1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Long, TP.Long Xuyên đến năm 2015

35 635 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 395,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTrong hệ thống chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo là chủ chương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo là chủ chương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của liên hợp quốc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo như là một thứ “giặc”, cũng như giặc dốt, giặc ngoại xâm, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, ấm no và đời sống hạnh phúc Giảm đói nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển

Nghèo đói đi liền với lạc hậu chính là lực cản kềm hãm sự phát triển, là sự đối lập của bản chất XHCN Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta bên cạnh những thành tựu, hiệu quả đáng kể đạt được, nó còn bộc lộ không ít hạn chế, khuyết điểm Sự lôi cuốn của lợi nhuận đã làm nảy sinh, tăng thêm các vấn đề tiêu cực, tệ nạn như: tham nhũng, ma túy, mại dâm, băng nhóm tội phạm, tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm….Sự phân hóa tăng khoản cách giữa giàu-nghèo ngày càng xa Đây không phải là điều trăng trở, bức xúc của riêng ai, nghèo đói hiện nay

đã trở thành thách thức chung của toàn xã hội

Trong những năm qua, cùng với những địa phương khác trong cả nước, trên địa bàn phường Mỹ Long thành phố Long Xuyên, công tác xóa đói giảm nghèo luôn được đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả quan trọng, do đó đã hạn chế sự phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, xóa hộ đói và từng bước giảm được số hộ nghèo

Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu đạt được thì công tác xói đói giảm nghèo ở

Trang 2

đó là số hộ đã thoát nghèo và có nguy cơ tái nghèo, số hộ cận nghèo có xu hướng gia tăng, đời sống hộ nghèo còn gặp nhiều khó khăn, v.v…

Xuất phát từ thực tế địa phương, qua học tập và nghiên cứu chương trình

trung cấp lý luận chính trị - hành chính, tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Long, TP.Long Xuyên đến năm 2015” làm tiểu luận tốt nghiệp

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống lại một số vấn đề lý luận về công tác xóa đói giảm nghèo: đi sâu tìm hiểu, đánh giá kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương những năm qua, trên cơ sở đó nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo ở trong những năm tiếp theo

Với mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản xói đói giải nghèo trong giai đoạn hiện nay

- Chương 2: Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Long, TP.Long Xuyên giai đoạn 2007-2012

- Chương 3: Mục tiêu, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Long từ nay đến năm 2015

Trang 3

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM

NGHÈO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.1 Quan niện và tiêu chí xác định đói nghèo:

1.1.1 Quan niệm đói nghèo của thế giới và Việt Nam:

Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các Châu với mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương Tại hội nghị chống đói nghèo Châu á Thái Bình Dương tháng 9/1993 thì: “nghèo là tình trạng một

bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người những nhu cầu nầy được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-

Xã hội và phong tục tập quán ở địa phương”

- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp Trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về nghèo, song phổ biến hơn cả người ta hiểu nghèo theo hai cách là: “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”

- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của địa phương, ở một thời kỳ nhất định Ngoài những đảm bảo trên còn có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm cả việc có quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng

Trên thực tế người ta dùng khái niệm: “nghèo tuyệt đối” khi đề cập đến sự bất lực, không có khả năng đạt tới mức tăng trưởng tối thiểu, con người không

có khả năng: “đáp ứng nhu cầu cơ bản” về mức dinh dưỡng tối thiểu và nhu cầu phi thực phẩm khác

+ Nghèo tương đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới

Trang 4

nghèo khổ tập trung vào phúc lợi của tỷ lệ dân số nghèo nhất, có tính đến mức phân phối phúc lợi toàn xã hội Nghèo thường gắn liền với thu nhập Vì vậy, vấn để giảm nghèo có liên quan mật thiết với tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội ở mỗi quốc gia

