Từ trước kia cho tới nay, một số công trình khoa học đã nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo, song do thời gian và do tính chất lịch sử chính trị, xã hội cũng như tín ngưỡng, tôn giáo, mà mọi
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI VĂN HẢI
PHẬT GIÁO HÒA HẢO – LỊCH SỬ
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI VĂN HẢI
PHẬT GIÁO HÒA HẢO – LỊCH SỬ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận án 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Nhiệm vụ 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cơ sở lý luận 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết quả đóng góp của luận án 6
6 Ý nghĩa của luận án 6
7 Kết cấu của luận án 6
Chương 1TỔNG QUAN 7
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGUỒN TƯ LIỆU 7
1.1.1 Tư liệu gốc 7
1.1.2 Tư liệu tham khảo 12
1.2 NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CỦA CÁC CÔNG TRÌNH TRÊN 14
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo Hòa Hảo 14
1.2.2 Về giáo lý, giáo luật, lễ nghi của Phật giáo Hòa Hảo 15
1.2.3 Về vai trò Huỳnh Phú Sổ; hoạt động của Đảng Dân xã, lực lượng vũ trang và bộ máy hành chính đạo trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo 16
1.2.4 Về ảnh hưởng nhiều mặt của Phật giáo Hòa Hảo trong đời sống xã hội 19
1.2.5 Về công tác tôn giáo đối với Phật giáo Hòa Hảo của hệ thống chính trị Trung ương và địa phương 19
1.2.6 Định hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án 22
1.3 THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN 23
1.3.1 Thế nào là đạo Hòa Hảo 23
1.3.2 Danh từ Phật giáo Hòa Hảo 23
1.3.3 Làng Hòa Hảo 24
1.3.4 Chức việc Phật giáo Hòa Hảo 25
1.3.5 Thờ tự chung 26
1.3.6 Đạo Phật 26
1.3.7 Tôn giáo là gi? 27 Chương 2NHỮNG THỜI KỲ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CƠ
Trang 42.1.1 Thời kỳ ra đời của Phật giáo Hòa Hảo 40
2.1.2 Thời kỳ Phật giáo Hòa Hảo phát triển từ 1948 - 1954 49
2.1.3 Thời kỳ Phật giáo Hòa Hảo phát triển năm 1955 - 1975 51
2.1.4 Thời kỳ phát triển của PGHH từ năm 1975 đến nay 58
2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT, LỄ NGHI VÀ TỔ CHỨC CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO 63
2.2.1 Giáo lý của Phật giáo Hoà Hảo 63
2.2.2 Giáo luật của Phật giáo Hoà Hảo 72
2.2.3 Lễ nghi của Phật giáo Hoà Hảo 76
2.2.4 Tổ chức của Phật giáo Hoà Hảo 79
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO HOÀ HẢO HIỆN NAY TỪ CÁC PHƯƠNG DIỆN TÔN GIÁO VÀ XÃ HỘI 84
3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA PGHH TỪ PHƯƠNG DIỆN TÔN GIÁO 84
3.1.1 Điều kiện nhập đạo và ảnh hưởng từ góc độ quy mô tín đồ 84
3.1.2 Mức độ nhu cầu tín ngưỡng và thực hành tín ngưỡng của tín đồ Phật giáo Hoà Hảo 89
3.1.3 Tổ chức giáo hội 94
3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA PGHH Ở PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI 96
3.2.1 Ảnh hưởng ở lĩnh vực kinh tế 96
3.2.2 Ảnh hưởng trên lĩnh vực văn hoá, xã hội 99
3.2.3 Những ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Hòa Hảo 103
3.2.4 Ảnh hưởng trên lĩnh vực chính trị 116
Tiểu kết chương 3 124
Chương 4PHẬT GIÁO HÒA HẢO - XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀNHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, KHUYẾN NGHỊ 125
4.1 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO 125
4.2 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ 131
4.2.1 Vấn đề đặt ra 131
4.2.2 Khuyến nghị 136
Tiểu kết chương 4 149
KẾT LUẬN 151
HAI BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
PHỤ CHÚ 166
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án tiến sĩ là trung thực Những kết luận khoa học luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Bùi Văn Hải
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Cho đến nay, Việt Nam đã có 13 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận tư cách pháp nhân, gồm cả tôn giáo nội sinh và ngoại sinh Phật giáo Hoà Hảo là một tôn giáo nằm trong số đó, tôn giáo nội sinh Phật giáo Hoà Hảo ra đời năm 1939 ở tỉnh Châu Đốc, nay là tỉnh An Giang và ngay từ đầu nó đã tỏ ra rất phù hợp với nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người nông dân Nam bộ Thế nhưng, ở cả thời kỳ trước và sau ngày miền Nam giải phóng, trước đây đã có không ít người cho rằng, Phật giáo Hoà Hảo không phải là một tôn giáo, mà là một “tổ chức chính trị trá hình”, “lấy đạo tạo đời” Vì thế, phải mãi đến năm 1999, Phật giáo Hoà Hảo mới được công nhận tư cách pháp nhân Điều đó cho thấy, trong lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển, Phật giáo Hòa Hảo có rất nhiều những vấn đề lịch sử chính trị, xã hội phức tạp đối với cả 2 phía: ngụy quyền Sài Gòn (đặc biệt dưới thời kỳ Ngô Đình Diệm cầm quyền) và chính quyền cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Từ trước kia cho tới nay, một số công trình khoa học đã nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo, song do thời gian và do tính chất lịch sử chính trị, xã hội cũng như tín ngưỡng, tôn giáo, mà mọi luận giải ở lĩnh vực này hoặc lĩnh vực khác, chưa có được sự thoả đáng nhất định từ các phương diện chính trị, xã hội Vì thế, nó đã và đang đặt ra yêu cầu, trước hết là đối với chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội, cần phải nhận thức lại, hướng đến sự thống nhất hơn nữa, nhằm đảm bảo cho mối đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc
Hiện nay, theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2012, Phật giáo Hoà Hảo có 1,.3 triệu tín đồ Trong đó, tín đồ hầu hết là nông dân và tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đông nhất là ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre và Kiên Giang Tín đồ
Trang 7Phật giáo Hoà Hảo luôn thể hiện niềm tin của mình vào nền đạo tốt đẹp của Phật giáo Hòa Hảo và trực tiếp vào Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của họ
Cũng giống như các tôn giáo truyền thống khác, giáo lý Phật giáo Hoà Hảo đều khuyên dạy tín đồ “làm lành, lánh dữ”; giữ gìn những giá trị truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; đề cao đến cao độ lòng tự tôn, tự hào dân tộc của nòi giống Rồng - Tiên
Tuy nhiên cho đến nay, nhiều vấn đề lịch sử chính trị, xã hội và tôn giáo của Phật giáo Hòa Hảo vẫn chưa được giải quyết về cơ bản trên các phương diện chính trị học, tôn giáo học và xã hội học, như vấn đề Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, Đảng dân xã, cơ sở thờ tự Bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo; số phần tử quá khích, cực đoan ở trong nước cấu kết với các thế lực xấu ở ngoài nước vốn có mặc cảm nặng nề với chế độ ta, những người đứng đầu mang danh Phật giáo Hòa Hảo, để chống phá cách mạng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Những vấn
đề đó của Phật giáo Hoà Hảo cả trong lịch sử và đương đại đã và đang đặt ra nhu cầu cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn cho việc nghiên cứu thấu đáo hơn nữa về tôn giáo này Nghiên cứu về những vấn đề đó, sẽ là cơ sở khoa học cho Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam xây dựng quan điểm, chính sách, chủ trương, giải pháp đối với Phật giáo Hòa Hảo
Mặt khác, việc nghiên cứu đó sẽ là một đóng góp vào việc nâng cao nhận thức xã hội đối với Phật giáo Hòa Hảo, không chỉ từ góc độ chính trị,
mà còn ở các phương diện khác, như: triết học tôn giáo, tôn giáo học, văn hóa học và xã hội học tôn giáo
Với các lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Phật giáo Hoà Hảo -
L ịch sử và những vấn đề hiện nay” làm luận án tiến sĩ tôn giáo học của mình
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Luận án tiếp tục làm sáng tỏ sự ra đời, đặc điểm chủ yếu của Phật giáo Hoà Hảo và những vấn đề đặt ra hiện nay trong mối quan hệ với các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó khuyến nghị với Đảng, Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị, nhằm xây dựng, đảm bảo chính sách tự do tôn giáo,
“tốt đời đẹp đạo” đối với Phật giáo Hòa Hảo hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
Đề tài có nhiệm vụ làm rõ những vấn đề sau:
- Hoàn cảnh ra đời, những nội dung cơ bản về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức của Phật giáo Hòa Hảo; mối quan hệ của Phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống xã hội nước ta trong lịch sử; về giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và quá trình hình thành, phát triển của tôn giáo này
- Phật giáo Hòa Hảo trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
ở nước ta hiện nay
- Những vấn đề hiện nay của Phật giáo Hòa Hảo và khuyến nghị từ phương diện công tác tôn giáo của hệ thống chính trị đối với tôn giáo này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sinh tiếp cận đối tượng nghiên cứu là các chức việc ở Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo 2 cấp, cùng với tín đồ của tôn giáo này và nghiên cứu trong phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, thời gian từ năm 1939 đến năm 2013
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Với đề tài luận án: "Phật giáo Hòa Hảo – lịch sử và những vấn đề hiện
nay”, nghiên cứu sinh xác định những câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 9Câu hỏi 1: Những vấn đề lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo đã và đang tác
động tới đời sống xã hội đương đại như thế nào?
