Mục lục Trang PHẦN MỞ ĐẦU I. Lí do chọn đề tài 5 II. Mục đích nghiên cứu 5 III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 IV.Phương pháp nghiên cứu 6 PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận 7 II. Cơ sở thực tiễn 7 III. Các biên pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ Đọc hiểu 9 1. Đọc diễn cảm văn bản 9 2. Sử dụng lời bình hay hợp lí 12 3. Lồng ghép trò chơi trong giờ học Ngữ văn: 13 4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Đọc hiểu 15 5. Vận dụng linh hoạt trong vận dụng những phương pháp dạy học tích cực 17 IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 25 PHẦN KẾT LUẬN I. Bài học kinh nghiệm 26 II.Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 26 III. Khả năng ứng dụng và triển khai 27 IV. Những kiến nghị đề xuất 27 Tài liệu tham khảo 28
Trang 1SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAITRƯỜNG THPT KIỆM TÂN
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO SỰ HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Hồng
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dụcPhương pháp dạy học bộ môn:
xPhương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Trang 2Năm học: 2014-2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
3 Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn
III KINH NGHIỆM GIÁO DỤC:
1 Lĩnh vực chuyên môn giảng dạy môn Ngữ văn
2 Số năm giảng dạy kinh nghiệm : 5 năm
Trang 3
Mục lục
Trang PHẦN MỞ ĐẦU I Lí do chọn đề tài 5
II Mục đích nghiên cứu 5
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
IV.Phương pháp nghiên cứu 6
PHẦN NỘI DUNG I Cơ sở lí luận 7
II Cơ sở thực tiễn 7
III Các biên pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ Đọc hiểu 9
1 Đọc diễn cảm văn bản 9
2 Sử dụng lời bình hay hợp lí 12
3 Lồng ghép trò chơi trong giờ học Ngữ văn: 13
4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Đọc hiểu 15
5 Vận dụng linh hoạt trong vận dụng những phương pháp dạy học tích cực 17
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 25
PHẦN KẾT LUẬN
I Bài học kinh nghiệm 26
II.Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 26
III Khả năng ứng dụng và triển khai 27
IV Những kiến nghị đề xuất 27
Tài liệu tham khảo 28
Trang 5Phần Mở đầu:
I Lí do chọn đề tài
Luận ngữ viết: “ Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học khôngbằng say mà học” Vậy niềm yêu thích say mê chính là động lực thúc đẩy, nuôidưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi người Vì thế với vai trò tổchức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của HS, hơn ai hết việc phải tìm ranhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của người học, gây niềmhứng thú say mê học tập ở các em chính là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi ngườiGV
Nhưng phải thừa nhận một thực tế rằng trong thời kì đất nước đang chuyểnmình hội nhập quốc tế, bên cạnh rất nhiều mặt tích cực thì cũng nảy sinh không ítnhững khó khăn thách thức Theo đó, chất lượng môn Văn và vai trò môn văn trongnhà trường hiện nay đang có quá nhiều bất ổn Đa số học sinh coi nhẹ vai trò của mônVăn trong chương trình học và cả trong định hướng trong tương lai của các em.Chính điều này đã tác động không nhỏ đến tâm lí học sinh, làm giảm niềm yêu thíchhứng thú của các em với môn Ngữ văn Càng học lên lớp trên, các em càng ít hứngthú học môn Ngữ văn Hay nói cách khác, môn Văn trở thành gánh nặng, áp lực nặng
nề, thậm chí trở nên nhàm chán và nỗi ám ảnh trong học sinh Đứng trước bối cảnh
đó, bên cạnh việc trau dồi nâng cao năng lực chuyên môn vững vàng, người dạy Ngữvăn cần thiết phải có nghệ thuật đứng lớp cao hơn, linh hoạt hơn, sáng tạo hơn mới
có thể tạo được niềm hứng thú cho học sinh Làm thế nào để thổi vào tâm hồn các
em sự yêu thích, niềm hứng thú môn Văn, đưa môn Văn trở về đúng quỹ đạo thực sựcủa việc học văn là học làm người, bởi “Văn học là nhân học” là trách nhiệm củangười giáo viên đứng lớp và lương tâm của nhà giáo?
