiệm vụ học tập.
Trang 10-Mức độ phù hợp của TBDH và học liệu được sử dụng để tổ chức các hoạt động
học của HS
-Mức độ hợp lí của phương án KTĐG trong quá trình tổ chức hoạt động học của HS
2 Tổ chức hoạt động học cho học sinh:
-Mức độ sinh động, hấp dẫn HS của PP và HT chuyển giao nhiệm vụ học tập -Khả năng theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của HS.
-Mức độ phù hợp, hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích HS hợp
tác, giúp đỡ nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập
-Mức độ hiệu quả hoạt động của GV trong việc tổng hợp, phân tích, đánh giá
kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của HS
3 Hoạt động của học sinh:
-Khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả HS trong
lớp
-Mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của HS trong việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập
-Mức độ tham gia tích cực của HS trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết
quả thực hiện nhiệm vụ học tập
-Mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp của các kết quả thực hiện nhiệm vụ học
tập của HS
GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến HS như:
- HS học như thế nào?
- HS đang gặp khó khăn gì trong học tập?
- ND và PPDH có phù hợp, có gây hứng thú cho HS không? Kết quả học tập của HS có được cải thiện không?
- Cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào?
Vị trí quan sát lớp học khi dự giờ:
Trang 11Người dự giờ đứng ở vị trí thuận lợi để có thể quan sát, ghi chép, quay phim các hoạt động học của HS một cách dễ dàng nhất
3.4 Những bài học kinh nghiệm
Thực tế, đề tài đã được tiến hành thực hiện ở tổ Văn trường THPT Tôn Đức Thắng trong hai năm học: 2013-2014 và 2014-2015
Thực hiện sinh hoạt chuyên môn theo định hướng nghiên cứu bài học chúng tôi tuân thủ nguyên tắc của nó nhưng công việc cụ thể tiến hành theo những điểm nhấn sau:
-Trong năm 2013-2014, chúng tôi thực hiện sinh hoạt chuyên môn nghiên cứu bài học trong giai đoạn thứ nhất của công việc: Đó là tiếp cận hình thức
“ nghiên cứu bài học” ở cách thức làm việc, hướng nghiên cứu Bước tiếp theo là triển khai thống nhất ý kiến soạn bài (thiết kế giáo án) Cuối cùng là thực hiện giảng dạy và đúc rút những bài học kinh nghiệm cơ bản sau khi đánh giá theo trình tự kế hoạch đã đề ra
-Trong năm 2014-2015, chúng tôi thực hiện ở mức cao hơn Đó là tập trung giải quyết những vướng mắc trong quá trình tiếp cận bài học ở học sinh (người viết nhấn mạnh) Vấn đề này được nhìn nhận sâu sắc hơn và giải
quyết thấu đáo hơn để cuối cùng, mỗi giáo viên có kinh nghiệm, kĩ năng trong quá trình dạy học- phù hợp với đối tượng học sinh Tức là từ sự trải nghiệm, giáo viên có thể áp dụng đại trà và linh hoạt với nhiều bài học khác nhau dựa trên quan điểm của vấn đề đã đặt ra từ hoạt động chung (Có thể
Trang 12Qua quá trình thực hiện, những bài học kinh nghiệm thực tiễn được rút ra như sau:
3.4.1 Bài học kinh nghiệm về việc lựa chọn bài học làm đối tượng nghiên cứu:
-Ý kiến của các thành viên trong tổ có khi sẽ rất nhiều, TTCM cần có định hướng sự lựa chọn tương thích với nhiệm vụ trọng tâm của năm học đã đề
ra, gần nhất là của học kì đang thực hiện
Ví dụ: Trong năm học 2013-2014, tập trung vào các đơn vị kiến thức cơ bản để thiết kế bài học-hoạt động học của học sinh Bài dạy “Chí Phèo” của Nam Cao được lựa chọn Nội dung dạy thực hành trên lớp là tiết 2, tìm hiểu về hình tượng nhân vật Chí Phèo
Cơ sở của sự chọn lựa này, là do quá trình đi dự giờ, TTCM nhận thấy việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhân vật trong tác phẩm còn nhiều hạn chế, hoặc diễn giảng, hoặc còn nặng phân tích-thao tác cũ trong tiến trình dạy học Mặc dù ghi: Đọc-hiểu nhưng bản chất vẫn là phân tích, nghĩa là, không mới
Điều thứ 2, còn nhiều giáo viên phải loay hoay hoặc đặt tên các đề mục, tức đơn vị kiến thức chưa sát với mục tiêu bài học Vì điều này, HS không thể nắm được cốt lõi của vấn đề vì “thầy mơ hồ thì trò không hiểu”
Thực tế, khi đi vào nghiên cứu bài Chí Phèo với cơ sở, mục đích trên, TTCM đã tham khảo ý GV trên 20 năm kinh nghiệm, và thực hiện bước đệm bằng buổi sinh hoạt chuyên đề: Nghiên cứu bài học để xây dựng hệ thống đề mục Một số tác phẩm đã chọn ra: “Thuật hoài” (tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão,
“Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi, “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Trước và sau tiến hành họp tổ để triển khai vấn đề sự hưởng ứng của GV cao Kết quả kiểm tra giáo án sau này cũng cho thấy, cá nhân GV có ý thức và kinh nghiệm vượt trội ¾ giáo viên cần thay đổi, đã có sự thay đổi đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp
Năm 2014-2015, tiếp tục nghiên cứu bài “ Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du), mục đích muốn đạt đến là tạm đủ với hai thể loại chính của văn chương
Như trên đã nói, với bài này, mục đích muốn đạt đến là: Từ bài học được nghiên cứu, tất cả GV có cho mình kinh nghiệm để ứng dụng vào nhiều bài, nhiều thể loại theo đặc trưng của loại thể văn chương và theo đối tượng học sinh