Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của sản xuất cà phê tại xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lắk
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài báo cáo này, tôi đã có sự hướng dẫn và giúp đỡ to lớn của các tổ chức, đoàn thể, cá nhân trong và ngoài trường giúp đỡ Em xin tỏ lòng biết ơn đến:
Ban lãnh đạo trường Đại học Tây Nguyên.
Quý thầy cô trong khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh đã giảng dạy và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tại trường
Thầy giáo Hồ Quốc Thông đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành báo cáo này.
Cán bộ và nhân dân xã Cư M’gar đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt nhiệm vụ trong suốt thời gian thực tập tại địa bàn.
Buôn Ma Thuột, tháng 12 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Tố Nga
Trang 2PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết
Cùng với sự phát triển của thế giới và khu vực, nền kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn, trong đó kinh tế nông nghiệp và đặc biệt là sản phẩm
cà phê chiếm giữ một vai trò cực kỳ quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Cà phê được đưa vào Việt Nam từ những năm 1850[1], nhưng đến năm 1975 khi đất nước hoàn toàn giải phóng thì sản xuất cà phê mới được chú trọng Tuy được đầu tư muộn nhưng sản xuất cà phê Việt Nam có tốc độ phát triển nhanh chóng, diện tích và sản lượng tăng qua các năm, 1975 cả nước có khoảng 13 nghìn ha trồng cà phê, sản lượng đạt 6 nghìn tấn thì đến năm 2008 diện tích trồng cà phê lên đến 525,1 nghìn ha với sản lượng đạt 996,3 nghìn tấn[2] Cà phê Việt Nam ngày càng được nhiều nước biết đến hơn, lượng cà phê xuất khẩu liên tục tăng trưởng trong những năm qua Từ niên vụ 2000/01 đến 2008/09 Việt Nam luôn là nước xuất khẩu cà phê thứ 2 trên thế giới chỉ sau Brazil[3], đem về một lượng ngoại tệ không nhỏ, góp phần xây dựng đất nước, nâng cao đời sống người dân sản xuất cà phê
Cà phê là một nông phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh lớn trên thị trường nhưng Việt Nam chưa khai thác được lợi thế này Công nghệ thu hoạch và bảo quản cà phê của nước ta còn lạc hậu dẫn đến chất lượng cà phê không ổn định Đầu tư chế biến để tăng giá trị thặng dư chưa nhiều do đó sản lượng cà phê xuất khẩu cao nhưng chủ yếu
là xuất khẩu sản phẩm thô Nước ta chưa xây dựng được những thương hiệu mạnh gắn liền với vị trí của sản phẩm trên thị trường thế giới
Ở Việt Nam, Tây Nguyên được thiên nhiên ưu đãi với đặc điểm đất đỏ bazan rộng lớn ở độ cao 500m đến 600m so với mặt biển, phù hợp cho cây công nghiệp như
cà phê, cao su, tiêu Trong đó, cà phê là cây công nghiệp chủ đạo ở đây Phát huy lợi thế so sánh của vùng, Tây Nguyên phát triển diện tích và sản lượng cà phê lên đứng đầu cả nước Nhưng với tiềm năng thuận lợi của vùng thì cây cà phê vẫn có thể phát triển hơn nữa
Trang 3Thực tế hiện nay, hiệu quả sản xuất cà phê còn thấp chi phí người sản xuất bỏ ra
so với doanh thu cao, lợi ích từ cây cà phê mang lại chưa xứng với tiềm năng Trong quá trình sản xuất cà phê gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vấn đề nâng cao năng suất cây trồng và nâng cao chất lượng cà phê Ngoài ra người sản xuất cà phê luôn đối mặtvới các rủi ro, rủi ro về thời tiết, rủi ro về dịch bệnh Giá thành sản xuất cà phê tương đối cao, 1 tấn cà phê nhân có giá thành khoảng 18,5 triệu đồng, đồng thời với chất lượng không đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng nên giá bán thường thấp Kết quả là thu nhập của người sản xuất cà phê thấp so với các tác nhân trong chuỗi giá trị
cà phê, so với tổng giá trị của chuỗi giá trị cà phê[4] Do đó cần phải có các biện phápnâng cao hiệu quả sản xuất cà phê, góp phần cải thiện đời sống người dân, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.Hiệu quả sản xuất cà phê phụ thuộc vào nhiềuyếu tố, bao gồm các yếu tố khách quan như lượng mưa, nhiệt độ và các yếu tố chủ quan như vốn, trình độ Hiệu quả kĩ thuật là yếu tố cốt yếu để đánh giá hiệu quả sản xuất cà phê Các yếu tố tác động đến hiệu quả kĩ thuật là các yếu tố chủ quan như trình độ của chủ hộ, dân tộc, kinh nghiệm sản xuất cà phê, tín dụng, khuyến nông, mức độ phụ thuộc của lao động [3], [5], [6] Các yếu tố này có vai trò quyết định trong quá trình sản xuất cà phê
Xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lắk là xã còn nhiều khó khăn, đời sống người dân còn thấp Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu ở đây Cây
cà phê là cây trồng chính của các nông hộ Nâng cao hiệu quả sản xuất cà phê là một vấn đề quan trọng Các yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất đặc biệt là hiệu quả kỹ thuật của quá trình sản xuất cà phê rất đa dạng và phức tạp Thực trạng việc sản xuất
cà phê ở đây ra sao? Hiệu quả kỹ thuật hiện nay như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật? Các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào? Yếu tố nào đóng vai trò quyết định? Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của sảnxuất cà phê sẽ biết được mức độ ảnh hưởng, ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất, từ
đó có hướng tác động tích cực đến sản xuất cà phê
Để liên hệ thực tế với lý thuyết đã học, nâng cao kiến thức, trau dồi khả năng
thực hành nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
Trang 4quả kỹ thuật của sản xuất cà phê tại xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lắk.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Ước lượng hệ số hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ theo dung lượng mẫu điều tra trên đại bàn nghiên cứu
Xác định và phân tích những yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật sản xuất cà phê
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Nội dung nghiên cứu
Xem xét mối quan hệ tương quan giữa những yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất cà phê trên cơ sở ước lượng hệ số hiệu quả kĩ thuật
Tìm hiểu những nghiên cứu trước đây về việc xác định những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kĩ thuật của sản xuất cà phê Đồng thời phân tích mối quan hệ của những yếu tố này trong điều kiện cụ thể của thực trạng sản xuất cà phê trên địa bàn xã
Cư M’gar Tìm hiểu mối quan hệ của những yếu tố này và hệ số hiệu quả kỷ thuật củacác hộ sản xuất cà phê thông qua mô hình kinh tế lượng
1.3.2 Thời gian nghiên cứu:
Thu thập số liệu 3 năm: 2008, 2009, 2010
Đề tài được thực hiện từ 17/10/2011 đến ngày 17/11/2011
1.3.3 Không gian:
Xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lắk
Trang 5PHẦN 2: CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT CƠ BẢN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Cà phê
Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiến thảo (Rubiaceae), Chi cà phê baogồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau Có 3 dòng cà phê chính: Cà phê chè (Coffea arabica), cà phê vối (Coffea canephona hay Coffea robusta), cà phê mít (Coffea excelsa) Việt Nam hiện là nước đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê vối[7]
Niên vụ cà phê được tính từ tháng 10 đến hết tháng 9 năm sau Thời gian thu hoạch tại Đắk Lắk thường kéo dài trong khoảng 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến hếttháng 1 năm sau
2.1.2 Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả là một thuật ngữ chỉ chung cho tất cả các hoạt động diễn ra trong đời sống, nó ở dạng vật chất có thể cân đo đếm được, người ta lấy làm thước đo trong công việc hoặc so sánh hoạt động này với hoạt động khác về hiệu quả mang lại
Thuật ngữ hiệu quả được dùng rộng rãi trong khoa học và đời sống hằng ngày, trong từ điển giải thích ngôn ngữ người ta quan niệm “hiệu quả là kết quả rõ ràng”[8]
2.1.3 Khái niệm hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả kĩ thuật là một trong hai bộ phận của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kĩ thuật được định nghĩa là khả năng của người sản xuất có thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp của các đầu vào và công nghệ cho trước[9]
Trang 6Bản chất công việc của khuyến nông là làm công tác đào tạo nông dân (truyền thông, huấn luyện nông dân) Mục tiêu của khuyến nông là nông dân biết và tự quyết mọi hành động của họ; phát triển nông nghiệp, nông thôn; nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội cho người nông dân[10].
