1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH

50 516 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ BT Bài Tập ĐNA Đông Nam Á ĐTD Đại Tây Dương GV Giáo Viên HS Học sinh PP Phương pháp RLKNS Rèn luyện kĩ năng sống SGK Sách giáo khoa TBD Thái Bình Dương THPT Trung Học Phổ Thông MỤC LỤC I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……………………………..…………………..…..…5 II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN …………………..……………….…….6 1. Cơ sở lý luận …………………………………………….…..…….………6 2. Thực trạng về sự hứng thú động cơ học tập môn Địa lý của học sinh hiện nay tại trường THPT Long Khánh……………………………….…………….…7 3. Một số giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại trường THPT Long Khánh…………………………………..……………………9 III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TẠO HỨNG THÚ CHO HS TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH 1. Tạo động cơ học tập cho HS, giúp HS có niềm đam mê với môn học.........11 2. Tạo hứng thú cho HS trong từng khâu lên lớp…………………….……..13 2.1. Mở bài ………………………………………………………...……….13 2.2. Trong nội dung của bài học …………………………………………...13 2.2.1. Chọn kiến thức cơ bản của bài học………………………………… 14 2.2.2. Có thể sắp xếp lại cấu trúc bài dạy trên lớp để làm nổi bật các kiến thức trong hệ thống bài học………………………………………….14 2.2.3. Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lý ……………...…..15 2.2.4. Liên hệ thực tế và rèn luyện kĩ năng sống cho HS…………….….....22 2.2.5. Nghệ thuật sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để tăng hứng thú học tập của HS ………………………….………………………………………...25 2.2.6. Tạo hứng thú cho HS bằng cách tiểu kết hợp lý, chuyển ý hấp dẫn..29 2.2.7. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học………………...….32 2.2.8. Trình bày trực quan kiến thức cơ bản của bài học bằng SĐ tư duy..33 2.2.9. Thiết kế trò chơi tạo hứng thú cho HS………………………...…….35 2.3. Tạo hứng thú cho HS thông qua việc thay đổi cách thức kiểm tra, đánh giá……………………………………………………………………….39 3. Tạo hứng thú cho HS thông qua các hoạt động tham quan ngoại khóa.….40 4. Tạo hứng thú cho HS thông qua hoạt động của CLB Địa lý.…….………...42 IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI ……………………………..…………………….44 V. KẾT LUẬN…………………….………………………………….…………..45 VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................46 VII. PHỤ LỤC ……………………………………………….…………………..47 NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HS TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người. Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao. Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấy hứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của các em. Bàn về thực trạng học tập môn Địa lý của học sinh Trung học phổ thông (THPT) nói chung, HS trường Long Khánh nói riêng, bên cạnh những học sinh vui thích, đam mê với việc học tập thì cũng có một bộ phận không nhỏ các em không thích học, chán học, nguyên nhân là do chưa có động cơ học tập đúng đắn, mất hứng thú học tập. Khi học tiết phương pháp giảng dạy đầu tiên ở giảng đường đại học, cô giáo đã cho chúng tôi so sánh một giáo viên với một diễn viên. Và cô kết luận: Giáo viên cũng chính là một diễn viên trên bục giảng. Bài học có cuốn hút học trò hay không là cả một nghệ thuật. Cũng “nguyên liệu” như nhau, nhưng mỗi “nghệ sĩ” với sự nhiệt huyết, sáng tạo hóm hỉnh của mình sẽ tạo ra những “tác phẩm nghệ thuật” khác nhau. Do đó, theo tôi để có một bài giảng hấp dẫn là cả một nghệ thuật mà không phải bài giảng nào mình cũng đã làm thành công, không phải giáo viên nào cũng làm tốt và tạo hứng thú học tập cho HS. Bản thân tôi chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, cũng không phải tự hào là dạy xuất sắc được tất cả HS yêu thích. Nhưng với suy nghĩ muốn nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý, tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, thử nghiệm trên một số lớp và thấy đạt được nhiều kết quả tốt. Do đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghệ thuật tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại trường THPT Long Khánh” nhằm: Tổng kết kinh nghiệm của bản thân, rút ra được những kết quả đã đạt được trong thời gian qua. Chia sẻ kinh nghiệm của mình với đồng nghiệp trong và ngoài trường để cùng nâng cao chất lượng giảng dạy môn Địa lý và khẳng định vị trí môn Địa lý trong lòng các em học sinh.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

LONG KHÁNH

Người thực hiện: HOÀNG THỊ THÚY NGA

Lĩnh vực nghiên cứu: Phương pháp dạy học môn: ĐỊA LÝ

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN

Năm học: 2014 – 2015

Trang 2

LÍ LỊCH KHOA HỌC

I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN

1 Họ và tên: HOÀNG THỊ THÚY NGA

2 Ngày tháng năm sinh: 23/01/1986

3 Nam, nữ: nữ

4 Địa chỉ: tổ 26, Bảo Vinh A, xã Bảo Vinh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

5 Điện thoại: 0933 491 517

6 Email: mr.thuynga@gmail.com

7 Đơn vị công tác: TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị cao nhất: Thạc sĩ Địa lý

- Năm nhận bằng: 2012

- Chuyên ngành đào tạo: Địa lý học

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Số năm có kinh nghiệm giảng dạy: 4 năm

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……… ……… … …5

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……… ……….…….6

1 Cơ sở lý luận ……….… ……

………6

2 Thực trạng về sự hứng thú & động cơ học tập môn Địa lý của học sinh hiện nay tại trường THPT Long Khánh……….……….…7

3 Một số giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại trường THPT Long Khánh……… ………9

III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TẠO HỨNG THÚ CHO HS TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH 1 Tạo động cơ học tập cho HS, giúp HS có niềm đam mê với môn học 11

2 Tạo hứng thú cho HS trong từng khâu lên lớp……….…… 13

2.1 Mở bài ……… ……….13

2.2 Trong nội dung của bài học ……… 13

2.2.1 Chọn kiến thức cơ bản của bài học……… 14

2.2.2 Có thể sắp xếp lại cấu trúc bài dạy trên lớp để làm nổi bật các kiến thức trong hệ thống bài học……….14

2.2.3 Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lý ……… … 15

2.2.4 Liên hệ thực tế và rèn luyện kĩ năng sống cho HS……….… 22

2.2.5 Nghệ thuật sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để tăng hứng thú học tập của HS ……….……… 25

2.2.6 Tạo hứng thú cho HS bằng cách tiểu kết hợp lý, chuyển ý hấp dẫn 29

2.2.7 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học……… ….32

2.2.8 Trình bày trực quan kiến thức cơ bản của bài học bằng SĐ tư duy 33

2.2.9 Thiết kế trò chơi tạo hứng thú cho HS……… …….35

2.3 Tạo hứng thú cho HS thông qua việc thay đổi cách thức kiểm tra, đánh giá……….39

3 Tạo hứng thú cho HS thông qua các hoạt động tham quan ngoại khóa.….40 4 Tạo hứng thú cho HS thông qua hoạt động của CLB Địa lý.…….……… 42

IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI ……… ……….44

V KẾT LUẬN……….……….………… 45

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

VII PHỤ LỤC ……….……… 47

Trang 5

NGHỆ THUẬT TẠO HỨNG THÚ CHO HS TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA

LÝ TẠI TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quantrọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con ngườitham gia tích cực vào hoạt động đó Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dùphải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao.Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò hết sức quan trọng, thực tế cho thấyhứng thú đối với các bộ môn của học sinh tỉ lệ thuận với kết quả học tập của cácem

