Khi đó, các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển thành hệ sinh thái nhân tạo hoặc bị tác động của con người đến mức mất cân bằng và suy thoái.Như một hậu quả của tác động nhân sinh, hiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
MÔN HỌC: SINH THÁI ĐÔ THỊ & KCN
TIỂU LUẬN:
Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đô thị
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Thu Hà
Sinh viên thực hiện: Viết Thị Hà Xuyên
Trang 2Mục lục
A.TỔNG QUAN 4
I Biến đổi khí hậu 4
1.1 Định nghĩa 4
1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 4
1.3 Sự quan tâm đến biến đổi khí hậu của cộng đồng quốc tế 5
II Hệ sinh thái đô thị 7
B PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
C KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
I Các biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.1.Trái đất nóng lên 8
1.2 Mực nước biển dâng 8
1.3 Gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan 10
1.5 Biến đổi khí hậu tại Việt Nam 12
II Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái đô thị 14
2.1 Mất nơi ở do mực nước biển dâng cao và hiện tượng sa mạc hóa 14
2 2 Ngập lụt ngày càng nghiêm trọng hơn 16
2 3 Hiệu ứng đảo nhiệt đô thị 17
2 4 Mưa acid phá hủy các công trình – kiến trúc đô thị 19
2 5 Ảnh hưởng đến sức khỏe 19
2.6.Ảnh hưởng đến phát triển kinh tế 20
III Giải pháp sinh thái nhằm ứng phó, ngăn ngừa ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 22
3.1 Sử dụng hệ thống cây xanh 22
3.2 Xây dựng đô thị sinh thái 23
3.3 Khuyến khích sử dụng và phát triển năng lượng tái tạo 24
D KẾT LUẬN 25
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiến hóa và phát triển con người luôn phải dựa vào các yếu tố sẵn cótrong tự nhiên Con người với tư cách là vật thể sống- một yếu tố của sinh quyển đã tácđộng trực tiếp vào môi trường Khi đó, các hệ sinh thái tự nhiên hoặc dần chuyển thành
hệ sinh thái nhân tạo hoặc bị tác động của con người đến mức mất cân bằng và suy thoái.Như một hậu quả của tác động nhân sinh, hiện nay biến đổi khí hậu đang là một vấn đềtoàn cầu gây tác động không nhỏ tới các hệ sinh thái trên trái đất Trong các hệ sinh thái
dễ bị tổn thương thì hệ sinh thái đô thị đang đứng trước nguy cơ đó
Theo Báo cáo của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) tháng 10/2006 chobiết, hiện tượng băng tan ở Greenland đạt tốc độ 65,6 kilômét khối, vượt xa mức tái tạobăng 22,6 kilômét khối một năm từ tuyết rơi Trung tâm Hadley của Anh chuyên nghiêncứu và dự đoán thời tiết cũng dự đoán: 1/3 hành tinh sẽ chịu ảnh hưởng của hạn hán nếuviệc thay đổi khí hậu không được kiểm soát Những kết quả nghiên cứu được công bốvào tháng 9/2006 cho thấy, nhiệt độ thế giới đã tăng lên với tốc độ chưa từng có trongvòng ít nhất 12.000 năm qua Các nhà khoa học cho rằng: thế kỷ vừa qua, nhiệt độ trungbình của Trái đất đã tăng thêm 1oC do việc tích lũy các chất cácbon điôxít (CO2), mêtan(CH4) và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác trong không khí (như N2O, HFCs,PFCs, SF6) - sản phẩm sinh ra từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy,phương tiện giao thông và các nguồn khác.Những hiện tượng trên đều do biến đổi khíhậu gây nên
Vậy biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến hệ sinh thái đô thị và có những môhình sinh thái là giải pháp giúp ứng phó với những biến đổi đó Câu hỏi nêu ra này chính
là lí do để em chọn tiểu luận “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến HST đô thị”
Trang 4A.TỔNG QUAN
I Biến đổi khí hậu
1.1 Định nghĩa
“Biến đổi khí hậu”(những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu) là những biến đổi
trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thànhphần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặcđến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con
người.
