ĐỊNH NGHĨA:1.Khái niệm: Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và cùng
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2I ĐỊNH NGHĨA:
1.Khái niệm:
Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành viên
Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên, nhưng cũng có tácđộng rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
2.Ý nghĩa:
Tham gia vào các công ước là các nước đã thể hiện được sự quan tâm, trách nhiệm củaquốc gia mình đối với vấn đề chungcủa thế giới đồng thời qua đó thể hiện được vị trí, tiếngnói cũng như đưa hình ảnh của mình trên trường quốc tế Tham gia công ước các nước thànhviên sẽ có được phương hướng hành động ứng phó với những vấn đề đặt ra, đồng thời có cơhội nhận được sựbảo vệ,hỗ trở về khoa học, công nghệ, vốn của cộng động quốc tế
II CÁC CÔNG ƯỚC VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA
1 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới
1.1 Giới thiệu
− Công ước được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày16-11-1972
− Công ước đã được 186 nước tham gia kí kết
− Hiện có 911 Di sản thế giới nằm tại 151 quốc gia thành viên Trong số này, 704 là vănhóa, 180 tự nhiên và 27 là di sản hỗn hợp
− Việt Nam tham gia kí kết vào ngày: 19/10/1987
1.2 Các di sản của Việt Nam
Hiện tại, Việt Nam đã có 6 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:
− Vịnh Hạ Long 1994
− Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 2003
− Quần thể di tích cố đô Huế 1993
− Phố cổ Hội An 1999
− Thánh địa Mỹ Sơn 1999Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 2010
Các di sản khác UNESCO xếp vào di sản thế giới gồm:
Trang 3− Cao nguyên đá Đồng Văn 2010.
− Nhã Nhạc Cung Đình Huế 2003
− Văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên 2005
− Dân Ca Quan Họ Bắc Ninh 2009
− Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trịquốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sựthống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan
− Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kếthợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổhọc, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhânchủng học
Di sản tự nhiên là:
− Các di tích tự nhiên được tạo thành bởi những cấu trúc hình thể và sinh vật học hoặc bởi các nhóm cấu trúc như vậy, có một giá trị đặc biệt về phương diện thẩm mỹ hoặc khoa học
− Các cấu trúc địa chất học và địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới đã được xác định là nơi cư trú của các giống động vật và thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện khoa học bảo tồn
− Các cảnh vật tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới đã được xác định cụ thể,
có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên
1.3.2 Thực trạng
Nhận thấy rằng: di sản văn hoá và di sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ bị phá hoại không chỉ
bởi nguyên nhân xuống cấp vì “ lão hóa” theo thời gian mà còn bởi sự tiến triển của đời sống
xã hội và kinh tế làm quá trình xuống cấp của các di sản nhanh và nghiêm trọng hơn
Trang 4Xét rằng: việc bảo vệ di sản đó ở các cấp quốc gia thường không được hoàn chỉnh vì việc bảo
vệ đó đòi hỏi rất nhiều phương tiện như nguồn lực kinh tế, khoa học và ký thuật, sự giám sát,quản lý
Nhận thức được điều đó, tổ chức quốc tế UNESCO đã đưa ra công ước về bảo vệ di sản vănhóa và tự nhiên của thế giới
1.3.3 Các khoản thỏa thuận chính
− Mối một quốc gia tham gia Công ước này công nhận rằng trách nhiệm bảo đảm củaviệc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản vănhoá và tự nhiên nêu là trách nhiệm trước tiên của mình Quốc gia này phải nỗ lực hànhđộng tối đa cho mục đích trên bằng những nguồn lực mà mình sẵn có và nếu có, thìbằng cả sự viện trợ và hợp tác quốc tế mà nó có thể có được hưởng nhất là về mặt tàichính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật
− Để bảo đảm việc bảo vệ và bảo tồn càng hiệu quả càng tốt và tôn tạo càng tích cựccàng tốt di sản văn hoá và tự nhiên nằm trên lãnh thổ của mỗi nước và theo những điềukiện thích hợp của mỗi nước, các nước tham gia vào Công ước này sẽ cố gắng hết sứcmình để thực hiện các công tác sau đây:
a Đề ra một chính sách chung để trao cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năngnhất định trong đời sống tập thể và đưa việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình của việc kếhoạch hoá chung;
b Thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơquan bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, có số nhân viên thích hợp và có đủphương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao;
c Phát triển các công trình nghiên cứu và tìm tòi khoa học - kỹ thuật và cải tiến cácphương pháp can thiệp cho phép một quốc gia ứng phó với những tai hoạ đang đe doạ di sảnvăn hoá hay tự nhiên của nó
d Áp dụng các biện pháp luật pháp, khoa học - kỹ thuật, hành chính và tài chính thíchhợp để xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và tái sử dụng di sản đó;
e Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập hoặc phát triển các trung tâm quốc giahoặc vùng về đào tạo cán bộ trong lĩnh vực bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tựnhiên, khuyến khích việc nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này
Trang 5- Khi viện trợ, giúp đỡ các quốc gia khác trong công tác bảo vệ các di sản văn hóa và tự nhiêncần tuân thủ một số điều
a.Với tinh thần hoàn toàn tôn trọng chủ quyền của các quốc gia có di sản văn hoá và tựnhiên theo Điều1 và 2 nằm trên lãnh thổ của mình và không làm thiệt hại đến các quyền lợi cụthể dự kiến trong luật pháp quốc gia về di sản đó, các nước tham gia Công ước này thừa nhậnrằng đó là một di sản của thế giới mà toàn thể cộng đồng quốc tế có nghĩa vụ hợp tác để bảo
vệ
b Các quốc gia tham gia Công ước xin nguyện góp sức một cách tương xứng và căn
cứ vào các điều khoản của bản Công ước này, vào việc xác định, bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo disản văn hoá và tự nhiên nêu trong các phần 2 và 4 của Điều11 nếu quốc gia có di sản nằm trênlãnh thổ của nó, yêu cầu
c Mỗi nước tham gia Công ước xin nguyện kiên quyết không dùng bất cứ biện phápnào có thể phương hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến di sản văn hoá và tự nhiên nêu trong cácĐiều1 và 2, nằm trên lãnh thổ của các nước khác tham gia Công ước này
2 Công ước Ramsar
2.1 Giới thiệu
− Công ước Ramsar (công ước quốc tế về vùng đất ngập nước và các loài chimnước) làmột điều ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước, ngănchặn sự xâm chiếm và phá hủy các vùng đất ngập nước và các loài chim nước tronghiện tại và tương lai Công ước được đặt tên theo thành phố Ramsar của Iran
− Công ước được thông qua ngày 02/02/1971 và có hiệu lực ngày 21/12/1975, ban đầu
có 11 quốc gia tham gia, hiện nay có 160 quốc gia đã tham gia
− Việt Nam tham gia công ước vào ngày 20/09/1988
2.2 Khái niệm
Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, sình lầy, vùng than bùn hoặc vùng nước dù là tự nhiênhay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, với nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợhay nước mặn, bao gồm cả các vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi thuỷ triều thấp.Chim nước là những loài chim mà về mặt sinh thái phụ thuộc và các vùng đất ngập nước
2.3 Nội dung thỏa thuận
Mỗi bên tham gia sẽ chỉ định những vùng đất ngập nước thích hợp trong phạm vi lãnh thổ củamình để đưa vào Danh mục các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế
Vì lợi ích cấp thiết của quốc gia mà xoá bỏ hoặc hạn chế bớt ranh giới vùng đất ngập nước đãđưa vào Danh mục thì Quốc gia đó phải đền bù tối đa mọi tổn thất về tài nguyên đất ngập
Trang 6nước và nhất là phải tạo lập các khu dự trữ thiên nhiên bổ sung cho loài chim nước và để giữđược, ở tại vùng đó nay ở nơi khác, một tỷ lệ thoả đáng của nơi cư trú ban đầu
Các Bên tham gia sẽ khuyến khích việc nghiên cứu và trao đổi số liệu và các ấn phẩm về cácvùng đất ngập nước và hệ động và thực vật của chúng
Các Bên tham gia, thông qua việc quản lý, sẽ cố gắng làm tăng trưởng số lượng chim nước ởcác vùng đất ngập nước thích hợp
Các Bên tham gia sẽ đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ cán bộ có thẩm quyền trong các lĩnh vựcnghiên cứu, quản lý và bảo vệ đất ngập nước
3 Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
3.1 Giới thiệu
− Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) đă được chấpnhận vào ngày 9/5/1992 tại Trụ sở của Liên hợp quốc ở New York
− Hiệncó 194 quốc gia và 1 tổ chức kinh tế khu vực tham gia
− Việt Nam tham gia vào 16/11/1994
3.2 Hiện trạng
− Con người đang đối diện với vấn đề biến đổi khí hậu với hiện tượng ấm lên tòan cầu
Sự ấm lên toàn cầu do hiệu ứng các khí nhà kính đã và đang tác động mạnh mẽ đến hệthống khí hậu
− Chủ yếu là do phát thải của các nước phát triển, phát thải của các nước chưa phát thảicòn thấp ( bình quân phát thải trên đầu người còn tương đối thấp)