Trong ba phân môn của bộ môn Ngữ văn được giảng dạy trong nhà trường Phổ thông
- Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn thì Đọc văn chiếm một vị trí khá quan trọng, có vaitrò to lớn để học sinh được bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, năng lực thẩm mĩđồng thời cũng có thêm kiến thức để thực hành Làm văn và học Tiếng Việt
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần vào việchình thành cho HS sự hứng thú, tìm tòi tích cực, khao khát khám phá kiến thức mới
Trang 6trong mỗi giờ học Đọc văn nói riêng giờ Ngữ văn nói chung để sau này trở thành
những công dân đủ tài, đủ đức phục vụ cho đất nước, tôi đã quyết định chọn đề tài "
Đề xuất một số biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Đọc hiểu văn bản”
II Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu để viết sáng kiến kinh nghiệm " Đề xuất một số biện phápgóp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Đọc hiểu văn bản ", tôi cũng đã tựnâng cao năng lực chuyên môn của bản thân, đồng thời qua đây cũng muốn trao đổivới đồng nghiệp để làm sao tạo hứng thú cho học sinh trong mỗi giờ Đọc hiểu,không thể để tiếp diễn tình trạng học sinh coi giờ học Đọc hiểu là giờ "ru ngủ", họcsinh chỉ việc ngồi nghe thầy cô "thôi miên", tay ghi chép, về nhà học thuộc, đi thichép y nguyên lại lời thầy, nhiều khi có không đồng ý với một số nhận định của thầy
đã "áp đặt" cũng không dám nói Hi vọng đề tài này sẽ được đồng nghiệp đón nhận
để góp phần cải thiện tình trạng dạy học Ngữ văn hiện nay
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Có nhiều biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh THPT trong giờ họcĐọc hiểu, nhưng trong phạm vi đề tài này tôi chỉ tập trung vào các biện pháp thôngdụng nhất: đọc diễn cảm văn bản, sử dụng lời bình hay hợp lí, lồng ghép trò chơi, ứngdụng công nghệ thông tin hiệu quả, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tíchcực, gắn bài giảng với thực tế đời sống Dù vấn đề này cũng đã có ngườinghiên cứu, song đây là kinh nghiệm riêng mà tôi đã thực hiện và đạt được kết quảtốt, chất lượng bộ môn tăng lên rõ rệt
IV.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã thu thập thông tin, đúc kết kinh nghiệm từ thực
tế giảng dạy Ngữ văn trên nhiều đối tượng HS trong các năm học trước và thựcnghiệm đối chứng trong năm học 2014-2015 với các lớp 10C2, 10 S6, 11C5, 11C9
Trang 7Phần nội dung
I Cơ sở lí luận
Luật Giáo dục, Điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huytích tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớphọc, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho học sinh”
Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xâydựng thư viện câu hỏi và bài tập cũng đã viết: "Hoạt động giáo dục chỉ đạt hiệu quảcao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu không khí thân thiện, pháthuy ngày càng cao vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS" Theo Từ điển TiếngViệt – Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2000, “ hứng thú là sự ham thích” Rõ ràng khi cóđược sự say mê hứng thú, con người sẽ làm việc tự nguyện có hiệu quả hơn, thànhcông hơn Hứng thú còn có tác dụng chống lại sự mệt mỏi Học sinh cũng vậy Khi cóhứng thú, các em sẽ kiên trì làm bài tập, không nản chí trước câu hỏi khó, khôngnhững thế còn hăng hái trả lời, nhận xét bổ sung câu trả lời của bạn, chủ động nêucâu hỏi, đưa ra những thắc mắc để các bạn cùng trả lời, thầy cô giải thích thấu đáo,thậm chí còn có cả sự sáng tạo Vì vậy, mỗi thầy cô khi lên lớp, không phải "chămchăm ôm bảng giảng", quan trọng hơn người thầy cô phải không ngừng tìm tòi nhiềubiện pháp hơn nữa để gây hứng thú cho học sinh, có như vậy mới phát huy được tínhtích cực chủ động, độc lập sáng tạo của người HS đúng như định hướng giáo dục hiệnnay