Bàn về thực trạng học tập môn Địa lý của học sinh Trung học phổ thông(THPT) nói chung, HS trường Long Khánh nói riêng, bên cạnh những học sinh vuithích, đam mê với việc học tập thì cũng có một bộ phận không nhỏ các em khôngthích học, chán học, nguyên nhân là do chưa có động cơ học tập đúng đắn, mấthứng thú học tập

Khi học tiết phương pháp giảng dạy đầu tiên ở giảng đường đại học, cô giáo

đã cho chúng tôi so sánh một giáo viên với một diễn viên Và cô kết luận: Giáoviên cũng chính là một diễn viên trên bục giảng Bài học có cuốn hút học trò haykhông là cả một nghệ thuật Cũng “nguyên liệu” như nhau, nhưng mỗi “nghệ sĩ”với sự nhiệt huyết, sáng tạo & hóm hỉnh của mình sẽ tạo ra những “tác phẩm nghệthuật” khác nhau

Do đó, theo tôi để có một bài giảng hấp dẫn là cả một nghệ thuật mà khôngphải bài giảng nào mình cũng đã làm thành công, không phải giáo viên nào cũnglàm tốt và tạo hứng thú học tập cho HS

Bản thân tôi chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, cũng không phải tựhào là dạy xuất sắc được tất cả HS yêu thích Nhưng với suy nghĩ muốn nâng caochất lượng dạy học môn Địa lý, tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm của đồngnghiệp, thử nghiệm trên một số lớp và thấy đạt được nhiều kết quả tốt Do đó, tôi

lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghệ thuật tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn

Địa lý tại trường THPT Long Khánh” nhằm:

- Tổng kết kinh nghiệm của bản thân, rút ra được những kết quả đã đạt được trongthời gian qua

- Chia sẻ kinh nghiệm của mình với đồng nghiệp trong và ngoài trường để cùngnâng cao chất lượng giảng dạy môn Địa lý và khẳng định vị trí môn Địa lý tronglòng các em học sinh

Trang 6

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm về hứng thú và hứng thú học tập

* Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ýnghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạtđộng

Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dunghoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt độngnhận thức, tăng sức làm việc

* Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được định nghĩa của hứng thú họctập: hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạtđộng học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đờisống cá nhân

1.2 Tầm quan trọng của hứng thú đối với các hoạt động sống và học tập

Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủthể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơthúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Trong bất cứ công việc gì,nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó làđộng cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó.Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kếtquả cao Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không

có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chíxuất hiện cảm xúc tiêu cực

1.3 Khái niệm động cơ

Trong tâm lý học có nhiều cách lý giải khác nhau về động cơ:

- Theo thuyết phân tâm học: Động lực thúc đẩy hoạt động của con người là vôthức Nguồn gốc vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh vật vànhấn mạnh vai trò của các xung năng tính dục

- Theo thuyết hành vi: Đưa ra mô hình “kính thích - phản ứng”, coi kích thích lànguồn gốc tạo ra phản ứng - là động cơ

- Theo J Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đápứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó

- Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta

mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏamãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động

Một hoạt động của con người có thể chịu sự chi phối của nhiều động cơkhác nhau, trong đó có những động cơ chủ đạo và những động cơ thứ yếu Nhữngđộng cơ này nằm trong những mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hoàncảnh hoạt động cụ thể tạo thành một hệ thống gọi là hệ thống động cơ Động cơ

có thể được phân thành nhiều nhóm theo các tiêu chí khác nhau là phân theo nhu

Trang 7

cầu, phân ra động cơ tự nhiên và động cơ cao cấp, phân chia theo chức năng:động cơ tạo ý, động cơ kích thích…

1.4 Khái niệm động cơ học tập

Khi con người có nhu cầu học tập, xác định được đối tượng cần đạt thì xuấthiện động cơ học tập Động cơ học tập được thể hiện ở đối tượng của hoạt độnghọc, tức là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…mà giáo dục đem lại

Nghiên cứu về động cơ học tập, ta tìm thấy các lý luận nghiên cứu từ các nhàtâm lý học Nga như L.I.Bozovik, A.N.Leonchiep, A.K.Markova…Nhiều nhà tâm

lý học đều khẳng định: hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy bởi nhiềuđộng cơ Các động cơ này tạo thành cấu trúc xác định có thứ bậc của các kíchthích, trong đó có một số động cơ là chủ đạo, cơ bản, một số động cơ khác là phụ,

là thứ yếu

Động cơ học tập của học sinh theo L.I.Bozovick có một số biểu hiện: trẻ học

vì cái gì, cái gì thúc đẩy trẻ học tập và tất cả những kích thích đối với hoạt độnghọc tập của các em Theo A.N.Leonchiev hiểu động cơ học tập của trẻ như là sựđịnh hướng của các em đối với việc lĩnh hội tri thức, với việc dành điểm tốt và sựngợi khen của cha mẹ, giáo viên…

2 Thực trạng về sự hứng thú & động cơ học tập môn Địa lý của học sinh hiện nay tại trường THPT Long Khánh

2.1 Mức độ hứng thú đối với môn học: Để điều tra sự hứng thú đối với việc

học môn Địa lý tại trường, đầu năm học 2012 – 2013, 2013-2014 & 2014 - 2015tác giả đã đưa ra câu hỏi: “Em có thích học môn Địa lý không?” và thu được kếtquả như sau:

2.2 Thái độ của học sinh đối với việc học môn Địa lý

Trang 8

không nhiều phát biểu

học không liên tục, một bộ phận bàng quan trong tiết học

2.3 Động cơ học tập môn Địa lý

Vì yêu thíchmôn học, muốnkhám phá, traudồi kiến thức

Học để kiểmtra, thi đạt điểm

cao(Vì tương lai)

Cả 2 lý

do trước

Lý dokhác

Do cảmthấy mônhọc thiếuhấp dẫn

Do giađình tácđộng

Do môitrường xãhội tácđộng

Lýdokhác

Trang 9

mà tác giả luôn trăn trở, suy nghĩ.

3 Một số giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại trường THPT Long Khánh

 Tạo động cơ học tập đúng đắn cho HS, giúp HS có niềm đam mê với mônhọc

 Tạo hứng thú cho HS trong từng khâu lên lớp:

- Mở bài hấp dẫn bằng nhiều cách khác nhau, khơi gợi sự tò mò, ham học hỏicủa HS

- Trong từng nội dung của bài học: sử dụng nhiều phương pháp sinh động, pháthuy tính tự giác, tích cực của HS, hướng đến dạy học cá thể, sử dụng kiến thứcliên môn trong giảng dạy giúp HS vận dụng kiến thức để giải thích được cácvấn đề thực tế, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho HS; ứng dụng CNTT vàothiết kế bài giảng, tổ chức các trò chơi,…làm cho tiết học trở nên sôi nổi, HScảm thấy hứng thú hơn

- Tổ chức cho HS đi tham quan ngoại khóa, tổ chức CLB Địa lý tạo sân chơi lànhmạnh cho các em, cung cấp cho các em thêm nhiều kiến thức bổ ích

III Tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm tạo hứng thú cho HS trong dạy học môn Địa lý tại trường THPT Long Khánh

1 Tạo động cơ học tập cho HS, giúp HS có niềm đam mê với môn học

Muốn nâng cao hứng thú học tập, trước hết phải hình thành, giáo dục động

cơ học tập, nhu cầu học tập đúng đắn, giúp HS thấy được học Địa lý thú vị như thếnào? Điều này chúng ta sẽ nói rõ trong tiết học đầu tiên của năm học: Thay vì vàobài học ngay, chúng ta nên sử dụng ít nhất nửa tiết học đầu tiên để nói tóm tắt nộidung chương trình học Đặc biệt trong từng nội dung, chúng ta nêu 1 số vấn đềquan trọng, hấp dẫn, gần gũi nhưng khó hiểu để đưa HS đi vào ma trận “Mười vạncâu hỏi vì sao?” Qua đó GV nhấn mạnh, mỗi tiết học sắp tới, chúng ta sẽ lần lượttìm lời giải cho những khó khăn, thắc mắc của mình Chẳng hạn: Tiết học đầu tiêncủa chương trình Địa lý 10, chúng ta có thể làm như sau:

Trang 10

- GV vào lớp, làm quen với lớp Sau đó đặt ra những câu hỏi như:

+ Theo em môn Địa lý có cần thiết với mọi người không, vì sao?

