Cho ví dụ và phân tích ý nghĩa của nó đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ?...3 1.1 Những biện pháp tu từ thường được sử dụng trong tác phẩm văn học dành cho trẻ mầm non...3 1.2 Ví d
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
Vấn đề 1: Hãy nêu những biện pháp tu từ thường được sử dụng trong tác phẩm văn học dành cho trẻ mầm non? Cho ví dụ và phân tích ý nghĩa của nó đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ? 3
1.1 Những biện pháp tu từ thường được sử dụng trong tác phẩm văn học dành cho trẻ mầm non 3
1.2 Ví dụ cụ thể về các biện pháp tu từ thường sử dụng trong tác phẩm văn học trẻ em và ý nghĩa của nó đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3
1.2.1 Tu từ ngữ âm 4
1.2.2 Tu từ từ vựng, ngữ nghĩa 7
1.2.3 Tu từ cú pháp: 18
Vấn đề 2: Hãy dự kiến những biện pháp sử dụng tác phẩm văn học giáo dục cho trẻ mầm non trong một lĩnh vực cụ thể? 23
Sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh 23 1 Lý do chọn đề tài: 23
2 Phần nội dung: 24
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 24
A Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học 24
B Hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh 33
C Mối quan hệ giữa văn học trẻ em với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ 37
2.2.Thực trạng việc sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi làm quen với MTXQ 42
Trang 23.Những biện pháp sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh 563.1.Sử dụng tác phẩm văn học để gây hứng thú cho trẻ khi bước vào tiết học làm quen với môi trường tự nhiên hay giúp trẻ thoải mái hơn khi kết thúc hoạt động 563.2 Sử dụng tác phẩm văn học cung cấp cho trẻ những kiến thức về thế giới xung quanh 573.3 Sử dụng mô hình các nhân vật trong tác phẩm văn học làm đồ dùng, học
cụ cho trẻ hoạt động làm quen với môi trường tự nhiên 593.4 Sử dụng tác phẩm văn học củng cố kiến thức về bài học môi trường xung quanh cho trẻ 603.5 Cho trẻ tập sáng tác văn học trong quá trình làm quen, tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh 623.6 Cho trẻ làm album về mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và môi trường xung quanh 633.7 Lập kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết về tiết học quen với môi
trường xung quanh của trẻ mầm non có sử dụng tác phẩm văn học: 643.8 Sưu tầm, lựa chọn các tác phẩm văn học phù hợp với các hoạt động trongtiết học làm quen với môi trường xung quanh của trẻ mầm non 65Vấn đề 3: Chị có kiến nghị, đóng góp gì cho giáo viên sau khi học xong chuyên đề nay? 66
PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 3PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp trồng người các cấp học, bậc học luôn tìm tòi đổimới về nội dung, hình thức, phương pháp dạy học để nâng cao chất lượngdạy và học tốt hơn Trong đó bậc học mầm non đóng một vai trò hết sứcquan trọng trong sự nghiệp trồng người Đối tượng của giáo viên mầmnon là trẻ nhỏ, hoàn toàn còn non, trẻ, nhạy cảm với các tác động bênngoài, đồng thời cũng là lúc phát triển rất nhanh về mọi mặt, cả về thểchất lẫn tinh thần và trí tuệ Đây cũng là giai đoạn khởi điểm của việchình thành và phát triển nhân cách của trẻ Các mặt phát triển toàn diệncủa trẻ hòa quyện đan xem vào nhau, ảnh hưởng đan xem vào nhau khôngtách rời rõ nét Cho nên cho trẻ bước đầu làm quen với các môn học ngườigiáo viên mầm non mang trách nhiệm của người thiết kế, thi công đặt nềnmóng cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người ở lứa tuổimầm non
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học có vai trò vô cùng to lớntrong việc giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ em cả về đạo dức, trí tuệ,thẩm mỹ nó ảnh hưởng trực tiếp tới tâm hồn trẻ thơ, làm quen với tácphẩm văn học là trẻ được làm quen với vạn vật, với thiên nhiên đầy bí ẩndiệu kì, trẻ được làm quen với những con vật ngộ nghĩnh đáng yêu, trẻđược thể hiện tính cách sắc thái, cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu các nhân vật
mà mình sắm vai từ đó trẻ biết khen, chê, biết đúng, sai, thiện ác để trẻ cóthể tích lũy được kinh nghiệm sống cho mình và làm thế nào để trẻ có thểcảm thụ những tác phẩm văn học một cách tốt nhất toàn diện nhất đâycũng chính là bài toán cần lời giải cho các giáo viên mầm non
Trang 4Các tác phẩm văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với trẻ thơnhất là lứa tuổi mẫu giáo Nó đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên về cuộcsống xung quanh Văn học nuôi dưỡng và phát triển ở trẻ trí tưởng tượng,sáng tạo nghệ thuật Vì vậy việc đem tác phẩm văn học đến cho trẻ là mộtviệc rất quan trọng và cần thiết Đối với trẻ mẫu giáo, quá trình được tiếp xúcvới tác phẩm văn học phải từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, để từ đótrẻ bộc lộ khả năng cảm thụ văn học của mình Khả năng cảm thụ đó là sựphát triển trực tiếp của trẻ về các lĩnh vực: Nhận thức - thẩm mĩ - ngôn ngữ -tình cảm xã hội Tuy nhiên khi đưa tác phẩm đến cho trẻ đòi hỏi người giáoviên phải có những suy nghĩ sáng tạo và lựa chọn những tác phẩm hay phùhợp với lứa tuổi, có ý nghĩa giáo dục trẻ để từ đó đưa ra những phương pháp,biện pháp thích hợp nhằm giúp trẻ phát triển tốt khả năng cảm thụ tác phẩmvăn học.
Kết thúc chuyên đề: “sử dụng tác phẩm văn học trong giáo dục trẻ mầmnon” chúng tôi làm bài thu hoạch với các vấn đề sau:
Câu 1: Hãy nêu những biện pháp tu từ thường được sử dụng trong tác phẩm văn học dành cho trẻ mầm non? Cho ví dụ và phân tích ý nghĩa của nó đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ?
Câu 2: Hãy dự kiến những biện pháp sử dụng tác phẩm văn học giáo dục cho trẻ mầm non trong một lĩnh vực cụ thể?
Câu 3: Chị có kiến nghị, đóng góp gì cho giáo viên sau khi học xong chuyên đề nay?
Trang 5PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Vấn đề 1: Hãy nêu những biện pháp tu từ thường được sử dụng trong tác phẩm văn học dành cho trẻ mầm non? Cho ví dụ và phân tích ý nghĩa của nó đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ?