- Đói: Được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống với mức tối thiểu, chỉ đủ khả năng đảm bảo có mức lương thực bửa đói, bửa no và có khi dứt bửa 1, 2 hay 3 tháng phải trả nợ của cộng đồng để duy trì mức sống và không có khả năng chi trả

Theo quan niệm của Việt Nam: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư vẫn còn thiếu ăn, nhưng không dứt bữa, mặc không đủ ấm, nhà chủ yếu là tranh tre, không có hoặc không đủ điều kiện để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và đáp ứng nhu cầu về học tập, chữa bệnh cũng như các nhu cầu xã hội khác Đói

là tình trạng một bộ phận dân cư cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con thường học, ốm đau không có tiền chữa trị nhà không đủ che mưa, che nắng hộ nhèo là giới hạn nghèo đói được biểu hiện dưới dạng thu nhập bình quân tính theo đầu người, các hộ có thu nhập bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo đói được gọi là hộ nghèo Người nghèo là người có hộ khẩu trong hộ nghèo

Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhaghen (Đan Mạch) vào tháng 3-1995, cố thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới thông qua các hoạt động quốc gia một cách kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây là một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại

1.1.2 Tiêu chí xác định đói nghèo của thế giới và Việt Nam

Chuẩn đói nghèo quốc tế do Tổng cục thống kê và ngân hàng thế giới đã xác định là:

Trang 5

Ngưỡng đói nghèo ở mức thấp gọi là ngưỡng đói nghèo về lương thực, thực phẩm, được xác định theo tiêu chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như tổ chức y tế thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal/người/ngày Theo đó thì những người có mức chi cần thiết để đạt được lượng kcal này gọi là người nghèo về lương thực, thực phẩm Những đói nghèo

ở mức cao hơn gọi là ngưỡng đói nghèo chung

Ngưỡng đói nghèo chung là ngưỡng đói nghèo về lương thực, thực phẩm tính thêm các chi phí cho các mặt hàng ngày phi lương thực thực phẩm

Ngoài ra, ngân hàng thế còn đưa ra khuyến nghị thang đo nghèo đói theo tiêu chí sau:

- Đối với nước nghèo: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày

- Đối với nước đang phát triển là 1 USD/ngày

- Các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày

- Các nước Động Âu là 4USD/ngày

- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường

nó thấp hơn thang nghèo đói mà thế giới đưa ra

Ở Việt Nam, Bộ lao động-Thương binh & xã hội quy định: Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13Kg, tương đương 45.000đồng, Hộ nghèo ở vùng nông thôn đồng bằng dưới 20 kg gạo/người/tháng tương đương 70.000đồng và ở thành thị dưới 25 kg gạo/người/tháng tương đương 90.000đống

Năm 2006, Bộ lao động-Thương binh & xã hội đưa ra chuẩn đói nghèo là:

Trang 6

chuẩn hộ nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006-2010 Theo Quyết định này, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng như sau:

Khu vực nông thôn từ 201.000 đồng đến 260.000 đồng người/tháng

Khu vực thành thị từ 261.000 đồng đến 338.000 đồng người/tháng

Năm 2011 Bộ lao động-Thương binh & xã hội đưa ra chuẩn đói nghèo là:

Hộ nghèo: Chuẩn nghèo mới được điều chỉnh theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011-2015 Theo Quyết định này, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/ tháng như sau:

Khu vực nông thôn có thu nhập bình quân người/ tháng từ 400.000 trở xuống

Khu vực thành thị có thu nhập bình quân người/ tháng từ 500.000 trở xuống

Trong trường hợp Chính phủ điều chỉnh chuẩn nghèo cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ thì mức thu nhập hộ gia đình cận nghèo được tính trên cơ sở chuẩn nghèo điều chỉnh

1.2 Nguyên nhân và yếu tố chính ảnh hưởng đến đói nghèo

Trang 7

người nghèo lực chọn phương án sản xuật tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn Do vẫn theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó

Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch

vũ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động thực vật; nhiều yếu tố đầu vào sản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón…đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm

Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốm là một trong những nguyên nhân trỉ hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học-công nghệ, giống mới…Mặc dù trong khuôn khổ của

dự án tín dụng cho người nghèo thuộc Chương trình xóa đói giản nghèo quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều, song vẫn còn khá nhiều người nghèo, đặc biệt là người rất nghèo, không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng Một mặt, do không có tài sản thế chấp, những người nghèo, phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn Bên cạnh đó, việc thiếu các thông tin, đặc biệt lá các thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường, đã làm cho người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn

b) Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định

Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội

Trang 8

cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho viêc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn

Số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoạc thấp hơn Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao gờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; trung học cơ sở chiếm 37% Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên 80% số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các nghành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn

c) Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp

Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới các dịch vụ pháp

lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung

ở các thành phố, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao

Trang 9

d) Các nguyên nhân về nhân khẩu học

Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trong có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ đông con vừa là nguyên nhân vừa

là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo Năm 1998,

số con bình quân trên một phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức 2,1 con của nhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao ( tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với 0,37 của nhóm giàu nhất ) Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là do hộ không có kiến thức củng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe sinh sản Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp,

tỷ lệ nam giới nhận thức đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp tránh thai chưa cao Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh,an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế Tỷ lệ người ăn Theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẩn đến tình trạng nghèo đói của hộ

e) Nguy cơ dề bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rỉu

ro khác:

Các hộ gia đình nghèo rất dể bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày

và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng

Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bên, khả năng tích lũy kém nên họ khó

có khả năng chống chọi với những biến cố xãy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe…) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ

Trang 10

Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, do

họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó

và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạn hệp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi ro hơn nữa

Hàng năm số người phải cứu trợ đột xuất do thiên tai khoảng từ 1-1,2 triệu người Bình quân hàng năm, số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo vẫn còm lớn, do không ít số hộ đang sống bên ngưỡng đói nghèo và rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, mất việc làm, ốm đau… Các phân tích từ cuộc điều tra hộ gia đình 1992/1993 và 1997/1998 cho thấy các hộ gia đình phải chịu nhiều thiên tai có nguy cơ đễ lún sâu vào nghèo đói Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp giảm nhẹ hậu quả thiên tai được coi như là một phần quan trọng của quá trình xóa đói giảm nghèo

f) Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng

Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám, chữa bệnh, kể cả các chi phí trực tiếp và gián tiếp Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo Trong khi đó, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình y tế…) của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của họ Tình trạng sức khỏe ở Việt Nam trong thập kỷ qua đã được cải thiện song

tỷ lệ người mắc các bệnh thông thường vẫn còn khá cao Theo số liệu điều tra mức sống năm 1998, số ngày ốm bình quân của nhóm 20% người nghèo là 3,1

Trang 11

ngày/năm so với khoảng 2,4 ngày/năm của nhóm 20% giàu nhất Trong thời kỳ 1993-1997, tình trạng ốm đau của nhóm người giàu đã giảm 30%, trong khi tình trạng của nhóm người nghèo vẫn giữ nguyên Việc cải thiện điều kiện sức khỏa cho người nghèo là một trong những yếu tố rất cơ bản để họ tự thoát nghèo

Trang 12

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở PHƯỜNG MỸ LONG THÀNH PHỐ LONG XUYÊN HIỆN NAY 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội phường Mỹ Long:

Phường Mỹ Long thuộc khu trung tâm nội ô thành phố Long Xuyên Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, chính quyền cách mạng tình An giang đã đổi tên là phường Phước Mỹ trước kia là Mỹ Phước Đến tháng 6 năm 1977 được đổi tên là phường Mỹ Long

Địa giới hành chính phường Mỹ Long:

- Phía đông và nam giáp Sông Hậu

- Phía tây giáp phường Mỹ Bình

- Phía bắc giáp phường Mỹ Xuyên

Phường Mỹ Long là một trong những phường trung tâm của thành phố Long Xuyên Phường có diện tích tự nhhiên 123,27 ha, được chia thành 8 khóm với 121 tổ dân phố Cơ cấu chủ yếu là thương mại-dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp

Toàn phường có 4.806 hộ với 20.541 nhân khẩu (trong đó dân tộc Khơme chiếm 0,05% ; dân tộc Chăm chiếm 0,28%; dân tộc Hoa chiếm 78%)

Là phường ở vị trí trung tâm của thành phố cũng như của tỉnh nên kinh văn hóa, xã hội thời gian qua không ngừng phát triển Hoạt động thương mại-dịch vụ duy trì mức ổn định, giá cả hàng hóa, lương thực, thực phẩm…trong quí III có tăng so thời điểm 6 tháng đầu năm đã phần nào tác động đến sức mua trên thị trường; tình hình dịch bệnh heo tai xanh bùng phát nên mức tiêu thụ mặt hàng này giảm đáng kể

Trang 13

tế-Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2010 còn 0,81%; hộ đời sống khó khăn 72 hộ; hộ có thu nhập khó khăn 56 hộ theo điều tra mức hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011-2015 và được ban điều hành phường đề nghị công nhận

Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa 87,29%, 100% cơ quan đơn vị giữ vững danh hiệu văn hóa; 5/8 khóm giữ vững danh hiệu “khón văn hóa” (khóm 7 được đề nghị đạt khóm văn hóa 5 năm liền), 3/8 khóm giữ vững danh hiệu

Trang 14

Cuối năm 2009 toàn phường có 28 hộ (tỷ lệ 0,5%), 76 hộ cận nghèo (1,57%), 56 hộ đời sống khó khăn, 53 hộ thu nhập khó khăn; đến cuối tháng 9/2010 hộ nghèo giảm còn 22 hộ (tỷ lệ 0,45%)

Tuy nhiên, qua tổng hợp kết quả rà soát, xác định hộ nghèo, cận nghèo năm 2011 theo dự kiến chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 được tổ chức trong tháng 10/2010, ban điều hành phường đề nghị công nhận phân loại hộ theo dự kiến mức thu nhập như sau:

Số hộ nghèo theo chuẩn mới, đề nghị công nhận: 39 hộ (0,81%); số hộ cận nghèo đề nghị công nhận: 88 hộ (1,82%); số hộ có đời sống khó khăn: 72 hộ (1,49%); số hộ có thu nhập khó khăn: 56 hộ (1,16%) Trong số những hộ nghèo của phường thì có 07 hộ cao tuổi cao đơn, 11 hộ nuôi dưỡng 13 người tàn tật,

01 hộ nuôi 03 trẻ mồ côi

Trên cơ sở khảo sát hộ nghèo, cận nghèo chí thú làm ăn có nhu cầu vay vốn làm ăn, phường đã tạo điều kiện cho 138 lượt hộ vay vốn số tiền 1 tỷ 463 triệu đồng, với lãi suất ưu đãi 0,32% tháng

Đối với 76 hộ cận nghèo được hỗ trợ 193 thẻ bảo hiểm y tế, 283 trẻ dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định Có 222 tường hợp cán bộ hưu trí được cấp “thẻ bảo hiểm con người theo điều khoản kết hợp” Phát vay vốn đợt

II năm học 2009 - 2010 đối với 81 trường hợp học sinh sinh viên có nhu cầu vay vốn phục vụ học tập với số tiền 369.800.000đ và 4 trường hợp học sinh sinh viên vay mới số tiền 17.200.000đ

Cũng trong năm 2009, thông qua quỹ vì người nghèo, xã hội từ thiện, phường đã tiến hành cất, sửa 07 căn nhà đại đoàn kết, trong đó cất mới 05 căn trị giá 93.930.000đ, sủa chữa 02 căn trị giá 8.026.000đ cất và chữa 4 nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách với kinh phí hỗ trợ 55.450.000đ

