1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm cho học sinh trường Trung Cấp Nghề Dân tộc nội trú An Giang hiện nay - Thực trạng và giải pháp

26 493 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 568,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung – cầu lao động, phát huy tính tích cực của người l

Trang 1

MỞ ĐẦU

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển tiến kịp khu vực và thế giới

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra được nhiều chủ trương đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nêu rõ: “Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực của người lao động Bảo đảm quan hệ lao động hài hoà, cải thiện môi trường và điều kiện lao động Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách, người nghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hoá….” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung – cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm”

Do đó, dưới dự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ và

sự nỗ lực vươn lên của nhân dân, trong những năm qua công tác dạy nghề, giải quyết việc làm đã thu được nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên so với yêu cầu

Trang 2

thực tế hiện nay, công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn, nhất là lao động người dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cơ cấu ngành đào tạo chưa thật sự phù hợp với thị trường lao động, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, nên nhiều học sinh

đã qua đào tạo nghề vẫn gặp nhiều khó khăn để tìm được việc làm; nhiều em phải làm việc không phù hợp với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo Bên cạnh đó, một bộ phận lớn các em học sinh chưa hiểu đúng và lực chọn nghề phù hợp với khả năng và điều kiện của mình, tỷ lệ thiếu việc làm, thất nghiệp của các

em còn khá cao…Vì vậy, đề tài “Giải quyết việc làm cho học sinh trường Trung Cấp Nghề Dân tộc nội trú An Giang hiện nay - Thực trạng và giải pháp” được chọn để làm tiểu luận tốt nghiệp, với hy vọng đưa ra những giải

pháp giúp học sinh trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú sau khi học xong tìm được việc làm ổn định, phù hợp với ngành nghề được đào tạo

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẠY NGHỀ, VIỆC LÀM

VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.1 Dạy nghề (đào tạo nghề)

1.1.1 Khái niệm

Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề chuyên môn khác Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Những hoạt động cần cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc một nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”

Luật dạy nghề đưa ra khái niệm như sau: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”

Như vây, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm

1.1.2 Phân loại đào tạo nghề

Căn cứ vào nghề đào tạo và người học gồm có đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nâng cao

Căn cứ vào thời gian đào tạo gồm có đào tạo ngắn hạn (dưới 3 tháng, sơ cấp nghề) và dài hạn (trung cấp nghề, cao đẳng nghề…)

Trang 4

1.2 Việc làm

1.2.1 Khái niệm

Đứng dưới mỗi góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau về việc làm Nếu xem xét dưới góc độ kinh tế - xã hội và góc độ pháp lí thì ta có thể tóm tắt khái niệm việc làm như sau:

Cụ thể:

- Dưới góc độ kinh tế - xã hội

Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ những người hiện đang tham gia các hoạt động đó Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là: người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ

Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xã hội Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định phù hợp từ phía nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giải quyết các vấn đề xã hội khác

Trang 5

Tóm lại: Xét về phương diện kinh tế - xã hội có thể hiểu việc làm là các hoạt

động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận

- Dưới góc độ pháp lí

Ở Việt Nam, trong nền kinh tế hóa tập trung, Người lao động được coi là

có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các đơn

vị kinh tế quốc doanh và tập thể Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan niệm

về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách việc làm đã có những thay đổi căn bản Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế

vào hoàn cảnh Việt Nam, bộ luật lao động đã quy định “Mọi hoạt động lao động

tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

(Điều 13 Bộ luật lao động)

Nếu như trước đây, trong các văn bản pháp luật vấn đề việc làm chủ yếu được đề cập ở góc độ cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao động thì đây là lần đầu tiên khái niệm việc làm được ghi nhận trong văn bản pháp luật quan trọng của nhà nước Theo đó, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: hoạt động tạo ra lao động + tạo ra thu nhập + hoạt động đó phải hợp pháp

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc làm

Việc làm có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội,

nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội

Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ

Trang 6

sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, )

Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu

và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động

Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên

xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội , không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Con người

có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội

1.3 Giải quyết việc làm

1.3.1 Khái niệm

Giải quyết việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn có của từng đơn vị, từng địa phương và của người lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý, ổn định cho người lao động; những công việc đó phải đem lại thu nhập đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản

Trang 7

thân người lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ chuyên môn nghề nghiệp của bản thân người lao động

1.3.2 Ý nghĩa của giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, lao động

là người dân tộc thiểu số

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá (CNH-HĐH ).Trong đó CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm Để góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả quá trình trên thì vấn đề tạo việc làm và giải quyết việc làm cho lao động cả nước nói chung và lao động trong nông nghiệp, nông thôn, lao động là người dân tộc thiểu số nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay vì góp phần:

- Làm giảm lao động dư thừa và thời gian nhàn rổi đồng thời từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động