1.1 Những biện pháp tu từ thường được sử dụng trong tác phẩm văn học dành cho trẻ mầm non
Biện pháp tu từ là cách phối hợp, sử dụng các phương tiện ngôn ngữbao gồm cả phương tiện trung hòa (từ có phần thông tin cơ sở) và phương tiện
tu từ (những từ có phần thông tin bổ sung) nhằm đạt hiệu quả tu từ (tác dụng
là gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh, nổi bật…) Biện pháp tu từ cũng tồn tại ởmọi cấp độ của lời nói:
- Cách phối hợp các đơn vị ngữ âm: Hài thanh, tượng thanh, điệp thanh,điệp âm…
- Cách phối hợp các phương tiện từ vựng, ngữ nghĩa: Dùng từ cùngtrường nghĩa, đồng nghĩa, tương phản, các kiểu chuyển nghĩa…
- Cách phối hợp các phương tiện cú pháp: Trùng điệp cú pháp, sóngđôi, tách biệt cú pháp…
- Cách phối hợp các phần, các đoạn của văn bản theo những quan hệnhất định
Trong tác phẩm văn học dành cho trẻ em thì tác giả đã sử dụng nhiềubiện pháp tu từ khác nhau dựa theo các cấp độ của lời nói như trên
1.2 Ví dụ cụ thể về các biện pháp tu từ thường sử dụng trong tác phẩm văn học trẻ em và ý nghĩa của nó đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Biện pháp tu từ có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc phát triển ngônngữ cho trẻ Nhờ các biện pháp tu từ mà tác giả lột tả được hết ý muốn, ý nghĩ
Trang 6của mình Nhờ sử dụng các biện pháp tu từ mà những sự vật hiện tượng xungquanh trẻ trở nên sinh động, hấp dẫn, thu hút trẻ đến với chúng để tìm hiểu,khám phá, kích thích sự tò mò đối với trẻ
Và cũng nhờ nó mà các sự vật hiện tượng quen thuộc trở thành nhữnghình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu hình ảnh, giàu ý nghĩa và đầy sức sống.Qua những bài thơ, những câu chuyện sinh động như vậy mà trẻ có được vốn
từ phong phú để diễn đạt và miêu tả thế giới xung quanh
Đồng thời trẻ cảm nhận được nội giáo dục trong từng tác phẩm văn học
và vận dụng chúng vào các hoàn cảnh giao tiếp, các tình huống khác nhautrong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày
1.2.1 Tu từ ngữ âm
- Sử dụng phụ âm: Trong tiếng Việt, phụ âm có thể đứng ở vị trí âm
đầu và âm cuối Điệp phụ âm là hình thức lặp lại phụ âm đầu (hoặc cuối) nằmmục đích tăng tính tạo hình và biểu cảm
- Điệp vần: Trong âm tiếng Việt, bộ phận vần bao gồm vị trí âm đệm,
âm vần và âm cuối Hạt nhân của vần và cũng là hạt nhân của âm tiết lànguyên âm chính Điệp vần thực chất là điệp nguyên âm chính
Ví dụ:
Bài thơ “Chiếc xe lu” – Trần Nguyên Đào là một ví dụ về điệp phụ âm
và điệp vần:
Tớ là chiếc xe lu Người tớ to lù lù Con đường nào mới đắp
Tớ lăn bằng tăm tắp…
Nhờ có sử dụng biện pháp điệp phụ âm và điệp vần mà tác giả đã chocác em có hình dung về chiếc xe lu thật dễ dàng và chiếc xe lu cũng trở nênsinh động hẳn chứ không phải lù lù, chậm chạp như chúng ta thấy
Trang 7Trong bài thơ “Hoa kết trái” Tác giả Thu Hà đã sử dụng nhiều lần biệnpháp điệp phụ âm và điệp vần:
Hoa cà tim tím Hoa mướp vàng vàng Hoa lựu chói chang…
Hoa vừng nho nhỏ Hoa đỗ xinh xinh…
Tác giả miêu tả màu sắc các loại hoa bằng những từ láy “Tim tím”,
“vàng vàng”, “chói chang”… làm tăng thêm vẻ đẹp muôn màu, muôn sắc củacác loại hoa
Đồng thời khi sử dụng những từ láy này cũng giúp trẻ dễ nhớ, dễ thuộcbài thơ Qua đây, ngôn ngữ của trẻ dễ dàng phát triển khi trẻ nói về màu sắccủa các loại hoa
Cũng sử dụng biện pháp điệp phụ âm và điệp vần, bài thơ “Bắp cảixanh” của Phạm Hổ miêu tả hình ảnh của bắp cải thật đẹp:
Bắp cải xanhXanh mát mắt
Lá cải sắpSắp vòng trònBúp cải nonNằm ngủ giữaNhịp điệu bài thơ thật vui nhộn cùng với cách gieo vần đọc đáo giúpcác em thích thú, dễ thuộc dễ nhớ Chữ cuối của câu thứ nhất được lặp lại vớichữ đầu của câu thứ hai, chữ cuối câu thứ ba được lặp lại chữ đầu câu thứ tưgợi lên một cảm giác khép kín giúp cho các em hình dung ra hình dáng tròntròn của bắp cải với các lớp lá xen xẽ đan chạt vào nhau
Trang 8- Tượng thanh: là hình thức bắt chước, mô phỏng âm thanh tự nhiên
bằng cách dùng những yếu tố ngữ âm có dạng tương tự
Ù ù như xay lúa Đất trờiLộp bộp Mù trắng nướcLộp bộp Mưa chéo mặt sân…Hay trong bài
“Mời vào” – Võ QuảngCốc, cốc, cốc
Ai gọi đóNếu là thỏCho xem tai…
Cốc, cốc, cốc…
Xin mời vào
“Cốc, cốc, cốc” thật đúng với âm thanh của tiếng gõ cửa phát ra Tiếng
gõ cửa thật vang vọng, thật rõ ràng làm cho người trong nhà dễ nghe thấy và
mở cửa cho người gõ Trẻ học được âm thanh của tiếng gõ cửa, âm thanh nàythật quen thuộc và trẻ dễ dàng miêu tả lại được
Hoặc “ lộp cộp! lộp cộp! gió thổi vù vù bên tai rùa Cây bên đường lao vềphía sau vun vút Rùa kêu:
- Ôi chậm lại! chậm lại!
(Bài học tôt – Võ Quảng)
Trang 9Nội dung: Các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại cónét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ Nếu nét giống nhaunày thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ ( cơ sở giống nhau) thì ta có so sánh nổi; nếunét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ thì ta có so sánh chìm.
So sánh là biện pháp tu từ mà chúng ta hay gặp nhất trong các TPVHviết cho trẻ em Nhờ có biện pháp này mà các hình tượng trong văn học được trẻ
dễ dàng tiếp nhận, dễ dàng liên tưởng và cũng dễ nhớ, dễ thuộc Đồng thời, các
sự vật hiện tượng được miêu tả sinh động hơn, qua đó trẻ thấy được vẻ đẹp củacác sự vật hiện tượng trong cuộc sống và thêm yêu thêm quý chúng
Ví dụ:
Bài thơ “Trăng sáng” của Nhược Thủy và Phương Hoa so sánh hìnhảnh ánh trăng với “cái đĩa”, với “con thuyền trôi” thật cụ thể và thật quenthuộc, dễ hình dung Những hình ảnh mà tác giả dùng để so sánh rất phù hợpvới khả năng tư duy và tưởng tượng của trẻ:
Trăng tròn như cái đĩa
Lơ lửng mà không rơiNhững hôm nào trăng khuyếtTrông giống con thuyền trôi
Trang 10Cũng hình ảnh ánh trăng nhưng với Trần Đăng Khoa thì có cách nhìnkhác Với lối so sánh độc đáo và những hình ảnh đẹp trong bài thơ “Trăng ơi
từ đâu đến” thì đã kích thích trí tưởng tượng phong phú bay bổng cho các em
và khơi gợi tình yêu trăng, yêu thiên nhiên của trẻ:
Trăng ơi… Từ đâu đến?
Trăng hồng như quả chínLửng lơ lên trước nhà…
Trăng tròn như mắt cáChẳng bao giờ chớp mi…
Trăng bay như quả bóngBạn nào đá lên trời
Hay trong bài thơ “Cây dừa” của Trần Đăng Khoa:
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàuDang tay đón gió gật đầu gọi trăngThân dừa bạc phếch tháng nămQuả dừa - đàn lợn con nằm trên caoĐêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
Tác giả so sánh quả dừa với “đàn lợn con”, tàu dừa với “chiếc lược”thật hay, quen thuộc Với trẻ những hình ảnh như đàn lợn con, chiếc lược thìkhông mấy gì xa lạ Và nhờ có sự so sánh này mà cây dừa trở nên thật gần gũivới trẻ
Và đây là hình ảnh con diều được so sánh với:
Cánh diều no gió… Diều là hạt cauSao trời trôi qua Phơi trên nong trờiDiều thành trăng vàng… Trời như cánh đồngDiều hay chiếc thuyền Xong mùa gặt háiTrôi trên sông Ngân… Diều em – lưỡi liềm
(Thả diều – Trần Đăng Khoa)
Trang 11- Nhân hóa: Là lấy những từ ngữ dùng để biểu thị thuộc tính, hoạt
động của con người để dùng cho đối tượng không phải là người
Có rất nhiều TPVH dành cho trẻ em sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa
Sử dụng biện pháp tu từ này rất hiệu quả đối với trẻ Nhờ có biện pháp này
mà các sự vật hiện tượng trở nên thật sinh động, gắn bó gần gũi với cuộc sốngcủa con người
Qua đó, trẻ rất thích thú khám phá các sự vật hiện tượng cũng như là cótình cảm yêu quý và gắn bó với chúng Thích thú với những nhân vật đángyêu, ngộ nghĩnh, điều này rất có ý nghĩa để giáo dục trẻ Trẻ đặt mình vàonhững nhân vật đáng yêu để trẻ ngoan như Thỏ anh, thích được bà, mẹ khen,thích làm những việc tốt giúp đỡ mọi người, có lỗi thì phải biết xin lỗi
Có thể nói biện pháp nhân hóa được sử dụng trong hầu hết các tácphẩm văn học viết cho trẻ mầm non Nhờ đó mà thế giới xung quanh trẻ luônvui tươi, trong trẻo Niềm vui như là một lẽ sống tự nhiên của các em - từcách nhìn, cách nghe, cách cảm, cách nghĩ, trí tưởng tượng…
Một tác phẩm viết về con người hay đồ vật chỉ được coi là một tácphẩm VHTN khi tác giả biết “trẻ con hóa” những con vật, đồ vật ấy để nóilên những suy nghĩ của chính các em; cảm thông, chia sẻ, cảm hóa các embằng những bài học nhân ái, nhẹ nhàng mà sâu sắc Có thể điển hình một vàitác phẩm sau:
- Sử dụng biện pháp nhân hóa cho các loài vật: “Chú dê đen”, “Hai bácgấu”, “Ai đáng khen nhiều hơn”, “Gà mẹ đếm con”, “Chú thỏ thông minh”,
“Đàn gà con”, “Cao và thấp”…
Ngỗng không chịu học Cứ giả đọc nhẩmKhoe biết chữ rồi Làm vịt phì cườiVịt đưa sách ngược Vịt khuyên một hồiNgỗng cứ tưởng xuôi Ngỗng ơi! Học! Học!”