Câu hỏi 2: Trong xã hội mới do Đảng ta lãnh đạo, Phật giáo Hòa Hảo
đã phát huy được yếu tố tích cực của mình ra sao?
Câu hỏi 3: Hệ thống chính trị các cấp và Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo cần làm gì và làm như thế nào để tôn giáo này thực hiện được phương châm tốt đời – đẹp đạo?
Từ các câu hỏi nghiên cứu ấy, nghiên cứu sinh xây dựng một số giả thuyết như sau:
M ột là, những sự kiện và đặc điểm của Phật giáo Hòa Hảo trong lịch sử
cho đến nay đã mờ nhạt, rơi vào quên lãng, hoặc đã được giải quyết căn bản, vì thế chỉ nên đặt trọng tâm chú ý vào các vấn đề hôm nay của Phật giáo Hòa Hảo
Hai là, trong một tồn tại xã hội mới do Đảng ta lãnh đạo, tín đồ và chức việc Phật giáo Hòa Hảo đương nhiên đã rũ bỏ được những vấn đề chính trị quá khứ vốn rất nặng nề, mà hòa đồng đoàn kết cùng các cộng đồng không tôn giáo và các tôn giáo khác trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ba là, những vấn đề tiêu biểu từ nhiều lĩnh vực của Phật giáo Hòa Hảo
đặt ra hiện nay được giải quyết thành công, chủ yếu chỉ cần đòi hỏi đến nhân
tố lãnh đạo, quản lý xã hội là Đảng và Nhà nước, còn với Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo là không đáng kể, không mấy quan trọng
Để trả lời các câu hỏi và làm rõ các giả thuyết trên, nghiên cứu sinh dựa vào những cơ sở lý thuyết sau:
Th ứ nhất: Dựa vào quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo để nhận thức về quá trình ra đời và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo, với tính cách vừa là một hình thái ý thức xã hội và vừa là một thực thể xã hội, có mối quan hệ tất yếu với các lĩnh vực xã
Trang 10hội, được quy định bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đó là thời kỳ đất nước dưới ách ngoại xâm và hiện nay, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Th ứ hai: Dựa vào lý thuyết của khoa học lịch sử để làm rõ về quá trình
ra đời và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo, đồng thời từ cái lịch sử phát hiện cái logic xuyên suốt cái lịch sử, chi phối các hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo hiện nay
Th ứ ba: Dựa vào lý thuyết tôn giáo học, xã hội học tôn giáo và lý
thuyết hệ thống cấu trúc để tìm hiểu về thực trạng và phân tích sự tác động nhiều chiều của các yếu tố cấu thành Phật giáo Hòa Hảo hiện nay, tới đời sống xã hội Nam bộ Việt Nam, địa bàn tập trung đông Phật giáo Hòa Hảo Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá và những vấn đề đặt ra của tôn giáo này đối với công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước
Th ứ tư: Dựa vào lý thuyết nhân học tôn giáo, văn hóa học và chính trị
học để làm rõ những yêu cầu của xã hội, chính trị đối với tín đồ, chức việc Phật giáo Hòa Hảo và ngược lại, của đồng bào theo Phật giáo Hòa Hảo đối với đất nước trong quá trình phát triển xã hội Việt Nam dưới thời kỳ đổi mới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Với các câu hỏi và giả thuyết như trên, nghiên cứu sinh sẽ phải vận dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học Đó là: những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành, như: Phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, lịch đại, phương pháp phân tích biểu tượng, phương pháp so sánh và phân loại loại hình hóa; phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát và tham dự
Trang 115 Kết quả đóng góp của luận án
Luận án góp phần tiếp tục luận giải những vấn đề lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo trong xã hội đương đại do Đảng ta lãnh đạo;
Luận án góp phần tăng cường công tác tôn giáo của hệ thống chính trị đối với Phật giáo Hòa Hảo hiện nay, từ việc xây dựng lực lượng cốt cán, nâng cao đời sống tinh thần, trình độ dân trí, phát huy tinh thần yêu nước của tín
đồ, chức việc Phật giáo Hoà Hảo
6 Ý nghĩa của luận án
- Luận án góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về Phật giáo Hoà Hảo; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách đối với tôn giáo này hiện nay;
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy triết học, tôn giáo học, sử học, nhân học, xã hội học các học viện ở Trung ương, các trường đại học và trường chính trị tại địa phương
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu chính gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGUỒN TƯ LIỆU
Quy ển 1: “Sấm giảng khuyên người đời tu niệm”, thể thơ lục bát
trường thi có 219 câu, xuất bản năm 1939 Quyển này Huỳnh Phú Sổ nói rõ danh phận của mình trong quá trình chu du tiếp cận bá tánh: Kẻ ăn xin, lão đưa đò, người bán cá, bán thuốc, hát rong để dễ bề thâm nhập quần chúng thuyết giảng kinh kệ và khuyên người tu niệm Song tính đặc biệt của quyển này là viết về sự mở màn thời kỳ “hạ ngươn mạt pháp”, một thảm hoạ sắp tràn lan và việc phán đoán thời cuộc sắp diễn ra đúng sự thật, được thể hiện trong những vần thơ của Huỳnh Phú Sổ, qua đó thức tỉnh chúng sinh, bá tánh tìm đường ngay, nẻo chính đi theo con đường hướng thiện
Quy ển 2: “Kệ dân của người khùng”, thể thơ thất ngôn trường thi, có
846 câu, xuất bản năm 1939 Nội dung quyển này tiếp tục cảnh báo họa chiến tranh diễn ra Sinh linh đồ khổ, Huỳnh Phú Sổ nêu cụ thể thảm họa cho dân tộc Việt Nam; đánh giá đúng thảm cảnh xã hội đương thời bấy giờ một cách đen tối cùng cực nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc Mục đích của Huỳnh Phú Sổ là gây ấn tượng thức tỉnh lương dân tìm đường đạo hạnh
Quy ển 3: “Sấm giảng”, thể thơ lục bát trường thi, có 612 câu, xuất bản
năm 1939 Nội dung chủ yếu của quyển này là tiếp tục khuyên chúng sinh tu hành và bài bác mê tín dị đoan Thật không sai, nếu ở trên đời ai cũng tu tâm dưỡng tánh, làm lành lánh dữ thì đâu có cảnh xâu xé lẫn nhau làm cho đầu rơi
Trang 13máu đổ Những từ luân lý, tổ tông, nhân nghĩa, lễ nghi, phong hóa, tứ ân đã bao hàm đủ việc đối nhân xử thế, đạo lý làm người của dân tộc ta Về phê phán mê tín dị đoan cũng được khẳng định khác biệt giữa chân đạo và tà đạo
Quy ển 4: “Giác mê tâm kệ”, thể thơ thất ngôn trường thi, có 846 câu,
xuất bản năm 1939 Nội dung quyển này Huỳnh Phú Sổ khuyên dạy bổn đạo
tu cho tròn đạo làm người để hướng cho tín đồ bước lên bậc thang cao hơn trên con đường tu học Tu tâm là pháp môn thiền định rất cao trong giáo lý nhà Phật, ở đó tâm không còn vọng đọng, tránh được phiền não và có được những người tu hành tinh tấn, ngộ đạo Huỳnh Phú Sổ xây dựng từng bước hoàn thiện một con người, dẫn đến ngưỡng cửa Phật, đi đúng theo giáo lý chân truyền của Phật Thích Ca Mâu Ni
Quy ển 5: “Khuyến thiện”, thể thơ thất ngôn trường thi, có 756 câu,
xuất bản năm 1941 Nội dung quyển này khuyên tín đồ làm việc thiện, tu tỉnh quy y phật pháp Nếu xét về mặt logíc, quyển này thể hiện tính liên tục, kế
thừa quyển 4 Giác mê tâm kệ, nhằm chân lý hoá triết lý Phật giáo Nó không
phải là những điệp khúc trong các quyển trước, mà tái khẳng định sự mầu nhiệm của đạo, đưa con người đi đến giải thoát Ngoài ra, Huỳnh Phú Sổ còn nhắc đến sự tích của Phật Thích Ca nhằm động viên tín đồ tu học tích cực
Quy ển 6: Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo, quyển này
Huỳnh Phú Sổ viết vào năm 1945, tại Sài Gòn, theo thể văn xuôi, có 35 trang (khổ giấy 15 x 20cm) được chia làm 06 phần, gồm:
M ột, những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền
Hai, luận về tam nghiệp
Ba, luận về bát chánh
B ốn, cách thờ phượng hành lễ và sự ăn ở của một tín đồ Phật giáo Hoà
Hảo
Trang 14Sáu, lời khuyên bổn đạo
Nội dung nói về những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền, Huỳnh Phú
Sổ nói đạo Phật từ xưa đến nay luôn phân làm hai hạng người: hạng xuất gia
và hạng tại gia
Hạng xuất gia: Gồm có các nhà sư hay những ni cô đã hoàn toàn ly khai với gia đình, quê hương, bè bạn, dựa thân vào cửa thiền hoặc núi non am cốc, hàng ngày chỉ chuyên lo kinh kệ, trau luyện đức lành, trau giồi trí tuệ để giảng giải cho bá tánh thập phương hướng thiện quy y phật pháp, không còn thiết nghĩ đến việc đời Gia đình nhà cửa của nhà sư là cả thế gian, thân quyến nhà sư là khắp cả nhân loại đại đồng Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật quả, thoát kiếp luân hồi
Hạng tại gia: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông Tổ quốc, với gia đình, đồng bào, xã hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hoặc ni
cô Tuy vậy, họ luôn hoan nghênh, ca tụng lý tưởng từ bi, bác ái, đại đồng của nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra Họ thờ phượng Đức Phật tại nhà, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn lòng, ủng hộ các sư Như thế họ cũng lần lần lên con đường giải thoát và đây
là hạng người học Phật tu Nhân Theo đó cho thấy toàn thể trong Phật giáo Hòa Hảo thuộc hạng người tại gia cư sĩ, học Phật tu Nhân
1.1.1.2 Tài liệu - sấm giảng giáo lý Phật giáo Hoà Hảo của Huỳnh Phú Sổ, Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo, Ban Phổ truyền giáo lý,