+ Em có thích học môn Địa lý không, học Địa lý những năm học trước đã cung cấpcho em những kiến thức gì, em đã sử dụng chúng như thế nào?

+ Xem chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” & các Game show truyền hình,

em thấy những câu hỏi liên quan đến Địa lý như thế nào, em có trả lời đượckhông?

- HS trả lời, GV chốt: Địa lý là môn học giao thoa giữa các môn KHTN & KHXH.Kiến thức Địa lý học vô cùng phong phú và có mối liên hệ chặt chẽ với các mônhọc khác Học Địa lý giúp chúng ta có tâm hồn phong phú, rèn luyện chúng ta kĩnăng sống, tinh thần bảo vệ môi trường

+ Ngoài ra sử dụng kiến thức Địa lý cùng với các môn học khác sẽ giúp chúng tagiải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên & kinh tế xã hội, có kiến thức rộng, hiểubiết phong phú sẽ khiến chúng ta tự tin hơn, dễ thành công hơn trong cuộc sống.+ Những bạn nào có ước mơ trở thành người hướng dẫn viên du lịch, nhà khảo cổhọc, nhà nghiên cứu kinh tế - thị trường,…thì môn Địa lý sẽ rất hữu ích trên đườngđời của các em

+ Tất cả những điều này chúng ta sẽ lần lượt được khám phá trong từng tiết họcĐịa lý Cụ thể:

Chương bản đồ chúng ta sẽ thấy được: À để xây dựng được một chiếc bản

đồ không hề đơn giản nhưng cũng không quá khó với sự hỗ trợ của công nghệthông tin Và chiếc bản đồ quen thuộc không đơn thuần là để xác định vị trí mà hóa

ra ngành nào cũng cần đến nó, thật thú vị!

Đến chương 2 chúng ta sẽ đi khám phá vũ trụ, hệ Mặt Trời và Trái Đất đểhiểu hơn về sự hình thành vũ trụ, để giải thích được tại sao đến nay Trái Đất làhành tinh duy nhất trong hệ Mặt Trời có sự sống, tại sao trên Trái Đất có ngàyđêm, có các mùa, & giờ mỗi nơi trên TĐ lại khác nhau?

Các chương tiếp theo chúng ta sẽ được khám phá lòng đất, các tầng đá, bầukhí quyển, sự phân bố đất, và sinh vật trên TĐ,…

Tuy nhiên hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sựảnh hưởng bởi giáo viên Khi khảo sát động cơ học tập của HS tại trường, ngoài lý

do là học Địa lý để nâng cao kiến thức, thi cử thì tác giả thật sự bất ngờ khi phầnlớn học sinh thích học môn Địa lý, cảm thấy hứng thú trong tiết học vì tiết họcthoải mái, không áp lực, không buồn chán, cô dạy nhiệt tình, dễ hiểu, cô lại vuitính, thân thiện, gần gũi với HS

Do đó, giáo viên cần không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức nghềnghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngàycàng chính xác, hấp dẫn, có chất lượng Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy được

ý nghĩa và vai trò của các kiến thức môn học đối với cuộc sống; giúp học sinh biếtcách học thích hợp đối với bộ môn, nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụng cáckiến thức đã học vào cuộc sống và giải quyết các tình huống trong đời sống theocác khía cạnh khác nhau Cần có những bài giảng nêu vấn đề, những giờ thảo luậntrên lớp, những trò chơi mang tính chất giáo dục để kích thích hứng thú học tậpcho các em Quá trình kích thích hứng thú không chỉ diễn ra ở bài giảng này hay

Trang 11

bài giảng khác mà cần phải diễn ra trong suốt quá trình Do đó, trong quá trìnhgiảng dạy, người giáo viên cần tạo ra các hoàn cảnh nhằm kích thích hứng thú họctập của học sinh, tăng tính tích cực của trí tuệ.

Trong giảng dạy, giáo viên cần chỉ ra được cái mới, cái phong phú, nhiều hìnhnhiều vẻ, tính chất sáng tạo và triển vọng trong hoạt động học tập để tạo ra hứngthú vững chắc cho học sinh trong quá trình học tập Từ đó, chính GV sẽ giúp các

em hấp thu kiến thức một cách tự nhiên, dần dần trở thành nhân cách thật sự củachúng

2 Tạo hứng thú cho HS trong từng khâu lên lớp

2.1 Mở bài

Phần mở bài tuy đơn giản nhưng nó cũng rất quan trọng Mở bài hấp dẫn sẽ

khơi gợi sự tò mò, ham học hỏi của HS Muốn vậy, mỗi bài học GV nên thiết kếcác cách vào bài khác nhau để tránh sự nhàm chán:

 Mở bài bằng cách tạo biểu tượng về một số sự vật, hiện tượng trong nội

dung bài học:

Biểu tượng của một số sự vật, hiện tượng Địa lý chủ yếu trong bài học cóthể gây sự chú ý của HS ngay từ phần mở bài Khai thác lợi thế đó của nội dungbài học, giáo viên có thể mở bài bằng cách tạo biểu tượng về các sự vật, hiện tượngchủ yếu đó của bài học

Ví dụ: Khi dạy bài 6: “Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái

Đất” (Địa lý 10), ta có thể mở bài như sau: Trên bề mặt Trái Đất có những nơi

trong năm có 2 lần Mặt Trời lên thiên đỉnh, có những nơi chỉ có 1 lần Mặt Trời lênthiên đỉnh, có những nơi lại không có hiện tượng này Các nước ôn đới trong nămlại có 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông phân biệt rõ rệt nhưng các nước vùng nhiệt đớinhư nước ta trong năm thường có một mùa đông lạnh khô, mùa hạ nóng, mưanhiều Thời gian ngày đêm cũng không bằng nhau: “Đêm tháng năm chưa nằm đãsáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối”,…Tất cả những biểu hiện đó đều là hệquả của chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất Đó cũng chính là nộidung bài học của chúng ta hôm nay

 Mở bài bằng cách đặt câu hỏi từ chính nội dung của bài:

Dựa vào nội dung bài học, GV đặt ra một số câu hỏi cần giải quyết Cách

mở bài này “chân phương”, rõ ràng nhưng nếu GV khéo léo cũng sẽ thu hút được

sự chú ý và kích thích sự tò mò của các em

Ví dụ: Khi dạy bài 27: “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự

phát triển, phân bố nông nghiệp Một số hình thức TCLTNN” (Địa lý 10), GV có

thể mở bài như sau: “Tại sao nói hiện nay cũng như sau này không có ngành nào

có thể thay thế được sản xuất nông nghiệp Ngành nông nghiệp có đặc điểm gì &sản xuất nông nghiệp trên Thế giới cũng như ở Việt Nam có những hình thức nào.Các câu hỏi này sẽ lần lượt được sáng tỏ trong bài học hôm na

 Mở bài bằng cách sử dụng phương pháp động não:

Trang 12

Dựa vào nội dung của bài, GV nêu một số câu hỏi hay một ý tưởng yêu cầu

HS phát biểu ý kiến cá nhân của mình Sau đó, GV gom các ý kiến lại hướng vàonội dung của bài học để tiến hành bài học

Ví dụ khi dạy bài 22: “Dân số và tình hình tăng dân số thế giới” (Địa lý

10), GV có thể đặt ra các câu hỏi như:

+ Em nào biết dân số TG hiện nay khoảng bao nhiêu, theo em trong tương lai quy

mô dân số sẽ biến động như thế nào (tiếp tục tăng nhanh hay ổn định hoặc giảmxuống)?