(Ngỗng và Vịt - Phạm Hổ)
Trang 12- Nhân hóa cho thế giới tự nhiên: Mây, mưa, gió, ông mặt trời, mặttrăng…
Câu chuyện “Giọt nước tí xíu” của Nguyễn Linh là một câu chuyện thú
vị về cuộc phiêu lưu kì thú của giọt nước từ biển xanh tới rừng già, về suối,
về sông rồi lại ra biển cả Câu chuyện là một bài học sinh động, dễ hiểu giúptrẻ nhận biết bắt nguồn của hiện tượng mưa Biện pháp nhân hóa ở đây có ýnghĩa làm cho tác phẩm sinh động và lôi cuốn trẻ, giúp trẻ dễ hiểu và dễ hìnhdung ra hiện tượng mây, mưa
Tương tự câu chuyện “Giọt nước tí xíu” thì có các câu chuyện “Cô con
út của ông mặt trời” (Thu Hằng) hay “Nàng tiên bóng đêm” (Vi Tiểu Thanh)
… cũng có nội dung giải thích về hiện tượng thiên nhiên và cũng sử dụngbiện pháp tu từ nhân hóa Qua biện pháp này mà thế giới tự nhiên đến với trẻthật dễ dàng và dễ hiểu, dễ tiếp thu
- Thế giới thiên nhiên được nhân cách hóa, nhờ vậy, thế giới này trởnên thật sinh động, lôi cuốn đối với trẻ
Sân vườn được trồng câyCây giống như đàn trẻNhìn bé cây vẫy mờiHọc xong, ra chơi nhé!
(Sân cây – Phạm hổ)Mầm non mắt lim dim
Cố nhìn qua kẽ láThấy mây bay hối hảThấy lất phất mưa phùn…
(Mầm non – Võ Quảng)Hoạt động nhìn, vẫy mời hay mắt lim dim, cố nhìn, thấy là những hoạt động của con người Qua đây, các tác giả đã làm cho những cây non, hay
Trang 13mầm cây bỗng trở nên sống động, có hồn, giống như những em bé đang tò
mò, hé mắt nhìn ra xung quanh, thấy bao điều mới mẻ, lạ lẫm và thú vị
Hay:
Em đi trăng theo bướcNhư muốn cùng đi chơi(Trăng sáng – Nhược thủy)Trăng đi theo em bé, trăng cũng muốn vui chơi cùng em bé Trăng không còn là một vật thể cao vời, xa xôi nữa mà đã trở thành một người bạn thân thiết của em bé Sự hồn nhiên, ngây thơ của em bé trong bài thơ này rất gần với em bé – Ngô Thị Bích Hiền – bầu bạn cùng Ông mặt trời:
Ông ở trên trời nhé
Cháu ở dưới này thôiHai ông chúa cùng cười
Mẹ cười đi bên cạnhÔng mặt trời óng ánh(Ông mặt trời – Ngô Thị Bích Hiền)
- Phúng dụ là hệ thống những ẩn dụ, nhân hoá được sử dụng để biểu
đạt một nội dung triết lí hay bài học luân lí mà người nói không muốn trình bày trực tiếp.Nội dung: Ẩn dụ chỉ có một nghĩa Phúng dụ bao giờ cũng được hiểu ở cả hai bình diện nghĩa : ý nghĩa trực tiếp và ý nghĩa gián tiếp, trong đó
ý nghĩa trực tiếp là phương tiện biểu đạt còn ý nghĩa gián tiếp là mục đích biểu đạt Chức năng : Phúng dụ chủ yếu có chức năng nhận thức Khả năng biểu hiện sâu sắc và thâm thúy những ý niệm về triết lí nhân sinh khiến cho phúng dụ có thể tồn tại lâu dài với chúng ta Viết theo lối phúng dụ là cách viết vừa triết lí lại vừa nghệ thuật, vừa có tính hiện thực sâu sắc lại vừa mang tính truyền thống, nói điều quen thuộc mà ý nghĩa thật sâu xa
Trang 14Bác giun đào đất suốt ngàyTrưa nay chết dưới bóng cây sau nhà
Hò hàng nhà kiến kéo raKiến con đi trước, kiến già theo sauCầm hương kiến đất bạc đầu
Khóc than, kiến cánh khoác màu áo tangKiến lửa đốt đuốc đỏ làng
Kiến kim chống gậy, kiến càng nặng vaiĐám ma đưa đến là dài
Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn càKiến đen uống rượu la đà
Bao nhiêu kiến gió bay ra chia phần(Đám ma bác giun – Trần Đăng Khoa)
Ý nghĩa bề mặt của bài thơ này là hình ảnh những con kiến và hoạt động của chúng khi gặp một con giun bị chết Còn ý nghĩa bề sâu là lên án tệ
ma chay ở nông thôn, kẻ thì chạy ngược, chạy xuôi lo toan, kẻ thì uống rượu, chè chén, kẻ lại tranhthur kiếm chác, chia phần quanh nạn nhân đã chết Như vậy, ý nghĩa bề mặt ở đây chỉ là phương tiện biểu đạt, còn ý nghĩa bề sâu mới chính là mục đích biểu đạt
- Ẩn dụ tu từ là cách lấy tên gọi của đối tượng này để lâm thời biểu thị
một đối tượng khác trên cơ sở của một quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng
Hình ảnh “mẹ” trong bài thơ “Mẹ ốm” của Trần Đăng Khoa được ví như hình ảnh đất nước của đứa trẻ Hình ảnh “đất nước” thì ta hình dung ra sự lớn lao, thiêng liêng trong nó Và ở đây, mẹ là thiêng liêng, là tất cả của đứa trẻ
Con mong mẹ khỏe dần dầnNgày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say Rồi ra đọc sách cấy cày
Mẹ là đất nước tháng ngày của con.
Trang 15Nhờ biện pháp ẩn dụ này mà ta cảm nhận được sự yêu thương vô vàngcủa người con dành cho mẹ của mình Con yêu mẹ nhất trên đời, con yêu mẹnhư yêu đất nước Và mẹ chính là đất nước của riêng con.