II Cơ sở thực tiễn
Chúng ta phải thừa nhận rằng hiện nay học sinh ít còn hứng thú với những giờhọc môn Ngữ văn nói chung và giờ học Đọc hiểu nói riêng, chủ yếu là học đối phó.Những giờ học Đọc hiểu có khi chỉ là giờ thông tin kiến thức một chiều, khô cứng vànhạt nhẽo Học xong một giờ đọc văn, học sinh thu được cái mà họ cần quá ít ỏi,thậm chí cá biệt có em không thu hoạch được gì Chính điều đó dẫn đến kiến thứcthực tế về văn học của các em còn nghèo nàn, dùng từ ngữ trong giao tiếp một cáchthiếu chính xác, đặc biệt trong các bài Tập làm văn thường mắc lỗi chính tả, câu văn
Trang 8viết chưa đúng ngữ pháp, cách diễn đạt vụng về, sáo mòn, lệ thuộc vào sáchtham khảo Số lượng hồ sơ khối C thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Caođẳng, Trung cấp trong cả nước cũng ngày một giảm.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh THPT không hứng thú tronggiờ học Đọc văn, theo tôi có những nguyên nhân cơ bản sau:
* Về chương trình phân môn Đọc văn có một số điều bất cập Thiết kế chương trìnhchưa hợp lý lặp đi lặp lại những gì đã học ở cấp dưới, nặng về lý thuyết thiếu thựchành đã gây nhàm chán và lãng phí thời gian mà lại không phát huy sự tìm tòi khámphá những điều mới mẻ của học sinh Có nhiều tác phẩm lượng kiến thức cần khaithác rất lớn (như “Hạnh phúc một tang gia” - Vũ Trọng Phụng, “Chí Phèo” -Nam Cao, hay các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn lớp 12) nhưngthời lượng phân phối lại lại rất ít (2 tiết/bài), giáo viên chỉ lo dạy không kịp bài thìlàm sao tạo được hứng thú cho HS
* Về phía GV: Trong những năm gần đây, ngành luôn đề cao việc đổi mớiphương pháp dạy học, nhưng thật sự việc đổi mới ở các giáo viên dạy Ngữ văn còngặp khá nhiều khó khăn, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy cũng chưađạt được kết quả mong muốn, do vậy ngoài các tiết dự thi, thao giảng, dạy tốt, thanhtra, đa phần tiết dạy Ngữ văn là tiết "dạy chay", thầy vẫn giữ phương pháp cũ làthuyết giảng, thầy đọc trò chép Chính điều đó đã làm giảm rất nhiều sự hào hứng,sáng tạo của HS Một nguyên nhân nữa xuất phát từ trình độ chuyên môn của giáoviên, nhất là đa số những giáo viên mới ra trường, mỗi khi lên lớp chưa thật làm chủkiến thức, chỉ lo làm sao truyền thụ hết những gì được soạn từ giáo án thấy đã khó,nói chi đến việc mở rộng, nâng cao, kích thích sự hứng thú của học sinh
* Về phía HS: Môn Ngữ văn là một môn học khó, mang tính đặc thù Khác với cácmôn học khác, kết quả của tiết học được đánh giá rõ ràng, rành mạch, còn kết quả thuđược của môn văn dường như khó định nghĩa thật sự, và tất nhiên những cảm xúc,rung động khi tiếp cận một văn bản không phải ai cũng dễ dàng hiểu và đạt được.Trong mỗi giờ học Đọc hiểu, học sinh phải phát huy trí tưởng tượng sáng tạo, nănglực cảm thụ thì mới có thể hiểu được những tầng nghĩa sâu xa của tác phẩm - Yêucầu này, không phải học sinh nào cũng có đủ khả năng Hơn nữa, đa phần HS hiện
Trang 9nay đã quen với lối học thụ động, đi thi thì cũng chỉ chép lại lời thầy, bởi các em cótâm lí nếu làm khác đi chưa chắc gì thầy đã chấm điểm cao, do vậy cũng chẳng muốnbộc lộ suy nghĩ cảm thụ riêng của bản thân làm gì.
