Tên SKKN: PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VỀ AMIN, AMINO AXIT VÀ PEPTIT. I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1 Trong bộ môn Hóa học, ngoài việc trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về cấu tạo, tính chất của các nguyên tử, các đơn chất, hợp chất thì bài tập giúp cho học sinh củng cố kiến thức hóa học vững vàng và bài tập hóa học được xếp trong hệ thống phương pháp giảng dạy, phương pháp này được coi là một trong các phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. Thông qua việc giải bài tập sẽ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng vận dụng các vấn đề lí thuyết vào thực tiễn, giúp học sinh nhớ kiến thức lâu hơn đồng thời rèn luyện tính tích cực, trí thông minh, sáng tạo, bồi dưỡng hứng thú trong học tập của học sinh. 2 Việc phân loại các dạng bài tập và lựa chọn phương pháp thích hợp để giải bài tập lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Mỗi bài tập có thể có nhiều phương pháp giải khác nhau, nếu biết lựa chọn phương pháp hợp lý, sẽ giúp học sinh dễ hiểu bài, từ đó các em sẽ yêu thích môn học. 3 Trong thực tế, sách giáo khoa cũng như sách tham khảo đưa ra các bài tập nhưng không đi sâu cách phân loại và phương pháp giải cho mỗi dạng bài tập, không định hướng được ứng dụng các định luật bảo toàn vào giải toán hóa học, trong khi để giải các đề thi thì học sinh phải nắm vững các dạng bài tập và phương pháp giải các dạng bài tập đó. 4 Việc phân loại các dạng bài tập và lựa chọn phương pháp thích hợp là việc làm rất cần thiết. Nếu chúng ta phân loại được các dạng bài tập và có những phương pháp giải đơn giản, dễ hiểu thì rất có lợi cho học sinh trong thời gian ngắn để nắm được các dạng bài tập cũng như phương pháp giải. 5 Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng, khả năng giải toán Hóa học của các em học sinh còn hạn chế, đặc biệt là giải toán Hóa học hữu cơ vì những phản ứng trong hoá học hữu cơ thường xảy ra không theo một hướng nhất định và không hoàn toàn. Trong đó dạng bài tập về amin, amino axit và peptit, khi giải các bài tập dạng này học sinh thường gặp những khó khăn dẫn đến thường giải rất dài dòng, nặng nề về mặt toán học không cần thiết, thậm chí không giải được vì quá nhiều ẩn số. Nguyên nhân là học sinh mới làm quen với hóa hữu cơ nên chưa tìm hiểu rõ, chưa đưa ra phương pháp giải hợp lý. 6 Xuất phát từ thực trạng trên, cùng một số kinh nghiệm sau những năm công tác, tôi mạnh dạn nêu ra sáng kiến về “phương pháp giải bài tập về amin, amino axit và peptit”.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÂN LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP AMIN, AMINO AXIT VÀ
Trang 2Năm học: 2014-2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên : Hồ Xuân Hiếu
2 Ngày tháng năm sinh: 02 tháng 05 năm 1982.
3 Nam, nữ: Nam
4 Địa chỉ: H30, khu phố 2, Long Bình Tân, Biên Hòa, Đồng Nai.
5 Điện thoại: CQ: 0613.834289; ĐTDĐ:0933778479
6 Fax: E-mail: xuanhieu@nhc.edu.vn
7 Chức vụ: Giáo viên tổ Hóa Học.
8 Nhiệm vụ được giao: Chủ nhiệm lớp 12A 1 ; Giảng dạy lớp 10A 1 , 10A 2 , 10A 10 , 12A 1 , 12A 8, 12A 10
9 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh- Biên Hoà- Tỉnh Đồng
Nai.
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị: Đại học.
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Hóa Học
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Hóa học
Số năm có kinh nghiệm: 9 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Năm 2011: chuyên đề “Phân loại và một số phương pháp giải bài tập hóa”.
Năm 2012: chuyên đề “Phân loại và phương pháp giải bài tập ancol”.
Năm 2013: chuyên đề “Phân loại và phương pháp giải bài tập ankan, anken,
ankin”.