Mẹ phơi áo hoa
Em dán tranh gàTết đang vào nhàĐất trời nở hoa
“Tết đang vào nhà” Nguyễn Hồng Kiên là một bài thơ hay nói lên vẻđẹp của đất trời khi xuân về Hai câu cuối của bài thơ thể hiện niềm vui củacon người hòa cùng trời đất khi xuân về, đây là mối giao hòa thật hồn nhiên
và tự nhiên Tết được ví như một người khách quý được cả nhà mong chờ Và
tết đến thì “đất trời nở hoa” Đây là một hình ảnh ẩn dụ nói lên niềm vui và
sức sống mới của con người khi mùa xuân đến
Và đây là một hình ảnh tương đồng ngộ nghĩnh giữa chú hươu cao cổ
và chiếc xe cần cẩu:
Hươu cao cổ Cho nắm lá
Có móc câu Hươu không ănGật gật đầu Hươu chăm chỉTrông ngộ nhỉ Làm việc nặng
Làm việc nặngYêu bến cảng
Có bầy hưuSớm lại chiềuCâu hàng hóa
(Hưu cao cổ - Định Hải)
“Hưu cao cổ” là một hình ảnh ẩn dụ, biểu thị chiếc cần cẩu Có thể nói:
“Chiếc cần cẩu trông giống con hưu cao cổ” Như vậy, ẩn dụ cũng được gọi là
Trang 16so sánh ngầm Nó khác so sánh ở chỗ chỉ công khai sử dụng một đối tượng –đối tượng dùng để biểu thị - còn đối tượng được nói đến – đối tượng biểu thị
- thì lại ẩn đi, không phô ra như so sánh Người nghe dựa vào quy luật liêntưởng những nét tương đồng để tìm ra đối tượng được nói đến
Ẩn dụ tu từ cũng giống như so sánh tu từ (do đó người ta còn gọi là sosánh ngầm), nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đốitượng Những mối quan hệ liên tưởng tương đồng thường được dùng để cấutạo ẩn dụ tu từ là: tương đồng về màu sắc, tương đồng về tính chất, tươngđồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu.Ẩn dụ tu
từ có hai chức năng: biểu cảm và nhận thức
- Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm
hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đódựa vào mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng
Hình thức: Giống ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ chỉ có một vế biểu hiện, vếđược biểu hiện không phô ra
Nội dung: Nếu ẩn dụ dựa trên mối quan hệ liên tưởng về nét tươngđồng thì hoán dụ dựa vào mối quan hệ có thực, quan hệ tiếp cận Một số mốiquan hệ logic khách quan thường được dùng để cấu tạo nên hoán dụ tu từ:
- Quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng
- Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
- Quan hệ giữa cái chứa đựng và vật được chứa đựng ( cải dung)
- Quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc
- Quan hệ giữa số lượng xác định và số lượng không xác định ( cải số )
- Quan hệ giữa tên riêng và tính cách con người ( cải danh)
Trang 17- Điệp ngữ Ðiệp ngữ là biện pháp lặp đi lặp lại những từ ngữ nào đó
nhằm mục đích mở rộng, nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc
Ví dụ:
Đi đến nơi nào Lời chào đi trướcLời chào dẫn bướcChẳng sợ lạc nhàLời chào kết bạnCon đường bớt xaLời chào là hoa
Nở từ long đất…
(Lời chào đi trước – Nguyễn Hoàng Sơn)
“ Thương mẹ, thương mẹ mà lại cọ xong chậu mới về thăm mẹ Thôi, cho cọ chậu suốt đời…”
(Truyện ba cô gái)Chân vịt hình mái chèo Chân tàu hình chong chóngChân xe bánh lăn trònChân bàn im đứng thẳngSuốt đời im đứng thẳng(Chân – Phạm Hổ)Nhờ sử dụng biện pháp lặp nên dù miêu tả một chân nhưng Phạm Hổ
đã để các em mở rộng tầm hiểu biết và có sự so sánh giữa các chân với nhau, cuối cùng đi đến kết luận: cái chân luôn đứng thẳng, vững chắc là cái chân giátrị nhất
Trang 18Cũng có khi điệp cả câu:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù saCủa song kinh thầy
………
Hạt gạo làng ta
Có công các bạnSớm nào chống hạn
………
Hạt gạo làng ta Gủi ra tiền tuyếnGửi về phương xa
Em vui em hátHạt gạo làng ta
Em vui em hátHạt vàng làng ta!
(Hạt gạo làng ta – Trần Đăng Khoa)Điệp câu “hạt gạo làng ta” được nhắc đi nhắc lại trong tất cả các khổ thơ giúp cho việc thể hiện những suy nghĩ, những cảm xúc khác nhau về hạt gạo được rõ ràng, tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới nhận thức và tình cảm của người đọc
Trang 19-Tương phản: Tương phản là biện pháp tu từ dùng các từ ngữ biểu thị
những khái niệm đối lập nhau cùng để xuất hiện trong một văn cảnh nhằmmục đích làm rõ hơn đặc điểm của đối tượng được miêu tả Ví dụ:
Hôm nay trời nắng như nung
Mẹ em đi cấy phơi lưng cả ngàyƯớc gì em hóa thành mây
Em che cho mẹ suốt ngày bóng râm(Bóng mây – Thanh Hào)
Sự tương phản giữa “trời nắng như nung” và “suốt ngày bong râm” làm nảy sinh một lượng thông tin mới, đó là tình yêu thương, sự cảm thông sâu sắc của em bé đối với người mẹ của mình phải đi làm trong một thời tiết vô cùng khắc nghiệt
- Nói giảm ( còn được gọi là nhã ngữ hay khinh từ) là biện pháp tu từ
dùng hình thức biểu đạt giảm bớt mức độ hơn , nhẹ nhàng hơn, mềm mại hơn
để thay thế cho sự biểu đạt bình thường cần phải lảng tránh do những
nguyên nhân của tình cảm Nói giảm không có phương tiện riêng mà thường được thực hiện thông qua các hình thức ẩn dụ hay hoán dụ tu từ
Ví dụ:
Bà ngoại em mất đã lâu
Mẹ còn giữ được cơi trầu,bình vôi…
(Kĩ niệm về bà ngoại – Nguyễn Thị Mai)
Từ mất thay thế cho từ chết, nhằm giảm bớt nổi đau thương trước sự ra
đi của bà ngoại, nhưng qua đó lại thấy rõ tình cảm của em bé đối với bà, vìthế mà giá trị biểu cảm của câu thơ cũng được tăng lên
- Ngoa dụ Ngoa dụ là cách nói cường điệu quy mô của những hiện
tượng được miêu tả nhằm mục đích biểu đạt sâu vào bản chất của sự vật, hiệntượng Ngoa dụ có chức nưng nhận thức và chức năng biểu cảm Ví dụ:
Trang 20Trái tim thép của tao mách bảo tao rằng hãy cắm đôi sừng bằng kim cương vào bụng mày Nào, sói, hãy lại đây!