Mặt khác, mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho học sinh trở nên thực dụnghơn khi chọn ngành nghề cho tương lai, trong lúc môn Văn là môn rất khó làm kinh
tế và có thu nhập cao như các ngành nghề khối Tự nhiên Các em vẫn chưa thực sựthấm nhuần được vai trò của môn Văn trong cuộc sống Đó cũng là lí do đẽ hiểu vìsao môn Văn trở thành “ môn phụ từ môn chính?”
Vào đầu năm học 2014-2015, tôi được phân công giảng dạy dạy môn Ngữ văn tại
4 lớp 10C2, ,10S6, 11C5, 11C9 Qua khảo sát ở các lớp giảng dạy tôi nhận thấy điểmchung là học sinh ít có hứng thú với giờ Ngữ văn nói chung và giờ Đọc hiểu văn bảnnói riêng Từ đó, tôi luôn băn khoăn trăn trở làm sao để học sinh yêu thích môn Ngữvăn hơn, làm sao để kết quả học tập của học sinh được cải thiện hơn Và hơn hết làlàm sao tạo cho học sinh niềm hứng thú, đam mê môn Văn? Một câu hỏi tưởngchừng rất đơn giản nhưng là nỗi niềm của tất cả các giáo viên dạy văn hiện nay
III Các biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ Đọc hiểu văn bản
1 Đọc diễn cảm văn bản
Mỗi văn bản văn học cần có một giọng điệu đọc riêng Tác phẩm trữ tìnhđọc khác với tác phẩm tự sự, đọc một đoạn đối thoại khác với đoạn độc thoại nội tâm,đọc văn tả khác với văn kể, văn tường thuật, đọc văn chính luận khác với tùy bút Giáo viên dạy Ngữ văn phải nắm bắt đúng giọng điệu đó Bên cạnh đọc đúngquy tắc ngữ pháp, đúng với đặc trưng thể loại, điều quan trọng là giáo viên phải thểhiện được cảm xúc của tâm hồn, sự xúc động chân thành của bản thân Có như vậyviệc đọc diễn cảm văn bản mới có hiệu quả thực sự, tạo ra những bất ngờ hứng thú,giúp các em có những cảm nhận mới mẻ, kích thích khả năng liên tưởng tưởng tượng
để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học
Trong những năm học vừa qua, khi dạy tiết đọc văn, tôi luôn chú trọng việc đọcdiễn cảm văn bản Nhất là với những tiết học đầu năm, giáo viên cần đọc mẫu vàhướng dẫn HS đọc đúng, diễn cảm văn bản Việc đọc mẫu trước của GV rất quan
Trang 10trọng, không chỉ đơn thuần là hướng dẫn học sinh cách đọc đúng, đọc hay mà cònphải bước đầu gieo vào tâm hồn học sinh những cảm xúc, rung động trước cái đẹp,cái hay của tác phẩm, trước mảnh đời của nhân vật Qua đó, học sinh hiểu bài họchơn và khuyến khích lòng say mê ngôn ngữ, hình ảnh và câu chuyện đối với các em.Cách đọc phù hợp nhằm tái hiện hình tượng, khắc họa nhân vật, nắm bắt tình tiết,hình dung bức tranh được vẽ bằng nghệ thuật ngôn từ khiến văn bản trở thànhmột thế giới sinh động, có hồn nhất trong cảm nhận bước đầu của học sinh.