Tên SKKN: PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VỀ AMIN, AMINO
AXIT VÀ PEPTIT.
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1- Trong bộ môn Hóa học, ngoài việc trang bị cho học sinh những kiến thức
cơ bản về cấu tạo, tính chất của các nguyên tử, các đơn chất, hợp chất thì bài tập giúp cho học sinh củng cố kiến thức hóa học vững vàng và bài tập hóa
học được xếp trong hệ thống phương pháp giảng dạy, phương pháp này đượccoi là một trong các phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng
giảng dạy bộ môn Thông qua việc giải bài tập sẽ giúp học sinh rèn luyện kĩ
Trang 3năng vận dụng các vấn đề lí thuyết vào thực tiễn, giúp học sinh nhớ kiến thứclâu hơn đồng thời rèn luyện tính tích cực, trí thông minh, sáng tạo, bồi dưỡnghứng thú trong học tập của học sinh
2- Việc phân loại các dạng bài tập và lựa chọn phương pháp thích hợp đểgiải bài tập lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn Mỗi bài tập có thể có nhiềuphương pháp giải khác nhau, nếu biết lựa chọn phương pháp hợp lý, sẽ giúphọc sinh dễ hiểu bài, từ đó các em sẽ yêu thích môn học
3- Trong thực tế, sách giáo khoa cũng như sách tham khảo đưa ra các bài tậpnhưng không đi sâu cách phân loại và phương pháp giải cho mỗi dạng bàitập, không định hướng được ứng dụng các định luật bảo toàn vào giải toánhóa học, trong khi để giải các đề thi thì học sinh phải nắm vững các dạng bàitập và phương pháp giải các dạng bài tập đó
4- Việc phân loại các dạng bài tập và lựa chọn phương pháp thích hợp làviệc làm rất cần thiết Nếu chúng ta phân loại được các dạng bài tập và cónhững phương pháp giải đơn giản, dễ hiểu thì rất có lợi cho học sinh trongthời gian ngắn để nắm được các dạng bài tập cũng như phương pháp giải
5- Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng, khả năng giải toán Hóa họccủa các em học sinh còn hạn chế, đặc biệt là giải toán Hóa học hữu cơ vìnhững phản ứng trong hoá học hữu cơ thường xảy ra không theo một hướngnhất định và không hoàn toàn Trong đó dạng bài tập về amin, amino axit vàpeptit, khi giải các bài tập dạng này học sinh thường gặp những khó khăn dẫnđến thường giải rất dài dòng, nặng nề về mặt toán học không cần thiết, thậmchí không giải được vì quá nhiều ẩn số Nguyên nhân là học sinh mới làmquen với hóa hữu cơ nên chưa tìm hiểu rõ, chưa đưa ra phương pháp giải hợp
lý
6- Xuất phát từ thực trạng trên, cùng một số kinh nghiệm sau những nămcông tác, tôi mạnh dạn nêu ra sáng kiến về “phương pháp giải bài tập vềamin, amino axit và peptit”
Trang 4II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
- Trong Hóa học, bài tập rất đa dạng và phong phú; để giải bài tập hóa học
về amin, amino axit, peptit thì chúng ta phải nắm vững được tính chất amin,amino axit, peptit, biết được phương trình phản ứng, sự chuyển hóa của cácchất, các dạng bài tập và phương pháp giải các dạng bài tập Theo phân phốichương trình hóa học phổ thông không đề cập sâu đến các định luật bảo toàn,các dạng bài tập Học sinh thường rất lúng túng khi nhận dạng các dạng bàitập và cách giải các bài toán
- Hiện tại, cũng có rất nhiều sách tham khảo trình bày về các cách giải bài tập
về amin, amin axit và peptit Tuy nhiên tài liệu tham khảo chưa đi sâu vềphân loại, sắp xếp các dạng bài tập từ dễ tới khó vì vậy học sinh rất khó hiểukhi nghiên cứu
- Để giúp cho học sinh dễ nắm bắt các dạng bài tập, tôi đã đưa ra là giải
pháp thay thế hoàn toàn mới đó là phân loại và trình bày phương pháp giảicác dạng bài tập từ cơ bản đến nâng cao
- Sáng kiến kinh nghiệm trình bày một số dạng bài tập và phương pháp
giải Sáng kiến kinh nghiệm này cũng trình về các định luật, phân loại và chỉ
rõ việc áp dụng các định luật vào giải toán hóa học
- Sáng kiến kinh nghiệm áp dụng cho chương trình Hóa học lớp 12 và áp
dụng tốt cho cả luyện thi tốt nghiệp và luyện thi đại học, cao đẳng
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1 Phạm vi áp dụng.