+ Theo em tại sao dân số Thế giới hoặc dân số của một quốc gia, một vùng, mộtđịa phương nào đó lại luôn biến động?

+ HS lần lượt trả lời, thậm chí còn tranh luận gay gắt về xu hướng biến động quy

mô dân số trong tương lai

+ GV: Ý kiến của mỗi em đều có lý lẽ riêng của mình, đúng là quy mô dân số hiệnnay rất lớn, đạt trên 7 tỉ người, thời gian vừa qua dân số Thế giới đã tăng rất nhanh,trong tương lai gần quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng nhưng có xu hướng chậm lại,trong tương lai xa quy mô dân số sẽ dần ổn định, thậm chí có thể giảm Bởi cónhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động quy mô dân số Thế giới Các emcũng đã đưa ra được một số nguyên nhân hợp lý Vậy ngoài những nguyên nhân đócòn có những nguyên nhân nào khác ảnh hưởng đến sự biến động quy mô dân sốThế giới nói chung, từng quốc gia và vùng lãnh thổ nói riêng, chúng ta cùng tìmhiểu trong bài học hôm nay

 Mở bài bằng cách nêu giả thuyết:

Dựa vào nội dung của bài học, GV có thể nêu giả thuyết để kích thích sự chú

ý của HS vào những nội dung của bài học

Ví dụ khi dạy bài 36: “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến phát

triển và phân bố ngành GTVT” (Địa lý 10), GV có thể mở bài: Đối với sự phát

triển và phân bố ngành GTVT, điều kiện tự nhiên hay điều kiện kinh tế - xã hội cóvai trò quyết định, chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm nay để làm sáng tỏ nhé!

Sử dụng kiến thức liên môn để mở đầu bài học:

- Sử dụng kiến thức văn học để vào bài Chẳng hạn khi dạy bài 42 (Địa lý

12): “Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở biển Đông và các đảo, quần

đảo”, GV có thể dẫn dắt: Theo truyền thuyết xưa kia: đồng bào ta được mẹ Âu Cơ

sinh ra từ bọc 100 trứng, sau đó 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theocha xuống biển mở rộng không gian nước ta về cả vùng đất, vùng trời và vùngbiển Trong các bài học trước cô trò ta đã tìm hiểu nhiều về vùng đất, vùng trời của

tổ quốc rồi Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về chủ quyền biển đảo

và vai trò của biển đảo đến sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước

- Hoặc khi dạy về bài 16 lớp 10: “ Sóng, thủy triều, dòng biển”chúng ta có

thể sử dụng kiến thức văn học, lịch sử để vào bài:

+ Kiến thức văn học: Nhà thơ Xuân Quỳnh từng viết: “Sóng bắt đầu từ gió,gió bắt đầu từ đâu?” Chúng ta đã biết gió bắt đầu từ sự chênh lệch khí áp qua bài

Trang 13

12 rồi Còn sóng biển là gì, tại sao sóng biển lại bắt đầu từ “gió”, ngoài gió ra cònnhân tố nào tạo sóng nữa không, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bài hôm nay

+ Kiến thức lịch sử: GV hỏi HS về các sự kiện lịch sử: Ngô Quyền đánh tanquân Nam Hán vào năm nào và bằng cách nào Sau khi HS trả lời chúng ta dẫn dắt:Thủy triều là gì, nó hình thành và hoạt động như thế nào, tại sao Ngô Quyền lại lợidụng được thủy triều để đánh tan quân Nam Hán, chúng ta cùng tìm hiểu trong bàihôm nay

2.2 Trong nội dung của bài học

Trong mỗi bài học: cần chọn kiến thức cơ bản, xác định được nội dung trọngtâm, trình bày bài học một cách trực quan, sinh động, sử dụng nhiều phương pháphấp dẫn, phát huy tính tự giác, tích cực của HS, hướng đến dạy học cá thể, sử dụngkiến thức liên môn để giải quyết vấn đề, giúp HS vận dụng kiến thức để giải thíchđược các vấn đề thực tế, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho HS

II.2.1.Chọn kiến thức cơ bản của bài học

Đây là điều tưởng như rất đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được Bởigiáo viên thường không muốn bỏ sót nội dung nào trong bài học Càng đến tiếtthao giảng, dự giờ, giáo viên càng đưa vào bài giảng nhiều nội dung Chính vì vậy,tiết học thường bị “cháy” Điều này làm học sinh quá tải, cảm thấy mệt mỏi, chánhọc

Trong bài học: chúng ta nên xác định rõ nội dung cơ bản, trọng tâm, nhữngkiến thức khó để xoáy sâu vào giải quyết vấn đề Đối với những nội dung khôngquá khó, học sinh có thể tự nghiên cứu ở nhà thì chúng ta không cần phải đưa hếtvào tiết học để tránh bài học bị loãng, quá tải và nhàm chán Thời gian còn, chúng

ta cần mở rộng vấn đề, dành thời gian cho HS hoạt động, trình bày suy nghĩ, sửdụng kiến thức bài học để giải quyết các vấn đề thực tế Qua đó GV vừa đánh giáđược HS đã hiểu bài đến đâu và có tác động kịp thời, vừa cho các em cơ hội để lấyđiểm miệng hoặc điểm cộng trên lớp

II.2.2.Có thể sắp xếp lại cấu trúc bài dạy trên lớp để làm nổi bật các

kiến thức trong hệ thống bài học

Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn với việc sắp xếp lạicấu trúc của bài học để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thứccủa bài, từ đó làm rõ thêm trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cầnthiết, tuy nhiên không phải bài nào cũng tiến hành được

Chẳng hạn: Bài 11 lớp 11: Khu vực ĐNA, tiết 1: Tự nhiên, dân cư & xã hội,

chúng ta có thể kết hợp nội dung mục 2 & mục 3 để bài học chặt chẽ, dễ hiểu hơn, không bị rời rạc:

Trang 14

Địa chất,

địa hình,

khoáng

sản

- Địa chất tương đối ổn định

- Địa hình bị chia cắt mạnh, nhiều núi,cao nguyên, ven biển có các đồngbằng lớn

- Khoáng sản: Than, sắt, thiếc , dầukhí

- Địa chất chưa ổn định

- Nhiều đảo, ít đồng bằng, nhiều đồi, núi, núi lửa

- Sông ngắn, dốcĐất, sinh

vật - Đất đỏ badan và đất phù sa- Rừng nhiệt đới - Đất đỏ badan- Rừng xích đạo, rừng

nhiệt đớiBiển - Phần lớn các nước giáp biển (trừ

Lào), vùng biển giàu tiềm năng

- Vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng

Đánh giá

Thuận lợi

- Khí hậu nóng ẩm, hệ đất trồng phong phú, mạnglưới sông ngòi dày đặc thuận lợi cho việc phát triểnmột nền nông nghiệp nhiệt đới

- Đông Nam Á có lợi thế về biển (trừ Lào) thuận lợi

để phát triển các ngành kinh tế, cũng như thương mại, hàng hải

- Đông Nam Á nằm trong vành đai sinh khoáng vì thế có nhiều loại khoáng sản Vùng thềm lục địa nhiều dầu khí, là nguồn nguyên, nhiên liệu cho phát triển kinh tế