3.3 Mục tiêu
Các quốc gia thành viên cam kết :
- Ổn định khí nhà kính trong khí quyển ở mức ngăn ngừa được
- Mức phát thải phải phù hợp để sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khíhậu, đảm bảo rằng việc sản xuất lương thực không bị đe dọa tạo khả năng phát triển một cáchlâu bền
4 Nghị định thư Kyoto
4.1 Giới thiệu
− Nghị định thư kyoto là văn bản pháp lý để thực hiện Công ước khí hậu Được kí vào11/ 12/1997 tại Tokyo
− Có hiệu lực thi hành từ ngày 16/ 02/ 2005
− Đến 9/2011 đã có 191 nước tham gia trong đó có khoảng 36 nước phát triển
− Việt Nam đã ký Nghị định thư Kyoto vào ngày 3/12/1998 và phê chuẩn vào ngày25/9/2002
4.2 Nội dung
Trang 7− Nghị định thư Kyoto đưa ra chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp
lý đối với các nước phát triển, các nước đang phát triển thì vốn không chịu ràng buộcbởi các nguyên tắc thì có thể tham gia “ chương trình cơ cấu phát triển sạch”
− Nghị định thư Kyoto cũng cho phép một vài cách tiếp cận linh hoạt cho các nước pháttriển nhằm đạt được mục tiêu cắt giảm khí thải bằng cách cho phép các nước này mualượng khí cắt giảm được từ những quốc gia khác Điều này có thể thực hiện dưới hìnhthức tài chính hay từ những chương trình hỗ trợ công nghệ cho các nước
5 Công ước quốc tế về cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí hóa học CWC (Convention on Weapons Chemical):
5.1 Giới thiệu về Công ước:
Công ước quốc tế về cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí hóa học (gọi tắt làCông ước về vũ khí hóa học) Đây là Công ước được Liên hợp quốc thông qua hồi đầu tháng 9/1992 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 29/04/1997 Đến năm 2013: có sự tham gia của 188 quốc gia
08/04/2013: Hội nghị các nước thành viên Công ước Quốc tế về cấm sử dụng vũ khí hóa họckhai mạc tại The Hague (Hà Lan) Tại Hội nghị này, thông cáo của LHQ nêu rõ, Công ước về
vũ khí hóa học (CWC) năm 1997 “là văn kiện đa phương đầu tiên nghiêm cấm hoàn toàn các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt”
5.2 Nội dung:
5.2.1 Mục tiêu của Công ước về vũ khí hóa học:
• Tiêu huỷ toàn bộ các loại vũ khí hoá học và các phương tiện, cơ sở sản xuất vũ khí hoáhọc hiện có trong khoảng thời gian từ 10 hoặc 15 năm
• Cấm toàn bộ các chương trình phát triển vũ khí hoá học hiện tại
• Ngăn chặn sự xuất hiện những chương trình phát triển vũ khí hoá học mới
• Trợ giúp cho các nước thành viên khi họ bị đe doạ hoặc bị tấn công bằng vũ khí hoá học
• Mở ra khả năng xúc tiến tự do hoá thương mại trong lĩnh vực hoá chất cũng như hợp tác, trao đổi quốc tế về những thông tin khoa học và kỹ thuật trong lĩnh vực hoá học và
Trang 8công nghệ hoá học nhăm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và kỹ thuật đối với tất cả các nước thành viên.
• Để thực hiện được mục tiêu trên, Công ước cấm vũ khí hoá học đưa ra những điều khoản về thanh tra và kiểm soát rất chặt chẽ việc tiêu huỷ các loại vũ khí hoá học, các phương tiện, cơ sở sản xuất vũ khí hóa học và việc xuất nhập khẩu các loại hoá chất độc qui định trong công ước
5.2.2 Quyền lợi của các quốc gia thành viên:
• Nhận chuyển giao các thiết bị phát hiện, hệ thống báo động, các thiết bị và các chất tiêu độc cũng như thuốc điều trị, tư vấn về tất cả các biện pháp phòng chống vũ khí hoá học
• Sử dụng thông tin sẵn có liên quan tới các biện pháp phòng chống vũ khí hoá học trongngân hàng dữ liệu của Ban thư ký kỹ thuật
• Yêu cầu Ban thư ký kỹ thuật cung cấp các tư vấn chuyên môn và giúp đỡ thực hiện cácchương trình phát triển và hoàn thiện khả năng phòng chống vũ khí hoá học
• Tiếp nhận sự giúp đỡ và bảo vệ chống lại việc sử dụng vũ hoá học
• Yêu cầu viện trợ cho các nạn nhân do việc sử dụng vũ khí hoá học gây ra trong các trường hợp khẩn cấp
• Tạo cơ hội xúc tiến hợp tác và trao đổi quốc tế về thông tin khoa học kỹ thuật Nghiên cứu, phát triển, chuyển giao sử dụng các hoá chất và phương tiện, thiết bị sản xuất chế biến hoá chất cho các mục đích không bị cấm trong Công ước
5.3 Tổ chức Cấm vũ khí hóa học OPCW (Organization on Prohibit Chemical Weapons):
• OPCW là một tổ chức quốc tế độc lập về cấm sử dụng vũ khí hóa học
• Ra đời 1997 với mục đích giám sát việc thực hiện Hiệp ước Quốc tế về vũ khí hóa học (CWC)
• Trụ sở: Hà Lan
Trang 9• 19/9/2006: có 179 thành viên, gồm tất cả các quốc gia thành viên thường trực của HĐBA Liên hợp quốc, tất cả các nước có ngành hóa học phát triển và các nước từ tất cả các khu vực trên thế giới.