(Theo công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu)
1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo
ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhàkính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạn chế sựbiến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủyếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6
- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khínhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ cáchoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thốngkhí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sảnphẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê
Trang 5Hình 1:Thải lượng khí nhà kính hằng năm theo ngành
(Nguồn: Robert A Rohde/Global Warming Art,2000)
1.3 Sự quan tâm đến biến đổi khí hậu của cộng đồng quốc tế
• 1979: Hội thảo Toàn cầu về Biến đổi Khí hậu nhận định biến đổi khí hậu là một
vấn đề nghiêm trọng và kêu gọi các chính phủ quan tâm;
• 1980-1990: Các hội thảo liên chính phủ về biến đổi khí hậu được tổ chức;
• 1988: Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) được thành lập bởi
Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) và Tổ chức Khí tượng Thế giới
(WMO);
• 1990: IPCC cho ra đời báo cáo đánh giá biến đổi khí hậu đầu tiên, khẳng định
rằng biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra;
• Tháng 12 năm 1990: Công ước Khung về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) ra đời và
được đưa vào thảo luận trong Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janero 1992;
Trang 6Công ước biến đổi khí hậu (BĐKH) của Công ước Khung về Biến đổi Khí hậu(UNFCCC) yêu cầu các bên tham gia cùng chú ý đến trách nhiệm và năng lực của mình,xây dựng và thực hiện đầy đủ các chương trình về biện pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu.Các hành động làm giảm nhẹ có thể mang tính kinh tế toàn cầu, bao gồm một hoặc nhiềulĩnh vực như cung cầu năng lượng, vận tải, xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp, lâmnghiệp và quản lý chất thải Một số lựa chọn cho việc giảm nhẹ mà các bên tham gia cóthể sử dụng có chú ý đến hoàn cảnh quốc gia của họ, kỹ thuật và nguồn lực tài chính sẳn
có, khả năng giảm nhẹ và các vấn đề về chính sách thực hiện.Ngoài ra, còn có một mốiquan hệ giữa việc giảm nhẹ biến đổi khí hậu, thích ứng và phát triển bền vững
Các chính sách và biện pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu được sử dụng bởi các nước pháttriển chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực lớn, chẳng hạn như năng lượng và giao thông vậntải Tăng cường danh mục đầu tư chính sách biến đổi khí hậu ở một số khu vực trọngđiểm, thông qua các yêu cầu nghiêm ngặt hơn, phủ sóng rộng hơn và mức đầu tư đượctăng lên Công cụ điều tiết tài chính được khen ngợi bởi thị trường dựa trên các công cụnhư đề án kinh doanh phát thải khí nhà kính Các nước phát triển, theo định kỳ, trình bàyhành động giảm thiểu lấy từ truyền thông Quốc gia, được tóm tắt trong các tài liệu đãbiên soạn và tổng hợp Gần đây, các nước phát triển đã đồng ý thực hiện theo Công ướclượng hóa mục tiêu phát thải nền kinh tế cho năm 2020
Các hành động giảm thiểu phù hợp ở cấp quốc gia: Các nước đang phát triển đã góp phầnvào nỗ lực giảm nhẹ (sự biến đổi khí hậu) toàn cầu theo nhiều cách Cơ chế phát triểnsạch (CDM) là một cách thức quan trọng để thực hiện các dự án giảm phát thải và tăngcường các bể hấp thu Gần đây, các nước đang phát triển đã đồng ý thực hiện kế hoạchhành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính thích hợp (NAMAs) với sự hỗ trợ từ các nướcphát triển
• 1992: UNFCCC được 154 quốc gia phê chuẩn (trong đó có Việt Nam).