- Đông Nam Á có diện tích rừng xích đạo và nhiệtđới ẩm lớn

II.2.3.Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lý

Đây là điều rất cần thiết, rất quan trọng Bởi sử dụng kiến thức liên môn tronggiảng dạy sẽ làm cho bài giảng có chiều sâu, có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt khiến bàihọc hấp dẫn hơn Đặc biệt từ xưa đến nay, phần lớn phụ huynh & học sinh quanniệm: Địa lý là môn phụ, môn học bài, đơn giản Do đó, vị trí của giáo viên tronglòng các em học sinh cũng chưa thực sự được coi trọng Đây cũng là một trongnhững lý do khiến HS xem nhẹ và mất hứng thú khi học

Trang 15

Do đó, sử dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy học chúng ta đã cho

HS một cái nhìn khác, chúng phần nào “thần tượng” giáo viên bởi thầy cô mình cókiến thức thật sâu rộng, chúng thấy được Địa lý không chỉ có lý thuyết xuông, đơngiản, học Địa lý không chỉ học để biết, để kiểm tra thi cử mà sử dụng kiến thức Địa

lý với sự hỗ trợ đắc lực của các môn học khác giúp các em nắm chắc kiến thức củanhiều môn học, có thể sử dụng kiến thức liên môn để giải quyết được nhiều vấn đềthực tế

Vấn đề này cũng đã được nhiều GV nghiên cứu, tuy nhiên tác giả thấy bêncạnh những kiến thức liên môn thể hiện rõ rệt ở 1 số bài học mà GV nào cũng cóthể nhận biết thì mỗi GV lại có những nghiên cứu, sáng tạo riêng Do đó, trong đềtài của mình tác giả cũng xin trình bày một số kiến thức liên môn mà tác giả đã sưutầm hoặc tự nghiên cứu và đã áp dụng trong quá trình giảng dạy tạo được sự hứngthú cho HS:

* Sử dụng kiến thức Văn học trong dạy học Địa lý:

Ca dao, tục ngữ:

Thật tự hào khi được là thế hệ con, cháu, của một dân tộc mà cuộc sống giankhổ của họ lại được nghệ thuật hóa bằng những câu ca dễ nhớ, dễ nghe, dễ phổbiến Những bài học về địa lý sinh động, khắc sâu được kiến thức về khoa học Địa

lý, bằng cách lồng ghép đưa tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam mà còn có ý nghĩasâu sắc góp phần hình thành nhân cách cho học sinh trong thời kỳ hội nhập với khuvực, với thế giới hiện nay Các em biết tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tiên tiến củathế giới đồng thời phải biết kế thừa nét văn hóa độc đáo, giàu bản sắc của dân tộcvào mỗi phần bài học lớp 10

Ví dụ 1:

Khi dạy Bài 6 (Địa lý 10): Hệ quả chuyển động xung quanh mặt trời của Trái

Đất để khắc sâu kiến thức phần III “Ngày đêm, dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ”,

GV sử dụng câu ca dao:

“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức mới học để giải thích ?

Giải thích ý nghĩa : “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng”

Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến bán cầu bắc Tháng 5 âm lịch củaViệt Nam tương ứng là tháng 6 dương lịch Tháng 6 dương lịch BCB là mùa hè

Trang 16

Ngày 22/6 hàng năm, tia bức xạ mặt trời chiếu vuông góc với tiếp tuyến bềmặt trái đất tại chí tuyến bắc (23o27’B) nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầu Bắc(Việt Nam) dài Càng về phía Cực Bắc ngày càng dài, đêm càng ngắn, nên có hiệntượng ngày dài, đêm ngắn: “Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

Vào ngày 22/12 (tháng 10 âm lịch), Mặt trời chuyển động biểu kiến về chítuyến Nam và vuông góc tại bề mặt đất tại tiếp tuyến 23o27’N (Chí tuyến Nam) thì

ở BCN lúc này ngày dài đêm ngắn và ở BCB (Việt Nam) là hiện tượng ngày ngắn,đêm dài

Ví dụ 2:

Khi dạy Bài 12 (Địa lý 10): “Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính” Sử

dụng câu:

“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”

“Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”

Nên trong dân gian mới có câu:“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”

Nhưng nếu thấy: “Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”

Hay: “Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”

Do ảnh hường của địa hình: dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ, dãy Trường Sơn Bắc (Bắc Trung Bộ) nên khi có gió Tây Nam (gió Nam) chỉ gây mưa ở Nam bộ và Tây Nguyên Còn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ không có mưa Tương tự “cơn đàng Bắc ” là ảnh hưởng của khối khí ônđới xuất phát từ cao áp lục địa (Xibia) tính chất lạnh và khô nên không gây mưa Giáo viên sử dụng các câu ca dao trên bằng nhiều phương pháp :

+ Dùng câu ca dao tục ngữ để gợi mở, gợi ý cho học sinh dễ dàng tìm ra kiếnthức

+ Dạy phần kiến thức xong sau đó đọc câu ca dao để khắc sâu kiến thức đểhọc sinh dễ nhớ

Nhằm nâng cao kĩ năng học đi đôi với hành của học sinh giáo viên có thể yêucầu học sinh sưu tầm thêm những câu ca dao tục ngữ có liên quan, ý nghĩa gầntương tự như câu ca dao mà giáo viên cung cấp

+ GV kiểm tra bài cũ, kiểm tra định kì bằng cách cho phân tích, giải thích câu

ca dao tục ngữ

Trang 17

Sử dụng thơ trong dạy học Địa Lý:

- Khi dạy bài 6 (Địa lý 12): “Đất nước nhiều đồi núi”, để HS thấy được, cảm

nhận được độ cao, sự chia cắt mạnh của vùng núi Tây Bắc, ngoài việc sử dụnghình ảnh, ta có thể sử dụng các câu thơ trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”

- Bài 9 lớp 12: Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, khi giải thích hiện tượng Phơn

ở duyên hải miền Trung, GV có thể đọc cho HS nghe câu thơ:

“Trường Sơn Đông nắng Tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”

Khi đọc câu thơ đó xong, HS sẽ rất chăm chú nghe GV giải thích tại saoTrường Sơn lại “Đông nắng, Tây mưa” và đặc biệt là tại sao “Ai chưa đến đó” lại

“như chưa hiểu mình”, tiết học nhờ đó mà hấp dẫn hơn

- Khi dạy bài 24: Phân bố dân cư Các loại hình quần cư và đô thị hóa (Địa

lý 10): để HS nắm được thế nào là di dân tự giác chúng ta có thể sử dụng các câu

thơ trong bài “Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên” để HS cảm thấy hứng thú và dễnhớ:

“Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng

Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô tàu đói những vành trăng”

* Tích hợp môn Lịch sử trong dạy học Địa lý:

- Biết về quá khứ, vận dụng để giải thích sự phát triển ở hiện tại và là cơ sở để

dự báo sự phát triển trong tương lai là một trong những điều rất quan trọng củakhoa học Địa lý Chính vì vậy, khi giảng dạy Địa lý ở các khối lớp, đặc biệt là Địa

lý 11 & 12, việc tích hợp kiến thức lịch sử vào giảng dạy là rất quan trọng, nó vừatăng sự thuyết phục của bài học, vừa tạo thêm sự hứng thú cho HS Chẳng hạn khi

dạy bài 6 (Địa lý 11): Hợp chúng quốc Hoa Kì, GV có thể tích hợp kiến thức lịch

sử như sau:

Địa chỉ

tích hợp

Mục đích tích hợp

- Hoa Kì hiện đại có thể coi là được manh nha hìnhthành khi người Âu đặt chân và định cư trên đất Bắc

Mỹ

- Trên những vùng đất thuộc về quý tộc hay tổ chứcnào đó dần hình thành các lãnh thổ thuộc địa riêng,sau này tạo ra 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ với diệntích khoảng 900 nghìn km2 Cuộc đấu tranh giành

Trang 18

độc lập đã dẫn đến việc hình thành Hợp chúng quốcHoa Kì với 13 bang.