tái bản lần thứ năm, nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội năm 2004
Tài liệu này gồm có: thay lời tựa, sứ mạng của đức Thầy, do chính tay Huỳnh Phú Sổ viết vào ngày 18/5/1942, tại Bạc Liêu, gồm 06 quyển: Nó tương tự như 06 quyển tư liệu gốc, không có gì thay đổi Nhưng chỉ có quyển thứ nhì của tái bản lần thứ năm chênh lệch nhau 370 câu và quyển năm chênh
Trang 15lệch nhau 20 câu (quyển thứ hai cũ có 846 câu, quyển mới chỉ có 476 câu và quyển thứ năm cũ 756 câu và quyển mới 776 câu)
Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo giữa cái cũ và cái mới chỉ chênh lệch nhau
ở quyển hai và quyển năm, khi đã lược bỏ một số câu trong hai quyển này Có
lẽ Ban Trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Hòa Hảo điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới Những nội dung kệ giảng của Huỳnh Phú Sổ đã lý giải được những điều bức xúc trong đời sống xã hội, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, đạo làm người trong đối nhân xử thế, bổn phận nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia dân tộc Nó cũng không chỉ hạn chế trong lĩnh vực tu thân; giáo lý của Huỳnh Phú Sổ đã góp phần làm sáng tỏ chân lý đạo Phật, phát huy công đức tu hành của các bậc tăng ni, giáo phẩm trên con đường chấn hưng Phật giáo, vun vén đạo mầu Rõ ràng, tại đây nếu không có sức cảm hoá, thuyết phục thì không thể có đông đảo tín đồ từ nhiều tầng lớp, nhiều thành phần giai cấp trong xã hội tồn tại đến ngày nay, được Nhà nước
công nhận và cho phép sinh hoạt đạo sự
1.1.1.3 Tư liệu điền dã [Xem Phụ lục: 7, 8, 9, 10, 11 và 12]
Nghiên cứu sinh sưu tầm những tư liệu qua quá trình khảo sát, sưu tầm, điều tra, tại các ban trị sự, nơi có đông tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở 14 tỉnh, thành ở đồng bằng sông Cửu Long, với 37.598 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Các
tư liệu loại này đã giúp cho nghiên cứu sinh tìm hiểu kỹ hơn lịch sử hình thành và mối quan hệ của Phật giáo Hòa Hảo với đời sống xã hội trước đây và hiện nay còn chưa được rõ
1.1.1.4 Các văn bản về quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước Việt Nam liên quan đến Phật giáo Hòa Hảo
Tạo ra sự thay đổi căn bản, mang tính tích cực cho các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam phải kể đến Nghị quyết 24/BCT, ngày 16/10/1990, của Bộ
Trang 16tình hình m ới Đồng thời với đó là các Văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt
Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa VI (1990), Nghị quyết hội nghị
lần thứ tám: Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ
gi ữa Đảng với nhân dân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (1998), về xây dựng và phát triển
n ền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Đảng cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 37-CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Thông
tư số 01/1999/TT-TGCP: v/v hướng dẫn thực hiện một số điều trong nghị định 26/1999/NĐ-CP của chính phủ về các hoạt động tôn giáo;
Quyết định số: 17/2000/QĐ- TGCP của trưởng Ban Tôn giáo chính phủ
v/v s ửa đổi, bổ sung một số điều tại thông tư 01/1999/TT-TGCP ngày
16/6/1999 c ủa Ban Tôn giáo chính phủ về hoạt động tôn giáo; Nghị quyết 25/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần bảy (2003), khoá IX: về
công tác tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt Nam: Quyết định số 123 - QĐ/TW
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2004): quy định một số điều về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn
giáo; Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, số 21/2004/PL-UBTVQH11, ngày 29-6-2004; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP:
h ướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt
Nam (2006), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X – Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Ban Tôn giáo chính phủ (2008), tôn giáo và công tác quản
lý nhà n ước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Ban Tôn giáo chính phủ (2010): tài liệu hỏi - đáp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng,
tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI - Nxb chính trị quốc gia Hà Nội
Thông báo số 165-TB/TW, ngày 04/9/1998, của Thường vụ Bộ Chính
trị (khoá VIII): về chủ trương công tác đối với Phật giáo Hoà Hảo trong tình
Trang 17hình m ới; Quyết định số 21/1999/QĐ-TGCP: v/v chấp thuận tổ chức và hoạt động của Ban trị sự Phật giáo Hoà Hảo; Thông tư số 01/2000/TT - TGCP, ngày 12/10/2000: v/v hướng dẫn một số vấn đề quản lý nhà nước đối với các
ho ạt động của Phật giáo Hoà Hảo
1.1.2 Tư liệu tham khảo
1.1.2.1 Những tác phẩm, bài viết về lý luận tôn giáo và tôn giáo Việt Nam
Viện thông tin khoa học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(4/2003), những vấn đề Chính trị - xã hội: Những biến đổi và vai trò của đạo đức tôn giáo trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa, số 14,15, Hà Nội Viện thông
tin khoa học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (4/2003), những vấn
đề Chính trị - xã hội: Toàn cầu hoá với tôn giáo đương đại, số 11, 12, 13, Hà Nội Viện thông tin khoa học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(5/2003), những vấn đề Chính trị - xã hội: Quan điểm tôn giáo và triết học
c ủa chủ nghĩa Mác, số 17, Hà Nội Trần Văn Giàu (1996), sự phát triển của
t ư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám (3 tập), Nxb Chính trị quốc gia Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (chủ biên) (2003), Tư
t ưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Tôn giáo, Hà Nội GS Đặng Nghiêm Vạn (2005), lý
lu ận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, tái bản lần thứ hai, Nxb CTQG, Hà Nội GS.Đỗ Quang Hưng (2005), vấn đề tôn giáo trong cách
m ạng Việt Nam – lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật PGS.TS Ngô Hữu Thảo (2005): Công tác tôn giáo hiện nay - một số vấn đề đặt ra từ hệ thống chính trị tạp chí Công tác tôn giáo; PGS TS Nguyễn Đức
Lữ (2006): Tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo, tạp chí
Lý luận chính trị PGS.TS Ngô Hữu Thảo (2006): “tư tưởng Hồ Chí Minh về
Trang 18PGS TS Nguyễn Đức Lữ (2006): Tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công
tác tôn giáo , tạp chí Lý luận chính trị PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (2011), tìm
hi ểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam hi ện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Trương Hải Cường (2012), một số vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật PGS.TS Ngô Hữu Thảo (2012): Công tác tôn
giáo – t ừ quan điểm Mác – Lênin đến thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội
1.1.2.2 H ệ thống hoá các công trình, bài viết đã được công bố liên
quan đến Phật giáo Hoà Hảo
Đào Hưng và Vương Kim (1953): Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long
Hoa Vương Kim (1960): Đời hạ ngươn, Nxb Long Hoa Huỳnh Phú Sổ (1966): Sấm giảng thi văn giáo lý, Ban phổ thông giáo lý Trung ương giáo hội Phật giáo Nguyễn Văn Hầu (1969): Muốn về cõi Phật, Nxb Hương Sen Nguyễn Văn Hầu (1971): Nhận thức Phật giáo Hoà Hảo, Nxb Hương Sen Nguyễn Văn Hầu (1973): Năm cuộc đối thoại, Nxb Hương Sen Vương Kim (1973): Đời thượng ngươn, Nxb Long Hoa Lê Thành Thảo (1974): Sinh hoạt
Ph ật giáo Hòa Hảo trong cộng đồng quốc gia, luận văn cao học xã hội học –
Đại học Văn khoa Huỳnh Hữu Chiến: Hoạt động lợi dụng Phật giáo Hoà
H ảo của địch chống lại chính quyền nhân dân trên địa bàn tỉnh An Giang từ
1975 – 1990 Trương Như Vương (1997): Đạo Hòa Hảo những vấn đề đặt ra
cho công tác an ninh tr ật tự hiện nay, đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Bộ Công
an, Hà Nội Báo cáo tổng quan đề tài (2001) khảo sát thực trạng Phật giáo
Hoà H ảo – kiến nghị về chủ trương, chính sách, Vụ 3 - Vụ các tôn giáo khác,
Ban Tôn giáo chính phủ, Hà Nội
Những tác phẩm, bài viết về lý luận tôn giáo và tôn giáo Việt Nam trên đây, mặc dù không trực tiếp bàn nhiều tới những vấn đề cơ bản của Phật giáo
Trang 19Hòa Hảo, song đấy lại là một cơ sở nhận thức lý luận tôn giáo học cũng như
cơ sở thực tiễn về tình hình tôn giáo ở Việt Nam và thế giới, để nghiên cứu sinh triển khai luận án của mình
Nội dung được ghi lại trong các tư liệu nêu trên giúp cho nghiên cứu sinh làm luận án tìm hiểu nhiều vấn đề mới đối với lịch sử ra đời và phát triền của Phật giáo Hoà Hảo
1.2 NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN CỦA CÁC CÔNG TRÌNH TRÊN
Các công trình nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo đã tiếp cận tới một số vấn đề như sau:
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo Hòa Hảo
- Những công trình trên đã nghiên cứu quá trình ra đời của Phật giáo Hòa Hảo Trong đó các công trình đã cho thấy rõ về tình hình xã hội Nam bộ, Việt Nam những thập niên đầu của thế kỷ XX và đây chính là cơ sở vật chất