- Sáng kiến trình bày một số dạng bài tập, phương pháp giải và vận dụngcác định luật để giải các bài tập về amin, amino axit, peptit
- Sáng kiến áp dụng cho chương trình Hóa học lớp 12
- Sáng kiến áp dụng cho cũng áp dụng tốt cho cả luyện thi tốt nghiệp vàluyện thi đại học, cao đẳng
2 Công việc cụ thể và thời gian thực hiện giải pháp.
- Tháng 7 đến tháng 8 năm 2014, viết sáng kiến.
Trang 5- Tháng 9 năm 2014, nhờ giáo viên trong tổ góp ý và hoàn chỉnh sáng kiến.
- Tháng 10 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014 áp dụng sáng kiến cho họcsinh khối 11
- Tháng 02 năm 2014 thu kết quả và đánh giá
3 Nội dung
DẠNG 1: AMIN TÁC DỤNG VỚI AXIT.
1 Một số điểm chú ý khi làm dạng bài tập này:
- Đối với amin đơn chức : n amin = n HCl
- Ta thường sử dụng định luật bảo toàn khối lượng:
Câu 2: Cho anilin tác dụng vừa đủ với dd HCl thu được 38,85 gam muối.
Khối lượng anilin đã phản ứng là
A 18,6g B 9,3g C 37,2g D 27,9g.
Phương pháp giải
nanilin = nmuối = 129,538,85 = 0,3 mol
nanilin = 0,3.93 = 27,9 gam
Câu 3: Để trung hòa 20 gam dung dịch của một amin đơn chức X nồng độ
22,5% cần dùng 100ml dung dịch HCl 1M Công thức phân tử của X là
A C2H7N B CH5N C C3H5N D C3H7N
Phương pháp giải
Trang 6100
20 5 , 22
2
namin = nHCl = 0,1.1 = 0,1 mol
mol g
1 ,
0
5 ,
4
Vậy CTPT của X là C2H7N
Câu 4: Cho 11,25 gam C2H5NH2 tác dụng vừa đủ với 200 ml dung dịch HCl
a (mol/lít) Sau khi phản ứng xong thu được dung dịch có chứa 22,2 gam chấttan Giá trị của a là
Câu 5: Cho 10 gam amin đơn chức X phản ứng hoàn toàn với HCl (dư), thu
được 15 gam muối Số đồng phân cấu tạo của X là
Phương pháp giải
namin = nHCl = 1536,510 1073( mol)
MX = 73 => Công thức của amin là C4H11N, có 8 đồng phân
Câu 6: Cho 0,76 gam hỗn hợp X gồm hai amin đơn chức, có số mol bằng
nhau, phản ứng hoàn toàn với dung dịch HCl dư, thu được 1,49 gam muối.Khối lượng của amin có phân tử khối nhỏ hơn trong 0,76 gam X là
73 , 0
02 , 0
76 , 0
Trang 71 Một số điểm chú ý khi làm dạng bài tập này:
- Khi đề cho một hợp chất có CTPT dạng C x H y O 2 N tác dụng với dung dịch kiềm tạo sản phẩm có chất khí làm quỳ tím ẩm hóa xanh thì CTCT của hợp chất có dạng:
+ RCOONH 4 : Muối của NH 3 với axit cacboxylic đơn chức
VD: CH3COONH4 + NaOH CH3COONa + NH3↑ + H2O
+ RCOOH 3 N-R ’ : Muối của amin bậc I với axit cacboxylic đơn chức.