- Sau đó Hoa Kì dùng nhiều biện pháp để mở rộnglãnh thổ:

+ 1803: Mỹ mua lại Louisiana của Pháp (80 triệuFranc)

+ 1819: Mua lại Florida của Tây Ban Nha (5 triệuUSD)

+ 1846: Anh nhượng lại Oregon+ 1846 – 1848: đánh bại Mê-hi-cô, Mỹ sáp nhậpTexas, New Mexico, California, lãnh thổ Hoa Kì đã

xã hội nướcnày

- Nhập cư là một vấn đề quan trọng của Hoa Kì,hàng năm số người nhập cư hợp pháp chiếm khoảng

¼ dân số nước này (đầu TK XX, số người nhập cưchiếm tới ½ số dân gia tăng hàng năm của Hoa Kì)

- Sự nhập cư vào Hoa Kì đã thu hút được “nạn chảymáu chất xám ở các nước thứ ba”

+ Từ 1974-1979: có 250 nghìn người có chuyênmôn lành nghề (75% chất xám ra đi từ các nướcđang phát triển di cư sang Mỹ) Thập kỉ 70 củaTKXX, 50% bác sĩ làm việc tại Mỹ là từ các nướcđang phát triển Kết quả là các nước đang phát triểnmất của cải đầu tư để đào tạo những người cóchuyên môn cao, mất tiền để nuôi dưỡng họ để rồicác nước phát triển được hưởng những nhà chuyênmôn sẵn sàng hành nghề Theo một công trình đượctiến hành tại Mỹ năm 1974, những nhà chuyên môn

có nguồn gốc từ thế giới thứ 3 này đã tiết kiệm cho

Mỹ khoảng 4 tỉ USD từ 1947 – 1967, vào năm 1971

là 835,5 triệu USD trong lĩnh vực giáo dục và đàotạo Đây là hiện tượng chuyển giao kĩ thuật ngượcchiều Hiện tượng ra đi của chất xám là kết quả củatác động qua lại giữa những nhân tố thúc đẩy bêntrong các nước thứ 3 và những nhân tố lôi cuốn ranước ngoài như mức đãi ngộ, lương tháng, thiếuviệc làm, phòng thí nghiệm hoặc thiếu ổn định vềchính trị đã cổ vũ các nhà chuyên môn giỏi rời bỏđất nước mình

Trang 19

+ Bộ luật tháng 10/1990 đã được hiện thực từ tháng10/1991 cho phép hàng năm nhập cư vào Mỹ

700000 người và 131 000 người tị nạn chính trị Bộluật ưu tiên cho những người có quan hệ gia đìnhđược nhập cư vào Mỹ (chiếm ½ số người nhập cư)cũng như người lao động có chuyên môn cao

- Các nhà nghiên cứu kinh tế đánh giá sự phát triển

kinh tế của Hoa Kì là sự phát triển mà “quá khứ

không thể hình dung được, một sức mạnh ngoài tầm vóc con người, một tốc độ của sao băng đã tạo ra một thế giới kích thích, dễ gây chuyện, vô lý và đầy

+ Được cách li bởi 2 đại dương lớn là TBD và ĐTD,

Mỹ không bị chiến tranh tàn phá lại còn giàu lên từchiến tranh: sau chiến tranh thế giới thứ 2 Hoa Kì đãthâu tóm 80% dự trữ vàng của thế giới, chỉ huy thếgiới với 2 đòn bẩy: Khuyến khích tự do mậu dịchgiữa các nước, chống chính sách bảo hộ, tạo điềukiện cho hàng hóa và tư bản của Hoa Kì bànhtrướng; dùng đồng USD làm dự trữ ngoại tệ thếgiới

+ Những yếu tố trên hòa với óc thực dụng nhanhnhạy nắm bắt và áp dụng các thành tựu của tiến bộKHKT và khoa học quản lý cùng với đường lối nhấtquán thu hút chất xám của các nước thứ ba và vơ vétđối với sân sau là khu vực Mỹ La Tinh trong hàngchục thập kỉ cùng với Châu Phi và Châu Á sau này

đã đưa Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số một thếgiới

- Những quốc gia nào, nhất là những nước mới bướcsang nền kinh tế thị trường như nước ta nhận thứcđược tầm quan trọng của “nhân tố Mỹ” trong quátrình phát triển kinh tế như một tất yếu chắc chắn sẽtạo ra những điều kiện cần thiết để xây dựng thànhcông nền kinh tế thị trường

* Tích hợp môn Toán trong dạy học Địa lý:

- Chương trình Địa lý 10: Sử dụng kiến thức Toán học để: Tính góc nhập xạ, tính

ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh, tính giờ, ngày, tháng, tính độ cao núi, tính số dân khi

Trang 20

biết tốc độ gia tăng dân số, tính mật độ dân số, tính cán cân thương mại, giá trịxuất-nhập khẩu,

- Chương trình Địa lý 11: Sử dụng kiến thức Toán học để tính tỉ trọng GDP củaTrung Quốc so với Thế giới, xử lý số liệu để vẽ biểu đồ, nhận xét bảng số liệuthống kê,…

- Chương trình Địa lý 12: Sử dụng kiến thức Toán học để tính độ che phủ rừng, thu

nhập bình quân đầu người, sản lượng lương thực bình quân đầu người, năng suất,sản lượng lúa hoặc xử lý số liệu vẽ biểu đồ, nhận xét bảng số liệu thống kê,…

* Tích hợp môn Hóa học trong dạy học Địa lý

- Bài 3 - Địa lý lớp 11: GV có thể sử dụng kiến thức Hóa học để giải thích sự

tạo thành ô dôn: Các tia tử ngoại và các điện tích tách phân tử ô xi thành cácnguyên tử ô xi, các nguyên tử này lại kết hợp với các phân tử ô xi khác tạo thành ôdôn:

02 = 0 + 0

02 + 0 = 03

Sau đó, GV có thể nói về vai trò của tầng Ô dôn đối với sự sống trên Trái Đất

& liên hệ hiện nay tầng Ô dôn đã bị thủng, điều đó đã đe dọa đến sự sống trên TráiĐất như thế nào Từ đó yêu cầu HS phân tích nguyên nhân và đưa ra giải pháp

- Bài 9 – Địa lý lớp 10, mục “Phong hóa hóa học”: GV có thể sử dụng kiến

thức hóa học để giải thích sự phong hóa đá vôi tạo thành hang động cac-xtơ: nướcmưa, khí quyển có chứa CO2 sẽ hòa tan rất nhanh các khoáng vật thuộc nhómcacbonat, sunfat, chuyển thành canxi cacbonat (Ca(HCO3)2):

CO2 + H2O  H2CO3

CaCO3 + H2CO3  Ca(HCO3)2

Do không ổn định về mặt hóa học nên canxi cacbonat dễ bị phân tích thànhaxit cacbonic và canxi cacbonat thừa này tách ra khỏi dung dịch tạo thành túp vôi

và các dạng kết tủa trong hang động

* Tích hợp môn Vật lý trong dạy học Địa lý:

- Ví dụ: Bài 11 – Địa lý 10:

+ Để giải thích sự giảm nhiệt độ không khí khi lên cao, dùng kiến thức vậtlý: khi khối khí bốc lên mạnh, nội năng của khối khí chuyển hóa thành công năng,công năng chuyển thành động năng Do nội năng tỉ lệ với nhiệt độ của khối khí nênkhi nội năng biến đổi thì nhiệt độ cũng biến đổi theo Khi khối khí bốc lên, giãn

nở, vì phải sản sinh công nên tiêu hao nhiệt năng, do đó nhiệt độ giảm Không khígiáng xuống, ngược lại bị nén, năng lượng được giải phóng nên nhiệt độ tăng lên.Không khí bão hòa hơi nước, khi lên cao 100m lạnh đi 0,60C, vì ngưng kếtlàm tỏa nhiệt nên đã được bù một phần nhiệt đáng lẽ phải dùng để chi cho giãn nởkhông khí Không khí bão hòa khi hạ xuống nóng lên chưa đến 10C do nhiệt phảichi cho bốc hơi Không khí bão hòa khi lên cao thường mất độ ẩm do hơi nước

Trang 21

ngưng kết và rơi xuống, trở thành không bão hòa Không khí chưa bão hòa khi hạxuống cứ 100m sẽ tăng 10C.