2.1.5 Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người,thông qua hoạt động đó con người tác động vào tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người
2.1.6 Phân bón
Phân bón là những chất hoặc hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ có chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu được đưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp vớimục đích chính là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm giúp chúng sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao[24] Trong đề tài sử dụng lượng phân bón
vô cơ cho là một yếu tố đầu vào của mô hình DEA để xác đinh hiệu quả sản xuất
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Thu thập số liệu tại 14 thôn buôn thuộc địa bàn xã Cư M’gar Số lượng hộ điềutra tại các thôn buôn lấy theo tỷ lệ phần trăm số khẩu của từng thôn buôn trong tổng
số khẩu toàn xã
Trang 7Tại thôn, buôn chọn ngẫu nhiên các hộ để phỏng vấn Từ các hộ đã phỏng vấn chọn ra 90 hộ ngẫu nhiên để nghiên cứu.
Bảng 2.1: Phân bổ phiếu điều tra
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
- Nguồn tài liệu được thu thập từ các báo cáo kinh tế xã hội của xã Cư M’gar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk cung cấp, từ sách báo, các tài liệu có liên quan Ngoài
ra còn có thông tin từ các cơ quan đóng trên địa bàn xã, đoàn, hội trực thuộc xã
Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp:
- Sử dụng phương pháp điều tra: sử dụng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn để thu thập số liệu, thông tin các hộ tại địa bàn
- Sử dụng phương pháp quan sát: Quan sát, ước lượng trên thực tế để nhận xét, đối chiếu kiếm tra độ chính xác của phiếu điều tra
- Phỏng vấn những người hiểu biết tình hình của xã, hiểu biết kỹ thuật canh tác, sản xuất để đối chiếu, kiểm tra, làm giàu thêm thông tin
Trang 82.2.4 Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu.
Phiếu điều tra được làm sạch và tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel 2003
2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp chính được sử dụng trong đề tài này bao gồm hai phần chính Thứ nhất là phương pháp đường bao dữ liệu (DEA – Data Envelopment Analysis) để ước lượng giá trị của hệ số hiệu quả kĩ thuật Sau khi ước lượng được điểm số hiệu quả kĩ thuật của tất cả những hộ nghiên cứu, chúng tôi tiến hành áp dụng mô hình hồi qui Tobit để nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số yếu tố kinh tế xã hội tới hiệu quả sản xuất cà phê của địa bàn nghiên cứu Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu lầnđầu tiên được phát triển bởi Charnes, Cooper, và Rhodes vào năm 1978[11] DEA dựatrên quy hoạch tuyến tính
Phương pháo này dựa trên cơ sở xây dựng đường giới hạn hiệu quả, là đường được xác định bởi các đoạn thẳng nối các điểm sản xuất có hiệu quả, có hình nón lồi
để ước lượng hàm sản xuất Phương pháp này gọi là phương pháp không có tham biến DEA được sử dụng đánh giá hiệu quả kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực khác nhau DEA gồm hai mô hình: Mô hình tối đa đầu ra với giả thiết cố định đầu vào và tối thiểu đầu vào với giả thiết đầu ra cố định
Mô hình nghiên cứu tối thiểu đầu vào hay sản lượng cố định (Constant returns
( maxu.v u Yi v X j
Trang 9với u Yi v X j 1 i, j=1,2….,n
u, v ≥ 0Trong đó:
u: khối lượng đầu ra của hộv: khối lượng đầu vào của hộVới ràng buộc v’Xj=1 Ta có:
Mô hình tối đa hoá sản lượng (Variable returns to scale-VRS) DEAVRS
Tương tự mô hình DEACRS nhưng bổ sung thêm điều kiện 1’ λ=1[12]