VD: RCOOH3NCH3 + NaOH CH3COONa + CH3NH2↑ + H2O
+ Ngoài ra còn muối của amin bậc II, amin bậc III với axit cacboxylic đơn chức.
- Khi giải bài tập ta thường sử dụng định luật bảo toàn khối lượng và xem sản phẩm khí làm quỳ tím ẩm hóa xanh là amin bậc 1.
- Khi đề cho một hợp chất có CTPT dạng C x H y O 3 N 2 tác dụng với dung dịch kiềm tạo sản phẩm có chất khí làm quỳ tím ẩm hóa xanh thì CTCT của hợp chất có dạng RNH 3 NO 3 (muối của amin với HNO 3 )
2 Bài tập áp dụng.
Câu 1: Hợp chất hữu cơ X có công thức phân tử C3H9O2N Cho X tácdụng với dung dịch NaOH, đun nhẹ thu được muối Y và khí Z làm quỳ
- Vì Z làm quì tím ẩm hóa xanh nên Z là NH3 hoặc amin (2)
Từ (1) và (2) => Công thức cấu tạo của X là CH3COOH3NCH3
CH3COOH3NCH3 + NaOH CH3COONa + CH3NH2 + H2O
Câu 2: Hợp chất X mạch hở có công thức phân tử là C4H9NO2 Cho 10,3 gam
X phản ứng vừa đủ với dung dịch NaOH sinh ra một chất khí Y và dung dịch
Z Khí Y nặng hơn không khí, làm giấy quỳ tím ẩm chuyển màu xanh Dungdịch Z có khả năng làm mất màu nước brom Cô cạn dung dịch Z thu được mgam muối khan Giá trị của m là
Phương pháp giải
Theo đề X có thể là:
CH2 = CH-CH2-COONH4 tácdụng với dung dịch NaOH tạo khí NH3
CH2 = CH – COO H3NCH3 tácdụng với dung dịch NaOH tạo khí CH3NH2
Trang 8
mmuối = 0,1 94 = 9,4 gam
Câu 3: Cho hỗn hợp X gồm hai chất hữu cơ có cùng công thức phân tử
C2H7O2N tác dụng vừa đủ với dung dịch NaOH và đun nóng, thu đượcdung dịch Y và 4,48 lít hỗn hợp Z (ở đktc) gồm hai khí (đều làm xanh giấy
được khối lượng muối khan là
Câu 4: Hợp chất hữu cơ X mạch hở có công thức phân tử C4H11O2N X tác
và làm xanh quỳ tím ẩm Số công thức cấu tạo thỏa mãn điều kiện trên của Xlà
Vậy X có 3 đồng phân thỏa mãn điều kiện bài toán
Câu 5: Hợp chất hữu cơ X có công thức phân tử C3H10O4N2 Cho X tác dụngvới NaOH vừa đủ, đun nóng thu được hỗn hợp Y gồm 2 khí đều làm xanhquỳ tím ẩm, có tổng thể tích là 2,24 lít ( đktc) và một dung dịch chứa m gammuối của 1 axit hữu cơ Giá trị của m là :
Phương pháp giải
Trang 94 , 22
2 3
3
mmuối = 0,05.134 = 6,7 gam
Câu 5: Cho chất hữu cơ X có công thức phân tử C2H8O3N2 tác dụng vớidung dịch NaOH, thu được chất hữu cơ đơn chức Y và các chất vô cơ Khốilượng phân tử (theo đvC) của Y là
Phương pháp giải
Theo đề công thức cấu tạo của X là: C2H5NH3NO3
C2H5NH3NO3 + NaOH C2H5NH2 + NaNO3 + H2O
Y là C2H5NH2 có khối lượng phân tử bằng 45
DẠNG 3: AMINO AXIT TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT VÀ DUNG DỊCH KIỀM
1 Một số điểm chú ý khi làm dạng bài tập này:
- Công thức tính số nhóm - NH 2 : Số nhóm – NH2 =
axit amino
HCl
n n
- Công thức tính số nhóm – COOH: Số nhóm – COOH =
axit amino
NaOH
n n
- Khi amino axit tác dụng với dung dịch HCl, ta thường áp dụng định luật bảo toàn khối lượng: mamino axit + mHCl = mmuối hoặc dùng công thức
Mamino axit = Mmuối – 36,5.số nhóm NH2
- Khi amino axit có 1 nhóm –COOH tác dụng với dung dịch NaOH, ta dùng công thức:
22
m m
axit amino
n muôi amino axit aminoaxit
Trang 10mmuối = 7,5 + 0,1.36,5= 11,15 gam
Câu 2: Cho m gam alanin phản ứng hết với dung dịch NaOH Sau phản ứng,
khối lượng muối thu được 11,1 gam Giá trị m đã dùng là
A 9,9 gam B 9,8 gam C 8,9 gam D 7,5 gam.