và tư tưởng từ đó xuất hiện Phật giáo Hoà Hảo Hoàn cảnh kinh tế, chính trị,
xã hội, tư tưởng thời kỳ này, đời sống đói khổ lầm than của người nông dân, hậu quả chính sách khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp, nhất là việc chính sách cướp đoạt ruộng đất, vơ vét bóc lột bằng thuế khoá Sự đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp đối với các cuộc đấu tranh của nhân dân, kể cả thời gian sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra đời lãnh đạo cách mạng
- Đặc điểm riêng về lịch sử, địa lý, dân cư, văn hoá của vùng đất Nam
bộ đã hình thành những nét tâm lý, lối sống của người dân và những hình thức tôn giáo Nam bộ đặc thù và tất cả những điều đó không những đã hội tụ hợp lại tạo ra môi trường thuận lợi làm nảy sinh những tôn giáo mới, trong đó
có Phật giáo Hoà Hảo, mà còn tạo nên tính cách, đặc điểm riêng của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Bởi vì Nam bộ Việt Nam là vùng đất mới được khai phá,
Trang 20có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất này Người Việt đem đến đây vốn văn hoá của vùng đất châu thổ Bắc bộ lại được làm giàu ở miền Trung, khu Năm Đến vùng đất mới, nó lại được giao lưu với văn hoá các tộc người khác, nên có những nét khác với nền văn hoá của vùng đất có cội nguồn phía Bắc Những yếu tố ấy hình thành tồn tại xã hội độc đáo ở miền đất phía nam Việt Nam Từ đó, tạo nên tính cách đặc trưng của bao thế hệ người Việt ở Nam bộ đó là sự giản dị, thẳng thắn, trung nghĩa, có tinh thần yêu nước, chống cường quyền Phật giáo Hoà Hảo trên toàn bộ nội dung cơ bản của mình, đã phản ánh và đáp ứng về những đặc điểm của người dân Nam bộ
- Trực tiếp với sự ra đời Phật giáo Hòa Hảo, đó là sự sa sút về đạo pháp của các tôn giáo đương thời, nhất là sự suy vi của Phật giáo từ mấy thế kỷ trước, để rồi bắt đầu từ Miền Nam vào những năm đầu thế kỷ XX, dấy lên phong trào chấn hưng Phật giáo Trước khi Phật giáo Hoà Hảo ra đời, đa số nông dân đi theo đạo Phật, đạo Nho, một số ít đi theo đạo Công Giáo Nhưng thời kỳ này, các tôn giáo đó bị người ta nghi ngờ hoặc đã không còn phù hợp Trước đó, đạo Cao Đài ra đời, nhiều người đương thời xem nó như một hiện tượng mê tín; hơn nữa lại là một tôn giáo hỗn dung nên có phần phức tạp, trong khi nhiều người dân có nhu cầu về một tôn giáo đơn giản gần gũi hơn
Tình hình đó, tất cả đã tạo ra khoảng trống tín ngưỡng, từ đó xuất hiện nhiều tôn giáo mới để bù đắp, trong đó có Phật giáo Hòa Hảo Điều này được nhiều công trình khẳng định và làm phong phú bằng nhiều tư liệu đáng tin cậy
và thuyết phục
1.2.2 Về giáo lý, giáo luật, lễ nghi của Phật giáo Hòa Hảo
- Các công trình đã công phu trong việc tìm tòi, luận giải về cội nguồn
tư tưởng trực tiếp của Phật giáo Hoà Hảo, đó là 2 tôn giáo bản địa: Bửu Sơn
Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa Những tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương và
Trang 21Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã được Huỳnh Phú Sổ kế thừa, tiếp biến trở thành nội dung cơ bản về giáo lý, giáo luật, lễ nghi của Phật giáo Hoà Hảo
- Giáo lý của Phật giáo Hoà Hảo là sự kết tinh của tư tưởng Phật giáo truyền thống, được các công trình khẳng định nó thuộc phái Thiền Lâm Tế
- Giáo lý, giáo luật và lễ nghi của Phật giáo Hoà Hảo còn liên quan đến Phật giáo từ phương diện là những phương thức hành đạo rất năng động theo tinh thần tuỳ duyên phương tiện, tuỳ khế cơ, khế lý, thái độ khoan dung của Phật giáo
- Phật giáo Hòa Hảo còn dung nạp một số yếu tố các tín ngưỡng dân gian, với đạo đức, văn hoá dân tộc Điều này làm cho Phật giáo Hoà Hảo
trong quá trình phát triển đã chia thành nhiều môn phái
1.2.3 Về vai trò Huỳnh Phú Sổ; hoạt động của Đảng Dân xã, lực lượng vũ trang và bộ máy hành chính đạo trong việc hình thành, tồn tại
và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo
- V ề Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
+ Các công trình đã nghiên cứu về tôn giáo này, khi đã luôn gắn liền với vai trò của Huỳnh Phú Sổ, từ mọi ảnh hưởng, vận động và lịch sử phát triển của Phật giáo Hòa Hảo Trong đó là một số vấn đề cơ bản:
+ Huỳnh Phú Sổ, cuộc đời và sự nghiệp tôn giáo của một giáo chủ, đã thu hút sự nghiên cứu của nhiều công trình Ở đây chủ yếu là những ca ngợi,
đề cao một con người bằng xương, bằng thịt để rồi trở thành Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo
+ Người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo luôn tự hào, tin tưởng vào vị giáo chủ của mình trên mọi phương diện, cả đạo và đời
+ Sự kiện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ“đi xa” được rất nhiều công trình đề cập tới Đây chính là nội dung – vấn đề còn nhiều tranh cãi bậc nhất của tôn
Trang 22mâu thuẫn giữa tín đồ với cách mạng, trong khi quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là khép lại quá khứ, đoàn kết dân tộc
- V ề hoạt động của Đảng Dân xã
+ Sự ra đời của Việt Nam dân chủ xã hội Đảng của Phật giáo Hòa Hảo được nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội và khoa học nhìn nhận như là một trang tối trong lịch sử ra đời và tồn tại của tôn giáo này
+ Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, quá trình ra đời của Việt Nam dân chủ xã hội Đảng gọi là Đảng Dân xã, gắn liền với ý đồ chính trị hóa tôn giáo để thực hiện tham vọng bá vương, chia quyền lãnh đạo với cách mạng của Huỳnh Phú Sổ Với ý đồ lợi dụng của đế quốc thực dân, Huỳnh Phú Sổ đã tiến hành các hoạt động chính trị, chống lại chính quyền cách mạng Ngày 21/9/1946, Huỳnh Phú Sổ thành lập Đảng Dân xã, Đảng Dân xã có vai trò rất
to lớn đối với mọi hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo, có Tuyên ngôn hoạt động: Đoàn kết các đoàn thể yêu nước (kháng chiến, cần lao, tôn giáo, chính trị); Là một đảng quốc gia, tranh đấu giành tự chủ hoàn toàn cho dân tộc, củng cố độc lập quốc gia, cấu tạo xã hội Việt Nam mới; Thực thi các nguyên tắc dân chủ, chủ quyền của toàn thể nhân dân; Tổ chức kinh tế theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, xóa bóc lột, mọi người hưởng phúc lợi theo việc làm và tài năng
+ Trong quá trình hoạt động, Đảng Dân xã không chỉ thao túng cả bộ máy hành chính giáo hội mà còn làm tay sai đắc lực cho đế quốc thực dân Đảng Dân xã có quá trình hoạt động, chứng minh đây là một tổ chức chính tri
ôm chân thực dân, đế quốc
+ Đảng Dân xã tồn tại hoạt động song song với giáo hội nhưng hoạt động không có sự thống nhất mà luôn luôn mâu thuẫn chia rẽ Những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo và Đảng Dân xã không hề có và tìm chọn được
Trang 23một lợi ích chung Nó ra đời và tồn tại chỉ phản ánh những lập trường phức tạp vốn có, mang bản chất chống cộng
- V ề hoạt động của lực lượng vũ trang Phật giáo Hòa Hảo
+ Từ khi thành lập, tồn tại và phát triển, Phật giáo Hòa Hảo tổ chức lực lượng vũ trang với mục đích bành trướng thế lực Theo đó, các công trình nghiên cứu đều cho rằng: Đó là nét khác biệt so với tôn giáo khác; đây là một vấn đề không thể bỏ qua khi nghiên cứu về thực trang Phật giáo Hòa Hảo Bởi
vì, nó không chỉ khắc sâu tính đặc thù và đơn nhất trong lịch sử mà còn để lại hậu quả không nhỏ cho xã hội
+ Các công trình cũng khẳng định: Với tinh thần chống cộng, tôn thờ chủ nghĩa đế quốc, lại được đế quốc Mỹ nuôi dưỡng, bảo trợ nên vai trò chống cộng của lực lượng vũ trang Phật giáo Hòa Hảo qua các thời kỳ trở nên bất lợi, gây nhiều thiệt hại cho cách mạng
+ Các công trình đưa ra số liệu về quân số của lực lượng vũ trang Phật giáo Hòa Hảo như sau:
Thời kỳ 1948 – 1951: Có 17.414 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo;
Thời kỳ 1952 – 1953: Có 25.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo;
Thời kỳ 1954 – 1964: Có 28.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo (lực lượng chính quy của Đảng Dân xã);
Thời kỳ 1965 – 1972: Có 1.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo;
Thời kỳ 1973 – tháng 12/1973: Có 70.500 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo (trong đó tỉnh đoàn bảo an tỉnh An Giang có 2.000 tín đồ);
Thời kỳ 1974 – 1975: Có 518.743 tín đồ Phật giáo Hòa
- V ề hoạt động của bộ máy hành chính:
Nhiều công trình phân tích về bộ máy hành chính đạo Phật giáo Hòa
Hảo Trong quá trình thành lập và hoạt động tồn tại không còn nguyên nghĩa
Trang 24nhiệm kỳ nhất định Vì vậy các hoạt động của bộ máy hành chính có tính tôn giáo của Phật giáo Hòa Hảo bị mờ nhạt Thay vào đó là quá trình chính trị hóa
bộ máy Giáo hội hơn; mâu thuẫn tranh giành quyền lực của một số người ở cơ quan Giáo hội phản động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại cách mạng
1.2.4 Về ảnh hưởng nhiều mặt của Phật giáo Hòa Hảo trong đời sống xã hội
- Những nghiên cứu tập trung vào các phương diện: Phật giáo Hòa