(Truyện chú dê đen)
“Tim thép” và “sừng kim cương” là cách nói cường điệu nhằm nói sự dũng cảm, kiên quyết của chú dê đen trước con sói hung hăng, độc ác
- Im lặng (hay còn gọi là phép lặng) là biện pháp tu từ dùng sự biểu đạt
bằng cách bỏ trống (tín hiệu zêrô) Nhờ ngữ cảnh, nhờ những dòng chữ, những tiếng nói có mặt mà những dòng chữ, những tiếng nói vắng mặt trở nên
có nghĩa.( Trong chữ viết, phép lặng được thể hiện bằng dấu ba chấm Ít sử dụng trong các tác phẩm văn học lứa tuổi mầm non
-Lộng ngữ Lộng ngữ là cách vận dụng tiềm năng về ngữ âm, chữ viết,
từ vựng, ngữ pháp, của tiếng việt nhằm tạo nên một lượng ngữ nghĩa mới, bất ngờ so với phần tin cơ sở Lộng ngữ thường được dùng để châm điếm, dùa vui với chức năng nhận thức và chức năng tình cảm ít dùng trong văn học thiếu nhi
1.2.3 Tu từ cú pháp:
Thường có những biện pháp: Sử dụng câu hỏi tu từ, đảo ngữ…
- Câu đặc biệt: Đây là loại câu chỉ có một từ hoặc một cụm từ được
dùng trong những trường hợp đặc biệt nhằm trình bày sự vật, hiện tượng hoặctrạng thái, hành động như đang tồn tại trước mắt nhằm đưa người đọc, người nghe vào cương vị của người chứng kiến Ví dụ:
Chửi Kêu Đấm Đá Thụi Bịch
(Nguyễn công Hoan)
- Câu hỏi tu từ: Là hình thức câu hỏi không phải để hỏi mà mục đích là
để tăng cường tính diễn cảm của lời nói
Trang 21Trong bài thơ “Trăng ơi từ đâu đến” Trần Đăng Khoa đã sử dụng lặp đi
lặp lại nhiều lần câu hỏi “Trăng ơi từ đâu đến ?” đã làm tăng sự diễn cảm của
bài thơ Câu hỏi như làm tăng sự thích thú, sự tò mò khi trẻ bắt gặp ánh trăng
Bài thơ “Chú thỏ đa nghi” - Phạm Hổ:
Hay trong “Bài học tốt” của Võ Quảng có sử dụng một số câu hỏi tu từ:
“Ô kìa! Có ai đó không? Có phải ta đã dừng lại không? Ta mệt rồi! Ta phải
nhờ một người khác đi hộ ta…
- Đảo ngữ: Là thay đổi các thành phần cú pháp mà không làm thay đổi
nội dung thông báo cơ sở của câu Đảo ngữ có tác dụng nhấn mạnh vào thànhphần được đảo, nhằm gây một ấn tượng sâu sắc, đậm nét về sự vật, hiện tượng
Đựng trong chậu thì mềm Thành hạt mưa rơi xuốngRửa bàn tay sạch quá Tưới mát vườn, mát ruộng
Vào tủ lạnh hóa đá Mơn mởn mầm cây lên,
Rắn như đá ngoài đường Đựng trong chậu thì mềm
Trang 22(Nước – Vương Trọng)Thông thường, vị ngữ đứng sau chủ ngữ, nhưng trong câu trên, vị ngữđược đảo lên đứng trước chủ ngữ, nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo Đảo
bổ ngữ:
SấmGhé xuống sânKhanh khách cười
(Trần Đăng Khoa)Thông thường, bổ ngữ đứng sau động từ (hoặc tính từ), nhưng trongcâu thơ trên, bổ ngữ được đảo lên đứng trước nhằm nhấn mạnh tính chất của
sự việc (tiếng cười)
- Câu ngắn và câu dài:Câu ngắn có thể diễn tẻ những sự việc diễn ra
đồn dạp, nhanh chóng, hoặc cần khẳng định một điều gì đó chắc chắn ví dụ:
Rùa ra đi Ngày đầu rùa chạy, như có ai đẩy sau lưng Ngày thứ 2 rùachạy, như có ai đẩy sau lưng Ngày thứ 3 rùa đi Ngày thứ 4 đi chậm Ngàythứ 5, rùa lê từng bước Cái gì đẩy sau lưng đã biến mất Con đường hóa gồghề Rùa bước chậm dần…chậm dần rồi dừng lại!
(bài học tốt – Võ Quãng)
Câu dài có thể miêu tả một không gian rộng lớn, những nỗi niềm tâm
sự vấn vươn không dứt hoặc diễn tả những khó khăn, gian khổ
Ví dụ:
“Các bạn nhỏ của trăng ơi, trong một ngày các bạn làm bao nhiêu việc,nào đi học mẫu giáo, khi về nhà còn phải sâu kim giúp bà, nhặt rau giúp mẹ…Trăng thì không nhiều việc như các bạn…”
(Lời ru của trăng – Xuân Quỳnh)
Trang 23*Kết luận:
Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng đi vào lòng ngườimột cách nhẹ nhàng, tự nhiên, sâu sắc Chính vì lẽ đó mà văn học, đặc biệt làcác tác phẩm văn học có vai trò quan trọng đến việc hình thành và phát triểnnhân cách toàn diện cho trẻ Văn học mang đến cho trẻ thơ những cái hay, cái
đẹp, cái thiện, cái chân thạt và cao quý V.G.Beieelinxki đã từng nói: “Một cuốn sách viết cho thiếu nhi là để giáo dục, mà giáo dục là một sự nghiệp vĩ đại, vì nó quyết định số phận con người” Những ảnh hưởng của văn học đến
các em là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nó đi vào nhận thức của các emmột cách chậm rãi từ từ nhưng lại có giá trị nhân văn to lớn đến việc hìnhthành một nhân cách toàn diện
Để phát huy được nhiều mặt đến việc giáo dục trẻ, văn học là mộtphương tiện mang lại hiệu quả mạnh mẽ trong việc giáo dục các em về trí tuệ,đạo đức, thẫm mỹ và thể chất Đặc biệt văn học góp phần rất lớn vào việcphát triển ngôn ngữ cho trẻ Đối với trẻ, ngôn ngữ có vai trò to lớn trong việchình thành và phát triển cơ sở ban đầu của nhân cách E.I.Chikhiêva, nhà giáodục Nga nổi tiếng xem xét công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủyếu của hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề cho mọi sự thành công
khác Ông cho rằng: “Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khoá của nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng văn hoá của dân tộc, của nhân loại”
Sử dụng tác phẩm văn học trong giáo dục trẻ là nhiệm vụ quan trọngcủa cô giáo mầm non Sự tiếp xúc thường xuyên của trẻ với các tác phẩm vănhọc được chọn lọc dưới sự hướng dẫn của cô giáo sẽ mở mang nhận thức,phát triển tư duy và trí tưởng tượng cho trẻ, hình thành ở trẻ những cảm xúcthẩm mỹ, tình cảm đạo đức, thái độ sáng tạo ngôn ngữ và năng lực cảm thụnghệ thuật Điểm đặc trưng của trẻ mầm non chưa biết đọc, khả năng đọc
Trang 24thông viết thạo của các em lại cành không thể, nhưng bằng phương pháp đọc
kể diễn cảm có nghệ thuật các tác phẩm văn học, phương pháp trò chuyện,trao đổi với trẻ về tác phẩm văn học, phương pháp sử dụng các phương tiệntrực quan nhằm củng cố, khắc sâu những biểu tượng Nhà sư phạm giúp trẻcảm nhận sâu sắc nội dung tư tưởng của tác phẩm ở mức độ của các em, giúpcác em cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật, tích luỹ vốn từ vănhọc nghệ thuật, những hình tượng nghệ thuật, những khái niệm và rèn thao tác
tư duy, óc sáng tạo
Đặc biệt: Văn học thiếu nhi với phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
M.Goorki nói: Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, mọi lĩnh vực của đờisống đều được văn học đề cập đến
Phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ hàng đầu trong giáo dục mầm non vìngôn ngữ được xem là phương tiện vạn năng giúp con người thâm nhập, khámphá tất cả các lĩnh vực khoa học, cũng như các lĩnh vực của đời sống hành ngày.Thông qua quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn học, trẻ có cơ hội phát triển vốn
từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc và nâng cao khả năng biểu đạt…
Trang 25Vấn đề 2: Hãy dự kiến những biện pháp sử dụng tác phẩm văn học giáo dục cho trẻ mầm non trong một lĩnh vực cụ thể?
Sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
nó đem lại và mở ra cho trẻ thế giới tình cảm của con người, kích thích sự chú
ý đến con người, nó nuôi dưỡng và phát triển trí tưởng tượng sán tạo nghệthuật và làm cho vốn ngôn ngữ của trẻ được chau chuốt có cấu trúc ngữ phápđúng Do vậy trong hoạt động dạy phải xác định được mục đích cụ thể của tiếthọc để có phương pháp, biện pháp dạy cho hợp lý, phát triển tư duy sáng tạo,tính tích cực cá nhân, tính độc lập sáng tạo của trẻ Hình tượng văn học nghệthuật có tác dụng tích cực đến việc giáo dục đạo đức, nhân phẩm của trẻ ngay
tư tuổi ấu thơ và tạo tiền đề cho việc hình thành nhân cách con người, nhất làtrong thời đại mới Bên cạnh đó, văn học còn giúp cho trẻ phát triển ngônngữ, mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh
Sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh không chỉ là việc vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học mà nó
còn là một trong những phương pháp hữu hiệu giúp trẻ nhận biết sâu sắc hơn
về thế giới xung quanh Trên thực tế, có nhiều giáo viên khi cho trẻ làm quenvới môi trường xung quanh đã mất không ít thời gian để sưu tầm các tácphẩm văn học, cũng lựa chọn các hình thức khác nhau để đưa văn học vàohoạt động nhằm kích thích hứng thú và tập trung của trẻ vào bài học Điều đóphần nào giúp giáo viên bồi dưỡng và nâng cao khả năng tổ chức các hoạt
Trang 26động của trẻ theo hướng tích hợp, đổi mới Tuy nhiên, việc lựa chọn tác phẩmvăn học phù hợp cũng như chọn thời điểm đưa văn học vào hoạt động làmquen với môi trường xung quanh hoàn toàn không đơn giản.