Phương pháp giải
nalanin = nmuối = 11111,1 = 0,1 mol
malanin = 0,1.89 = 8,9 gam
Câu 3: Cứ 0,01 mol amino axit (A) phản ứng vừa đủ với 40 ml dung dịch
NaOH 0,25M Mặt khác 1,5 gam aminoaxit (A) phản ứng vừa đủ với 80 mldung dịch NaOH 0,25M Khối lượng phân tử của A là
nNaOH (2) = 0,25.0,08 = 0,02 mol => nA = 0,02 (mol)
MA = 01,,025 = 75 gam/mol
Câu 4: 0,01 mol aminoaxit (A) tác dụng vừa đủ với 50 ml dung dịch HCl
0,2M Cô cạn dung dịch sau phản ứng được 1,835 gam muối khan Khốilượng phân tử của A là
835 , 1
Câu 5: Trong phân tử aminoaxit X có một nhóm amino và một nhóm
cacboxyl Cho 15,0 gam X tác dụng vừa đủ với dung dịch NaOH, cô cạndung dịch sau phản ứng thu được 19,4 gam muối khan Công thức của X là
A H2NC3H6COOH B H2NCH2COOH
C H2NC2H4COOH D H2NC4H8COOH
Phương pháp giải
Trang 11Ta có: nX = 19,422 15= 0,2 mol
MX = 015,2 = 75 gam/mol => X là H2NCH2COOH
Câu 6: 1 mol - amino axit X tác dụng vừa hết với 1 mol HCl tạo ra muối
Y có hàm lượng clo là 28,287% Công thức cấu tạo của X là
Câu 7: Cho 0,02 mol amino axit (X) tác dụng vừa đủ với 200 ml dung dịch
HCl 0,1M thu được 3,67 gam muối khan Mặc khác, cho 0,02 mol X tácdụng vừa đủ với 40g dung dịch NaOH 4% Công thức của X là
67 , 3
=> X là H2NC3H5(COOH)2
Câu 8 Chất X là một aminoaxit mà phân tử không chứa nhóm chức nào
khác ngoài các nhóm amino và cacboxyl Cho 200 ml dung dịch 0,1M củachất X phản ứng vừa hết với 160 ml dung dịch NaOH 0,125M Cô cạndung dịch sau phản ứng thu được 2,52 gam muối khan Mặt khác X tác dụngvới HCl theo tỉ lệ 1:2 CTPT của X là:
52 , 2
104 g/mol
Trang 12=> 16.2 + R + 45 = 104 => R = 27 => R là C2H3
Vậy X là (H2N)2C2H3COOH => CTPT của X là C3H8N2O2
DẠNG 4: AMINO AXIT TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH KIỀM SAU
ĐÓ TÁC DỤNG VỚI DUNG DỊCH AXIT VÀ NGƯỢC LẠI.
1 Một số điểm chú ý khi làm dạng bài tập này:
- Khi amino axit tác dụng với tác dụng với dung dịch axit HCl trước, rồi cho dung dịch thu được tác dụng với dung dịch NaOH (hoặc KOH) thì
ta xem như amino axit và axit HCl cùng tác dụng với dung dịch NaOH.
- Khi amino axit tác dụng với tác dụng với dụng dịch dung dịch NaOH (hoặc KOH) trước, rồi cho dung dịch thu được tác dụng với dung dịch HCl thì ta xem như amino axit và NaOH cùng tác dụng với dung dịch HCl.