Tôi còn nhớ rõ khi tôi vừa đọc xong bài “Tự tình” - CTNV 11, đã chứng kiếnnhững niềm xúc động thật sự của các HS, chưa cần tìm hiểu văn bản mà HS đọc hiểu
và cảm thông được rất nhiều với tâm trạng của nữ sĩ vừa đau buồn, vừa phẫn uấttrước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch
Hoặc khi hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản “Tiễn dặn người yêu” Ngữ văn 10tập 1, đã có rất nhiều học sinh phải lặng mình trước nỗi đau thân phận của cô gái vàchàng trai khi phải đối diện với bất hạnh trong tình yêu Khi đọc văn bản “Tiễn dặnngười yêu” xong có một vài bạn rơm rớm nước mắt vì xúc động trước sự bất hạnhcủa cô gái và tình yêu cao thượng, chân thành, sâu đậm của chàng trai Giáo viên chỉcần đọc đúng giọng điệu của câu thơ thôi cũng đủ ngân lên trong lòng học sinh nhữngcảm xúc, rung động khó tả :
Đôi ta yêu nhau, đợi tới tháng Năm lau nở
Đợi mùa nước đỏ cá về
Đợi chim tăng ló hót gọi hè
Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông
Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già…
Không chỉ với thơ, mà trong những tiết học văn xuôi, việc đọc diễn cảm văn bảncũng rất quan trọng Với Hai đứa trẻ; đọc giọng chậm rãi, thư thả, với “Hạnh phúccủa một tang gia” phải đọc đúng với giọng hài hước châm biếm, đả kích, hay khi đọcđoạn mở đầu truyện ngắn “Chí Phèo” phải làm sao diễn tả được đúng tâm trạng nhânvật lúc đó vừa uất ức, vừa khát khao muốn hòa nhập với đồng loại
2 Sử dụng lời bình hay hợp lí
Trang 11Một lời bình hay, đúng lúc có khả năng đánh thức liên tưởng cho học sinh,
là con đường dẫn dắt học sinh thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật của vănbản, khơi gợi ở các em niềm yêu thích thơ văn
Dẫn dắt HS tìm hiểu câu thơ: “Chiếc vành với bức tờ mây / Duyên này thì giữ, vậtnày của chung” trong đoạn trích “Trao duyên” - CTNV lớp 10, sau khi đặt câu hỏicho HS khai thác, cảm thụ, GV có thể sử dụng một lời bình ngắn: Câu thơ diễn tảviệc Thúy Kiều đã trao chiếc vành với bức tờ mây - những kỉ vật tình yêu của mìnhvới Kim Trọng cho Thúy Vân, nhưng nhịp thơ ngắt đôi như tiếng nấc nghẹn ngào,bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng "của chung" đơn sơ ấy Đau đớn vì duyên thìtrao mà tình không trao nổi, như muốn giữ những kỉ vật tình yêu ấy làm của chungcho cả chị nữa, với chị đó là cả một tình yêu đầu tiên, chân thành, say đắm nhất Hai
từ “của chung” sao mà xót xa, cay đắng, ngậm ngùi, của chung ấy lẽ ra chỉ của riêngnàng với Kim Trọng Hai từ “ của chung” đã diễn tả tinh tế sự mâu thuẫn giằng xé, sựđấu tranh giữa lí trí và tình cảm, một bên muốn trao hết cho Vân nhưng sâu thẳm đáylòng lại muốn giữ lại chút gì cho riêng mình Sức nặng của câu thơ như dồn hết vào
cả hai từ này
Lời bình là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc, sự rung động của tâm hồntrước vẻ đẹp của tác phẩm văn chương, nó cần thiết trong một giờ đọc văn Tuynhiên, người giáo viên không được lạm dụng, bởi lẽ, nhiệm vụ chính của GV là phải