Hảo hoạt động ảnh hưởng to lớn trong lĩnh vực chính trị; Phật giáo Hòa Hảo
hoạt động ảnh hưởng trên lĩnh vực văn hóa xã hội và đây là nội dung được bàn tới nhiều hơn cả
- Những nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo trong các chế độ xã hội chính trị khác nhau, điều này thể hiện mối quan hệ của Phật giáo Hòa Hảo với những cơ sở hiện thực cụ thể quy định nên những nội dung và hình thức ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội
- Ngoài ra, có công trình còn nghiên cứu trong sự so sánh vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo giữa các chế độ xã hội – chính trị khác nhau, từ
đó khẳng định tính ưu việt của xã hội ta, môi trường điều kiện thuận lợi, tự do đối với tôn giáo nói chung và Phật giáo Hòa Hảo nói riêng so với các chế độ
xã hội trước đây
1.2.5 Về công tác tôn giáo đối với Phật giáo Hòa Hảo của hệ thống chính trị Trung ương và địa phương
Trong đó, rất nhiều các công trình phân tích:
- Hệ thống chính trị chăm lo tạo điều kiện cho tín đồ Phật giáo Hoà Hảo thực hiện có hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo; phổ cập văn hóa, nâng cao dân trí; xây dựng gia đình hạnh phúc; xóm làng yên vui đoàn
Trang 25kết; khu phố văn hóa, ấp văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân
cư thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
- Nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục tín đồ Phật giáo Hòa Hảo hiểu
rõ chủ trương chính sách của Đảng, luật pháp Nhà Nước Việt Nam từ đó tín
đồ an tâm hành đạo; các tổ chức chính trị ở cơ sở, làm tốt công tác vận động quần chúng tín đồ Phật giáo Hoà Hảo Tổ chức đa dạng các hình thức tập hợp tín đồ và có phương thức hoạt động phù hợp Có những giải pháp khuyến khích và định hướng các hoạt động từ thiện xã hội gắn với tôn chỉ hành đạo phù hợp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, củng cố tính nhân văn
và tinh thần cộng đồng xã hội Quản lý có hiệu quả thích hợp các hoạt động từ thiện xã hội, tránh được việc lợi dụng từ thiện xã hội vào các mục đích khác Tôn trọng việc thờ cúng thực hiện các nghi thức trong các ngày lễ của Phật giáo Hoà Hảo
- Hệ thống chính trị đã được tăng cường, từng bước nắm được tâm tư nguyện vọngvà những diễn biến tư tưởng của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Làm phân hóa các nhóm đối tượng, cảm hóa những người có quá khứ lỗi lầm; xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán làm hạt nhân cho phong trào quần chúng trong nhóm tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tích cực; cô lập những người núp dưới chiêu bài Phật giáo Hoà Hảo để chống Đảng, Nhà Nước Việt Nam
- Phát huy tốt những đạo đức, văn hoá tích cực của Phật giáo Hoà Hảo phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội mới Lấy đó làm hạt nhân tương đồng
để gạt bỏ những dị biệt mặc cảm; xây dựng khối đại đoàn kết tín đồ trong lòng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Từng bước đã kiện toàn được tổ chức Ban Trị sự Trung ương và địa phương hướng tín đồ hoạt động từng bước đi vào nề nếp, thuần tuý của một đạo Củng cố, xây dựng được lực lượng cốt cán từ quần chúng tín đồ Phật
Trang 26giáo Hoà Hảo và tăng cường đấu tranh chống các thế lực lợi dụng, ngăn ngừa những điểm nóng nơi có đông tín đồ Phật giáo Hoà Hảo
Tuy nhiên, các công trình nghiên c ứu liên quan đến đề tài luận án vẫn
là người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo
- Do tính đặc thù, trong lịch sử đã có rất nhiều người cho rằng Phật giáo Hòa Hảo không phải là một tôn giáo, mà là một tổ chức chính trị Hơn nữa, sau khi đất nước thống nhất, Phật giáo Hòa Hảo đã 24 năm tồn tại không có tổ chức bộ máy, không có tư cách pháp nhân, vì vậy từ trong nhận thức của nhiều người, của một số cán bộ vẫn chưa thừa nhận là một đạo Vấn đề như vậy vẫn chưa được các công trình nghiên cứu và đưa ra giải pháp căn bản khắc phục sự mặc cảm về quá khứ lịch sử của nhiều tín đồ, chức việc Phật giáo Hòa Hảo
- Tính phức tạp của Phật giáo Hoà Hảo liên quan trực tiếp đến những người hoạt động trong Ban Trị sự cũ kể cả những cá nhân hiện nay chống Đảng, Nhà Nước Việt Nam, vẫn chưa được luận bàn từ phương diện truyền thống, lợi ích và nhận thức
- Việc nhận thức và giải quyết những bất đồng hiện nay giữa Ban Trị sự
2 cấp với những người đứng đầu giáo hội Phật giáo Hoà Hảo trước đây như nhóm Lê Quang Liêm chưa coi trọng nhiều đến các giải pháp của chính Phật giáo Hòa Hảo
Trang 27- Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở; tăng cường công tác vận động quần chúng tín đồ làm cho quần chúng hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và luật pháp Nhà nước Việt Nam nói chung đối với tôn giáo và công tác đối với Phật giáo Hòa Hảo nói riêng là vấn đề quan trọng của công tác tôn giáo song các công trình chưa có nhiều đầu tư để có giải pháp hiệu quả
- Cũng như vậy, việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, trình độ
dân trí, thực hiện dân chủ, công bằng trong tín đồ, nhất là Ban Trị sự 2 cấp, coi đâylà khâu cơ bản có tính quyết định trong quá trình triển khai thực hiện công tác đối với Phật giáo Hòa Hảo.Việc tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, các nhân tố tích cực trong tín đồ; làm hạn chế mặt tiêu cực về chính trị, cũng như đời sống tín ngưỡng tôn giáo Ngăn chặn, loại bỏ yếu tố tiêu cực của Phật giáo Hòa Hảo; xây dựng Phật giáo Hòa Hảo trở thành một tôn giáo gắn bó với dân tộc, Tổ quốc Cũng là vấn đề còn ít công trình nghiên cứu trực diện
1.2.6 Định hướng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
Nghiên cứu sinh triển khai luận án của mình trên tinh thần kế thừa biện chứng những nghiên cứu trước đây, sẽ phân tích làm rõ và góp phần luận giải
04 vấn đề đặt ra đối với Phật giáo Hoà Hảo hiện nay; đó là:
M ột là, vấn đề lịch sử ra đời của Phật giáo Hòa Hảo gắn với giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, theo quan điểm khách quan, lịch sử cụ thể
Hai là, vấn đề nội dung cơ bản của Phật giáo Hòa Hảo, theo quan điểm toàn diện và phát triển
Ba là, thực trạng Phật giáo Hòa Hảo trong các mối quan hệ nhiều lĩnh vực và những vấn đề đặt ra đối với tôn giáo này từ phương diện nhận thức của
xã hội về công tác tôn giáo, với quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển
B ốn là, từ những kết quả nghiên cứu những vấn đề của Phật giáo Hòa
Trang 28giải quyết những vấn đề của tôn giáo này đặt ra hiện nay, từ phương diện chính trị, xã hội
Nghiên cứu theo hướng đó sẽ là đóng góp vào việc để Phật giáo Hòa Hảo hoạt động đúng chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước Việt Nam; đời sống vật chất, tinh thần của tín đồ, chức việc Phật giáo Hòa Hảo ngày một phát triển trong sự phát triển chung của đất nước và dân tộc Việt Nam Từ đó, kết quả nghiên cứu luận án sẽ góp phần xóa đi những nhận thức thiếu khách quan, mặc cảm về vấn đề lịch sử chính trị đối với tôn giáo này; lấy lại niềm tin, củng cố động lực cho tín đồ, chức việc Phật giáo Hòa Hảo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.3 THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN
1.3.1 Thế nào là đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo gọi đầy đủ là Phật giáo Hòa Hảo được ông Huỳnh Phú Sổ khai đạo năm 1939 tại làng Hòa Hảo, thuộc tỉnh Châu Đốc
Theo cách giải thích trong cuốn “Đạo pháp nghi vấn” của Bùi Văn Ưởng thì Phật giáo Hòa Hảo là một tông phái ở Miền nam nước Việt do Đức Huỳnh Giáo chủ khai sáng ngày 18 tháng 5 năm 1939 Bởi vì, Đức Huỳnh Giáo chủ sinh tại làng Hòa Hảo và ngài thường dùng bút danh Hòa Hảo để ký tên cho những tác phẩm của mình sáng tác, nên danh từ đạo Hòa Hảo thường được đề cập đến Về phương diện giáo lý, ngài chủ trương noi theo chí Thích
Ca ngay trước; do tôn giáo của ngài sáng lập nên mới có danh từ Phật giáo Hòa Hảo
Vậy gọi đạo Hòa Hảo là cách gọi tắt của Phật giáo Hòa Hảo, lấy bút danh của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, lấy địa bàn khai sinh đạo để gọi tên đạo
1.3.2 Danh từ Phật giáo Hòa Hảo
Sở dĩ, có danh từ Phật giáo Hòa Hảo là vì căn chỉ của tôn giáo này là Phật giáo, còn Hòa Hảo là địa danh, vừa chỉ nơi sinh trưởng của Đức Huỳnh
Trang 29Giáo chủ, vừa là miền đất khai đạo Trong quá khứ cũng như hiện tại, Phật giáo Hòa Hảo tuy phải tích cực hoằng dương chính pháp nhưng lúc nào cũng không ngớt góp phần bảo vệ xây dựng quê hương Cho nên, mặc dù tuy được khai sinh trong thời kỳ đất nước bị ngoại bang xâm lược, song Phật giáo Hòa Hảo đáp ứng được sự đòi hỏi cấp thiết của giống nòi Hơn thế nữa, Phật giáo Hòa Hảo có 75 năm xiển dương chánh pháp, đã phổ truyền giáo pháp học Phật tu nhân phù hợp với căn cơ của chúng sanh ở Đồng bằng sông Cửu Long Vì thế, chính quyền Sài Gòn, do Dương Văn Minh và Nguyễn văn Thiệu đứng đầu cũng đã công nhận tôn giáo đó là Phật giáo Hòa Hảo Sau năm 1999, từ đó Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng công nhận là Phật giáo Hòa Hảo.