Chính vì lí do đó, em đã lựa chọn đề tài: “Sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh” làm đề tài nghiên cứu.
2 Phần nội dung:
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
A Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
1 Khái niệm “ văn học trẻ em”
Văn học trẻ em lâu nay vẫn quen gọi là văn học thiếu nhi) “ gồm nhữngtác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành cho trẻ em” Tuy vậy, kháiniệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tácphẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của trẻ
em ( Theo từ điển Thuật ngữ văn học – NXB Giáo dục, 1992)
Trên thế giới, từ rất lâu đã xuất hiện các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi.Hầu như bất cứ nhà văn lỗi lạc nào cũng đều có vài ba tác phẩm viết cho các
đó là những sách học vần, sách bách khoa, sách dạy các quy tắc ứng xử trong
xã hội xuất hiện ở châu Âu từ thế kỉ XIV Dần dần khuynh hướng đề cao nghệthuật trong sáng tác cho các em ngày càng được chú ý Đã có nhiều sáng táccho các em trở thành tác phẩm kinh điển của nền văn hóa nhân loại, ví dụ:Truyện cổ Anđécxen, Truyện kể của Peeeerron, Gulivo du kí của Gi Xuypt,không gia đình của Hecto malo…Ở mỗi dân tộc, văn học cho các em có nhữngnét đặc sắc riêng, tuy nhiên, những tác phẩm hay đều gặp nhau ở một điểm làhướng về mục đích nhân văn, hướng tới cái thiện, cái đẹp trong cuộc sống
Ở Việt Nam, từ đầu thế kỉ XX bắt đầu xuất hiện các tác phẩm văn học viếtcho các em, nhưng phải đến sau cách mạng tháng Tám 1945, nền văn họcthiếu nhi mới chính thức được hình thành Đến nay, trải qua nhiều thăng trầm,
Trang 27văn học thiếu nhi Việt Nam đã phát triển phong phú, đa dạng và thực sự trởthành một bộ phận quan trọng của nền văn học dân tộc.
2 Một số đặc trưng cơ bản của văn học thiếu nhi và văn học dành cho trẻ em lứa tuổi mầm non.
Văn học thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tác văn học nói chung, vì thế, nócũng mang đầy đủ những đặc điểm của sáng tác nghệ thuật ngôn từ Nó thựchiện chức năng chung của văn học như: chức năng nhận thức, chức năng giáodục, chức năng thẩm mĩ, chức năng giao tiếp, chức năng vui chơi giải trí Cácchức năng này không tồn tại mà gắn bó chặt chẽ với nhau trong mối quan hệchuyển hóa với nhau Nhưng do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên cónhững đặc điểm được nhấn mạnh
Trước hết, tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bản nhấtcủa văn học thiếu nhi Văn học thiếu nhi có một vai trò vô cùng to lớn trongviệc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ.Nhà văn Tô Hoài, người có nhiều kinh nghiệm sáng tác cho các em đã khẳngđịnh tầm quan trọng của chức năng này:” Nội dung một tác phẩm văn học viếtcho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người.Nói thì thừa, cân nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính có tácdụng đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nênngười của bạn đọc ấy
Để thực hiện tốt chức năng giaos dục, tác phẩm văn học phải thực sự là ngườibạn đồng hành, người đối thoại đối với các em Nhà văn không thể nói vớicác em bằng những lời thuyết giáo khô khan mà phải bằng những hình tượngnghệ thuật, bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng để khơi gợi, dẫn dắt các em tìmhiểu và khám phá thế giới Các em phải phân biệt cái hay, cái dở; cái cao quý,cái chân, cái thiện, cái thấp hèn trong cuộc sống Văn học phai mang lại chotrẻ thơ cái đẹp, cái cao quý, cái chân, thiện Tuy nhiên, cũng không nên cực
Trang 28đoan chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi Không nên nghĩ rằng sau khiđọc một tác phẩm văn học là ngay lập tức các em trở thành người tốt hayngười xấu Những hình ảnh của văn học tới các em là một quá trình lâu dài vàbền bỉ Nó tác động một cách từ từ, nhưng giá trị nhân văn của nó thì có thểtạo nên sức mạnh, ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và phát triển nhâncách con người.
Nếu giáo dục là một đặc trưng có tính chất sống còn của văn học thiếu nhi thìkhả năng khơi gợi, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ cũng là mộtđặc điểm không thể thiếu của văn học viết cho các em Hơn cứ loại hình nghệthuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải đặc biệt quan tâm tới đặc điểm tâm
lý của lứa tuổi thiếu nhi Chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữa vănhọc thiếu nhi và văn học cho người lớn Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâmhồn trong sáng, dạt dào cảm xúc và trí tượng thì tuyệt vời phong phú, baybổng Các em cảm nhận thế giới bằng cái nhìn “ vật ngã đồng nhất”, bầu bạnvới hết thảy vạn vật xung quanh; có thể nghe được mọi âm thanh của cây cỏ;trò chuyện được với muôn loài; giao cảm, hòa đồng với thiên nhiên…có thểnói khả năng tưởng tượng của các em là vô tận Chính vì vậy mà tưởng tượng
là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm văn học viết cho các em.Muốn vậy, nhà văn viết cho các em phải thực sự hòa nhập với cuộc sống củatrẻ thơ, hiểu và sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộnghưởng với trẻ thơ trong sáng tác
Văn học viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non, do đối tượng phục vụ chủ yếu lànhững “ bạn đọc” còn chưa biết đọc, biết viết, nên ngoài những tiêu chí chungcủa văn ,học thiếu nhi, nó còn có những đặc điểm để nhấn mạnh, phù hợp vớitâm sinh lý đặc thù của lứa tuổi này Có thể kể ra một số đặc trưng cơ bản:
Trang 292.1 Sự hồn nhiên ngây thơ
Hồn nhiên và ngây thơ vốn là bản tính của trẻ thơ, vì thế, yêu cầu đầutiên của văn học viết cho các em cũng chính là sự hồn nhiên, ngây thơ Nhữngsáng tác của các em thực sự cuốn hút người đọc chính bởi sự hồn nhiên, ngâythơ, trong trẻo của các em
2.3 Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu
Những hình ảnh đẹp, rực rỡ cùng những vần điệu và nhạc điệu vui tươilàm cho tác phẩm thêm sinh động, có sức hấp dẫn và lôi cuốn sự chú ý củacác em Có thể nói, vần là một yếu tố không thể thiếu trong thơ của các em( điều này rất khác so với thơ của người lớn, nhiều khi vần không phải là yếu
tố thật quan trọng) Thơ không chỉ có vần mà còn phải có cách gieo vần thậtphù hợp với sự tiếp nhận của các em Ví dụ:
Bắp cải xanhXanh man mátBắp cải sắpSắp vòng trònBúp cải nonNằm ngủ giữa
2.4 Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trong sáng, dễ hiểu
Trang 30Đặc biệt là có nhiều từ tượng hình, tượng thanh, nhiều động từ, tính từmiêu tả, tính từ chỉ màu sắc…tạo nên sắc thái vui tươi, vừa khêu gợi, kíchthích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ, vừa tác động mạnh đến nhận thức, tưtưởng, tình cảm của trẻ.