- Ta thường dùng định luật bảo toàn khối lượng :
mamino axit + mHCl + mNaOH = mmuối + m H O
2
2 Bài tập áp dụng.
Câu 1: Cho 0,1 mol axit α - aminopropionic tác dụng vừa đủ với dung dịch
HCl, thu được dung dịch X Cho X tác dụng với 200 ml dung dịch NaOH 1M, thu được dung dịch chứa m gam muối Giá trị của m là
Lưu ý: Ngoài ra, ta có thể áp dụng định luật bảo toàn khối lượng.
mamino axit + mHCl + mNaOH = mmuối + m H O
2
<=> 0,1.89 + 0,1.36,5 +0,2.40 = mmuối + 0,2.18
=> mmuối = 16,95 gam
Câu 2: Cho 13,45 gam hỗn hợp X gồm glyxin và alanin tác dụng với 300 ml
dung dịch HCl 1M thu được dung dịch Y Y tác dụng vừa đủ với 470 mldung dịch NaOH 1M Phần trăm khối lượng của mỗi chất trong X là:
Trang 1375 12 , 0
Câu 3: X là một amino axit Để tác dụng vừa đủ với 50 ml dung dịch X 1M
cần 500 ml dung dịch HCl 0,1M, sau phản ứng thu được dung dịch Y Dungdịch Y tác dụng vừa đủ với 100 ml dung dịch NaOH 1M Mặt khác, nếutrung hòa 100 ml dung dịch X 1M bằng dung dịch KOH (vừa đủ) thì thuđược 11,3 gam muối Công thức của amino axit A là:
n
n n
= 1
nmuối = nX(2) = 0,1.1 = 0,1 mol
Mx = Mmuối – 38 = 110,,13 – 38 = 75 gam/mol => X là H2NCH2COOH
DẠNG 5: THỦY PHÂN PEPTIT ĐƯỢC TẠO THÀNH TỪ α – AMINO AXIT CÓ MỘT NHÓM –NH 2 VÀ 1 NHÓM - COOH
1 Một số điểm chú ý khi làm dạng bài tập này:
- Số mol nước sinh sau phản ứng thủy phân luôn bằng số mol peptit.
- Số mol nước tham gia phản ứng thủy phân luôn bằng số liên kết peptit.
- n NaOH = n peptit (số liên kết peptit + 1)
- n HCl = n peptit (số liên kết peptit + 1)
- Ta thường dùng định luật bảo toàn khối lượng khi giải bài tập.
2 Bài tập áp dụng.
Câu 1: X là đipeptit Ala-Gly, Y là tripeptit Val-Gly-Val Đun nóng m gam
hỗn hợp X và Y có tỉ lệ số mol nX : nY = 1 : 2 với 200 ml dd NaOH 2M (vừa
Trang 14đủ), sau khi phản ứng kết thúc thu được dung dịch Z Giá trị của m là
Câu 2: Đun nóng m gam hỗn hợp gồm a mol tetrapeptit mạch hở X và 2a
mol tripeptit mạch hở Y với 600 ml dung dịch NaOH 1M (vừa đủ) Sau khicác phản ứng kết thúc, cô cạn dung dịch thu được 72,48 gam muối khan của
Câu 3: Thủy phân hết m gam tetrapeptit Ala-Ala-Ala-Ala (mạch hở) thu
được hỗn hợp gồm 28,48 gam Ala, 32 gam Ala-Ala và 27,72 gam Ala Giá trị của m là
0,32 mol
nAla-Ala =
18 2 89
32
0,2 mol
nAla-Ala-Ala =
18 2 3
89
72 , 27
0,12 mol
Ta có: 4.nAla-Ala-Ala-Ala = 0,32.1 + 0,2.2 + 0,12.3 => nAla-Ala-Ala-Ala = 0,27 mol
m = 0,27.302 = 81,54 gam
Câu 4: Thủy phân hoàn toàn 60 gam hỗn hợp hai đipetit thu được 63,6 gam
hỗn hợp X gồm các amino axit (các amino axit chỉ có một nhóm amino và