Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ nói chung và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ nói riêng ở huyện đang là chiến lược phát triển kinh tế nhằm mục tiêu quan trọng thúc đẩy công nghiệp hoá,
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội
-*** -
Vũ xuân trường
Giải pháp phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện vụ bản, tỉnh nam định
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu, những kết quả điều tra được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan mà bản thân tôi trực tiếp thực hiện, kết quả trên chưa được chỉnh sửa, công bố bảo vệ trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi cũng cam đoan các số liệu, thông tin trích dân trong luận văn đều được trích rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng…11 năm 2011……
Tác giả luận văn
Vũ Xuân Trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân Tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường
Tôi xin cảm ơn các thầy cô, cán bộ ở Viện Đào tạo sau đại học, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách Trường đại học nông nghiệp Hà nội đã động viên hết lòng giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường, đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đinh Văn Đãn cán bộ giảng dạy bộ môn kinh tế nông nghiệp và chính sách khoa kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các hộ gia đình; phòng nông nghiệp, phòng thống kê huyện Vụ Bản đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực thực tập và viết luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian viết luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả những cá nhân, các ban ngành với tất cả sự giúp đỡ quý báu đó
Do thời gian có hạn, luận văn này hẳn không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy
cô cùng tất cả các bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng 11 năm 2011……
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ vii
Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 5
2.1.1 Phát triển và lý thuyết về sự phát triển 5
2.1.2 Một số khái niệm, phân loại và vai trò của nghề thủ công mỹ nghệ 10
2.1.3 Đặc điểm phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ 20
2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghề thủ công mỹ nghệ 23
2.1.5 Nội dung nghiên cứu giải pháp phát triển nghề thủ công mỹ nghệ 29
2.2 Cơ sở thực tiễn 33
Trang 52.2.1 Tình hình và bài học kinh nghiệm phát triển nghề thủ công mỹ
nghệ trên thế giới 33
2.2.2 Tình hình và bài học kinh nghiệm phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam 36
2.2.3 Bài học kinh nghiệm vận dụng vào phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản 38
2.2.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến giải pháp phát triển nghề thủ công mỹ nghệ 40
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41
3.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
3.1.3 Kết quả các ngành kinh tế của huyện qua các năm 45
3.1.4 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 50
3.2 Phương pháp nghiên cứu 50
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sẵn có 50
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu mới 51
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 52
3.2.4 Phương pháp phân tích kinh tế 53
3.2.5 Phương pháp dự báo 53
3.2.6 Phương pháp phân tích Swot 53
3.2.7 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 54
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 Thực trạng phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản 55
4.1.1 Thực Trạng về qui mô và loại nghề thủ công mỹ nghệ 55
4.1.2 Tổ chức sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ trong các năm qua 57
Trang 64.1.3 Thực trạng các giải pháp phát triển của các nghề thủ công mỹ
nghệ ở huyện Vụ Bản 59
4.1.4 Đánh giá đầu tư và sử dụng nguyên liệu cho nghề thủ công mỹ nghệ năm 2010 ở huyện Vụ Bản 68
4.1.5 Kết quả tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở Vụ bản năm 2010 70
4.1.6 Kết quả và hiệu quả sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ của các hộ điều tra 74
4.1.7 Kết quả sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ 76
4.1.8 Hiệu quả sản xuất của các hộ sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ 80
4.2 Phân tích những yếu tố thuận lợi và những hạn chế đến phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản 85
4.2.1 Những thuận lợi 85
4.2.2 Những khó khăn và thách thức 86
4.3 Định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản đến năm 2015 91
4.3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản đến năm 2015 91
4.3.2 Một số giải pháp cần hoàn thiện phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản đến năm 2015 98
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
5.1 Kết luận 107
5.2 Kiến nghị 108
5.2.1 Đối với Nhà nước 108
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 109
5.2.3 Đối với các hộ sản xuất nghề 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1:Đặc điểm đất đai huyện Vụ Bản ( 2008 – 2010) 44
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động huyên Vụ Bản (2008 - 2010) 46
Bảng 3.3 Kết quả phát triển kinh tế huyện Vụ Bản qua 3 năm (2008-2010) 49
Bảng 4.1: Quy mô và số lượng giá trị sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ của huyện Vụ Bản năm 2010 57
Bảng 4.2 Hình thức tổ chức sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản năm 2010 59
Bảng 4.3 Đất đai bình quân một hộ làm nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản năm 2010 61
Bảng 4.4 Chất lượng lao động trong các hộ điều tra 63
Bảng 4.5 Kết quả huy động vốn bình quân của 1 hộ điều tra (năm 2010) 65
Bảng 4.6 Diện tích nhà xưởng và giá trị thiết bị bình quân cho một hộ điều tra (năm 2010) 67
Bảng 4.7 Các nguyên liệu chính cho sản xuất của các nghề 68
Bảng 4.8 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các nghề năm 2010 71
Bảng 4.9 Chi phí cho một đơn vị sản phẩm mây tre đan năm 2010 74
Bảng 4.10 Chi phí cho một đơn vị sản phẩm sơn mài năm 2010 75
Bảng 4.11 Đầu tư chi phí cho hai loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ của một hộ điều tra (năm 2010) 76
Bảng 4.12 Số lượng sản phẩm chính bình quân 1 hộ điều tra (năm 2010) 77
Bảng 4.13 Kết quả sản xuất kinh doanh nghề thủ công mỹ nghệ ở các hộ điều tra (năm 2010) 80
Bảng 4.14 Hiệu quả sản xuất kinh doanh bình quân một hộ điều tra 82
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Hệ thống vùng cung cấp nguyên liệu cho nghề sơn mài 69
Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm trong nước 73
Sơ đồ 4.3 Kênh xuất khẩu 73
Trang 9GDP Tổng thu nhập quốc hội
HĐH Hiện đại hoá
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế, việc phát huy lợi thế so sánh của mình là việc làm cần thiết Một trong những lợi thế so sánh
đó của Việt Nam là các sản phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ trong cả nước Trong quá trình hội nhập, sản phẩm nói chung, sản phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ nói riêng luôn phải được quan tâm đúng mức Bởi vì trên thị trường nhu cầu luôn luôn thay đổi cả về chất lượng, số lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm Nhưng trên thực tế thì những sản phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ nói chung của Việt Nam chưa phát huy được lợi thế của mình trên thị trường quốc tế do khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế việc thiết kế, sáng tạo mẫu mã chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng trong
và ngoài nước, đội ngũ lao động có tay nghề còn thiếu và cơ sở sản xuất còn thiếu mặt bằng về vốn và kỹ thuật
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ được coi là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Vì thế, việc nghiên cứu ra các giải pháp phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Để phát triển ngành nghề nông thôn, chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương chính sách, nhất là Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn, ngành nghề nông thôn đã
có nhiều bước phát triển rõ rệt Sự phát triển của các làng nghề đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động Sản xuất ngành nghề
Trang 11đã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao Nhiều cơ sở và các hộ nông dân sản xuất ngành nghề đã bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoá của mình đối với khách hàng trong nước và trên thế giới
Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định là một huyện có nghề thủ công mỹ nghệ phát triển tương đối mạnh mẽ với nhiều nghề thủ công mỹ nghệ có từ lâu đời Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ nói chung và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ nói riêng ở huyện đang là chiến lược phát triển kinh tế nhằm mục tiêu quan trọng thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông thôn của huyện, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn hiện nay và góp phần giải quyết một phần lớn các lao động dư thừa, lao động lúc nông nhàn Kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ,các đối thủ cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ ngày càng nhiều, thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt đang là những thách thức to lớn cho nghề thủ công mỹ nghệ của Vụ Bản Nhưng trong thực tế ở huyện, sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ vẫn mang tính chất thủ công trong các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất còn nhỏ lẻ, trình độ công nghệ thấp, trang thiết bị sản xuất thô sơ, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm nên cần phải có giải pháp thiết thực phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, góp phần thúc đẩy ngành nghề tại địa phương phát triển đúng hướng và hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu thị trường Từ những vấn đề nêu trên câu hỏi cần đặt ra trong quá trình nghiên cứu:
- Lý luận và thực tiễn về phát triển nghề thủ công mỹ nghệ trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm qua như thế nào?