Với sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả của phường, đến năm 2011 số hộ nghèo của phường còn 39 hộ (theo tiêu chí mới), chiếm tỷ lệ 0,66%

Trang 15

Cũng trong năm 2011 thông qua việc vận động quỹ “khuyến học” đã cấp

529 phần quà cho học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn tại 3 trường tiểu học và địa bàn 8 khóm gồm : 10.100 quyển tập, 300 cây viết, 200 cặp học sinh… tổng trị giá 47.270.000 đ và 74 suất học bổng trị giá 7.400.000 đ Ngoài công tác khám trị bệnh thường xuyên và thực hiện các chương trình y tế quốc gia, trạm y

tế phường phối hợp cùng câu lạc bộ Y- Bác sĩ trẻ Bệnh viện Đa Khoa An Giang

tổ chức khám bệnh siêu âm và cấp thuốc miễn phí cho 893 lượt người nhân các ngày lễ, tết với kinh phí 62.420.000 đ Trên cơ sở khảo sát hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn chí thú làm ăn có nhu cầu vay vốn sản xuất mua bán nhỏ cải thiện cuộc sống đã có 548 trường hợp được xét phát vay vốn, 281 học sinh sinh viên được vay vốn phục vụ hộc tập Số dư nợ hiện nay như sau: Hộ nghèo

1 tỷ 194 triệu Học sinh sinh viên 3 tỷ 0,09 triệu, vay học nghề 25 triệu, xuất khẩu lao động 110 triệu…Qua đối chiếu nợ các hộ sự dụng vốn đúng mục đích

và có hiệu quả

Về các chính sách hỗ trợ khác: có 23 trường hợp người già neo đơn, tàn tật, trẻ mồ côi và 318 cụ 80 tuổi trở lên hưởng theo trợ cấp quy định Sổ hộ nghèo, cận nghèo và người cao tuổi điều được cấp thẻ bảo hiểm y tế có: Có 98 trường hợp là con em hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn được lập danh sách phòng Lao động thương binh xã hội thành phố để được chính sách miễn giảm học phí trong năm hộc mới

Toàn phường hiện có 68 trẻ có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; có 02 trường hợp được giới thiệu, hỗ trợ đi mổ tim, phầu thuật mắt tại TP.HCM, 03 trẻ khuyết tật được phẩu thuật chỉnh hình tại Cần thơ, hiện các cháu đã ổn định: có

163 trẻ dưới 6 tuổi được cấp bảo hiểm y tế: tổ gia đình - trẻ em phường kế hợp các nghành, đoàn thể và 8 khóm tổ chức thực hiện mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em hàng năm” Duy trì sinh hoạt định kỳ câu lạc bộ “Gia đình phát bền vững” tại khóm 3 và nhóm “Phòng chống bạo lực gia đình” tại khóm phó

Trang 16

Quế Trong năm có xãy ra 07 vụ bạo lực gia đình tại khóm 6, khóm 7 và khóm phó Quế và đã cho làm cam kết, giáo dục tại địa phương

Đến tháng 10/2012, căn cứ kết quả điều tra hộ nghèo và hộ cận nghèo phường có 08 hộ thoát nghèo, phát sinh 02 hộ nghèo mới - số hộ nghèo giảm còn 26 hộ “tỷ lệ 0,54%”

Bảng tổng hợp hộ nghèo phường Mỹ Long giai đoạn 2010 - 2012

Sở dĩ trong năm 2011 và 2012 số hộ nghèo từng năm có phát sinh là

do trong hộ có người mang những chứng bệnh nan y, nên phải điều trị lâu dài tốn rất nhiều tiền của và nhân lực, cuối cùng không còn khả năng về tài chính rơi vào mức thu nhập của chuẩn nghèo Những hộ nầy rất cần đến sự quan tâm của các cấp chính quyền, nhất là sự quan tâm của chính quyền địa phương