Sau khi có được các điểm đạt hiệu quả kĩ thuật của N hộ Chạy hồi quy Tobit để xác định mối qua hệ tương quan, mức độ biến động của biến phụ thuộc với các biến độc lập
Mô hình Tobitlà mô hình được mở rộng từ mô hình probit sử dụng lần đầu tiên bời nhà kinh tế học James Tobin năm 1958 Nó còn có tên gọi khác là mô hình hồi quy chuẩn được kiểm duyệt hay mô hình hồi quy có biến phụ thuộc bị chặn, bởi vìbiến phụ thuộc nghiên cứu bị chặn Mô hình Tobit giúp ta xác định mối quan hệ tươngquan biến đổi giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập[13] Các trị số hiệu quả kĩ thuật
Trang 10từ mô hình DEA nằm từ 0 đến 1 nghĩa là Y*
j bị chặn do đó có thể sử dụng mô hình Tobit xác định sự thây đổi của các trị số hiệu quả kĩ thuật khi các biến kinh tế xã hội thây đổi, để đưa ra một mô hình sản xuất cà phê hợp lí, đạt hiệu quả sản xuất
Mô hình Tobit giả định Yj là biến phụ thuộc và j = 1, 2 ,…, n thỏa mãn
Yj = max (Yj*,0) Trong đó Yj* là các biến của mô hình hồi quy tuyến tính Trong đề tài đó là các đi trị số hiệu quả kĩ thuật
Yj*= β’Xj + Uj
Khi Yj* > 0 thì Yj=Yj*
Khi Yj* ≤ 0
Xj là biến độc lập β là hệ số và Uj là phần sai số với giả thiết độc lập phân phối N(0,
Ϭ2) Mục tiêu là ước lượng β và Ϭ.[14]
DEA và Tobit là một trong các phương pháp phân tích kinh tế rất hữu dụng và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
tế nông nghiệp Nghiên cứu vấn đề hiệu quả chi phí của các trang trại cá hồi ở Thổ Nhĩ Kì, các tác giả dùng DEA tính toán các điểm sản xuất đạt hiệu quả kĩ thuật, sau
đó dùng mô hình Tobit để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả của các nông trang trại[19] Trong nghiên cứu hiệu qủa chi phí của việc sử dụng thuốctrừ sâu trong sản xuất bông truyền thống và bông đã biến đổi gen, các tác giả cũng sử dụng phương pháp tiếp cận 2 bước bao gồm DEA và Tobit để đánh giá[20] Johannes Sauer và Jumanne M Abdallah sử dụng DEA và hồi quy Tobit phân tích tình hình sảnxuất thuốc lá tại Tanzania[21] Để đánh giá hiệu quả sản xuất cao su thiên nhiên tại tỉnh Kon Tum, tác giả Thái Thanh Hà cũng sử dụng phương pháp này trong nhiên cứucủa mình[22] Qua đó ta thấy sử dụng DEA và hồi quy Tobit trong đề tài là hợp lí
PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn
Trang 11Đặc điểm địa bàn gồm điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội Các nội dung này được tham khảo từ Báo cáo Tổng kết tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm và đề
ra phương hướng 6 tháng cuối năm 2011 và Báo cáo tình hình thực hiện công tác 9 tháng đầu năm và 3 tháng cuối năm 2011 của xã Cư M’gar huyện Cư M’gar tỉnh Đắk Lắk
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Theo Chỉ thị 364/CT – TTg ngày 01 tháng 07 năm 1994, xã Cư M’gar, huyện
Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk có vị trí được xác định như sau:
Phía Bắc giáp xã EaHding và xã Ea Kpal
Phía Nam giáp xã Quảng Tiến
Phía Đông giáp thị trấn Quảng Phú
Phía Tây giáp xã Quảng Hiệp và xã Ea M’nang
3.1.1.2 Địa hình
Địa hình tại xã có độ dốc khá lớn, và dốc theo hướng Tây Nam sang Bắc Trên địa bàn có 4 loại đất chính: Đất đỏ trên đá Bazan; đất dốc tụ thung lũng; đất nâu thẩm trên đá bọt; đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá Bazan
Tổng diện tích tự nhiên là 3110 ha Trong đó đất sử dụng trong nông nghiệp chiếm nhiều nhất lên đến 91,62% Điều này cho ta thấy tầm quan trọng của nông nghiệp đối với địa bàn
Trang 12nhiệt độ gió mùa Cao nguyên, với nền nhiệt đới tương đối đều trong năm, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn, một năm có 2 mùa rõ rệt.