1.3.3 Làng Hòa Hảo
Nơi sinh raPhật giáo Hòa Hảo tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc trước đây, ngày nay thuộc xã Phú Mỹ và một phần xã Tân Hòa, huyện Phú Tân tỉnh An Giang Như vậy, tên làng Hòa Hảo về danh nghĩa chỉ
là tên gọi trong quá khứ, còn hiện tại nó được nhiều người biết đến Bởi vì, đó
là nơi khai sinh và là trung tâm tôn giáo của Phật giáo Hòa Hảo mà thôi Ngoài những nét chung của một làng ở miền Tây Nam bộ, làng Hòa Hảo có đặc điểm địa lý cần chú ý là nơi có bốn bề sông nước; có vị trí gần biên giới Việt Nam – Campuchia Làng Hòa Hảo là một làng mới hình thành từ cuối thời kỳ triều Nguyễn mở mang các vùng dân cư nơi biên viễn và được ổn định thời kỳ Minh Mạng. Từ xa xưa, nơi đây cùng với vùng Thất Sơn hợp thành Châu Đốc - Tân Cương được coi là nơi biên viễn xa xôi hiểm trở của miền Tây Nam bộ Sau này, họ Huỳnh cát cứ 5 xã xung quanh làm Thánh địa Hoà Hảo, vùng này, nằm trên sông Vàm Nao nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu; thời Mỹ nguỵ, nơi đây là khu phi quân sự
Trang 30Cách hiểu Phật giáo Hoà Hảo gắn với địa danh khai đạo; như vậy, cho
đến nay nó đã trở nên phổ biến ở nước ta
Tuy nhiên, cái tên Hòa Hảo còn có một cách hiểu thâm sâu khác, khi
mà chính giáo chủ Huỳnh Phú Sổ lúc đề cập đến danh xưng Phật giáo Hoà Hảo đã minh định: “Hòa thôn Hảo cảnh xứ chi ta; tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà” [1]
Hoặc người ta thấy, để mở đầu ngày khai đạo, ông Huỳnh Phú Sổ đã cho lưu truyền 4 câu thơ sau:
“ PHẬT truyền tôn chỉ tự ngàn xưa, GIÁO pháp tứ ân hữu lệnh thừa, HOÀ hiệp nhân loài trong bốn bể, HẢO đồng vũ trụ một tình ưa.”
Như thế, hai chữ “Hoà Hảo” trong danh xưng Phật giáo Hoà Hảo không chỉ mang ý nghĩa địa danh mà còn là (chính là) biểu tượng danh xưng
tư tưởng siêu phàm về một cảnh thế giới đại đồng, hoà bình và được thể hiện
ở hai câu thơ sau đây đã chứng minh: “Ước mơ thế giới lân Hoà Hảo; nhà Phật con Tiên hé miệng cười.” [2, tr 229]
Cho nên, muốn nhận thức đúng giá trị danh xưng Phật giáo Hoà Hảo phải nhận định ý nghĩa “Phật giáo” và ý nghĩa danh từ “Hòa Hảo” Nếu danh
từ Phật giáo Hoà Hảo là một tông phái trực hệ với Phật giáo Việt Nam đương thời thì đó là điều đơn giản không có chuyện gì phải bàn Nhưng ý nghĩa hai chữ “Phật giáo” của Phật giáo Hoà Hảo thì chính Huỳnh Phú Sổ nhấn mạnh bản chất của nó là “đạo vô vi của Phật ân cần; nối theo chí Thích Ca ngày trước”.[3, tr 110]
1.3.4 Chức việc Phật giáo Hòa Hảo
Phật giáo Hoà Hảo ngay từ đầu đã chủ trương không có tổ chức, chùa chiền, không có hàng ngũ chức sắc xuất gia tu hành, không có hàng giáo
Trang 31phẩm làm trung gian giữa tín đồ với đấng siêu nhiên Sau này đạo có tổ chức, song những người tham gia trong Ban trị sự của đạo, nếu theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, thì không thể gọi là chức sắc (chức sắc là tín đồ có phẩm sắc), mà chỉ gọi là chức việc, hiện nay có 2502 người Vậy, chức việc Phật giáo Hòa Hảo là những tín đồ tham gia Ban trị sự 2 cấp của Phật giáo Hòa Hảo Hay nói cách khác, Phật giáo Hoà Hảo không có đội ngũ chức sắc và đây là một đặc điểm rất khác của tôn giáo này so với các tôn giáo khác ở Việt Nam
1.3.6 Đạo Phật
Hiện nay không ai có thể phủ nhận Phật giáo Hoà Hảo là một đạo Phật, chính Đức Huỳnh Giáo chủ đã từng nói rõ cho chúng sanh biết những điều ấy:
“Đạo vô vi của Phật ân cần
Nối theo chí Thích ca ngày trước”
Vậy, trước khi muốn biết Phật giáo Hoà Hảo người ta cần phải biết về đạo Phật:
Trang 32Phật: Theo tiếng phạn là Bouddha, nói nguyên chữ là Phật Đà, Trung Quốc dịch là Giác giả; tức là bậc giác ngộ sáng suốt hoàn toàn
Đạo: Có nghĩa là con đường, bổn phận, bản thể
Đạo Phật: Là con đường chân chính, hoàn toàn sáng suốt do Đức Phật
đã chứng ngộ và chỉ dạy cho tất cả chúng sanh nương theo đó mà lìa hư vọng, trở về nơi lý tánh tuyệt đối, tức là giải thoát, lên cõi Niết Bàn
Xét về bản thể thì đạo Phật có từ vô thỉ, nhưng nói về lịch sử thì đạo Phật có cách nay trên 2.500 năm
Điều đáng chú ý là trong khi Đức Phật còn tại thế, đạo Phật không có phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa, không có Nam tông, Bắc tông Không có tụng kinh gõ mõ, không có xá phướn, đốt giấy tiền vàng bạc và cũng không có chùa chiền, am cốc Lúc ấy Đức Phật ở gốc cây, ở bờ sông; hằng ngày đi khất thực, thuyết pháp truyền bá ánh sáng trí tuệ cho tất cả chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp
1.3.7 Tôn giáo là gi?
Tôn giáo thuộc về thế giới tâm linh và đời sống tinh thần, nó có sức hấp dẫn thần bí, khiến cho người ta cảm thấy bối rối khó hiểu Lịch trình của tôn giáo tương quan mật thiết với sự phát triển của nhân loại, sự tồn tại của nó đến nay vẫn còn ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc đối với nhiều người trên thế giới Do nhiều nguyên nhân khác nhau trong lịch sử và do tình hình đặc biệt hình thành trong sự phát triển của văn hóa trong xã hội, văn hóa ở Trung Quốc hiện nay nói chung, Việt Nam ta nói riêng vẫn là một đề tài rất phức tạp
và nhạy cảm, nhận thức và lý giải về tôn giáo của mọi người cố nhiên là sai lệch và khác biệt rất lớn Song trong việc xác định bản chất và nhận xét những giá trị của tôn giáo, thì lại có thể nhìn thấy một nhận thức chung như sau: Trong xã hội mở cửa của thời đại thông tin và trước những ngưỡng cửa của thế kỷ XXI hôm nay, chúng ta phải nhận thức sâu sắc văn minh Hoa Hạ, thậm
Trang 33chí toàn bộ văn hóa nhân loại đã đến lúc cần phải đi vào lĩnh vực tinh thần thần bí và phức tạp này, tiến hành nghiên cứu, để có thể hiểu được ý nghĩa bản chất tôn giáo, nhận thức rõ vai trò và tác dụng của nó trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại Nhận thức và nghiên cứu về tôn giáo, thực chất là đi vào lý giải về tôn giáo Việc lý giải này bao gồm các phương diện như: Thể nghiệm tâm linh, quan sát hành vi và phân tích xã hội Là tín ngưỡng của con người đối với thần thánh và là sự thể nghiệm tâm linh của họ, tôn giáo đã dùng phương thức thần thoại biểu trưng độc đáo của nó thể hiện; mặc dù nhiều nhà triết học với tinh thần hiện đại có ý định dùng phương thức phi thần thoại hóa để tiến hành mổ xẻ hoặc xây dựng lại biểu trưng thần thoại truyền thống, nhưng về căn bản vẫn không thể vứt bỏ được loại kết cấu lấy biểu hiện thần thoại và thể nghiệm thần bí làm ký hiệu biểu trưng đặc sắc trong tôn giáo Bởi vì, lý giải tôn giáo cần phải nhìn thẳng vào thần thánh và tâm linh hết sức đặc sắc trong tôn giáo và phải nhận thức trình bày nó một cách hợp lý Nghiên cứu tôn giáo, tức là tôn giáo học hiện đại với ý nghĩa khoa học, chính
là một môn nghệ thuật tiến hành lý giải bản chất thực sự của tôn giáo và sự huyền bí của nó
Tôn giáo là gì? Đây là một vấn đề rất xa xưa, nhưng cũng là một vấn đề thường xuyên mới Người ta xem xét, nhận thức tôn giáo từ những không gian văn hóa và truyền thống tư tưởng khác nhau, do sự đa dạng của xuất phát điểm và góc nhìn, mà dẫn tới kết luận và đáp án cũng rất khác nhau Điều này làm nảy sinh ra vấn đề là nên lý giải vấn đề tôn giáo như thế nào
Từ xa xưa cho tới ngày nay, các học giả trong và ngoài nước đã có rất nhiều giới thuyết khác nhau về tôn giáo, những định nghĩa của những kiến giải khác nhau ấy đều được xây dựng trên những lập trường, tầm nhìn, góc độ
và bình diện khác nhau, phản ánh những quan điểm, phương pháp và khuynh
Trang 34phong phú, phức tạp và có một lịch sử hết sức lâu đời và sâu sắc Tính đa dạng này cũng là quang phổ đa tầng phản chiếu sự thể nghiệm và nhận thức tâm linh của nhân loại Có những người đã từ ý nghĩa ngôn ngữ học để truy ngược về nguồn gốc và tái hiện lại sự diễn biến của thuật ngữ tôn giáo, sự lý giải và giới định tôn giáo của họ chỉ là sự giải thích và diễn dịch trong lĩnh vực giải thích ngữ nghĩa học và ký hiệu biểu trưng học, tức là muốn dùng một
hệ thống ký hiệu ngôn ngữ để xây dựng và tái hiện thế giới thần thánh chứa bản chất của tôn giáo Có người lĩnh hội tôn giáo từ sự ngộ nhận đối với thần tính và sự phản ứng tâm linh của con người, trong đó vừa có nhận biết và phát họa về đối tượng sùng bái tôn giáo, tức khách thể tín ngưỡng tôn giáo, vừa có quan sát tìm hiểu về người tín ngưỡng tôn giáo, tức chủ thể nhận biết tôn giáo; tìm hiểu thần thánh của thần thoại tưởng tượng hoặc triết lý tự biện không chỉ tồn tại đơn độc hoặc cấu thành định nghĩa tôn giáo Trong phạm vi quan sát này, tôn giáo được lý giải là quan niệm của con người về thần tính hoặc thần thánh, mà loại quan niệm này lại nói lên rằng tôn giáo chính là một loại học thuyết quan hệ giữa trời và người; nếu không có tâm linh con người hoặc quan niệm thần tính với ý nghĩa tu tập tâm linh, tức lĩnh hội, thì sẽ không cấu thành quan hệ, do đó cũng không có tôn giáo Bởi vậy, có nhà tôn giáo học gọi khải thị nghĩa là dùng phương thức thần dụ để chỉ ra những chân
lý bí ẩn, là sự vận động của thần tính hướng đến nhân tính theo chiều từ trên xuống dưới, còn tôn giáo thì là sự truy cầu hoặc hồi ứng của nhân tính hướng đến thần tính theo chiều từ dưới lên trên
Quan điểm này đã chỉ ra quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau giữa thần
và người mà tôn giáo cần thể hiện, do đó đã nảy sinh ra hoài nghi những định nghĩa tôn giáo chỉ nhấn mạnh một mặt thần tính siêu nhiên hoặc tâm linh của con người và đem tách rời hai cái đó Có người xuất phát từ tình cảm luận hoặc tâm lý học, luôn luôn cho rằng tôn giáo là một loại tâm thái hoặc tình
Trang 35cảm của con người, từ chủ thể con người để giới định tôn giáo, xem tôn giáo
là một loại kính sợ hoặc thể nghiệm thần bí của con người, còn khi đưa ra đối tượng của tâm thái kính sợ, hoặc kinh nghiệm tình cảm này, tức cái tuyệt đối hoặc thần tính, thì hoặc là lúng túng không rõ ràng hoặc là có thái độ bất khả tri Có người cho rằng quan niệm thần tính hoặc thể nghiệm tâm linh của con người nói trên mới chỉ là vạch ra cái định nghĩa về tính tôn giáo, mà chưa nói được bản chất và nội hàm của tôn giáo, cho rằng loại lý giải này tôn giáo có nội hàm hẹp, ngoại diên rộng, dẫn đến một loại học thuyết phiến tôn giáo luận
và sự nhấn mạnh của nó đối với nhận biết và thể nghiệm cá nhân chỉ hạn chế trong nội tâm của một người, trái lại quên mất tính tập thể và tính xã hội của tâm linh con người, cái cần thiết để giới định tôn giáo Để bổ khuyết vào những nhận biết không đầy đủ của cá nhân có người đưa vào hành vi quần thể
và kết cấu xã hội của tôn giáo để giới định tôn giáo Những người nhấn mạnh vào hành vi tôn giáo cho rằng, tôn giáo không chỉ là một loại nhận biết hoặc thể nghiệm, mà chủ yếu là nó được ngoại tại hóa, được thể hiện ở hành vi tôn giáo; mà hành vi ngoại tại hóa này không chỉ ở cá nhân, cái độc đáo là ở tính quần thể, tính độc đáo của nó Thế là, lý giải tôn giáo ở đây vẫn nghiêng về trình bày, giải thích hiện tượng học đối với hành vi tôn giáo Những người nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của tôn giáo thì từ ý nghĩa thần thánh hóa kết cấu
xã hội của con người hoặc công năng xã hội của tôn giáo v.v…Để giới thuyết tôn giáo, đem tôn giáo lý giải thành ký hiệu biểu trưng của thần thánh hóa xã hội hoặc là biểu hiện của chức năng, thủ đoạn để duy trì xã hội tồn tại ổn định vào trật tự của nó Những luận thuyết tôn giáo nhận thức từ khách thể đến chủ thể, từ cá nhân đến xã hội, từ quan niệm đến chức năng v.v Có người đưa ra định nghĩa tôn giáo có tính tổng hợp bao gồm một chỉnh thể trong đó có các yếu tố và các kết cấu lôgic của nó, cho rằng tôn giáo là một chỉnh thể bao
Trang 36nếu thiếu một yếu tố sẽ không thành một tôn giáo hoàn chỉnh Những định nghĩa tôn giáo loại này có đặc trưng hợp mệnh đề của Hegel vì nó biểu thị nội hàm lớn, ngoại diên nhỏ và trên thực tế vẫn lấy cái vòng tổ chức và thể chế tôn giáo để xác định ranh giới tôn giáo, cách giới định này mang sắc thái truyền thống Trung Quốc, so với cách giới định nội hàm nhỏ, ngoại diên rộng của phương Tây, nó hình thành một sự đối lập rõ rệt, vì vậy mà không có được sự lý giải và giới định tôn giáo chung giữa Trung Quốc và phương Tây
Ở đây, sự nhận biết tôn giáo và tính tôn giáo của Trung Quốc và phương Tây cũng có sự khác biệt, một số định nghĩa tôn giáo của giới học thuật phương Tây trong con mắt của không ít giới học giả của Trung Quốc cho rằng nó chỉ
là được xác định có đề cập đến tính tôn giáo của con người còn tôn giáo mà
họ lý giải thì tuy là nó đề cập đến, nhưng khác biệt rất lớn đối với học giả Trung Quốc tính tôn giáo ở mức độ đáng kể, tuy nó vạch ra bản chất hoặc hạt nhân của tôn giáo, nhưng bản thân nó không cấu thành tôn giáo hoàn chỉnh Nhưng đối với phương Tây nắm được cái hạt nhân tính tôn giáo này thì hoàn toàn có thể nói rõ bản chất của tôn giáo, và đạt được sự lý giải chân chính đối với tôn giáo, còn tổ chức chế độ của tôn giáo thì chỉ là yếu tố bên ngoài và thứ yếu nó không nên và không thể là giới định thiết chế cuối cùng của tôn giáo Ngoài ra, trong những cách nói giữ gìn thẩm mỹ tôn giáo hoặc tôn giáo với tư cách là hồn của văn hóa cũng góp phần vào suy nghĩ mới trong việc lý giải tôn giáo và giới định bản chất của nó Từ muôn vàn những sự suy nghĩ khác nhau một trời một vực về tôn giáo, làm cho chúng ta nhận thức một cách sâu sắc rằng, tôn giáo là gì? Vấn đề hạt nhân này là vấn đề vẫn luôn luôn ở vị trí