Do sức ép rất lớn phải giải quyết việc làm ở nông thôn bởi đất chật người đông, thu nhập từ nông nghiệp rất thấp, trong khi đó lao động ở nông thôn, lao động là người dân tộc thiểu số dư thừa nhiều

Làm giảm áp lực thất nghiệp trong nền kinh tế vốn chưa có một sự phát triển như ở nước ta

Áp lực việc làm và thu nhập đã tạo ra xu hướng di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra các thành thị và đến vùng nông thôn khác Sự di chuyển này

đã làm tăng tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp ở khu vực thành thị đồng thời phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp Do vậy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh vần đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương

- Làm giảm bớt sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương, các vùng trong cả nước, đồng thời hạn chế và chấm dứt tình trạng du canh du cư,

di dân tự do

Trang 8

- Giải quyết việc làm tốt cho lao động nông thôn, lao động người dân tộc thiểu số tạo ra tinh thần tích cực làm việc cho người lao động, đồng thời tạo

ra thu nhập ổn định cho họ, làm cho họ không nghĩ đến việc di chuyển lên các đô thị hoặc các vùng khác

- Nâng cao dân trí, công bằng xã hội

Thông qua các chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn tạo ra một khả năng tiếp thu những thành tựu và ứng dụng của khoa học kỹ thuật, nâng cao nhận thức người lao động, tạo ra mức thu nhập ổn định cho người lao động góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa lao động nông thôn và lao động thành thị

1.4 Mối quan hệ giữa dạy nghề và giải quyết việc làm

Đào tạo nghề tạo ra năng lực thực hiện cho người học Đào tạo để làm việc, người lao động có năng lực thực hiện, cần phải có chổ làm việc để thực hiện năng lực đó Đào tạo nghề trở thành công cụ điều chỉnh sâu cơ cấu, chất lượng của lực lượng lao động Việc làm tạo ra nhu cầu đào tạo, người lao động muốn có việc làm, làm được việc thì phải qua đào tạo, dẫn đến việc làm đặt ra yêu cầu cho đào tạo Đào tạo là mô phỏng yêu cầu và hoạt động của việc làm, do

đó có thể nói việc làm quy định nội dung đào tạo

Trong mối quan hệ gắn kết giữa đào tạo với sử dụng và giải quyết việc làm phải dựa trên cơ sở nhu cầu lao động trên thị trường lao động Đào tạo ai, đào tạo nghề gì, cấp trình độ gì phải do yêu cầu lao động thực tế quyết định

1.5 Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về dạy nghề giải quyết việc làm

1.5.1 Theo Văn kiện Đại hội X

Văn kiện Đại hội X khẳng định “Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia nhằm nhiều biện pháp như: Tăng 50% vốn đầu tư từ ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ lãi suất tín dụng, thực thi

Trang 9

các dự án trồng rừng, dự án 327, dự án PAM và các chính sách giải quyết việc làm khác Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao dộng Khôi phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp thanh niên và việc xuất khẩu lao động Hàng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, tận dụng số ngày công lao động chưa dùng đến nhất là các địa bàn nông nghiệp, nông thôn”

Phương hướng của Đảng và Nhà nước ta trong những năm tới về vấn đề dân số và việc làm được thực hiện trong Văn kiện Đại hội X của Đảng là: “Tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số, đến năm 2010 vào khoảng 1.1% đến 1.2%, sớm ổn định dân cư một cách hợp lý ( 88-89 triệu người vào năm 2010) Giải quyết đồng

bộ, từng bước và có trọng điểm chất lượng dân số và phân bố dân cư”

Song song với vấn đề trên Đảng còn nhấn mạnh “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân Dự báo đến năm 2010 nước ta có 56.8 triệu người ở độ tuổi lao động, tăng gần 11 triệu người so với năm 2000 Do vậy, để giải quyết vấn đề cơ bản người lao động được làm việc phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế phát triển, đầu tư rộng rãi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh Đẩy mạnh xuất khẩu lao động Xây dựng và thực hiện chặt chẽ cơ chế, chính sách đồng bộ về đào tạo nguồn lao động Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế”

1.5.2 Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ An Giang lần thứ IX xác định phương

hướng và nhiệm vụ phát triển từ năm 2010 – 2015 về dạy nghề và việc làm như

sau:

Tạo bước chuyển biến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Tạo việc làm đi đôi với giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Trang 10

Tập trung giải quyết các vấn đề về lao động và việc làm, nâng cao chất lượng đào tạo nghề Có cơ chế chính sách để khuyến khích, huy động nhiều nguồn lực đầu tư vào hoạt động dạy nghề, tạo việc làm