Nhiệt độ trung bình 230C, nhiệt độ cao nhất 29,40C, nhiệt độ thấp nhất 7,40C.Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.712mm, lượng mưa cao nhất đạt
2.334mm, lượng mưa thấp nhất là 1.144mm
Lượng bốc hơi bình quân hàng năm là 1.178mm
Về ánh sáng: Số giờ chiếu sáng hàng năm 2.890h, tháng 3 có số giờ chiếu sángcao nhất 260h, tháng 9 có số giờ thấp nhất 153h
Gió: Tháng 10 hướng gió chính là hướng Tây Nam, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là hướng Đông Bắc Mùa mưa gió cấp 2 – 3, mùa khô gió cấp 6 – 7
có lúc cấp 10 – 11
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 – 10, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng
có mưa cao nhất là tháng 7, tháng 8, tháng 9, mưa từ 254 – 324mm/tháng Mùa khô từtháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, tháng 1- tháng 2 hầu như không mưa
3.1.1.4 Thuỷ văn
Hệ thống sông suối trên địa bàn xã thuộc lưu vực 3 suối Ea Hding, Ea K’Nung
và Ea K’Ong, có hướng chảy từ Bắc sang Tây Nam Ngoài 3 suối này còn có các nhánh suối nhỏ phân bố khá đều trên địa bàn xã Các nhánh suối nhỏ này được bắt nguồn từ các đồi cao đổ ra suối lớn, do địa hình dốc nên khả năng giữ nước kém Vào mùa khô nước tại các nhánh suối nhỏ cạn kiêt, 3 suối chính nước xuống thấp
Nguồn nước có xu hướng giảm, không đáp ứng đủ cho người dân sản xuất, đặcbiệt là vào mùa khô Hiện nay có một số nơi canh tác lúa chỉ làm được một vụ vào mùa mưa, mùa khô không đủ nước cho canh tác Lượng nước tưới hằng năm cũng không ổn định và đang giảm dần, không đủ đáp ứng cho sản xuất
3.1.2 Điều kiện xã hội
Trang 13Cụm 2 gồm có 3 buôn: Buôn Dhung, Buôn Trấp, Buôn Bling.
Cụm 3 gồm có 7 thôn: Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4, Thôn 5, Thôn 6 và Thôn 7
Trên địa bàn xã có 4 thành phần dân tộc sinh sống: Êđê, Kinh, Nùng, Tày Trong đó dân tộc Êđê chiếm hơn 50% cụ thể ở bảng sau:
Bảng 3.2: Tình hình dân số xã Cư M’gar
- Công giáo: 192 hộ với 558 khẩu
- Phật giáo: 53 hộ với 199 khẩu
- Tin làng:320 hộ với 1.431 khẩu
Lao động trên địa bàn chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ lao động thấp Sản xuất theo kinh nghiệm Năng suất chưa cao, lấy công làm lời là chính
Trên địa bàn có nhiều dân tộc và tôn giáo tạo nên nhiều nét văn hoá độc đáo,
đa dạng cho địa phương nhưng bên cạnh đó nó cũng gây ra nhiều khó khăn cho quản
lý, phát triển kinh tế văn hoá xã hội
3.1.2.2 Giáo dục
Hiện nay xã có 5 gồm 1 trường cấp II, 3 trường cấp 1 và 1 trường mẫu giáo
Cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị phục vụ dạy và học đang trong giai đoạn hoàn thiện Trong năm học 2009 – 2010 tại các trường trên địa bàn có:
659 học sinh trung học cơ sở
728 học sinh tiểu học