• 21 tháng 3 năm 1994: UNFCCC có hiệu lực;
• Tháng 2 năm 1995: Hội nghị các bên (COP), bao gồm đại diện các quốc gia trở
thành cơ quan thực hiện UNFCCC;
• 1990 - nay: Hầu hết các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên toàn cầu đã và đang
thực hiện các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 7II Hệ sinh thái đô thị
Khác với các hệ sinh thái tự nhiên khác, hệ sinh thái đô thị ngoài hai thành phần
cơ bản là hữu sinh và vô sinh, nó còn có thành phần thứ ba đó là thành phần công nghệ
Nó bao gồm các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, các cơ sở sản xuất
Hệ sinh thái đô thị là hệ sinh thái nhân văn do con người tạo nên, được sử dụngnhư một điểm dân cư tập chung và thường theo yêu cầu của sự phát triển công nghiệp Ở
đô thị, con người quan hệ mật thiết với nhau hơn so với các yếu tố tự nhiên Tuy nhiên,dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiên nhiênđang dần bị mất đi Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với nhiều nguồn ô nhiễm(nguồn nước, rác thải, khói bụi, tiếng ồn…) gây ra cho con người những bất lợi về sứckhỏe đặc biệt là về yếu tố tinh thần
Ngoài ra, theo quan điểm Holistie, hệ sinh thái đô thị được coi là mội môi trường
tự nhiên và hoàn cảnh văn hóa, xã hội mà con người đã xây dựng nên cho bản thân trong
đô thị Với cách nhìn như vậy, đô thị là biểu hiện cao nhất của tình hình phát triển kinh tế
và xã hội của loài người, và xét tiêu chuẩn nào thì cũng là một thực thể vô cùng phức tạp
Từ đó, “hệ sinh thái đô thị được đặc trưng bằng hai loại cơ chế khống chế: tự nhiên và xãhội Trong đó, cơ chế xã hội dần chiếm ưu thế Các giới hạn của hệ sinh thái đô thị sẽ xácđịnh rõ ràng phạm vi vận động của con người trong hệ sinh thái đô thị”
Các đặc trưng của hệ sinh thái đô thị
- Được tạo ra từ nhu cầu phát triển của con người Mật độ dân cư cao
- Hoạt động kinh tế - xã hội thường xuyên, liên tục, chủ yếu là công – thươngnghiệp
- Giao thông và xây dựng
- Các hợp phần tự nhiên bị biến đổi và thay thế bằng các hợp phần nhân tạo
Trang 8B PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Trong quá trình làm tiểu luận em đã thu thập, chọn lọc những tài liệu phù hợp với nộidung bài tiểu luận và đó là các nguồn thông tin đáng tin cậy được lấy từ các công trìnhnghiên cứu, những bài báo khoa học của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
C KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Các biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.Trái đất nóng lên
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cựcBắc Trong 100 năm qua(1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng0,74oC; tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trướcđó( IPCC)
1.2 Mực nước biển dâng
Mực nước biển toàn cầu tăng khoảng 120 mét trong vài thiên niên kỷ sau kỷ băng hà cuối(cách đây khoảng 21.000 năm) và giữ mức ổn định
Mực nước biển toàn cầu không thay đổi đáng kể từ đó cho đến cuối thế kỷ 19- thời kỳkhởi đầu của mực nước biển dâng
Ước tính cho chương trình thế kỷ 20 mức nước tăng trung bình toàn cầu với tốc độkhoảng 1,7 mm mỗi năm
Từ đầu những năm 1990 việc quan sát đo độ cao nhờ vệ tinh đã cung cấp dữ liệu chínhxác hơn mực nước biển với vùng phủ sóng toàn cầu đã chỉ ra rằng từ năm 1993 mựcnước biển đã tăng với tốc độ khoảng 3 mm mỗi năm
Tuy nhiên, các mô hình khí hậu dựa trên tăng tỷ lệ các khí hiệu ứng nhà kính hiện naycho thấy mực nước biển có thể tăng khoảng 4 mm mỗi năm vào giai đoạn 2090-2099(IPCC 2007)