• OPCW tổ chức họp tất cả thành viên hàng năm Các quốc gia thành viên của OPCW cónhiệm vụ công bố số liệu đều đặn về số vũ khí hóa học nhằm xây dựng lộ trình đảm bảo
vô hiệu hóa toàn bộ vũ khí hóa học gây ngạt (nhóm 1), vũ khí hóa học gây tổn thương thần kinh (nhóm 2), vũ khí hóa học gây loét da (nhóm 3)
5.4 Quá trình phê chuẩn Công ước của Chính phủ Việt Nam:
• 13/01/1993: Việt Nam ký Công ước cấm vũ khí hoá học
• 24/08/1998: Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã phê chuẩn công ước này
• 19/10/1998: Chính phủ ban hành công văn số 112/CP-QHQT-m giao cho Bộ Công nghiệp làm Cơ quan Quốc gia phối hợp với các Bộ, ngành liên quan khác để thực hiện Công ước và Bộ Ngoại giao cũng đã thông báo cho Tổ chức thực hiện Công ước về quyết định này của Chính phủ
• 30/10/1998: Công ước có hiệu lực chính thức đối với VN
VN trở thành thành viên chính thức của Tổ chức cấm vũ khí hoá học (OPCW)
• Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường:
6 Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển 1992 (Tuyên bố Rio):
6.1 Giới thiệu tuyên bố Rio:
Được nêu ra trong hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), diễn ra tại Rio de Janeiro, Brazil (1992), với sự tham dự của 178 quốc gia và khoảng 30 ngàn người
Trang 106.2 Nội dung:
Tuyên bố Rio nêu ra 27 nguyên tắc không ràng buộc pháp lý, nhằm hướng tới một tuyên bố vềQuyền Môi trường để đảm bảo trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi người trong các hoạt động phát triển Tuyên bố đưa ra nguyên tắc tiếp cận:
• “Phòng ngừa là chính”, yêu cầu các dự án phải làm đánh giá tác động môi trường
• “Trách nhiệm chung có phân biệt”: các nước phát triển, tùy nước sẽ có trách nhiệm liên quan đặc biệt về việc gây áp lực lên môi trường, tài nguyên toàn cầu
• “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”: cá nhân doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, môi trường và gây ô nhiễm phải có trách nhiệm tài chính để giảm thiểu khả năng gây sự cố môi trường
Đặc biệt gần đây là nghị quyết số 41-NQ/TW (15/11/2004) về bảo vệ môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong đó nhấn mạnh :”Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản, không thể thiếu trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành, nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước
7 Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozon
7.1 Giới thiệu:
Trang 11Sau ba năm đàm phán căng thẳng dưới sự điều phối của UNEP, Công ước Viên về bảo vệ tầngozone đã được thông qua vào tháng 3-1985 tại Viên, Áo Công ước gồm 21 điều, thúc đẩy các bên để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước tiên hãy bảo vệ tầng ozone
7.2 Nội dung:
Các bên ký Công ước này:
Nhận thấy: tác động tai hại tiềm tàng đến sức khoẻ con người và môi trường qua tầng ôzôn.Nhắc lại: những điều khoản thích hợp của tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về mm của con người và đặc biệt là nguyên tắc 21, trong đó nói rằng "Phù hợp với Hiến chương Liên HợpQuốc và những nguyên tắc luật pháp quốc tế Các nước có toàn quyền khai thác tài nguyên của mình theo các chính sách mm của mình và có trách nhiệm bảo đảm rằng các hoạt động trong phạm vi pháp luật hoặc kiểm soát của mình không gây tổn hại cho mm của các nước khác hoặc của các khu vực bên ngoài giới hạn chủ quyền quốc gia"
Tính đến: các hoàn cảnh và những nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển
Chú ý: đến công tác và các nghiên cứu tiến hành trong các tổ chức quốc tế cũng như quốc gia
và đặc biệt là kết hoạch hành động thế giới về tầng ôzôn của Chương trình mm Liên Hợp Quốc
Cũng chú ý: đến những biện pháp phòng ngừa để bảo vệ tâng ôzôn đã được tiến hành ở các quốc gia và quốc tế
Trang 12Biết rằng các biện pháp bảo vệ tâng ôzôn khỏi bị thay đổi do các hoạt động của con người đòi hỏi phải có sự hợp tác và hành động quốc tế và phải dựa trên những sự xem xét khoa học về
Ðối với những mục của Công ước này:
"Tầng ôzôn" có nghĩa là tầng ôzôn khí quyển bên trên tầng biên hành tinh
"Những ảnh hưởng có hại" nghĩa là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh khối Bao gồm những biến đổi trong khí hậu có ảnh hưởng tai hại đến sức khoẻ con người hoặc đến thành phần khả năng phục hồi và sức sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và cơ quan quản lý, hoặc các vật chất có ích cho nhân loại
"Các kỹ thuật hoặc thiết bị thay thế" nghĩa là các kỹ thuật hoặc thiết bị mà khi sử dụng
có thể giảm hoặc khử có hiệu quả việc phát ra các chất cơ hoặc để có những ảnh hưởng
có hại đến tầng ôzôn
"Các chất thay thế" là các chất làm giảm, khử hoặc tránh những ảnh hưởng có hại đến tầng ôzôn
"Các bên" là các bên của Công ước này, trừ khi có giải thích khác trong văn bản
"Tổ chức hợp nhất kinh tế khu vực" là tổ chức bao gồm các quốc gia có chủ quyền của một khu vực, có thẩm quyền về các vấn đề trong Công ước này hoặc các Nghị định thưcủa nó và đã được uỷ quyền thích đáng phù hợp với các thủ tục nội bộ để ký, phê chuẩn, thừa nhận, tán thành hoặc tham gia vào các văn kiện liên quan
"Các Nghị định thư" là các Nghị định thư của Công ước này
Ðiều2 Những nghĩa vụ chung
Các bên sẽ dùng những biện pháp thích hợp phù hợp với các điều khoản của Công ước này và của các Nghị định thư có hiệu lực họ đã tham gia để bảo vệ sức khoẻ con người
và mm chống lại những ảnh hưởng có hại phát sinh hoặc dễ phát sinh từ những hoạt động của con người làm thay đổi hoặc dễ làm thay đổi tầng ôzôn
Trang 13 Ở đây, phù hợp với các phương tiện hiện có và trong phạm vi khả năng của mình, các bên sẽ:
• Hợp tác bằng các quan trắc có hệ thống, nghiên cứu và trao đổi thông tin để hiểu rõ
và đánh giá tốt hơn những ảnh hưởng của các hoạt động của con người đến tâng ôzôn và những ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và mm do biến đổi tầng ôzôn;
• Chấp nhận các biện pháp pháp lý hoặc hành chính và hợp tác trong việc phối hợp các chính sách thích hợp để kiểm soát hạn chế, giảm bớt hoặc ngăn chặn những hoạt động của con người trong phạm vi quyền hạn hoặc sự kiểm soát của mình nếu như thấy rằng các hoạt động đó có hoặc dễ có những ảnh hưởng có hại do sự biến đổi hoặc dễ biến đổi tầng ôzôn
• Hợp tác trong việc hệ thống hoá các biện pháp, thủ tục và tiêu chuẩn đã nhất trí để thực hiện Công ước này, nhằm chấp nhận và thi hành các Nghị định thư và các văn bản phụ lục;
• Hợp tác với những cơ quan ở quốc tế có thẩm quyền để thi hành có hiệu quả Công ước này và các Nghị định thư mà họ tham gia
Các điều khoản của Công ước này sẽ hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền của các bên chấp thuận Phù hợp với luật quốc tế, những biện pháp trong nước bổ sung cho những biện pháp nói đến trong mục 1 và 2 ở trên, chúng cũng không ảnh hưởng đến những biện pháp bổ sung trong nước đã được một bên nào đưa ra, miễn là những biện pháp đó không trái với những trách nhiệm của mình theo Công ước này
Việc áp dụng điều khoản này sẽ dựa trên những xem xét khoa học và kỹ thuật thích hợp
Ðiều3 Nghiên cứu và quan trắc có hệ thống
Ðiều4 Hợp tác trong các lĩnh vực pháp lý, khoa học và kỹ thuật
Ðiều5 Truyền bá thông tin
Ðiều6 Hội nghị của các bên
Ðiều7 Ban thư ký
Ðiều8 Việc nhận các nghị định thư
Trang 14Ðiều9 Việc sửa đổi Công ước hay các nghị định thư
Ðiều10 Thông qua và sửa đổi các phụ lục
Ðiều11 Dàn xếp các tranh cãi
Ðiều12 Ký
Ðiều13 Phê chuẩn, chấp thuận hoặc tán thành
Ðiều14 Gia nhập
Ðiều15 Quyền bỏ phiếu
Ðiều16 Mối quan hệ giữa Công ước và các nghị định thư của Công ước
Ðiều17 Việc bắt đầu có hiệu lực
Ðiều18 Các bảo lưu
Ðiều19 Rút khỏi Công ước
Ðiều20 Ban lưu trữ
1992 (Copenhagen), 1993 (Bangkok), 1995 (Viên), 1997 (Montreal), 1999 (Bắc Kinh) Người
ta tin rằng nếu các thỏa thuận quốc tế được tôn trọng, tầng ozone dự kiến sẽ phục hồi vào năm