tổ chức để HS tự cảm thụ và lĩnh hội giá trị của tác phẩm văn học Giáo viên chỉ nênđưa ra lời bình khi học sinh cảm thụ chưa tới, chưa xác đáng, đầy đủ Khi bình giảngnên chú ý thay đổi ngữ điệu linh hoạt để gây chú ý, cách giải thích thuyết phục cótính hài hước, thuyết giảng kết hợp với phương tiện dạy học, với trao đổi ngắn vớihọc sinh tạo nên sự cộng hưởng trong tiếp nhận cảm thụ Có những lời bình của giáoviên sẽ khắc sâu mãi trong tâm trí của mỗi học sinh Vì thế, giáo viên cũng nên kếthợp nắm bắt phản hồi của học sinh từ ánh mắt, nét mặt, không khí lớp học để có điềuchỉnh kịp thời Có như vậy việc bình giảng của GV mới có tác dụng hỗ trợ, khắc sâu
ấn tượng thẩm mĩ cho học sinh
Khi hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, giáo viên đãđưa ra những lời bình độc đáo, đúng thời điểm, làm cho học sinh như được chìm vào
Trang 12dòng cảm xúc của tác giả Xuân Diệu với một tình yêu đời, yêu nguời tha thiết đếncuồng si “ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Có lẽ trước Xuân Diệu chưa có
ai dám có cách so sánh táo bạo như ông Một sự so sánh cực kì táo bạo, mạnh dạnđến bất ngờ, táo bạo đến thú vị Từ “ ngon “ không chỉ gợi được vẻ đẹp, sự quyến rũbên ngoài mà còn gợi được sức sống từ bên trong Với Xuân Diệu thì mùa xuân, tìnhyêu, tuổi trẻ là phần ngon nhất, đẹp nhất, quyến rũ nhất của cuộc đời
3 Lồng ghép trò chơi trong giờ học Ngữ văn:
Nếu làm một việc gì đó liên tục sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, nhàm chán, huống chi
HS phải ngồi suốt 45 phút, tay ghi chép bài, tai lắng nghe lời giảng, đầu óc tập trung suy nghĩ nếu không có phút nghỉ ngơi sẽ cảm thấy rất mệt, dẫn tới mất tập trung, chỉ mong hết giờ Như vậy thì làm sao có hứng thú được Do vậy GV cần điều khiển lớp học thật khoa học, sinh động, tạo ra bầu không khí thi đua tích cực giữa các em Và việc lồng ghép trò chơi vào giờ học Đọc văn cũng là một cách đáng chú ý Có nhiều trò chơi có thể lồng ghép vào giờ học Đọc văn nhằm tạo không khí lớp học sôi nổi, tạo hứng thú học tập cho các em Tôi sẽ trình bày một số trò chơi dễ áp dụng mà hiệu quả lại cao:
- Lồng ghép trò chơi điền bảng, thảo luận nhóm
Việc lồng ghép trò chơi điền bảng, thảo luận nhóm khi dạy các bài Khái quát, Ôn tập khá phù hợp và đạt hiệu quả cao Thay vì cho HS lập bảng thống kê bình thường, trong giờ Ôn tập, GV chia lớp thành các nhóm khác nhau, cử đại diện bốc thăm, từng thành viên thay nhau giải quyết công việc Như thế các HS sẽ rất hào hứng, và không khí lớp học cũng sôi nổi lên rất nhiều
Minh họa: bài Ôn tập văn học - CTNV lớp 11, GV chuẩn bị:
+ Chia lớp thành 4 nhóm
+ 4 phiếu bốc thăm - mỗi phiếu có 3 đơn vị kiến thức
+ Bảng thảo luận nhóm, 4 bút lông viết bảng xanh, đỏ, tím, đen ứng với 4 nhóm 1, 2,
3, 4
Trang 13Tác phẩm, tác giả Năm
sáng tác
Thể loại Nghệ thuật Nội dung chính
1 Xuất dương lưu biệt - Phan
6 Tương tư - Nguyễn Bính
7 Chiều xuân - Anh Thơ
8 Chiều tối - Hồ Chí Minh
Trò chơi này giúp HS thống kê được kiến thức đã học mà không gây nhàm chán, lạihuy động được sự tham gia của cả lớp, tạo sự gắn bó giữa các thành viên
-ô hàng ngang, nếu nhóm nào kh-ông trả lời được theo thời gian qui định thì phải
Trang 14nhường lượt cho nhóm khác tiếp tục trò chơi, nhóm nào tìm được kiến thức ở ô hàngngang thì được cộng điểm, tìm được ô hàng dọc khi chưa giải hết ô hàng ngang sẽ làđội thắng cuộc.