+ Dùng kiến thức vật lý để giải thích hiện tượng nhiệt độ cực đại và cực tiểutrong một ngày ở đại dương thường xảy ra chậm hơn so với ở lụa địa: Sự truyềnnhiệt vào trong đất và nước phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt dung thể tích (lượngnhiệt tính bằng calo cần thiết để đốt nóng 1 cm3 một chất nhất định lên 10C) và tínhdẫn nhiệt của chúng (khả năng truyền nhiệt được đo bằng lượng nhiệt đi qua mộtlớp đất có diện tích là 1 cm2 và chiều dày 1 cm, mà nhiệt độ chênh nhau ở 2 mặtcủa lớp đó là 10C trong 1 giây) Với lượng nhiệt mặt trời như nhau, đất (hay nước)

có nhiệt dung thể tích lớn hơn thì được đốt nóng nhiều hơn Nhiệt dung thể tíchcủa đất, đá nhỏ hơn nhiệt dung của đá 2 lần Nước có nhiệt dung thể tích lớn hơnnhưng tính dẫn nhiệt nhỏ hơn so với đất nên nóng lên chậm và mất nhiệt cũngchậm

+ Dùng kiến thức vật lý để giải thích hiện tượng đại dương có biên độ nhiệtnhỏ, lục địa có biên độ nhiệt lớn: Tia sáng Mặt trời đến mặt nước được các lớpnước trên mặt hấp thu một phần, còn một phần truyền xuống đốt nóng trực tiếp cáclớp nước dưới sâu Do trao đổi loạn lưu nên sự truyền nhiệt xuống sâu ở nướcnhanh gấp nhiều lần (1000 đến 10 000 lần) so với dẫn nhiệt phân tử ở đất Tínhlinh động của nước càng làm cho sự truyền nhiệt có hiệu quả hơn Vì vậy ở đạidương có nhiệt độ cực đại trong ngày thường thấp hơn đất liền và nhiệt độ cực tiểutrong ngày thường cao hơn đất liền dẫn đến biên độ nhiệt ở đại dương nhỏ, biên độnhiệt ở lục địa lớn hơn

Để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo & khả năng vận dụng kiến thức của HSvào giải quyết các vấn đề trong bài học và trong thực tế, GV không nhất thiết tựmình sử dụng kiến thức các môn khoa học khác để giải thích các vấn đề trong mônĐịa lý mà có thể khơi gợi, giúp HS tự vận dụng kiến thức liên môn (đã được họctrong các môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Công nghệ, Văn, Sử) để giải quyết vấn đề

2.2.4 Liên hệ thực tế và rèn luyện kĩ năng sống cho HS

* Liên hệ thực tế: làm cho nội dung bài học trở nên gần gũi với HS, các em dễ

dàng khắc sâu kiến thức Ngoài ra các em sẽ cảm thấy kiến thức môn Địa lý thật bổích, chúng có thể sử dụng vào trong thực tế cuộc sống Điều đó làm tăng thêm sựhướng thú cho các em khi học bài

- Tuy nhiên do giới hạn về thời gian và đòi hỏi sự nghiên cứu kĩ lưỡng của GV,

sự nỗ lực lớn từ phía HS nên phần liên hệ thực tế chưa được coi trọng trong tiếthọc

- Để phần liên hệ thực tế được sôi động, GV cần: nghiên cứu những nội dungtrong bài học có thể liên hệ thực tế Sau đó tìm tòi những hình ảnh, đoạn phim,những ví dụ điển hình, sinh động, hóm hỉnh và có tính giáo dục cao để có thể thuhút được sự chú ý của HS, kích thích sự tìm tòi, khám phá của các em

Trang 22

10 Bài 3 - Đã biết đến bản đồ từ các lớp dưới, vậy bản đồ giúp ích cho em

như thế nào trong học tập, trong cuộc sống?

- Nếu đậu Đại học, lên TP HCM lần đầu tiên để nhập học, chưa

biết đường đi, em sẽ sử dụng những cách nào để tìm được nơi

Mục II

- VD 1: Cho HS xem 1 đoạn phim về động đất và sóng thần ở NhậtBản hoặc In-đô-nê-xi-a rồi yêu cầu HS giải thích hiện tượng

- VD 2: Thời gian gần đây báo chí liên tục đưa tin về trận động đất

ở Nê-pan làm chết và thương vong hàng chục nghìn người Nhưngtrận động đất mạnh tới 7,8 độ Richter ấy cũng không gây ra hiệntượng núi lửa, sóng thần như ở Nhật Bản Tại sao thế nhỉ?

Bài 9

Mục 2

- Hình ảnh đá ba chồng ở Định Quán là hình ảnh rất quen thuộc ởtỉnh Đồng Nai chúng ta (GV cho HS xem hình ảnh đá Ba Chồng).Theo em đó là sản phẩm của quá trình ngoại lực nào?

“Trường Sơn Đông nắng Tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình”

- GV: chúng ta nên xem dự báo thời tiết trước khi đi du lịch ở miềnTrung (Huế, động Phong Nha Kẻ Bàng) vào đầu mùa hạ nhé đểtránh các đợt gió Phơn, rất khô nóng khó chịu

- Liên hệ Việt Nam:

+ VD1: nước ta không phải là nước thải lượng khí nhà kính nhiềunhất thế giới nhưng lại là một trong 5 quốc qia chịu ảnh hưởngnặng nề nhất của hiện tượng BĐKH toàn cầu do chúng ta có đường

bờ biển dài, vùng biển rộng lớn, có nhiều đồng bằng ven biển, đặcbiệt là ĐBSH, ĐBSCL nơi có kinh tế phát triển, dân cư đông đúcnhưng lại có địa hình tương đối thấp so với mực nước biển

+ Các em có biết VN đã có những giải pháp gì để ứng phó với hiệntượng này? (HS trả lời)

+ GV bổ sung: ngoài trồng rừng, xây đê biển (đã xây kiên cố ở TràVinh), hợp tác quốc tế cùng cắt giảm khí nhà kính, nâng cao ý thứcngười dân, trước khi biển lấn vào đất liền, chúng ta đã chủ độnglớn biển như: xây dựng đô thị lấn biển ở Kiên Giang, Cần Giờ(TP HCM),…

- VD2: Hiện trạng ô nhiễm môi trường ở Long Khánh hiện nay

Trang 23

như thế nào, theo em nguyên nhân là gì, hãy đè xuất giải pháp khắcphục? (Có thể cho HS tự đi khảo sát thực tế).

12 Bài 6 - Đồng Nai có địa hình bán bình nguyên (thuộc Đông Nam Bộ),

dựa vào hiểu biết của bản thân, em hãy phân tích những thuận lợi

và khó khăn của dạng địa hình này đến sự phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh ta?

Bài 10 - Cũng nằm trong khu vực Châu Á gió mùa nhưng khác với miền

Bắc có một “mùa đông lạnh”, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều; ĐồngNai chúng ta “mùa đông không lạnh”, nóng quanh năm, có 2 mùamưa khô tương phản sâu sắc Em hãy giải thích vì sao?