2050 Do thông qua thực hiện rộng rãi và đã được ca ngợi là một ví dụ về hợp tác quốc tế đặc biệt, với tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lúc đó là Kofi Annan được trích dẫn nói rằng "có lẽ thỏa thuận quốc tế thành công nhất cho đến nay đã đạt được trên thế giới là Nghị định thư
Montreal" Nghị định đã được 196 quốc gia phê duyệt
Trang 15Tại cuộc họp giữa các bên lần thứ hai tại London ngày 27/6 – 29/6/1990; được bổ sung tại cuộc họp lần thứ ba tại Nairobi ngày 19/6 – 21/6/991 và cuộc họp lần thứ tư tại Copenhagen ngày 23/11 – 25/11/1992
Nội dung: Các Bên tham gia Nghị định thư thư này là các Bên tham gia Công ước Viên về bảo
vệ tầng ôzôn
Lo lắng về nghĩa vụ của mình theo Công ước phải có những biện pháp thích hợp bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường, chống lại những ảnh hưởng có hại do kết quả hoặc dễ có khả năng làm thay đổi tầng ôzôn,
Nhận thấy rằng sự phát thải một số chất trên toàn thế giới có thể làm suy giảm đáng kể và mặt khác làm thay đổi tầng ôzôn, theo hướng dễ gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khoẻcon người và môi trường, ý thức được những ảnh hưởng tiềm tàng của sự phát thải các chất đótới khí hậu,
Nhận thức rằng các biện pháp bảo vệ tầng ôzôn khỏi bị suy giảm cần phải dựa trên kiến thức khoa học liên quan, có tính đến các mặt kỹ thuật và kinh tế,
Quyết tâm bảo vệ tầng ôzôn bằng cách thực hiện những biện pháp phòng ngừa để kiểm soát một cách công bằng tổng lượng phát thải toàn cầu của các chất làm suy giảm nó, với mục tiêu cuối cùng là triệt bỏ chúng trên cơ sở phát triển kiến thức khoa học, có tính đến các mặt kỹ thuật và kinh tế và có chú ý đến nhu cầu phát triển của các nước đang phát triển,
Thừa nhận rằng cần có sự chuẩn bị đặc biệt để đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển [đối với các chất đó], kể cả sự chuẩn bị về các nguồn tài chính bổ sung và sự tiếp cận tới các công nghệ liên quan, lưu tâm rằng độ lớn của các quỹ cần thiết là có giới hạn và các quỹ có thểgây ra sự khác biệt đang kể trong khả năng của thế giới giải quyết vấn đề suy giảm tầng ôzôn
và những ảnh hưởng có hại của nó,
Ghi nhận những biện pháp phòng ngừa nhằm kiểm soát sự phát thải một số chất clo
ruafluoruacacbon đã được thực hiện ở các cấp quốc gia và khu vực,
Xét thấy tầm quan trọng của việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc [nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ] nghiên cứu, triển khai và chuyển giao công nghệ thay thế liên quan tới việc kiểm soát và giảm bớt sự phát thải các chất làm suy giảm tầng ôzôn, lưu tâm đặc biệt đến nhu cầu của các nước đang phát triển
Trang 16"Ban thư ký" tức là Ban thư ký của
"Chất được kiểm soát" tức là chất (được liệt kê) ở Phụ lục A hoặc ở Phụ lục B (Phụ lục B, Phụlục C hoặc Phụ lục E) kèm theo Nghị định thư này, dù là tồn tại riêng hoặc trong hợp chất Chất được bao gồm những chất đồng phân của chất bất kỳ như vậy, trừ những chất được xác định cụ thể ở Phụ lục liên quan, nhưng [nó] loại trừ [tuy nhiên] bất kỳ chất được kiểm soát [như vậy] hoặc hỗn hợp có trong chế phẩm không phải là containơ dùng để vận chuyển hoặc cất giữ chất đó
"Sản xuất" nghĩa là lượng các chất được kiểm soát đã được sản xuất trữ lượng đã được huỷ bằng các công nghệ được các Bên chấp thuận và trừ đi lượng được sử dụng hoàn toàn như là nguyên liệu trong việc chế biến các hoá chất khác Lượng được tái phát chu chuyển và tái sử dụng không được xem là "sản xuất"
"Tiêu thụ" nghĩa là sản xuất cộng nhập khẩu trừ đi xuất khẩu về các chất được kiểm soát
"Mức tính toán" về sản xuất, nhập, xuất khẩu và tiêu thụ nghĩa là mức được xác định phù hợp với Ðiều 3
"Hợp lý hoá công nghiệp" nghĩa là sự chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần mức tính toán vềsản xuất của một Bên cho Bên khác, nhằm mục đích đạt được hiệu quả kinh tế hoặc đáp ứng
sự thiếu hụt thấy trước về cung do việc đóng cửa nhà máy
Trang 17Ðiều 2B: Các chất Halon
Ðiều 2C: Các chất cfcs đầy halogen khác
Ðiều 2D: Tetraclorít các bon
Ðiều 2E
Ðiều 2F : Hydrocloruafluorocacbon
Ðiều 2G: Hydrobromofluorocacbon