- Những bài học kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam được vận dụng vào phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản?
- Quy mô và cơ cấu nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện như thế nào?
Trang 12- Đầu tư các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm nghề thủ công mỹ nghệ ra sao?
- Kết quả và hiệu quả phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở Vụ Bản trong những năm qua đạt được ra sao?
- Những thuận lợi gì và khó khăn, thách thức gì trong quá trình phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở Vụ Bản?
- Để phát triển phát triển nghề thủ công mỹ nghệ đạt hiệu quả cao trong những năm tới cần hoàn thiện những giải pháp nào?
- Những kiến nghị gì để phát triển nghề thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện Vụ Bản để đạt hiệu quả cao? Đây chính là vấn đề cần thiết và cấp bách
Nhằm góp phần trả lời những câu hỏi trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Giải pháp phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển nghề thủ công mỹ nghệ, từ đó
đề ra các giải pháp nhằm phát triển nghề thủ công mỹ nghệ bền vững đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 131.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề kinh tế, kỹ thuật liên quan đến phát triển nghề thủ công mỹ nghệ
- Các chủ thể kinh tế sản xuất kinh doanh thủ công mỹ nghệ trong nghề thủ công mỹ nghệ và nghề chủ yếu về thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau:
- Một số lý luận chủ yếu về phát triển nghề thủ công mỹ nghệ và thực tiễn phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở một số nước trên thế giới và những tỉnh của Việt Nam có phát triển nghề thủ công mỹ nghệ
- Đánh giá thực trạng một số nghề thủ công mỹ nghệ ở 2 xã Liên Minh
và Vĩnh Hào - huyện Vụ Bản từ đó đề xuất định hướng một số giải pháp phát triển nghề thủ công mỹ nghệ ở huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định
1.3.2.1 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu trên địa bàn huyện Vụ Bản ở hai xã Liên Minh và Vĩnh Hào
1.3.2.1 Phạm vi về thời gian
- Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2008 – 2010
- Thời gian gian thực hiện đề tài từ tháng 8/ 2010 đến tháng 8/ 2011
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
2.1.1 Phát triển và lý thuyết về sự phát triển
2.1.1.1 Khái niệm phát triển
Đến nay có nhiều khái niệm khác nhau về sự phát triển Tác giả Raaman Weitz (1987) cho rằng: ‘‘Phát triển là một quá trình liên tục làm thay đổi mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội’’ Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1999 đã đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng lớn hơn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: ‘‘Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người, trong các mối quan hệ với Nhà nước, cộng đồng ’’[19]
Một quan niệm khác cho rằng: ‘‘phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất cứ nơi nào đều được thoả mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cuộc sống,
có trình độ học vấn cao, được hưởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần,
có đủ điều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền
cơ bản của con người và được đảm bảo an ninh, an toàn, không có bạo lực [4]
Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về phát triển, nhưng các ý kiến đều thống nhất cho rằng, phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
và quyền tự do công dân của mọi người dân
Trang 15Trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế, các quốc gia đã đưa ra các quan điểm phát triển bền vững, Uỷ ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã định nghĩa: ‘‘Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ, kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người’’ Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de janeiro đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là ‘‘Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế
hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ tương lai’’ [4] Như vậy, phát triển bền vững lồng ghép các quá trình phát triển kinh tế, hoạt động xã hội với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và làm giầu môi trường sinh thái Nó làm thoả mãn nhu cầu phát triển hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai
2.1.1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
a Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với
xã hội loài người trên thế giới và trong từng quốc gia Tăng trưởng được hiểu
là sự gia tăng về số lượng của một sự vật nhất định Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn về sản phẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động Tăng trưởng kinh tế là phạm trù cơ bản nhất của
lý luận kinh tế, là tiền đề vật chất và cơ sở kinh tế của sự tồn tại và phát triển trong mọi hình thái xã hội Để phản ánh mực độ tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ, các nhà kinh tế thường dùng giá trị tuyệt đối của các đại lượng để so sánh chúng với nhau Chênh lệch giữa các thời điểm chính là mức tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ cụ thể [4]
Phát triển kinh tế là quá trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản
Trang 16lượng sản phẩm, sự hoàn thiện về cơ cấu nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống [3]
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững năm 2002 đã xác định: ‘‘Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường’’ Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm về phát triển bền vững trong Chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của đất nước đến năm 2015: ‘‘phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, gắn sự phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng’’[9]
b Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tế
Trên quan điểm toàn diện, các nhà kinh tế đánh giá phát triển kinh tế theo ba tiêu thức cơ bản gồm tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và sự thay đổi trong các chỉ tiêu xã hội
- Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế được xác định theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia (SNA) Gồm các chỉ tiêu: tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng thu nhập quốc dân (GNP); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập quốc dân sử dụng (NDI); thu nhập bình quân đầu người; chỉ số về sự liên kết kinh tế; chỉ số về mức tiết kiệm - đầu tư
- Đánh giá cơ cấu kinh tế được phản ánh theo các góc độ của cơ cấu kinh tế, gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế, cơ cấu tái sản xuất, cơ cấu thương mại quốc tế
- Sự phát triển xã hội thường được xem xét trên các khía cạnh chính gồm các chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người như mức sống, giáo
Trang 17dục và trình độ dân trí, tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khoẻ, dân số và việc làm; chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng [9]
2.1.1.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế
a Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển của trường phái cổ điển
Theo các chuyên gia kinh tế, lý thuyết về tăng trưởng phát triển kinh tế
cổ điển là học thuyết và mô hình lý luận về tăng trưởng kinh tế do các nhà kinh tế học cổ điển nêu ra mà đại diện tiêu biểu là Adam Smith và Ricardo
Adam Smith (1723 - 1790) Trong tác phẩm "Bàn về của cải" ông mô
tả các nhân tố tăng trưởng kinh tế thông qua phương trình sản xuất ở dạng chung nhất
Y = F( K, L, N, T) (1.1) Trong đó:
về tiền lương; lợi nhuận; địa tô; lý thuyết về tín dụng và tiền tệ
Một dạng của kiểu phân tích (1.1) là phương trình hàm Cobb - Douglas, hàm này có dạng: Y = T Kα.Lβ.Rγ (1.2)
Trong đó: α, β, γ là các số luỹ thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu
tố đầu vào (với α + β + γ = 1) Sau khi biến đổi Cobb-Douglas thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số
g = t + αk + βl + γr (1.3)
Trang 18Trong đó:
g là tốc độ tăng trưởng của GDP
k, l, r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
t là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học - công nghệ [9]
b Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Harrod - Domar
Lý thuyết này trình bày mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tư bản Mô hình này coi đầu ra của một đơn vị kinh tế phụ thuộc vào tổng
số vốn đầu tư cho nó Được thể hiện bằng phương trình tăng trưởng:
Trong đó: g là tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra
k là tỷ số gia tăng giữa vốn và đầu ra (hệ số ICOR)
s là tỷ lệ tích luỹ trong GDP và mức tích luỹ [9]
c Lý thuyết cất cánh
Nhà kinh tế Mỹ Rostow đã đưa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh những giai đoạn của tăng trưởng kinh tế Theo ông quá trình tăng trưởng kinh
tế đối với một quốc gia phải trải qua 5 giai đoạn
- Giai đoạn xã hội truyền thống, đặc trưng của giai đoạn này là năng suất lao động thấp, nông nghiệp giữ vị trí thống trị
- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh, trong thời kỳ này đã xuất hiện những nhân tố tăng trưởng và một số khu vực có tác động thúc đẩy nền kinh tế
- Giai đoạn cất cánh, để đạt tới giai đoạn này cần phải có 3 điều kiện: tỷ
lệ đầu tư tăng lên từ 5% - 10%; phải xây dựng được những ngành công nghiệp có khả năng phát triển nhanh, có hiệu quả và đóng vai trò thúc đẩy; phải xây dựng được bộ máy chính trị - xã hội, tạo điều kiện phát huy năng lực của các khu vực hiện đại, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại
- Giai đoạn chín muồi về kinh tế, xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới, hiện đại Tiền giành cho đầu tư chiếm từ 10% - 20% trong GNP
- Giai đoạn quốc gia thịnh vượng, xã hội hoá sản xuất cao [9]
Trang 192.1.2 Một số khái niệm, phân loại và vai trò của nghề thủ công mỹ nghệ
2.1.2.1 Một số khái niệm
a Nghề nghiệp
Để tồn tại và phát triển, con người luôn phải tham gia vào quá trình lao động sản xuất và sáng tạo ra các nghề mới với những sản phẩm mới như nghề nông nghiệp, chuyên thực hiện các hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và tạo ra các loại nông sản phục vụ cho sinh hoạt và đời sống của bản thân và xã hội; hay nghề nấu rượu là thực hiện các hoạt động chế biến nông sản
mà người đó tạo ra cho xã hội và bản thân" [5]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Viết Sự cho rằng nghề nghiệp là nghề chính để sinh sống nói chung [13]
Như vậy, nghề nghiệp (gọi tắt là nghề) là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp của từng cá nhân Vì nói tới nghề nghiệp là nói tới công việc, hoạt động cụ thể của một cá nhân, hay tầng lớp xác định trong xã hội Ngành nghề là nói tới hoạt động nghề nghiệp của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, một cộng đồng, một quốc gia
b Ngành nghề
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đầu tiên trên thế giới vì nghề nghiệp đầu tiên của dân cư chủ yếu là nghề nông Qua các giai đoạn phát triển của lịch sử từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ chiếm hữu nô lệ, đến chế
độ phong kiến và các phương thức sản xuất sau đó, trong mỗi phương thức
Trang 20đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua các phương thức sản xuất
mà người nông dân tham gia vào các hoạt động sản xuất với các công cụ sản xuất và quan hệ sản xuất ở các mức độ khác nhau và tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau, từ đó có nhiều nghề mới xuất hiện Đến nay, hộ nông dân vừa tham gia hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư vừa tham gia hoạt động ngành nghề, dịch vụ Các hoạt động ngành nghề của nông dân bao gồm sản xuất, chế biến và dịch vụ [11]
Ngành nghề thủ công đầu tiên xuất hiện trong các hộ nông dân nhằm tận dụng lao động dư thừa, tranh thủ thời gian nông nhàn sản xuất ra các dụng
cụ sản xuất hoặc vật phẩm tiêu dùng cho đời sống bằng lao động thủ công [6]
Như vậy, có thể hiểu ngành nghề là những hoạt động mang tính chuyên nghiệp của hộ dân, đơn vị và tổ chức sản xuất, được phân chia thành nhiều ngành khác nhau, có hệ thống công cụ sản xuất và tạo ra những sản phẩm mang tính đặc trưng và mang mục đích kinh tế rõ rệt
c Khái niệm về nghề
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Nghề thủ công : là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công có thể sử dụng máy, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên, công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản
Thủ công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ công, cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công
Trang 21d Khái niệm về nghề Thủ công mỹ nghệ:
Nghề thủ công mỹ nghệ: là các nghề thủ công làm ra các sản phẩm mỹ nghệ, hoặc các sản phẩm tiêu dùng được tạo hình và trang trí tinh xảo giống như sản phẩm mỹ nghệ. Ở sản phẩm mỹ nghệ, chức năng văn hoá, thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường
Nghề thủ công thủ công mỹ nghệ: là nghề thủ công đã có quá trình hình thành và phát triển qua nhiều đời thợ (trên 100 năm), với những sản phẩm có tính cách riêng biệt được nhiều người biết đến
Nghề thủ công mỹ nghệ trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó Từ đó đã hình thành các làng nghề, xã nghề Đặc trưng cơ bản của mỗi nghề thủ công mỹ nghệ là phải có kỹ thuật và công nghệ thủ công mỹ nghệ, đồng thời có các nghệ nhân và các đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩm làm ra vừa có tính chất hàng hoá đồng thời vừa có tính nghệ thuật và mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc dân tộc [15]
Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất đa dạng, phong phú có những nghề đã tồn tại hàng trăm năm Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã từng nổi tiếng ở trong nước và trên thế giới như nghề: Dệt lụa Hà Đông, nghề chiếu cói Thái Bình, nghề gốm sứ Bát Tràng…
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ
đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thồng được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ với nhiều loại nguyên liệu mới Do vậy khái niệm nghề thủ công mỹ nghệ cũng được nghiên cứu và mở rộng hơn , khái niệm này được hiểu như sau: Nghề thủ công mỹ nghệ bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua các đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã sử dụng máy móc, được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng
Trang 22vẫn tuân thủ công nghệ thủ công mỹ nghệ, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét đặc sắc văn hoá của dân tộc
e Khái niệm về phát triển nghề thủ công mỹ nghệ:
Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng, phát triển và nghề thủ công mỹ nghệ, chúng tôi cho rằng phát triển nghề thủ công mỹ nghệ là sự tăng lên về quy
mô, số lượng và người tham gia vào sản xuất, chế biến các sản phẩm của nghề thủ công mỹ nghệ phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất
Sự tăng lên về số lượng, quy mô của người tham gia vào sản xuất, chế biến các sản phẩm thuộc nghề thủ công mỹ nghệ có nghĩa là số lượng người được tăng lên cả về số lượng, quy mô sản xuất của họ Trong đó những nghề
cũ được củng cố, nghề mới được hình thành Từ đó giá trị sản lượng không ngừng tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của một nghề Sự phát triển của một nghề thủ công mỹ nghệ phải đảm bảo hiệu quả cả về mặt kinh tế - xã hội - môi trường
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải thoả mãn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn… Phải đảm bảo hợp lý
và có hiệu quả Nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắc, văn hoá dân tộc
f Làng nghề Thủ công mỹ nghệ:
Có nhiều ý kiến đưa ra về khái niệm làng nghề Giáo Sư Trần Quốc Vượng đã đưa ra khái niệm về làng nghề như sau: Làng nghề là một thiết chế kinh tế -xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành
và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hoá nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và
Trang 23nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hoá lúa nước, và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp tự túc
Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng Tiêu chí để xem xét một cách cụ thể đối với một làng nghề điển hình là:
- Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công chiếm từ 40- 50%
- Thu nhập từ nghề thủ công chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của làng Tuy nhiên những tiêu chí trên không phải là tuyệt đối mà chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt định lượng Bởi vì ở mỗi làng nghề bao giờ cũng có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm và số người tham gia vào trong quá trình sản xuất Do vậy sự phát triển của các làng nghề thường khác nhau và có những biến động khác nhau trong từng thời kỳ
Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật và công nghệ cùng với sự phân công lao động đã phát triển ở mức độ cao hơn thì khái niệm làng nghề cũng được
mở rộng hơn, nó không chỉ bó hẹp ở những làng chỉ có các hộ chuyên làm nghề thủ công Điều này có thể hiểu dưới hai giác độ: Thứ nhất là, công nghệ sản xuất không hoàn toàn là công nghệ thủ công như trước đây, mà ở nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí và bán cơ khí Thứ hai là, trong các làng nghề khi sản xuất phát triển ở mức độ cao hơn thì sẽ làm nảy sinh sự phát triển của nhiều nghề khác nhằm phục vụ cho nó Do vậy xuất hiện nhiều người chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các
hộ và cơ sở sản xuất chuyên làm nghề thủ công, từ đó hình thành và phát triển những làng nghề với mô hình kết hợp nhiều nghề Chẳng hạn như ở Ninh Hiệp xuất hiện thêm nhiều nghề mới ngoài những nghề thủ công mỹ nghệ và dần dần hình thành nên một mô hình kết hợp nông – công - thương - dịch vụ
Trang 24Tóm lại, khái niệm làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn
có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông
Khái niệm làng nghề thủ công mỹ nghệ được khái quát dựa trên hai khái
niệm nghề thủ công mỹ nghệ và làng nghề được trình bày ở trên Như vậy, làng
nghề thủ công mỹ nghệ trước hết là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công thủ công mỹ nghệ,
là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề thủ công mỹ nghệ lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc
g Khái niệm sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính thủ công mỹ nghệ
và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng. [9]
2.1.2.2 Phân loại nghề thủ công mỹ nghệ
Hiện nay nước ta tồn tại rất nhiều thủ công mỹ nghệ khác nhau, được phân bố khắp nơi trong cả nước, song được tập trung nhiều nhất ở vùng đồng
bằng Sông Hồng Việc phân loại các nhóm thủ công mỹ nghệ tương đối khó
khăn, chỉ mang tính chất tương đối
a Phân loại theo trình độ kỹ thuật:
- Loại có kỹ thuật đơn giản: Sản phẩm của nghề này có tính chất thông dụng, phù hợp với nền kinh tế tự cung tự cấp như: Nghề đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm, nghề nung gạch, nung vôi…
- Loại nghề có trình độ kỹ thuật phức tạp: Các nghề này không chỉ có
kỹ thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở người thợ sự sáng tạo, khéo léo Sản phẩm vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị nghệ thuật cao Do vậy sản
Trang 25phẩm không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có thể xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới như: Nghề thêu thùa, dệt lụa, làm gốm, khảm gỗ…
b Phân theo tính chất kinh tế:
- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên: Đây là nghề phụ của hầu hết các gia đình nông dân, sản phẩm ít mang tính hàng hoá, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ như nghề chế biến nông sản, sản xuất công cụ như cày bừa, liềm hái…
- Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp: Những nghề này được phát triển bởi sự tiến bộ của trình độ kỹ thuật công nghệ và trình độ tay nghề của người thợ Sản phẩm của nó thể hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt giữa thủ công nghiệp với nông nghiệp, của tài năng sáng tạo và sự khéo léo của người thợ, tiêu biểu là nghề dệt, gốm, kim hoàn…
c Theo giá trị sử dụng của các sản phẩm:
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công thủ công mỹ nghệ như: Gốm sứ, chạm khảm gỗ, chạm khắc đá, thêu ren, vàng bạc…
- Các nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: Nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, nhôm, sản xuất vật liệu xây dựng…
- Các nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thông thường như: Dệt vải, dệt chiếu, khâu nón…
- Các nghề chế biến lương thực, thực phẩm: Xay xát, nấu rượu, làm bánh… Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải thoả mãn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn… Phải đảm bảo hợp lý
và có hiệu quả Nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắc, văn hoá dân tộc…
2.1.2.3 Vai trò của phát triển nghề thủ công mỹ nghệ
a Nghề thủ công mỹ nghệ ở nông thôn góp phần thúc đẩy chuyển dịch
Trang 26kinh tế ở nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước mới về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi
từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp.Với mục tiêu như vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển, các nghề thủ công mỹ nghệ có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Thực tế trong lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nghề thủ công mỹ nghệ ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội nông thôn Ở nông thôn, khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn thôn không chỉ còn ngành nông nghiệp thuần nhất, mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển
b Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn:
Các nghề thủ công mỹ nghệ góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay Khi đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp, lao động ngày càng dư thừa thì vấn đề đặt ra là phải làm sao giải quyết được công ăn việc làm cho lực lượng dư thừa này, đồng thời tăng thu nhập cho các hộ gia đình trong điều kiện sản xuất còn hết sức hạn chế Theo tình toán của các chuyên gia thì hiện nay thời gian lao động
dư thừa ở nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng Do vậy vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho số lao động này là rất khó khăn Phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ ở nông thôn là một trong những cách giải cho bài toán này
Trang 27Sự phát triển của các nghề thủ công mỹ nghệ đã kéo theo sự phát triển
và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động
Hơn nữa, sản phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam ngày càng được du khách nước ngoài chú ý, do vậy kim ngạch xuất khẩu cho các sản phẩm này ngày càng tăng, góp phần cải thiện đời sống, cơ sở vật chất cho người dân nông thôn
c Góp phần thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian lao động dư thừa, hạn chế di dân tự do: Đặc điểm sản xuất của các nghề thủ công mỹ nghệ là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và nguồn lực vật chất của các hộ gia đình Với mức vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để có thể huy động vốn nhàn rỗi trong dân cho hoạt động sản xuất của các nghề
Mặt khác, do đặc điểm sản xuất của các nghề thủ công mỹ nghệ là sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có thể tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi Trẻ em tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc Lực lượng lao động này chiềm một tỷ lệ rất đáng kể trong tổng số lao động ở các nghề
Cùng với việc tận dụng thời gian và lực lượng lao động, sự phát triển của các nghề thủ công mỹ nghệ đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do ở nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác Sức ép về việc làm và thu nhập đã thúc đẩy người nông dân di dân để tìm nơi mới có việc làm và thu nhập khá hơn Khi nghề thủ công mỹ nghệ ở nông thôn phát triển sẽ là một động lực lớn để cản trở vấn đề di dân tự do này
Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá: Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một biện pháp thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông thôn
Trang 28xã hội nông thôn.Vì vậy trong kinh tế nông thôn phát triển nghề thủ công mỹ nghệ được coi là cơ sở và là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình này.Trong thực tế nó đã thể hiện rõ vai trò thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, kích thích sự ra đời và phát triển của các nghề khác như dịch vụ, thương mại
Góp phần cải thiện đời sống nhân dân và góp phần xây dựng nông thôn mới: Việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập, ở những vùng có nghề thủ công mỹ nghệ phát triển đều thể hiện sự văn minh, giàu có, dân trí cao hơn hẳn những vùng chỉ có thuần tuý sản xuất nông nghiệp Ở những nơi có nghề thì tỉ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỉ lệ hộ nghèo thường rất thấp và hầu như không có hộ đói Thu nhập từ nghề thủ công chiểm tỉ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho người dân một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn
cả về mặt vật chất lẫn tinh thần
Ở những nơi có nghề thủ công thì người nông dân cùng với sự đổi mới trong đời sống kinh tế , văn hoá của người dân là quá trình xây dựng và đổi mới nông thôn theo hướng hiện đại hoá
Góp phần bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc: Sản phẩm của nghề thủ công thủ công mỹ nghệ là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần,
nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ có tính nghệ thuật cao, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc sắc văn hoá dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi nghề thủ công mỹ nghệ Với những đặc điểm ấy chúng không chỉ còn là hàng hoá đơn thuần mà còn trở thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao và được coi
là biểu tượng nghề thủ công mỹ nghệ của dân tộc Việt Nam,đặc biệt nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản quý giá mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau
Trang 292.1.3 Đặc điểm phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ
a Đặc điểm kỹ thuật và công nghệ
Đặc điểm đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công mỹ nghệ là kỹ thuật thủ công mang tính thủ công mỹ nghệ, dòng họ Công cụ sản xuất là công cụ thô
sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra Công nghệ của nghề thủ công hầu như phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người thợ Sản phẩm đòi hỏi khéo léo và kinh nghiệm tích luỹ được
Một đặc tính quan trọng của công nghệ thủ công mỹ nghệ là không thể thay thế hoàn toàn bằng một công nghệ hiện đại, mà chỉ có thể thay thế ở một
số khâu sản xuất nhất định Đây là một trong những yếu tố tạo nên tính thủ công mỹ nghệ của sản phẩm
Một đặc điểm khác cần được xem xét là kỹ thuật công nghệ trong các nghề thủ công mỹ nghệ hầu hết khá thô sơ, lạc hậu Xuất phát từ nhiều lý do như vốn ít, mặt bằng sản xuất chật hẹp, cộng thêm với thói quen sản xuất của người tiểu nông nên công nghệ chậm được cải tiến và thay thế
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo nên một sự kết hợp giữa công nghệ thủ công mỹ nghệ và công nghệ hiện đại Sự kết hợp này đã đem lại những ưu thế đặc biệt quan trọng: Tạo ra năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm cao hơn, giảm bớt được sự nặng nhọc và độc hại cho người lao động Do vậy nhiều nghề thủ công mỹ nghệ đã được đầu tư máy móc, thiết bị
b Đặc điểm về sản phẩm
Đặc điểm riêng nhất, đặc sắc nhất của sản phẩm thủ công mỹ nghệ là độc đáo và có tính nghệ thuật cao Đặc điểm này được quy định bởi kỹ thuật công nghệ sản xuất thủ công đã có hàng trăm năm và hàng ngàn năm còn tồn tại cho đến ngày nay Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng có đặc trưng riêng, trình
độ kỹ thuật riêng Các sản phẩm đều có sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Ở mỗi sản phẩm là sự diễn tả các
Trang 30nghệ, là tín ngưỡng, tôn giáo, là ước muốn của con người trong chinh phục thiên nhiên
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ có tính riêng lẻ, đơn chiếc vì sản phẩm được sản xuất ra do từng cá nhân thực hiện bằng một công cụ thủ công nên không thể sản xuất hàng loạt mà sản xuất từng chiếc một Điều đó tạo nên sự hấp dẫn riêng, một sắc thái riêng