2.5 Yêu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện
Đây cũng là một đặc điểm khá nổi bật trong sáng tác thơ cho trẻ lứatuổi mầm non Khác với thơ viết cho người lớn, hầu hết là thơ tâm trạng, baogồm hệ thống những cảm xúc, nỗi niềm, suy tưởng…thơ cho các em có thể kểlại được Ngoài những truyện thơ như mèo đi câu cá, nàng tiên ốc, bồ câu vàngan,…những bài thơ ngắn cũng đều kể lại một sự vật, hiện tượng
2.6 Yếu tố giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng
Một trong những chức năng cơ bản của văn học là chức năng giáo dục
Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh tới tâmhồn và nhận thức của con người Nhất là lứa tuổi mầm non, văn học, đặc biệt
là thơ càng có sự tác động nhanh nhạy Tuy nhiên, lứa tuổi này chỉ có thể “đọc” tác phẩm văn học một cách gián tiếp, tư duy logic lại chưa phát triển nênhầu như chưa có khả năng suy luận, phán đoán Chính vì thế, mỗi tác phẩmvăn học phải đem đến cho trẻ một ý nghĩa giáo dục rõ ràng
3 Ý nghĩa của tác phẩm văn học đối với sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ mầm non
Tác phẩm văn học có ý nghĩa to lớn góp phần phát triển toàn diện nhâncách cho trẻ Việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học được xem như mộtphương tiện, nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục trẻ
1 Ý nghĩa của văn học đối với giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
Giá trị thẩm mỹ: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, giá trị thẩm mỹ
là một lớp giá trị đặc thù, tồn tại song song với các lớp giá trị khác như giá trịthực dụng, giá trị đạo đức…Giá trị thẩm mỹ biểu hiện ở những sự vật, hiện
Trang 31tượng trong tự nhiên, trong bản thân con người, trong những đồ vật do conngười sáng tạo ra, trong các tác phẩm nghệ thuật… Dạng căn bản của giá trịthẩm mỹ là cái đẹp.
Văn học đem đến cho trẻ em những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng, gợi mởtrong các em những xúc cảm thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ…Văn học nhưmột thế giới rộng lớn để trẻ tiếp xúc với thế giới bên ngoài Từ những tácphẩm văn học này, trẻ thấy được cả thế giới bao la cùng với những hình ảnhđẹp đẽ, sinh động Những hình ảnh đẹp đẽ tươi sáng này lại được thể hiệnbằng hệ thống ngôn từ trong sáng, được tinh luyện dưới ngòi bút của nhà văn,
do vậy mỗi tác phẩm văn học là một bức tranh muôn hình muôn vẻ…
Với những giá trị thẩm mỹ độc đáo, văn học góp phần thỏa mãn nhucầu thẩm mỹ, phát triển năng lực và thị hiếu thẩm mỹ của con người Với trẻ
em, khả năng cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ tốt hơn, văn học chính làphương tiện nuôi dưỡng những xúc cảm thẩm mỹ ở trẻ Sau quá trình tiếp xúcthường xuyên với cái đẹp, trẻ em có thể sáng tạo ra cái đẹp
2 Tác phẩm văn học với việc giáo dục lòng nhân ái cho trẻ em lứa tuổi MN
Lòng nhân ái được hiểu là tình yêu thương con người, yêu thương vạnvật xung quanh
Lòng nhân ái của dân tộc ta được bắt nguồn từ xa xưa trong lịch sử,điều đó được thể hiện qua sự đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhauchống chọi với thiên tai, địch họa…ở lứa tuổi mầm non, trẻ bắt đầu hiểu biết
về bản thân với các mối quan hệ xã hội, cách giao tiếp ứng xử với nhữngngười xung quanh do vậy nhà sư phạm cần phải giáo dục cho trẻ những chuẩnmực của lòng nhân ái Qua đó trẻ có những hành vi và thái độ đúng đắn Vănhọc luôn luôn vì con người và hướng con người đến những tình cảm đạo đứctốt đẹp Văn học thiếu nhi cũng nhằm mục đích đem đến cho con ngườinhững tình cảm đạo đức tốt đẹp Như vậy thông qua tác phẩm văn học, trẻ
Trang 32được bồi dưỡng, vun đắp tình yêu thương con người, tình yêu thương cỏ câyhoa lá, vạn vật xung quanh…mở rộng hơn đó là tình yêu đất nước, tình yêuđồng loại…
3 Tác phẩm văn học với việc giáo dục trí tuệ cho trẻ em
Giáo dục trí tuệ cho trẻ được thực hiện qua nhiều hoạt động khác nhau
và văn học là một phương tiện hữu hiệu góp phần giáo dục trí tuệ cho trẻ
Văn học giúp trẻ nhận biết về các hiện tượng tự nhiên như: mây, mưa,sấm, chớp…
Văn học giúp trẻ mở mang nhận thức về thế giới cỏ cây hoa lá
Văn học giúp trẻ mở mang nhận thức về thế giới loài vật
Văn học giúp trẻ mở mang nhận thức về thế giới đồ vật
Văn học giúp trẻ mở mang nhận thức về các quan hệ trong đời sống
4 Văn học thiếu nhi với phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
M.Goorki nói: Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, mọi lĩnh vực của đờisống đều được văn học đề cập đến
Phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ hàng đầu trong giáo dục mầm non
vì ngôn ngữ được xem là phương tiện vạn năng giúp con người thâm nhập,khám phá tất cả các lĩnh vực khoa học, cũng như các lĩnh vực của đời sốnghành ngày
Thông qua quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn học, trẻ có cơ hội pháttriển vốn từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc và nâng cao khả năng biểu đạt…
Như vậy, có thể nói rằng văn học có ý nghĩa to lớn tới giáo dục mầm
non, giúp phát triển toàn diện nhân cách trẻ Là loại hình nghệ thuật ngôn từ,văn học có khả năng đi vào lòng người một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, sâu sắc.Chính vì lẽ đó mà văn học, đặc biệt là các tác phẩm văn học có vai trò quantrọng đến việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ Văn họcmang đến cho trẻ thơ những cái hay, cái đẹp, cái thiện, cái chân thạt và cao
Trang 33quý V.G.Beieelinxki đã từng nói: “Một cuốn sách viết cho thiếu nhi là để giáo dục, mà giáo dục là một sự nghiệp vĩ đại, vì nó quyết định số phận con người” Những ảnh hưởng của văn học đến các em là một quá trình lâu dài và
bền bỉ Nó đi vào nhận thức của các em một cách chậm rãi từ từ nhưng lại cógiá trị nhân văn to lớn đến việc hình thành một nhân cách toàn diện
Để phát huy được nhiều mặt đến việc giáo dục trẻ, văn học là mộtphương tiện mang lại hiệu quả mạnh mẽ trong việc giáo dục các em về trí tuệ,đạo đức, thẫm mỹ và thể chất Đặc biệt văn học góp phần rất lớn vào việcphát triển ngôn ngữ cho trẻ Đối với trẻ, ngôn ngữ có vai trò to lớn trong việchình thành và phát triển cơ sở ban đầu của nhân cách E.I.Chikhiêva, nhà giáodục Nga nổi tiếng xem xét công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủyếu của hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề cho mọi sự thành công
khác Ông cho rằng: “Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khoá của nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng văn hoá của dân tộc, của nhân loại”
Sử dụng tác phẩm văn học trong giáo dục trẻ là nhiệm vụ quan trọngcủa cô giáo mầm non Sự tiếp xúc thường xuyên của trẻ với các tác phẩm vănhọc được chọn lọc dưới sự hướng dẫn của cô giáo sẽ mở mang nhận thức,phát triển tư duy và trí tưởng tượng cho trẻ, hình thành ở trẻ những cảm xúcthẩm mỹ, tình cảm đạo đức, thái độ sáng tạo ngôn ngữ và năng lực cảm thụnghệ thuật Điểm đặc trưng của trẻ mầm non chưa biết đọc, khả năng đọcthông viết thạo của các em lại cành không thể, nhưng bằng phương pháp đọc
kể diễn cảm có nghệ thuật các tác phẩm văn học, phương pháp trò chuyện,trao đổi với trẻ về tác phẩm văn học, phương pháp sử dụng các phương tiệntrực quan nhằm củng cố, khắc sâu những biểu tượng Nhà sư phạm giúp trẻcảm nhận sâu sắc nội dung tư tưởng của tác phẩm ở mức độ của các em, giúpcác em cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật, tích luỹ vốn từ vănhọc nghệ thuật, những hình tượng nghệ thuật, những khái niệm và rèn thao tác
tư duy, óc sáng tạo
Trang 34Một điều quan trọng không kém là trong quá trình cho trẻ tiếp xúc vớicác tác phẩm văn học, giáo viên cần tạo cho trẻ tình yêu với tác phẩm, khámphá lời hay ý đẹp, hứng thú khi tiếp nhận bài thơ hay câu chuyện Có như vậylòng yêu thích văn học mới được khơi gợi trong trẻ Muốn công việc giáo dụcnày đạt hiệu quả, nhà giáo dục cần dạy học theo quan điểm giáo dục tích hợpnhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con người như một thể thống nhất, nóđối lập với cách nhìn nhận chia cắt rạch ròi các sự vật hiện tượng Quan điểmnày cho rằng: tích hợp không chỉ là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau mà làxâm nhập, đan xen vào các đối tượng hay các bộ phận của một đối tượng vàonhau tạo thành một chỉnh thể Trong đó không những các giá trị của từng bộphận được bảo tồn và phát triển mà đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn của toàn bộchỉnh thể đó được nhân lên Việc dạy trẻ phát huy tính tích cực, sáng tạo Dạyhọc một cách thỏa mái, linh hoạt, sôi động, hấp dẫn không áp đặt và không gòbó Có như vậy trẻ sẽ nhận thức thế giới xung quanh thông qua các tác phẩmvăn học một cách hiệu quả nhất.