Mực nước biển toàn cầu hiện đang tăng là kết quả của giãn nở nhiệt đại dương và băng
tan chảy Cả hai nguyên nhân đều bắt nguồn từ sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu
gần đây
Trang 9 Giai đoạn1961-2003, sự tăng nước biển quan sát được do sự giãn nở nhiệt là 0,42mm/năm và 0,69 mm/năm do tổng sông băng tan chảy (sông băng nhỏ, băng, cáctảng băng)
Giai đoạn1993 và 2003, đóng góp của giãn nở nhiệt là1,60 mm/năm và băngtan1,19 mm/năm tương ứng (IPCC 2007)
Đại đa số các băng của trái đất đều tập trung ở Nam Cực và Greenland Nếu nhữngtảng băng tan chảy hoàn toàn, mực nước biển sẽ tăng hơn 70 mét
Ước tính hiện tại cho thấy băng Nam Cực chỉ đại diện cho khoảng 10% sự đóng gópmực nước biển dâng Dải băng Greenland đang đóng góp khoảng 30%
Ngược lại với các vùng cực, mạng lưới sông băng vĩ độ thấp nhỏ và chỏm băng, dùchỉ có khoảng 4% diện tích băng Tổng diện tích khoảng 760.000 km2 có thể đóng góp60% vào việc thay đổi mực nước biển từ những năm 1990 (Meier et al, 2007)
Hình 2: Phần trăm các nguồn nước đóng góp vào đại dương
Nguồn: http://www.climate.org
Theo ước tính, từ năm 1900, mực nước biển đã tăng lên khoảng 20cm mỗi thế kỷ, nếubăng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100 Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất
Trang 10Hình 3: Biểu đồ sự thay đổi mực nước biển 1880-2000
[Bruce C Douglas (1997).Geophysics 18: 279-292]
1.3 Gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan
Những khối băng ở hai cực đồng thời là chiếc máy điều hòa nhiệt độ tự nhiên khổng lồ
và là trung tâm cao áp quyết định hoàn lưu khí quyển, chi phối khí hậu cấp hành tinh.Cùng với nhiệt độ tăng và băng tan thì khí áp ở cực sẽ giảm, cường độ gió giảm… dẫnđến sự biến đổi khí hậu ở 2 cực kéo theo biến đổi khí hậu của Trái Đất Song song vớiquá trình trên thì dải hạ áp xích đạo sẽ hoạt động mạnh, quy mô lớn nên đới khí hậu xíchđạo và cận xích đạo mưa nhiều và thất thường hơn Dải cao áp chí tuyến cũng mạnh hơn(do sự tác động của hạ áp xích đạo) cho nên khí hậu nhiệt đới lục địa và nhiệt đới hảidương bờ tây sẽ khô khan, khắc nghiệt, cực đoan Trái lại, khí hậu nhiệt đới hải dương bờđông (nhiệt đới gió mùa) sẽ mưa nhiều, cường độ lớn, nắng nóng kéo dài, xuất hiện “siêubão” với tần xuất lớn Vài năm nay, Việt Nam phải thường xuyên hứng chịu những cơn
“thịnh nộ” của thiên nhiên đã chứng minh cho nhận định trên Hoàn lưu khí quyển cấphành tinh thay đổi kéo theo sự biến đổi khí hậu Trái Đất không theo quy luật gây khókhăn cho con người trong dự báo và phòng tránh
BĐKH làm cho các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lụt, hạn hán, nắng nóng,…gia
tăng cả về tần số và cường độ, ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn và có thể trở thành
thảm hoạ, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiềunăm của sự phát triển
Trang 11Hình 4: Sự thay đổi trong hệ thống khí hậu trái đất (2005 Books/ Cole-thomson)
Bão lụt
Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấpđôi Theo ước tính, chỉ riêng ở Mỹ, trong vòng 100 năm qua (từ 1905 đến 2005), sốlượng những cơn bão mạnh đã tăng không ngừng
Những đợt nắng nóng gay gắt
Trang 12Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần sovới trước đây Dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp
100 lần so với hiện nay Các năm từ 2001 - 2009 là 11 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu
đo đạc Đáng chú ý, sáu tháng đầu năm 2010 là một chuỗi tháng nhiệt độ toàn cầu caonhất chưa từng có, bao gồm cả nhiệt độ trên đất liền và trên biển toàn cầu kể từ năm
1980 Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ caogây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất
1.4 Suy giảm đa dạng sinh học
Biến đổi khí hậu buộc các sinh vật phải thay đổi để thích nghi với môi trường sốngbằng cách thay đổi chu kỳ sinh trưởng hoặc phát triển đặc điểm thích nghi mới trên cơthể Những loài không có khả năng thích nghi với những biến đổi khí hậu có nguy cơ bịtuyệt chủng
Ước tính khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vàonăm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 oC nữa
1.5 Biến đổi khí hậu tại Việt Nam
1.5.1 Hiện trạng
Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu tác động mạnh mẽ nhất của Biến đổiKhí hậu
Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ TBN ở Việt Nam tăng 0,7oC Nhiệt
độ TBN của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn TBN của 3 thập kỷ trước đó 1960)
(1931-Mực nước biển: trong khoảng 50 năm qua mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng
20 cm,
Số đợt không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ
gần đây (cuối XX đầu XXI)
Bão, vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch
chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹđạo di chuyển dị thường hơn
Nguồn: Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Biến đổi Khí hậu
1.5.2 Xu thế
Trang 13Các kịch bản phát thải khí nhà kính được chọn để tính toán xây dựng kịch bản biến đổikhí hậu cho Việt Nam là kịch bản phát thải thấp (kịch bản B1), kịch bản phát thải trungbình của nhóm các kịch bản phát thải trung bình (kịch bản B2) và kịch bản phát thải trungbình của nhóm các kịch bản phát thải cao (kịch bản A2)
Các kịch bản biến đổi khí hậu đối với nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho bảyvùng khí hậu của Việt N am: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, N
am Trung Bộ, Tây N guyên và N am Bộ Thời kỳ dùng làm cơ sở để so sánh là
1980-1999 (cũng là thời kỳ được chọn trong Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC)
Các kịch bản biến đổi khí hậu cho các vùng khí hậu của Việt Nam trong thế kỷ 21 cóthể được tóm tắt như sau:
Về nhiệt độ:
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở cácvùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980-1999 khoảng từ 1,6 đến1,9oC và ở các vùng khí hậu phía Nam tăng ít hơn, chỉ khoảng từ 1,1 đến 1,4oC
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm cóthể tăng lên 2,6oC ở Tây Bắc, 2,5oC ở Đông Bắc, 2,4oC ở Đồng bằng Bắc Bộ, 2,8oC ởBắc Trung Bộ, 1,9oC ở N am Trung Bộ, 1,6oC ở Tây Nguyên và 2,0oC ở N am Bộ sovới trung bình thời kỳ 1980 – 1999
- Theo kịch bản phát thải cao (A2): Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở cácvùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999 khoảng 3,1 đến3,6oC, trong đó Tây Bắc là 3,3oC, Đông Bắc là 3,2oC, Đồng bằng Bắc Bộ là 3,1oC vàBắc Trung Bộ là 3,6oC Mức tăng nhiệt độ trung bình năm của các vùng khí hậu phía N
am là 2,4oC ở N am Trung Bộ, 2,1oC ở Tây N guyên và 2,6oC ở Nam Bộ
Về lượng mưa: Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu của nước
ta, đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam Lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm
so với thời kỳ 1980-1999 Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 6 đến