Trang 17

lên vượt qua khó khăn để không còn sống trong vòng lẩn quẩn của sự nghèo khó

- Tình hình kinh tế - xã hội của phường thời gian qua không ngừng khởi sắc, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo cơ hội việc làm

và thu nhập cho người dân Cấp ủy, chính quyền địa phương quyết tâm lãnh chỉ đạo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, thực hiện đúng theo chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị

- Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, đại đa số hộ nghèo ngày càng ý thức sâu sắc trách nhiệm của họ trong việc phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, biết chí thú làm ăn, tranh thủ sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng để vươn lên thoát nghèo

Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo luôn thể hiện sự quan tâm và tinh thần trách nhiệm cao, trong việc thực hiện nhiện vụ Đã tạo được lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày một nâng cao Thông qua đó chương trình xóa đói giảm nghèo đã mang lại hiệu quả thiết thực

- Xét đối tượng cho vay vốn và mục đích nhu cầu vay vốn tạo sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường như chăn nuôi, mua bán nhỏ, sửa chữa nhỏ… Từ đó hiệu quả thực hiện các dự án được nâng cao

- Các tổ chức đoàn thể phát huy tốt vai trò của mình, từ đó đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền cả chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo được sự chuyển bbie61n về nhận thức trong nội bộ nhân dân, nên được sự đồng tỉnh ủng hộ của nhân dân, góp phần thiết thực và phong trào xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm ở địa phương

- So với các địa phương khác thì số hộ nghèo của phường tương đối ít, do

đó có điều kiện tập trung nguồn lực để chăm lo cho hộ nghèo tốt hơn, tạo cơ hội

Ngày đăng: 17/07/2015, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1/ Đảng Cộng sản Việt Nam - Báo cáo chính trị Đại hội VIII, IX, X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội VIII, IX, X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
2/ Đảng Cộng sản Việt Nam - Báo cáo chính trị Đại hội XI, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
4/ Tỉnh Ủy An Giang - Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII
Tác giả: Tỉnh Ủy An Giang
Năm: 2005
6/ Quyết định số 3441/2005/QĐ-UBND tỉnh An Giang ngày 23/12/2005 về ban hành kết hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3441/2005/QĐ-UBND tỉnh An Giang
Năm: 2005
15/ Kế hoạch số: 45/KH-LĐTBXH-BTXH ngày 21/02/2013 của Sở lao động- Thương binh & xã hội về Thực hiện công tác giảm nghèo bền vững tỉnh An Giang năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số: 45/KH-LĐTBXH-BTXH
Nhà XB: Sở lao động- Thương binh & xã hội
Năm: 2013
3/ Quyết định số 20/2007/QĐ - TTg ngày 05/02/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 Khác
5/ Tỉnh Ủy An Giang - Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, 2010 Khác
7/ Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 Khác
8/ Đảng Ủy phường Mỹ Long - Báo cáo chính trị Ban chấp hành Đảng bộ phường nhiệm kỳ 2010-2015 Khác
9/ UBND phường Mỹ Long - Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội năm 2011 và phương hướng nhiện vụ năm 2012 Khác
10/ UBND phường Mỹ Long - Báo cáo kết quả công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 Khác
11/ Quyết định số: 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 Khác
12/ Quyết định số: 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Tín dụng đối với hộ cận nghèo Khác
13/ Quyết định số: 107/QĐ-UBND ngày 21/01/2013 của UBND tỉnh An Giang về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tỉnh An Giang giai đoạn 2013-2015 Khác
14/ Quyết định số: 404/QĐ-UBND ngày 04/03/2013 của UBND tỉnh An Giang Phê duyệt Kế hoạch giảm nghèo bền vững năm 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp hộ nghèo phường Mỹ Long giai đoạn 2010 - 2012 - Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Long, TP.Long Xuyên đến năm 2015
Bảng t ổng hợp hộ nghèo phường Mỹ Long giai đoạn 2010 - 2012 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w