Ðiều 2H: Metyl bromid
Ðiều 3: Tính toán các mức kiểm soát
Ðiều 4: Kiểm soát việc buôn bán với ngoài các bên
Ðiều 5: Tình trạng đặc biệt của các nước đang phát triển
Ðiều 6: Đánh giá và kiểm điểm các biện pháp kiểm soát
Ðiều 7: Báo cáo số liệu
Ðiều8: Sự không tuân thủ
Ðiều9: Nghiên cứu, triển khai, nhận thức xã hội và trao đổi thông tinÐiều 10: Hỗ trợ kỹ thuật
Ðiều10: Cơ chế tài chính
Ðiều10A: Chuyển giao công nghệ
Ðiều11: cuộc họp của các bên
Ðiều12: Ban thư ký
Ðiều13: cung cấp tài chính
Ðiều14: Mối quan hệ của Nghị định thư này với Công ước
Ðiều15: ký kết
Ðiều16: bắt đầu có hiệu lực
Ðiều17: các bên tham gia sau khi có hiệu lực
Trang 18Ðiều18: những bảo lưu
Tại lễ kỷ niệm, ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Cục trưởng, Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổikhí hậu, cho biết: Việt Nam tham gia Nghị định thư Montreal từ tháng 1/1994, với sự nỗ lực
Trang 19và hợp tác của các bộ ngành liên quan, các doanh nghiệp sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn (ODS), từ tháng 1/2010, Việt Nam đã loại trừ hoàn toàn 500 tấn CFC
(clorofluorocarbon) Với thành tích này, Việt Nam đã được Chương trình môi trường của Liênhiệp quốc đánh giá có những đóng góp tích cực trong thực hiện Nghị định thư Montreal Hiện nay, Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới hoàn thành xây dựng dự án “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất HCFC (hydrochlorofluorocarbon) của Việt Nam” với nguồn kinh phí 25 triệu USD để loại trừ hoàn toàn sử dụng các chất HCFC tại Việt Nam Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho biết: “Với sự hỗ trợ của Quỹ đa phương, nguồn kinh phí và công nghệ hiện nay gần như đã được xác định Khó khăn còn lại là các doanh nghiệp phải xác định thời gian khi công nghệ vào thì phải ngừng sản xuất một thời gian để tiếp nhận, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Nhưng chúng tôi mong các doanh nghiệp có thể thu xếp được vì công nghệ mới mang lại nhiều lợi ích, tăng tính cạnh tranh và sản phẩm làm ra an toàn với môi trường”
9 Công ước chống sa mạc hóa của Liên hợp quốc, 1992
9.1 Giới thiệu:
Trang 20Công ước Chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh về môitrường và phát triển tại Rio de Janeiro, Brazin vào tháng 6 năm 1992.
Sau hơn một năm tham khảo ý kiến đóng góp của hơn 1.000 nước trên thế giới, cuối cùng Công ước đã được hoàn chỉnh vào tháng 6 năm 1994 Công ước được mở cho các nước ký tại Pari vào ngày 14-15 tháng 10 năm 1994
Mục tiêu của công ước:
• Xây dựng các chương trình quốc gia, tiểu vùng và vùng để phòng chống khô hạn và sa mạc hoá
• Kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ tài chính cho việc chống sa mạc hoá
• Trao đổi thông tin, kỹ thuật và đào tạo về chống sa mạc hoá
• Ngăn chặn hậu quả sa mạc hoá dẫn đến di cư ồ ạt, các loài động thực vật bị tiệt chủng, khí hậu thay đổi v.v
• Hiện trạng về sa mạc hoá
9.2 Nội dung:
Các bên tham gia Công ước Chống Sa mạc hoá của Liên Hợp quốc:
• Nhận thức rất rõ về nguy cơ sa mạc hoá
• Thấy rằng sa mạc hoá là vấn đề có qui mô toàn cầu ảnh hưởng đến mọi vùng trên trái đất, cộng đồng thế giới cần phải có hành động chung để chống sa mạc hoá
• Nhận thức rõ rằng sa mạc hoá là do nhiều nhân tố tác động như lý học, sinh học, chính trị, xã hội, kinh tế gây ra
• Nhận thức rõ tăng trưởng kinh tế bền vững, phát triển xã hội và xoá đói giảm nghèo là mục tiêu ưu tiên của các nước đang phát triển bị sa mạc hoá
• Thấy rằng sa mạc hoá và khô hạn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và an ninh lương thực
• Đánh giá cao nỗ lực của các nước và các tổ chức quốc tế trong việc chống sa mạc hoá, hạn hán và thực thi kế hoạch hành động chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc, tuy nhiên các nước cần phải nỗ lực hơn nữa
Trang 21• Các nước nhất trí tuân thủ theo quyết định của Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro Brazin, ở Chương 12 liên quan đếnchống sa mạc hoá.