Thực hiện tốt các chính sách bảo đảm an sinh xã hội; có giải pháp giảm nghèo bền vững, giải quyết tốt các vấn đề về lao động, việc làm, chăm lo các đối tượng chính sách và người có công; thực hiện bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ; làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em

1.5.3 Một số văn bản nhà nước về dạy nghề và giải quyết việc làm

Để chính sách giải quyết việc làm đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta đã

có nhiều chương trình giải quyết việc làm cụ thể

- Nghị quyết của hội đồng bộ trưởng số 120 – HĐBT ngày 11/04/1992

về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tới

- Quyết định số 1956/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 27/11/2009 về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Theo chương trình này, từ nay đến năm 2020 sẽ đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Đây là chương trình lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho lao động nông thôn trong những năm tới

- Quyết định số 2442/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc ban hành Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh An Giang đến năm 2020”

- Quyết định số 29/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2015

Trang 11

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ DÂN TỘC NỘI TRÚ

TỈNH AN GIANG

2.1 Đặc điểm chung

2.1.1 Đặc điểm các dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang

Tính đến năm 2011 dân số toàn tỉnh là 2.151.000 người, mật độ dân số

608 người/km² Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh Trong đó:

Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng

số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; Trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo đạo Phật, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia đình và làm thuê mướn theo thời vụ

Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Phú Tân, Châu Phú và Châu Thành Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống

Trang 12

Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác

2.1.2 Đặc điểm huyện Tri Tôn

Tri Tôn là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớt nhất tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên 52 km về phía Tây, cách Hà Tiên - Kiên Giang 83 km, cách Châu Đốc 44 km, cách núi Cấm 7 km

Phía Đông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn; phía tây giáp Tịnh Biên; phía tây nam giáp Campuchia; phía nam giáp tỉnh Kiên Giang

Diện tích tự nhiên khoảng 60.039,74 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 74,48%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 8,89%, còn lại là đất ở và đất chuyên dùng Địa hình đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với nhiều kênh mương lớn nhỏ ngang dọc

Địa hình này mang đậm nét của vùng đồng bằng kênh rạch nhưng có xen lẫn nhiều đồi núi với điểm cao nhất là đỉnh núi Cô Tô 614m (so với mặt nước biển), khu vực đồng bằng có độ cao dao động từ 0.8m -2.2m Bao bọc chung quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên

Dân số trung bình (năm 2011) là 132.720 người Thành phần dân tộc bao gồm Kinh, Hoa, Khmer Trong đó, người Khmer chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 34, 02% (45.149 người) trên tổng dân số toàn Huyện

Trang 13

Nguồn nước ở Tri Tôn khá khan hiếm, chủ yếu là nước giếng và nước máy Hiện trên địa bàn huyện Tri Tôn có trên 400 giếng khoan và hơn 3.000 giếng đào phục vụ nước sinh hoạt hằng ngày của người dân

Dễ dàng nhận thấy đặc điểm tự nhiên, dân cư, dân tộc của Huyện đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác dạy nghề và giới thiệu việc làm của Huyện

2.1.3 Đặc điểm Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú tỉnh An Giang

Trường Trung Cấp Nghề Dân Tộc Nội Trú An Giang được thành lập năm

2010 (tiền thân là Trung Tâm Dạy Nghề Huyện Tri Tôn) trên địa bàn Huyện Tri Tôn với nhiệm vụ chính là dạy nghề cho các học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh An Giang và miền Tây Nam Bộ

Với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân tộc, dân cư trên địa bàn cũng

đã nói lên được hơn 80% học sinh Trường trung cấp nghề Dân tộc nội trú tỉnh

An Giang là người dân tộc Khmer – có đời sống kinh tế tương đối khó khăn Tổng số cán bộ, giáo viên trong Trường là 68 người Trong đó, cán bộ, nhân viên là 15 người, giáo viên dạy nghề 53 người Ban giám hiệu 3 người Đảng viên 28 người Đa số các giáo viên tại trường là giáo viên trẻ, nhiều nhiệt tình, tâm huyết với nghề và có mặt bằng trình độ chung tốt (đại học), đáp ứng được nhu cầu dạy và học tại Trường

Tổng số học sinh (đang học chính quy tại Trường) là 559 em Trong đó, dân tộc kinh là 92 em (16,4%); dân tộc khmer là 466 em (83,6%); Có 351 học sinh nam và 208 học sinh nữ Tất cả các em học sinh là người dân tộc Khmer học tại Trường đều được hưởng chính sách học bổng theo quy định của Nhà nước, được

ở ký túc xá của Trường và được cấp học phẩm hàng quý Bên cạnh đó là 1 con

số không nhỏ các học sinh được trường đào tạo ở các lớp nghề ngắn hạn Nhìn chung đa số học sinh này cũng đều là người Khmer nghèo nên khi học các lớp

Ngày đăng: 17/07/2015, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w