mở đầu của việc lý giải và nghiên cứu tôn giáo
Về ý nghĩa của tôn giáo, từ xa xưa tới nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhận thấy rằng định nghĩa tôn giáo là rất khó khăn Tôn giáo, xét về ý nghĩa lý luận, nó là sự tưởng
Trang 37tượng, quan niệm, ý nguyện, tình cảm của con người, mặt khác xét về ý nghĩa thực tiễn, nó là cử chỉ, hành vi, thao tác, hoạt động của con người Từ truyền thống văn hóa Trung Quốc, ta thấy tôn giáo là do hai chữ Tôn và Giáo hợp thành Trong giới học thuật Trung Quốc lưu hành phổ biến quan niệm cho rằng Trung Quốc cổ đại không có tôn giáo, trong điển tích cổ Trung Quốc cũng không có từ tôn giáo Khái niệm đặc thù này hình thành bởi hai chữ tôn giáo là sự việc có từ sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nó được sử dụng sớm nhất trong thuật ngữ Phật giáo Tôn giáo mà Phật giáo dùng là chỉ
sự tín ngưỡng, thờ kính những điều dạy bảo của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, giáo chỉ những điều chỉ bảo của Đức Phật, tôn chỉ những điều do các đệ
tử của Đức Phật truyền lại, tôn là chỉ phái của giáo, hai cái hợp thành giáo lý của Phật giáo Hàm nghĩa hiện đại của từ tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây, là từ ngoài truyền vào Bởi vì, nhà triết học Trung Quốc hiện đại, Tạ Phù Nhã đã từng nói: Từ Religion mà phương Tây đang dùng ngày nay so với từ tôn giáo của nước ta, quả thật sai khác nhau rất nhiều Danh từ dịch này từ Nhật Bản truyền vào Trung Quốc, người dịch từ này đầu tiên không rõ là ai, căn cứ của nó có từ trong kinh dịch, sách này có câu: Thánh nhân dĩ thần đạo thiết giáo, tức là Thánh nhân xưa dùng thần thánh để giáo hóa dân chúng; còn nguồn gốc của chữ tôn thì trong thư kinh– Nghiêu điển có câu “yên vu lục tôn”, tức là tế yên ở sáu tôn Ý nghĩa đó của từ tôn giáo trong văn tự nước ta chẳng qua chỉ là sự thờ cúng một vị thần hoặc nhiều vị thần mà thôi; vừa không đủ khái quát Phật giáo vô thần và Nho giáo nằm ở giữa hữu thần và vô thần, cũng không bao quát kinh nghiệm thần khải và hành vi luân lý của tôn giáo Nếu muốn trong vốn từ của tiếng Hán có từ tương đương với chữ Religion, thì chỉ có từ đạo là có thể đáp ứng được Đạo kiêm cả hai mặt thể và dụng, Religion cũng có kiêm cả hai mặt tôn chỉ và phương pháp; đạo hoàn
Trang 38cũng không bỏ sót sự hoạt động và thích ứng của cá nhân đối với xã hội, tạm thời chưa bàn đến nội hàm và nguồn gốc của tôn giáo Dù là dùng thần, đạo hay dùng tôn, giáo để biểu thị, người Trung Quốc cổ quả thật là có khái niệm tôn giáo của mình Hơn nữa xét về mặt từ nguyên, người Trung Quốc cổ biểu thị khái niệm tôn giáo, cũng chính là dùng hai chữ tôn và giáo Chữ tôn trong tiếng Hán là chỉ sự tôn sùng và kính bái đối với tổ tiên và thần thánh
Khái niệm tôn giáo trong tiếng Hán chỉ một số trong những hình thể tôn giáo có thể chế có tổ chức, như Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo, do đó có điểm khác với Religion theo cách hiểu của người phương Tây, như Vương Trị Tâm
đã nói: Chúng ta hễ nhắc đến tôn giáo thì liền liên tưởng đến đền miếu nguy nga, nhà thờ cao lớn, đồ sộ, và tất cả các phương diện vật chất có thể chế có
tổ chức; không ngờ rằng các tôn giáo vật chất có hình thức ấy, đều bắt nguồn
từ tinh thần không có hình thức v.v…Cái danh từ Religion, ý nghĩa của nó, không phải đơn thuần chỉ tổ chức có thể chế, mà nó còn bao hàm tất cả sự sùng kính trong tâm khảm con người Có thể nói, lý giải về Religion của người phương Tây tương đối trừu tượng, tương đối hàm súc, nghiêng nhiều hơn về phương diện tinh thần, tư tưởng, quan niệm, tâm thái, tình cảm và hệ thống giá trị của tôn giáo, nội hàm của khái niệm Religion mơ hồ, ý nghĩa đa dạng Hơn nữa nhận thức và khuynh hướng giá trị của người phương Tây về Religion nói chung đều có ý nghĩa tích cực, khẳng định
Tác giả kinh điển của chủ nghĩa Marx đã nói nhiều đến vấn đề tôn giáo,
đã nhiều lần bàn đến mệnh đề tôn giáo là gì? Nhưng, kết cục cái gì là bản chất của tôn giáo, cái gì là định nghĩa xác thực của tôn giáo, các nhà nghiên cứu tôn giáo Trung Quốc có nhiều ý kiến khác nhau, lĩnh hội khác nhau đối với những luận điểm của các tác giả kinh điển này Nhìn chung, các học giả Trung Quốc chia các luận điểm của các tác giả kinh điển thành ba loại như sau:
Trang 39Loại thứ nhất, lấy thể nghiệm cá nhân của chủ thể tín ngưỡng tôn giáo làm tiền đề tiên quyết của bản chất tôn giáo và định nghĩa tôn giáo Người có quan điểm loại này thường thường dẫn câu nói của Marx: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất bản thân mình một lần nữa” Nhưng không ít nhà nghiên cứu cho rằng, cảm thụ và thể hiện tâm lý của người tín ngưỡng tuy rất quan trọng đối với đời sống tôn giáo của họ, nhưng khi phân tích nghiêm túc thì thấy luận điểm này không phải là luận điểm khoa học về tôn giáo, cũng không phải là xác định bản chất của tôn giáo, bởi vì sự tự ý thức và tự tri giác này không phải chỉ tôn giáo mới có, những hình thái ý thức khác cũng có thể bộc lộ và biểu hiện ra loại tự ý thức và tự tri giác này Tình cảm mất mát cầu cứu giải thoát không chỉ thấy ở tôn giáo, mà còn thấy cả ở triết học, văn học và nghệ thuật Bởi vì, nó quyết không phải là bản chất của tôn giáo Sự trình bày và phân tích về tự ý thức và tự tri giác này chỉ là sự lý giải đối với bộ phận của tôn giáo, chứ không phải là sự biểu đạt hoàn chỉnh về tôn giáo
Loại thứ hai, cho rằng công năng xã hội của tôn giáo vẫn là hạt nhân bản chất của tôn giáo và là nhân tố quan trọng của định nghĩa tôn giáo Đây là một loại lý giải của một số học giả Trung Quốc đối với lý luận xã hội Mácxít
và cũng là một trong những vấn đề mà các giới học thuật tranh luận nhiều nhất Tiêu điểm của nó là sự phân tích và lĩnh hội khác nhau đối với luận điểm mà Marx đưa ra: Con người chính là thế giới những con người, là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì chính bản thân chúng là thế giới lộn ngược Tôn giáo là lý luận phổ biến của thế giới ấy, là toát yếu bách khoa của nó, là lôgic thông tục của
nó, là vấn đề vinh dự của duy linh luận của nó, là tình cảm của nó, là sự thừa nhận về mặt đạo đức của nó, là cái bổ sung trang nghiêm của nó, là cơ sở phổ
Trang 40ra luận điểm nổi tiếng của Marx đã từng dẫn đến sự thảo luận rộng rãi của giới lý luận Trung Quốc: Sự khổ nạn của tôn giáo, vừa là biểu hiện của sự khổ nạn hiện thực, lại vừa là sự phản kháng chống sự khổ nạn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng than dài của sinh linh bị áp bức, là tình cảm của thế giới vô hình, cũng giống như nó là tinh thần của chế độ không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân Do Lênin lấy câu nói này của Marx làm “hòn đá tảng của toàn bộ thế giới quan của chủ nghĩa Marx về vấn đề tôn giáo”, cho nên không ít học giả Trung Quốc đã từng coi mệnh đề thuốc phiện này là bản chất của tôn giáo, lấy luận điểm này của Marx làm định nghĩa về tôn giáo Xuất phát từ cách lý giải này, thêm vào đó, người Trung Quốc gần đây lại bị hại bởi chiến tranh nha phiến cho nên có ác cảm với từ nha phiến, làm cho giới học giả Trung Quốc trong một thời gian khá dài có một thái độ phủ định đối với bản chất và giá trị của tôn giáo, tức là chỉ từ ý nghĩa tiêu cực để lý giải định nghĩa tôn giáo Thật ra, thuyết thuốc phiện chẳng qua chỉ là một loại công năng xã hội của tôn giáo, nó khác với toàn bộ bản chất của tôn giáo Tổng kết kinh nghiệm và thực tiễn dẹp loạn giữ yên xã hội, nhiều nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã nhận thức được rằng, coi tôn giáo là thuốc phiện không đủ nói lên toàn bộ tôn giáo, hơn nữa thuyết thuốc phiện của nhân dân cũng không phải là một loại đặc trưng có tính bản chất có thể khu biệt tôn giáo với các ý thức xã hội khác Marx dùng cách so sánh có tính chất phê phán giá trị của câu nói đơn giản này để khái quát, là có hàm ý lịch sử nhất định của nó, có quan hệ trên dưới của nó, bởi vì trước khi Marx đã dùng từ thuốc phiện đã có sự đồng cảm sâu sắc nói đến tôn giáo là tiếng than của chúng sanh bị áp bức, là sự phản kháng của những khổ nạn hiện thực
Nếu áp dụng máy móc sự phân tích của Marx ở xã hội tư bản phương Tây thế kỷ XIX để giới thuyết vấn đề xã hội xã hội chủ nghĩa Trung Quốc ngày nay thì rõ ràng là không thích hợp, vì về mặt lôgic, suy luận này tất