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ rất đa dạng, phong phú do phải đáp ứng các nhu cầu của đời sống kinh tế và văn hoá của người lao động Nó bao gồm nhiều chủng loại như sản phẩm là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và sản phẩm nghệ thuật Sản phẩm không chỉ đáp ứng các nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu
c Đặc điểm về kinh tế, xã hội
- Nghề thủ công mỹ nghệ của nước ta ra đời, phát triển từ làng và từ sản xuất nông nghiệp Vì vậy trong lịch sử lâu dài đó là mối quan hệ hai chiều chặt chẽ được thể hiện dưới nhiều mức độ khác nhau Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân trong một nền kinh tế tự cung tự cấp Nghề thủ công dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong gia đình Nghề phụ, việc phụ này giúp việc phụ này giúp giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập Như vậy người nông dân đồng thời là người thợ thủ công và ngược lại
Các cơ sở sản xuất của nghề thủ công mỹ nghệ được phân bố tại chỗ trên địa bàn nông thôn, phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn như: Tiêu thụ nguyên vật liệu, cung cấp vật tư, hàng hoá làm ra, thu hút lao động nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và hoạt động dịch vụ cùng phát triển, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ văn hoá, dân trí nông thôn, đổi mới nông thôn đồng thời chịu sự quản lý hành chính của các cấp chính quyền địa phương
Trang 31- Đặc điểm nổi bật trong sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ là sử dụng lao động thủ công là chính Do sản phẩm của nghề thủ công mỹ nghệ đòi hỏi trình độ kỹ thuật, thẩm mỹ cao, đường nét tỷ mỉ, có tính đơn chiếc nên lao động làm nghề thủ công thủ công mỹ nghệ có tính thủ công, trình độ kỹ thuật cao, tay nghề khéo léo, có đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo
- Thị trường là một yếu tố rất quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của mỗi nghề thủ công mỹ nghệ
Thị trường cung ứng vật liệu: Nói chung là nhỏ hẹp, chủ yếu là thị
trường mua, bán tại chỗ
Thị trường công nghệ: Việc tạo ra công cụ sản xuất là khả năng tạo ra
vốn của thợ thủ công, họ có thể làm ra công cụ từ đơn giản đến phức tạp Hiện nay với sự phát triển của khoa học và công nghệ thì có sự “ Hiện đại hoá công nghệ thủ công mỹ nghệ”, thay thế công nghệ thủ công lạc hậu bằng công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất
Thị trường vốn: Tuy đã được hình thành nhưng vẫn còn nhỏ bé so với
sức phát triển của sản xuất Các nguồn vốn tự có, vốn chiếm dụng và vốn vay vẫn là nguồn vốn chủ yếu, có tác động quan trọng tới sự mở rộng quy mô sản xuất và duy trì sự phát triển Hình thức tín dụng chủ yếu như vay mượn, cho vay lấy lãi, chơi họ, lập phường hội vẫn là phổ biến
Thị trường lao động: Được hình thành và phát triển có nhiều yếu tố
mới, ngoài lao động tại chỗ có lao động tại các vùng khác, các nơi khác Ngoài lao động thời vụ còn có lao động thường xuyên
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Loại thị trường này rất quan trọng, nó đóng vai trò quyết định tới sự sống còn của từng nghề Về cơ bản vẫn là thị trường tại chỗ, nhỏ hẹp, sản phẩm được tiêu thụ chủ yếu ở nông thôn
- Tuy nhiên sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện nay đã hấp dẫn đối với nhiều khách nước ngoài Các sản phẩm như: Gốm, sứ, dệt tơ tằm…đã được các
Trang 32thế giới như: Pháp, Nhật, Trung Quốc… hiện nay sự đòi hỏi khắt khe của thị trường nước ngoài về chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã nhưng vẫn phải thể hiện sắc thái riêng của văn hoá Việt Nam trong từng sản phẩm cũng là một khó khăn
d Đặc điểm về hình thức tổ chức kinh doanh
Trong lịch sử phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Ngoài ra còn một số hình thức khác hiện nay đã được ra đời và phát triển là: Tổ hợp tác, hợp tác
xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn
2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghề thủ công mỹ nghệ
a Thị trường
Yếu tố này đóng vai trò quyết định đến sự sống còn của từng nghề Những nghề thủ công mỹ nghệ sản xuất ra những sản phẩm có khả năng thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường thường có tốc độ Đó là những sản phẩm có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và luôn đổi mới cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội Đặc biệt là khi chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì sức cạnh tranh để giữ vững và mở rộng được thị trường là việc làm rất quan trọng, được đặt lên hàng đầu Ngược lại một số nghề thủ công mỹ nghệ không phát triển được, ngày càng mai một, thậm chí có nguy cơ bị mất đi và không đáp ứng được nhu cầu thị trường hoặc nhu cầu thị trường không cần đến loại sản phẩm
đó nữa như: Tranh Đông Hồ, nghề đan quạt…
Như vậy, rõ ràng thị trường và phát triển thị trường đã tác động mạnh tới phương hướng phát triển, cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm và
là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Tuy nhiên nếu thị trường không ổn định sẽ gây ra khó khăn và bấp bênh cho sản xuất
Trang 33b Trình độ kỹ thuật và công nghệ
Việt Nam đã chính thức là thành viên của WTO, nền kinh tế toàn cầu đã được mở rộng do vậy việc ứng dụng khoa học công nghệ mới có ý nghĩa quyết định, các tác động trực tiếp tới đảm bảo và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Nhận thức được điều này, nhiều nghề thủ công mỹ nghệ
đã được đẩy mạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, cải tiến phương pháp sản xuất để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra một sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho các làng nghề và là nguồn lực quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ Trong nghề thủ công mỹ nghệ là tập hợp các tri thức
kỹ thuật công nghệ đã được tổng kết và đúc rút ra từ nghiên cứu hay thực tiễn sản xuất các sản phẩm nghề thủ công mỹ nghệ Việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ sẽ đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn, đặc biệt ngày nay kỹ thuật công nghệ được xác định là lực lượng sản xuất trực tiếp Nhờ việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ mới vào các khâu trong sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ, làm thay đổi trạng thái sản xuất, tập quán sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ, thực hiện
sự phân công chuyên môn hoá lao động, tăng thêm chất lượng và giá trị của sản phẩm hàng hoá
Trong bất kỳ ngành sản xuất nào công nghệ, kỹ thuật luôn là yếu tố hết sức quan trọng Kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tạo ra các sản phẩm thuần khiết, đúng tiêu chuẩn, đúng qui định còn công nghệ góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm Trong nghề thủ công mỹ nghệ nâng cao trình độ tay nghề là nâng cao trình độ kỹ thuật và cải tiến công nghệ là thay thế dần một số công đoạn sản xuất bằng máy móc làm cho chất lượng sản phẩm tốt hơn, giảm chi phí lao động, tăng khối lượng sản phẩm và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường
Trang 34Đổi mới kỹ thuật công nghệ là cải tiến, thay đổi nhận thức các tri thức khoa học, phương pháp sản xuất nhằm tăng cường khả năng sản xuất, tăng số lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, thoả mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của người tiêu dùng đối với sản phẩm nghề thủ công mỹ nghệ Tác động của kỹ thuật công nghệ đối với nghề thủ công mỹ nghệ bao gồm những nội dung sau:
- Tạo ra những kỹ thuật mới, sản phẩm mới, có chất lượng cao thẩm mỹ đẹp
- Công nghệ sản xuất với những chiếc máy đa năng sử dụng vào nhiều công đoạn và sản xuất được nhiều loại sản phẩm
- Nghiên cứu cơ cấu nguyên liệu và các phụ liệu khác đảm bảo chất lượng và hiệu suất sản xuất sản phẩm tối ưu
- Thiết kế khu làm việc mới tiện lợi cho hoạt động nghề thủ công mỹ nghệ
- Kỹ thuật công nghệ nghiên cứu phương pháp sản xuất mới vừa nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị nguyên liệu, vừa góp phần giảm chi phí
c Vốn và sử dụng vốn
Việt Nam vừa trải qua thời kỳ lạm phát cao đồng thời “ cơn bão tài chính” trên toàn thế giới đã làm ảnh hưởng rất lớn đến các thành phần kinh tế nói chung và đến sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ nói riêng Hiện nay nhu cầu về vốn là một vấn đề khó khăn chung cho toàn bộ nền kinh tế cần phải được tháo
gỡ, với sự hỗ trợ tích cực và cụ thể từ phía Nhà nước, đặc biệt là đề ra những chính sách phù hợp với đặc điểm sản xuất của các nghề thủ công mỹ nghệ.Quá trình sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là các sản phẩm hàng hoá, vốn và cơ cấu vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu sản xuất và quy trình sản xuất Do đặc điểm của sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ chi phí vốn có thể được chia theo hình thái luân chuyển, hình thái biểu hiện, mục đích sử dụng, hình thức sở hữu, theo thời gian hay theo phạm vi của hộ hay doanh nghiệp Ngoài việc đầu tư từ các nguồn vốn, thì khả năng thu nhập
và mức độ tích luỹ tại chỗ của chủ thể sản xuất kinh doanh cũng có ảnh
Trang 35hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ Nếu khả năng
về vốn trong khu vực dân cư không đáp ứng được, tất yếu phải có nguồn đầu
tư ngân sách, vốn tín dụng hoặc các hình thức huy động vốn khác Vì vậy, nguồn vốn và sử dụng vốn chi phối trực tiếp đến quá trình tổ chức sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội tại nghề thủ công mỹ nghệ
d Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cấp thoát nước Các yếu tố này càng phát triển, thuận lợi càng tạo ra điều kiện cho các nghề thủ công mỹ nghệ phát triển Tuy nhiên cho đến nay sự phát triển trong các nghề thủ công mỹ nghệ vẫn gặp không ít khó khăn do yếu kém và thiếu đồng bộ của cơ sở hạ tầng
e Nguồn nhân lực
Là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển Nguồn nhân lực của sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ bao gồm những nghệ nhân, thợ thủ công và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Hiện nay một hạn chế rất lớn
là chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, trình độ chuyên môn và trình độ văn hoá còn thấp, nhất là đối với các chủ doanh nghiệp, là một cản trở lớn trong việc phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
f Nguồn vật liệu
Trong những giai đoạn trước đây gần nguồn nguyên liệu, vật liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển sản xuất các nghề thủ công mỹ nghệ Song hiện nay giao thông và phương tiện vận chuyển phát triển hơn nên vấn đề này không còn quan trọng hơn so với trước đối với sự phát triển các cơ sở nghề thủ công mỹ nghệ
g Yếu tố truyền thống
Yếu tố truyền thống có tác dụng bảo tồn những nét văn hoá đặc trưng của từng vùng hay từng nơi có nghề thủ công mỹ nghệ, làm gia tăng giá trị nghệ thuật của sản phẩm Tuy nhiên trong quá trình phát triển, yếu tố truyền thống
Trang 36cũng phải được duy trì một cách có chọn lọc nhằm phát huy những mặt tích cực của nó phù hợp với những thay đổi của xã hội hiện tại
h Cơ chế chính sách
Quá trình đổi mới kinh tế cùng với hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của
Nhà nước đã có những tác động to lớn có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của các nghề thủ công mỹ nghệ
Với chính sách phát triển của các thành phần kinh tế, các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể, hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân được công nhận
và tồn tại trong sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, làm cho các nghề thủ công mỹ nghệ được khôi phục và phát triển mạnh mẽ
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã kích thích sản xuất phát triển, mở rộng thêm nhiều thị trường mới Ngoài ra còn có các chính sách khác như chính sách miễn thuế, chính sách hỗ trợ vốn, chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ… đã có tác động tích cực đến các nghề thủ công mỹ nghệ Ngay từ khi Nhà nước mới ra đời đã thực hiện vai trò và chức năng quản lý Thời kỳ đầu Nhà nước quản lý xã hội, quản lý hành chính, đảm bảo trật tự, trị an, sau đó chuyển dần sang quản lý kinh tế Cùng với sự phát triển về quy mô và trình độ của nền kinh tế, vai trò của quản lý Nhà nước về kinh tế ngày càng tăng và chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất Tuy nhiên, những vai trò này cũng luôn biến động tuỳ theo chế độ chính trị, yêu cầu và xu hướng phát triển kinh tế của từng nước trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau
Sự tác động của Nhà nước vào quá trình phát triển nghề thủ công mỹ nghệ được qui định bởi chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, đó là sự tác động do tạo lập môi trường luật pháp; định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; thực hiện chức năng điều tiết; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với phát triển nghề thủ công mỹ nghệ Đồng thời nhà nước ban hành và tổ chức chỉ đạo thực hiện hệ thống các chính sách kinh tế nhằm đẩy nhanh quá
Trang 37trình phát triển nghề thủ công mỹ nghệ theo hướng sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ vận động, thay đổi cơ cấu kinh tế một cách tự phát, vừa có những mặt tích cực, đồng thời cũng có nhiều khuyết tật
Do đó, Nhà nước phải thực hiện sự can thiệp để phát huy những mặt tích cực
và hạn chế những “khuyết tật” của kinh tế thị trường, thông qua hệ thống chính sách kinh tế Vai trò quản lý của Nhà nước ảnh hưởng đến sự hình thành cơ cấu kinh tế, hạn chế tính tự phát trong quá trình sản xuất kinh doanh, tránh được những khủng khoảng “thừa” hoặc “thiếu”, rủi ro của người sản xuất và giảm bớt lãng phí cho nền kinh tế Chính sách kinh tế của Nhà nước nhằm khuyến khích người sản xuất phát triển những ngành hàng có lợi cho nền kinh tế quốc dân hoặc hạn chế những ngành hàng xét thấy không có lợi, thậm chí có ngành hàng còn bị nghiêm cấm không cho phép sản xuất kinh doanh
Đối với nghề thủ công mỹ nghệ, hệ thống chính sách của Nhà nước về mặt bằng xây dựng, tín dụng, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhất là thị trường xuất khẩu sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ
Để từng bước phát triển nghề thủ công mỹ nghệ bền vững theo hướng CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn cần có sự tác động của quản lý Nhà nước đối với nghề thủ công mỹ nghệ với những con người có trí tuệ, có tầm nhìn đi trước đón đầu các xu hướng phát triển trong hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế Sự tác động của Nhà nước tới nghề thủ công mỹ nghệ được thực hiện thông qua việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô, về thị trường, chính sách về thuế, vốn
và tín dụng; về kỹ thuật công nghệ đối với nghề thủ công mỹ nghệ đồng thời tổ chức kiểm tra, kiểm soát viện thực hiện các chức năng quản lý Nhà
Trang 38nước nhằm phát triển nghề thủ công mỹ nghệ trở thành nghề sản xuất chính ở những vùng nông thôn có điều kiện với tỷ suất thu nhập trong hộ ngày càng cao
2.1.5 Nội dung nghiên cứu giải pháp phát triển nghề thủ công mỹ nghệ
a Quy hoạch phát triển nghề
Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải dựa trên quan điểm đánh giá đúng
vị trí và vai trò mới của nghề trong điều kiện CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải dựa trên quan điểm tận dụng lao động nông thôn và thực hiện phương châm “ ly nông bất ly hương”, kết hợp yếu
tố truyền thống với hiện đại, kết hợp phát triển tiến hoá tuần tự với phát triển rút ngắn nhảy vọt và sự kết hợp các loại trình độ công nghệ trong quá trình CNH – HĐH Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải dựa trên quan điểm huy động tối đa mọi nguồn vốn trong dân vào phát triển sản xuất và đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nghề Hỗ trợ đầu tư mọi mặt ( Vốn, công nghệ, thông tin, đào tạo ) cho nghề để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất đồng thời gấn kết với việc củng cố, mở rộng thị trường tiêu thụ và tận dụng tối đa những lợi thế so sánh của nghề Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải dựa trên quan điểm phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển toàn diện nông thôn
b Con người và tập quán sản xuất
Con người là yếu tố quyết định của mọi quá trình sản xuất, không có lao động thì không thể có hoạt động ngành nghề Đối với quá trình tổ chức sản xuất, quy trình sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ thì tập quán sản xuất của nghề cũng có tác động nhất định đến quá trìng trên Đôi khi do tập quán nghề thủ công mỹ nghệ đã ảnh hưởng tới quá trình thúc đẩy hay kìm hãm việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới vào quá trình sản xuất Để tăng nhanh khối lượng sản phẩm nghề thủ công mỹ nghệ nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và phong phú đa dạng của con người, việc cải thiện trong nội nghề thủ công mỹ nghệ mà thực chất
là sự thay đổi về sản phẩm, mẫu mã, loại hình sản xuất, cách thức tổ chức quản lý
Trang 39sản xuất ngày càng cao hơn đòi hỏi trình độ của người lao động cao hơn để đáp ứng yêu cầu sản xuất và quản lý Phát triển sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ theo
cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay bên cạnh yếu tố kinh tế thì yếu tố dân trí, tri thức, văn hoá, xã hội để từng bước góp phần hình thành nền kinh tế tri thức cùng với việc xây dựng nền văn hoá hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc thì yếu tố quan trọng là thực hiện chiến lược con người cùng với việc thay đổi tập quán sản xuất
cũ, lạc hậu là cần thiết
c Nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động
Phát triển nghề thủ công mỹ nghệ phải chăm lo đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ
kỹ thuật, đội ngũ thợ lành nghề vì thế cần khuyến khích các hình thức học tập nâng cao tri thức, tay nghề trong nghề Động viên kịp thời các điển hình vươn lên trong học tập lao động làm giàu cho bản thân và Tập thể Thường xuyên nắm vững số lượng và chất lượng đội ngũ khoa học kỹ thuật trong các cơ sở nghề từ đó
có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động trong nghề Bên cạnh việc tiếp cận công nghệ mới cần giữ gìn bản sắc dân tộc, công nghệ truyền thống của một số sản phẩm độc đáo Rà soát đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước, các chủ doanh nghiệp, hợp tác xã; chọn lọc, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế cận có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu mới Mở rộng các loại hình đào tạo: Tại chỗ, gửi theo các lớp đào tạo chung, đào tạo theo địa chỉ Kinh phí đào tạo kết hợp giữa Nhà nước, cơ sở và các hộ nghề cùng đóng góp
d Nâng cao trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm
Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất đối với nghề thủ công mỹ nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị, có chất lượng cao phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước Để nâng cao trình độ khoa học công nghệ chất lượng sản phẩm công tác khoa học kỹ thuật cần tập trung nghiên cứu, điều tra khai thác các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, quy hoạch vùng nguyên liệu một cách có khoa học cho sản xuất Ưu tiên sử dụng nguyên liệu
Trang 40trang thiết bị mới nhằm sử dụng có hiệu quả nhất nguồn vốn đầu tư Có chế độ đãi ngộ xứng đáng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và thợ lành nghề để tạo môi trường thuận lợi cho những lao động hiện có yên tâm sản xuất gắn bó với nghề và
có tác dụng thu hút chất xám từ nơi khác tới
e Hoạt động sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ với quá trình bảo vệ môi
trường
Sự phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ đã tạo ra sự thay đổi tỷ trọng Tiểu thủ công nghiệp theo hướng tăng dần, kết quả đó có tác dụng rất tích cực trong nông nghiệp và phát triển nông thôn tăng thu nhập cho người lao động, tạo sự ổn định đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội ở nông thôn Tuy nhiên cùng với những kết quả có tác động tích cực đến nông nghiệp và nông thôn thì sự phát triển của nghề thủ công mỹ nghệ kéo theo nhiều vấn đề về môi sinh, môi trường và xã hội cần phải giải quyết:
Ảnh hưởng tới môi trường nước: Chất lỏng kèm theo dư lượng hoá chất, các chất thải hữu cơ, các chất thải vô cơ, các hợp chất vô cơ độc hại từ hoạt động sản xuất nghề được thải trực tiếp ra bên ngoài môi trường Đây là nguồn ô nhiễm cực kỳ nguy hiểm, nó tác động trực tiếp đến nguồn nước mặt
và cả nguồn nước ngầm gây ra các bệnh hiểm nghèo cho người lao động làm nghề và dân cư sống trong vùng
Ảnh hưởng tới môi trường không khí: Hoạt động sản xuất nghề thủ công mỹ nghệ thải ra không khí các loại ôxít như CO2, CO, NOx, SO2 , các loại chất bay hơi như HCL, Aldehyt, Axeton, Phenol, H2S các chất khí sinh
ra do đốt nhiên liệu là than đá, dầu, hoá chất tẩy rửa dùng trong sản xuất, chất khí sinh ra khi ngâm nguyên vật liệu khi sản xuất sản phẩm tre nứa ghép Tất
cả các chất khí này đều không được thu gom xử lý mà trực tiếp thải ra môi trường
Hoạt động sản xuất của nghề tạo ra tác nhân bụi( bụi lắng và bụi lơ lửng) các tác nhân này hầu hết ở các hộ, cơ sở sản xuất nghề chưa có hệ thống