Một đặc điểm nổi bậc riêng của các tác phẩm văn học dành cho trẻ emnữa là lối hành văn tương đối phóng khoáng, dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc Cácnhân vật với hình ảnh giàu tính biểu tượng, quen thuộc, gần gũi đối với trẻ
Từ đây trẻ học theo cách diễn đạt giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm
Qúa trình trẻ tiếp xúc với văn học là quá trình trẻ học lời ăn tiếng nóicủa các tác phẩm văn học Lời nói nghệ thuật giúp trẻ cảm nhận được cái đẹpcủa ngôn ngữ và cái đẹp của tiếng mẹ đẻ Một chủ thể trong xã hội không thểhoàn thiện về nhân cách nếu không hiểu và không yêu ngôn ngữ bản địa Cóthể tìm thấy trong các tác phẩm văn học những từ ngữ trong sáng, chính xác,nhiều màu sắc, có tính tạo hình, gợi tả và có tính biểu cảm cao Ví như cáchnói véo von như trong bài thơ “Bắp cải xanh” của Phạm Hổ :
Trang 35Bắp cải xanhXanh man mát
Lá c i s pải sắp ắp
S p vòng tròn ắpNhư vậy, tác phẩm văn học đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa tolớn trong việc phát triển ngôn ngữ và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ về sau
B Hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh.
1 Khái niệm khám phá khoa học
Làm quen với MTXQ “ là quá trình phát triển trẻ em như một nhâncách được bắt đầu từ thích ứng, đến lĩnh hội và cải tạo môi trường”
Hoạt động làm quen với MTXQ là việc tổ chức, hướng dẫn có mụcđích, có kế hoạch của giáo viên nhằm cho trẻ được tiếp xúc thường xuyên vớimôi trường xung quanh, tạo điều kiện dẫn dắt trẻ hòa nhập vào cuộc sống,nhằm tích lũy tri thức, những ấn tượng tốt đẹp về thiên nhiên, về cuộc sống xãhội phong phú, đa dạng…Đây là hoạt động nhằm giúp trẻ tìm hiểu thế giớixung quanh đầy bí ẩn, mới lạ có ý nghĩa quan trọng giúp trẻ tự tin, năng động,phát triển tính tò mò, ham hiểu biết, tích cực tìm tòi phát triển các chức năngtâm lý Khi tham gia vào hoạt động này, trẻ phải giải quyết rất nhiều vấn đềkhác nhau, phải suy nghĩ tích cực,…điều này làm cho tính tích cực, tự giác,sáng tạo, độc lập,…của trẻ có cơ hội phát triển và bên cạnh đó là sự phát triểnngôn ngữ
Hiện nay, trong giáo dục mầm non, khái niệm “ khám phá khoa học vềmôi trường xung quanh” Theo các quan điểm của nhiều nhà khoa học, cáchtốt nhất để học khoa học là phải làm khoa học Đối với trẻ mầm non, làmkhoa học cũng chính là quá trình khám phá Đây là những hoạt động nhằm “Tìm kiếm để phát hiện ra cái mới, cái ẩn dấu” Vì vậy, cho trẻ khám phá khoahọc về MTXQ chính là việc giáo viên tạo ra các điều kiện, cơ hội tổ chức hoạt
Trang 36động để cho trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật,hiện tượng xung quanh Đây thực chất là việc giáo viên tạo môi trường, tạo racác tình huống tổ chức các hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật,hiện tượng của MTXQ, thông qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sựvật, hiện tượng, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của chúng.
Có thể nói đây là hình thức quan trọng nhất giúp trẻ hiểu biết vềMTXQ vì hình thức này thực hiện nhiệm vụ cho trẻ làm quen với MTXQ mộtcách đầy đủ nhất so với các hình thức khác ( vui chơi, sinh hoạt, dạo chơi,tham quan…).Giờ học được tổ chức theo những thời gian nhất định và đượclập kế hoạch trước dựa trên chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ Với quanđiểm tích hợp, tích cực hóa hoạt động của trẻ, giáo viên có thể sử dụng phốihợp những phương pháp khác nhau Quá trình tổ chức tiết học được diễn ratheo một cấu trúc rõ rang và logic, khoa học về mặt nội dung dựa trên nhữngđặc điểm nhận thức, tình cảm của trẻ mầm non và nguồn tri thức về MTXQ.Mục đích chủ yếu của giờ học là trang bị cung cấp cho trẻ kiến thức về đặcđiểm đặc trưng của một số nhóm đối tượng Trên cơ sở đó hình thành kháiniệm sơ đẳng, biểu tượng khái quát về chúng Các kĩ năng so sánh, phân tích,tổng hợp…là kỹ năng chính trẻ được rèn luyện trên các giờ học Bên cạnh đó,giờ học còn góp phần quan trọng trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ
2 Các phương pháp cơ bản tổ chức hoạt động làm quen MTXQ
Do nội dung cho trẻ làm quen với MTXQ rất đa dạng, phong phú thuộcnhiều lĩnh vực, nhưng lại gần gũi với cuộc sống của trẻ, nên cần lựa chọn cácphương pháp, biện pháp sao cho phù hợp với quá trình nhận thức của trẻ Cóthể sử dụng các nhóm phương pháp cơ bản sau đây: Nhóm phương pháp trựcquan, nhóm Phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp thực hành
Mỗi nhóm phương pháp có một ưu thế nhất định trong quá trình giúp trẻ nhậnthức MTXQ Trong đó:
Trang 37- Nhóm phương pháp trực quan tạo cơ hội cho trẻ sử dụng các giác quan đểnhận thức những đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng xung quanh.
- Nhóm phương pháp dùng lời giúp trẻ điều chỉnh, làm chính xác hóa,
hệ thống hóa, khái quát hóa tri thức của trẻ về MTXQ, giúp trẻ nhận thứcnhững dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng làm cho tri thức của trẻ vềMTXQ trở nên chính xác và đầy đủ hơn
- Nhóm phương pháp thực hành tạo cơ hội cho trẻ được rèn luyện kỹnăng, trải nghiệm hiểu biết và giúp nhận thức các sự vật, hiện tượng sâu sắchơn, chính xác hơn, đồng thời hình thành thái độ, tình cảm đối với sự vật,hiện tượng
Trong quá trình tổ chức các hoạt động làm quen MTXQ, giáo viên cầnphải chú ý đến đặc điểm của các nhóm phương pháp trên và phối hợp sử dụnghợp lý theo trình tự nhất định của quy trình tổ chức hoạt động này cho trẻđồng thời phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ
3 Nội dung hoạt động làm quen với MTXQ của trẻ mẫu giáo
Hoạt động làm quen với MTXQ có hai nội dung: Làm quen với môi trường tựnhiên và làm quen với môi trường xã hội
+ làm quen với người lớn
- Trẻ biết được mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn Trẻ phân biệt trẻ
em và người lớn qua độ lớn, diện mạo, khả năng làm việc Có biểu tượng vềcon người qua một số dấu hiệu chung
- Trẻ làm quen với hoạt động của người lớn: Phân biệt các nghề trong
xã hội qua tên gọi, trang phục, dụng cụ làm việc…
- Làm quen với sự nghỉ ngơi của người lớn: quan tâm đến người lớn,tham gia tích cực vào hình thức nghỉ ngơi tích cực của người lớn
- Trẻ làm quen với hình thức sáng tạo của người lớn: Cho trẻ thấy khảnăng rất lớn của con người trong hoạt động Hướng dẫn trẻ làm quen với hoạt