- Hàng ngang 4: Bộ sử kí tiêu biểu mà Lê Văn Hưu để lại là gì? (11 chữ cái)
- Hàng ngang 5: Bộ sử kí tiêu biểu mà Phan Phu Tiên để lại là gì? (11 chữ cái)
- Hàng ngang 6: Sử gia Ngô Sĩ Liên sống ở triều đại nào? (2 chữ cái)
- Hàng ngang 7: Năm 1442 Ngô Sĩ Liên đã thi đậu gì? (6 chữ cái)
- Hàng ngang 9: Ngô Sĩ Liên đã vâng lệnh nhà vua nào để biên soạn Đại Việt sử kítoàn thư? (11 chữ cái)
Sau khi HS đã hoàn thành ô chữ, GV củng cố kiến thức về tác giả Ngô Sĩ Liên và bộ
“Đại Việt sử kí toàn thư” Như vậy, HS cũng nhớ bài hơn, mà tiết học thật sự sôiđộng
- Lồng ghép trò chơi đọc - bình thơ, văn
Trang 15Với các bài thơ gồm nhiều khổ, GV chia lớp thành nhiều nhóm tương ứng với cáckhổ hay Đại diện nhóm đọc diễn cảm, rồi bình đoạn đó, các nhóm khác nhận xét,chấm điểm, GV kết luận ý đúng Qua việc vận dụng trò chơi này với bài Đây thôn Vĩ
Dạ (Hàn Mặc Tử) - CTNV lớp 11, tôi thấy HS rất hứng thú với giờ học, nhiều em cónhững lời bình hay, súc tích Không những thế, các giờ học đó còn có thể giúp chúng
ta phát hiện ra những em năng khiếu, đồng thời rèn kĩ năng giao tiếp cho HS rấtthuận lợi
Qua thực tế, chúng ta thấy rằng việc lồng ghép các trò chơi vào giờ học Đọc vănmang lại hiệu quả tốt Nhưng cũng cần lưu ý rằng khi lồng ghép trò chơi phải có sựlinh hoạt, hợp lí, đúng mức, không xáo trộn quá nhiều không gian lớp học, kết thúctrò chơi nên khen thưởng đội thắng cuộc, và phạt nhẹ nhàng dí dỏm đối với đội thuacuộc
4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Đọc hiểu
Một trong những biện pháp góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học làứng dụng CNTT Bên cạnh những điều bất cập khi ứng dụng CNTT trong giờ họcNgữ văn như: giáo viên không phân định rạch ròi giữa nội dung giảng và nội dung
HS cần ghi chép
Chính điều này đã gây nên sự lúng túng cho HS, HS cứ mải miết ghi mà khôngtập trung để cảm thụ tác phẩm; GV quá lạm dụng CNTT trình chiếu mà không khaithác hết, biến giờ dạy thành giờ triển lãm ảnh, không phát huy được óc quansát, tưởng tượng, sự cảm thụ ngôn từ của HS; lại có trường hợp GV lựa chọn hìnhảnh, âm thanh minh họa không phù hợp, dẫn đến HS chỉ ấn tượng những gì đượcxem, nghe mà quên mất điều quan trọng hơn là phải tập trung cảm thụ khai thác tácphẩm văn học qua hệ thống ngôn từ; thì nhờ việc ứng dụng CNTT, những giờ Ngữvăn sinh động hẳn, HS hoạt động tích cực hơn, đem lại những hiệu quả đáng ghinhận
Minh họa: Ở chương trình ngữ văn lớp 10, khi dạy bài “Hưng Đạo ĐạiVương Trần Quốc Tuấn” (Ngô Sĩ Liên) nhờ ứng dụng CNTT, GV có thể dẫn dắtgiới thiệu bài mới bằng cách trình chiếu hình ảnh đội quân Mông Cổ hùng mạnh "vóngựa Mông Cổ đi tới đâu, cỏ không mọc được đến đó", sự mở rộng lãnh thổ không