• Khẳng định lại cam kết của các nước phát triển giúp các nước bị sa mạc hoá tuân thủ theo nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc số 47/188 về chống sa mạc hoá và hạn hán, đặc biệt tại các nước Châu Phi.T
• Theo tuyên bố Rio, nguyên tắc số 2 và luật quốc tế, các nước có quyền khai thác nguồntài nguyên của mình theo chính sách môi trường và phát triển của nước mình nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường ngoài phạm vi của nước mình
• Các nước phải có trách nhiệm chống sa mạc hoá và hạn hán theo chương trình mà mỗi nước đưa ra
• Khẳng định tầm quan trọng của hợp tác quốc tế trong việc chống sa mạc hoá
• Khẳng định tầm quan trọng trong việc giúp các nước đang phát triển bị hạn hán và sa mạc hoá - nơi không có nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện được những cam kết của mình trong Công ước
• Các bên bày tỏ lo ngại ảnh hưởng của sa mạc hoá và hạn hán tại vùng Trung á Khẳng định sự tham gia tích cực trong các chương trình chống sa mạc hoá
• Nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sa mạc hoá và các vấn đề khác liên quan đến môi
trường có tính toàn cầu mà cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia đều quan tâm.Khẳng
định vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc chống sa mạc hoá
• Khẳng định việc đóng góp chống sa mạc hoá sẽ giúp thực hiện được các mục tiêu của Công ước về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc, Công ước về đa dạng sinh học và các công ước khác về môi trường
• Nhận thức rõ rằng chiến lược chống sa mạc hoá chỉ có thể đạt được kết quả tốt nhất nếu như có các tổ chức theo dõi, đánh giá liên tục, thường xuyên, có tính hệ thống
và khoa học
• Khẳng định sự cần thiết phải tăng cường hợp tác quốc tế để thực hiện có hiệu quả các chương trình và kế hoạch hành động của các quốc gia
Trang 22• Quyết định thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng chống sa mạc hoá và giảm thiểuảnh hưởng của hạn hán vì lợi ích của thế hệ hôm nay và mai sau.
9.2.1 Nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia công ước
• Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 134 của Công ước quốc tế về chống sa mạc hoá vào tháng 11 năm 1998 Là một quốc gia tham gia Công ước, Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ chung theo Điều 4 của văn kiện cũng như nghĩa vụ của các quốc gia bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa và hạn hán quy định trong Điều 5, đó là:
• ưu tiên chống sa mạc hóa, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán và huy động đủ nguồn lực theokhả năng và điều kiện cụ thể của mỗi nước
• Xây dựng chiến lược và xác định các ưu tiên trong khuôn khổ kế hoạch phát triển bền vững nhằm chống sa mạc hoá và hạn chế ảnh hưởng của quá trình sa mạc hóa đến các hoạt động kinh tế - xã hội
• Nâng cao nhận thức và tạo điều kiện để cộng đồng địa phương tham gia các hoạt động chống sa mạc hóa và hạn chế hạn hán, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên, có sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ
• Thiết lập cơ chế hỗ trợ phù hợp bằng cách tăng cường hệ thống pháp lý hiện hành và xây dựng các luật mới, xây dựng các chính sách và chương trình hành động dài hạn
• Ngay sau khi trở thành thành viên của Công ước, Việt Nam đã tích cực triển khai các hoạtđộng thực hiện Công ước như chỉ định cơ quan đầu mối quốc gia, thành lập Ban điều phốiquốc gia, xây dựng báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước, xây dựng Chương trình hành động quốc gia và tiến hành các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, huy động các thành viên trong và ngoài nước tham gia thực hiện Công ước
• Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện Công ước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
• Ban Điều phối quốc gia gồm đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Văn phòng Công ước đặt tại Cục Lâm nghiệp, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 239.2.2 Việt Nam thực thi Công ước
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng vớicác địa phương bị sa mạc hóa nặng đang xây dựng chương trình hành động thực thi Công ước Chống sa mạc hóa giai đoạn 2005-2010
Chương trình tập trung vào các giải pháp ngăn chặn nạn phá rừng, tăng cường quản lý rừng bền vững ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; cải tạo đất bị thoái hóa và khắc phục tình trạng nhiễm mặn, phèn ở các tỉnh duyên hải; triển khai các dự án trồng rừng, canh tác hợp
lý để chống cát bay, cát chảy ở các tỉnh miền Trung; tăng cường quản lý tài nguyên nước ở những vùng khô hạn, bán khô hạn; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và hạn chế ảnh hưởng của hạn hán ở các vùng nông thôn
Điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, hiện VN đang xảy ra hiện tượng sa mạc hóa cục bộ, với khoảng 7,8 triệu ha trong tổng số 9,3 triệu ha đất tự nhiên bị hoang hóa
Diện tích này đã và đang chịu tác động mạnh bởi nguy cơ sa mạc hóa, bao gồm 7 triệu ha đất trống bị thoái hóa diện rộng, đất đá ong hóa; trên 850.000 ha đất bị nhiễm mặn, phèn, xói mòn,khô hạn, cát bay theo mùa hoặc vĩnh viễn, phân bố chủ yếu tại các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc, tứ giác Long Xuyên và Nam Trung Bộ
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VN đã trở thành quốc gia thành viên thứ 134 thực thi Công ước quốc tế về chống sa mạc hóa toàn cầu từ năm 1998 và hiện đã ký 8 Công ước quốc tế liên quan đến công tác bảo vệ môi trường
10 Công ước đa dạng sinh học
(Convention on Biological Diversity viết tắt là CBD) được thông qua vào tháng 5 năm 1992 tại Nairobi và được đưa ra để các nước ký kết trong Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro vào ngày 5 tháng 6 năm 1992 Công ước bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 29 tháng 12 năm 1993