- Theo em, khí hậu ở Đồng Nai tạo thuận lợi và gây khó khăn gìcho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đề xuất giải pháp khắc phụcnhững khó khăn do thời tiết, khí hậu mang lại?

Bài 15 - Theo em ở Đồng Nai nói chung, Long Khánh nói riêng chịu ảnh

hưởng của những thiên tai gì, nguyên nhân và giải pháp?

Bài 16 - Dựa vào At lat Địa lý Việt Nam và bản đồ phân bố dân cư Đồng

Nai (GV cung cấp), em hãy chứng minh dân cư tỉnh Đồng Naiphân bố không đều, phân tích nguyên nhân, liên hệ ở TX LongKhánh?

- Đồng Nai tự hào là một trong những tỉnh có số lượng KCN nhiềunhất cả nước Do đó hàng năm tỉnh ta thu hút được một lượng lớndân nhập cư Theo em, dân nhập cư đã góp phần làm thay đổi cơcấu dân số theo tuổi và theo giới của tỉnh như thế nào?

Bài 17 - Em hiện nay cũng đã bước vào tổi lao động rồi Vậy em nhận

thấy mình có thế mạnh gì và còn những hạn chế gì cần cố gắngkhắc phục?

- Em đã có kế hoạch gì cho tương lai của mình để không rơi vàotình trạng “thất nghiệp, thiếu việc làm”?

Bài 18 - Quá trình đô thị hóa đã tác động như thế nào đến sự phát triển

kinh tế - xã hội-môi trường Long Khánh? (Có thể cho HS đi khảosát thực tế)

Bài 22 - Kể tên các loại cây công nghiệp ở Long Khánh mà em biết Tại

sao ở đây lại trồng được những loại cây đó? (Cho HS đi khảo sátthực tế)

- Thực tế chỉ ra rằng: chúng ta không nên chuyên canh một loạicây nhất định Em hãy giải thích vì sao?

Bài 31 - Có thể cho HS đi khảo sát các tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng

du lịch để thấy được hiện trạng phát triển du lịch của địa phương.Nếu không có điều kiện đưa HS đi, chúng ta có thể cho HS xemhình ảnh & đặt ra các câu hỏi như:

+ Nếu em là hướng dẫn viên du lịch ở Long Khánh, em sẽ đưakhách du lịch đi tham quan những địa điểm nào của thị xã, vì sao?+ Em thấy ngành du lịch ở Long Khánh đã phát triển mạnh chưa,

Trang 24

vì sao? Nếu là một trong những người lãnh đạo trong ngành du lịchcủa thị xã, em sẽ làm gì để thúc đẩy ngành du lịch của thị xã pháttriển hơn nữa?

Rèn luyện kĩ năng sống cho HS:

Đây là một khâu rất quan trọng trong tiết học Địa lý Bởi mục đích cuốicùng của giáo dục là hình thành nhân cách cho HS, giúp chúng có đủ bản lĩnh đểsống tốt

Rèn luyện kĩ năng sống cho HS trong tiết Địa lý sẽ khiến HS thấy được ýnghĩa thực sự của môn học, có động cơ học tập đúng đắn

Kỹ năng sống biểu hiện ở thái độ, hành vi, lời nói của một người trướcnhững tình huống phức tạp và đa dạng của cuộc sống Nó được hình thành và pháttriển cùng với tuổi đời của người đó và có thể thay đổi theo thời gian khi nhận thứccủa con người thay đổi Ở tuổi học trò, kỹ năng sống của các em học sinh chịu sựchi phối mạnh mẽ của nền giáo dục từ gia đình và nhà trường

Theo UNESCO, WHO, UNICEF: KNS gồm các kĩ năng cơ bản sau: KNgiải quyết vấn đề, KN suy nghĩ/ tư duy phân tích có phê phán, KN giao tiếp hiệuquả, KN ra quyết định, KN tư duy sáng tạo, KN giao tiếp ứng xử cá nhân, KN tựnhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị, KN thể hiện sự cảmthông, KN ứng phó với căng thẳng và cảm xúc

Một số ví dụ minh họa rèn luyện KNS cho HS qua bài học:

EU đang gặp phải, tình trạng khủng hoảng của Hy Lạp & những

nỗ lực chung của EU để cùng giúp đỡ nước này vượt qua giaiđoạn khó khăn Sau đó GV liên hệ : Sự đồng tâm hiệp lực, “Lálành đùm lá rách” bao giờ cũng tạo nên sức mạnh lớn Do đó,các em phải biết đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, trong cuộcsống để mỗi người tự hoàn thiện mình & đưa phong trào lớp đilên bởi không ai có thể sống một mình trong cuộc đời này

Trang 25

em đang còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải cố gắnghọc để sau này có chất lượng cuộc sống tốt hơn.

- Ngoài ra, chúng ta cần phải có kế hoạch chi tiêu hợp lý, không

ăn quà vặt quá nhiều, không đua đòi & nâng cao ý thức tự học,giảm việc đi học thêm để tiết kiệm chi tiêu cho gia đình, cònnhững bạn nào gia đình khá giả thì có thể giúp đỡ những bạnhoặc người khác có hoàn cảnh khó khăn hơn mình

2.2.5 Nghệ thuật sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để tăng hứng thú học tập của HS

Có nhiều phương pháp giảng dạy: bên cạnh các phương pháp truyền thống:đàm thoại gợi mở, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp thuyết trình, hiệnnay nhiều phương pháp mới được đưa vào giảng dạy như: phương pháp động não,phương pháp nghiên cứu, tranh luận, thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai,…

Mỗi phương pháp có ưu - nhược điểm riêng Việc GV lựa chọn phươngpháp nào để bài giảng trở nên hấp dẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mục đích, nộidung của bài học, đối tượng HS, phương tiện dạy học, ngoài ra việc lựa chọnphương pháp dạy học còn phụ thuộc vào năng lực, sở trường của giáo viên

Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học mới Ưu điểmnổi bật của phương pháp này là phát huy được tính tích cực, chủ động của HS, rènluyện cho các em tinh thần làm việc tập thể, cùng nghiên cứu để giải quyết vấn đềchung, tăng thêm tình đoàn kết giữa các em Thế nhưng không phải bài học nàocũng có thể áp dụng phương pháp này & không phải GV nào cũng tổ chức thảoluận nhóm trong tiết học thành công Nó là cả một nghệ thuật đòi hỏi sự nghiêncứu nghiêm túc, tỉ mỉ của GV và sự hứng thú của các em HS

Tác giả đã đi dự giờ nhiều GV, trong đó có cả các giáo viên trong nhóm Địa

lý, các giáo viên trong các tổ/nhóm khác: Sử, GDCD, Văn, Sinh học, tác giả nhậnthấy: có nhiều GV tổ chức phương pháp này rất hiệu quả, tạo được sự hứng thú đốivới HS, tiết học sôi nổi hẳn Tuy nhiên có một số GV thậm chí không sử dụngphương pháp này vì cho rằng nó mang tính hình thức, mất thời gian và không hiệuquả Một số GV khác lại tổ chức phương pháp này một cách sơ sài: GV chia lớpthành các nhóm, giao cho mỗi nhóm nghiên cứu một nội dung bài học rồi lênthuyết trình là xong Đây có lẽ là hình thức mà rất nhiều GV sử dụng nhưng tác giảnhận thấy nó chưa đem lại hiệu quả cao: trong nhóm chỉ có khoảng 1, 2 em đọcsách, tóm tắt vấn đề và đại diện lên trình bày, không có sự thảo luận hoặc tranhluận sôi nổi & chưa phát huy được hết khả năng của mỗi HS

Ngày đăng: 17/07/2015, 19:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w