Giảm đói nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển.. Thực hiện đổi m
Trang 1MỞ ĐẦU
Khi nói đến những thảm họa khốc liệt người ta thường nghĩ ngay đến "thiên tai, địch họa" Nhưng có lẽ không có một cuộc chiến tranh tàn khốc, một thảm họa thiên nhiên dữ dội nào lại gây ra cho con người một nỗi đau dai dẳng, một sự tàn phá
to lớn như nạn nghèo khổ đang diễn ra một cách thầm lặng trên thế giới
Có thể nói, nghèo đói đã diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói đang là một vấn
đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay tụt hậu của một quốc gia
Ngay từ khi Việt Nam giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo như là một thứ “giặc”, cũng như giặc dốt, giặc ngoại xâm, nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân lao dộng thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, ấm no và đời sống hạnh phúc
Giảm đói nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển
Thực hiện đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh gắn liền với thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, vấn đề đặt ra cho cả nước là sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị ngày một xa hơn, từ đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để giải quyết những vấn đề do kinh tế thị trường tạo ra, trong đó có chủ trương xây dựng nông thôn mới, chính sách an sinh xã hội và đặc biệt trú trọng đến việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo
Trang 2Thực hiện chủ trương giảm nghèo của cả nước, Tỉnh ủy An Giang và Thành ủy Long Xuyên đã ban hành Nghị quyết về xóa đói, giảm nghèo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban mặt trận tổ quốc phường Mỹ Phước đã cụ thể hóa thành chương trình hành động thiết thực nhằm đẩy mạnh công tác xóa đói nghèo ở cơ
sở, hướng tới mục tiêu như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong muốn “Ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
Xuất phát từ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và tình hình thực tế ở
địa phương hiện nay, tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói
giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, TP Long Xuyên đến năm 2015”, làm đề tài tốt
nghiệp Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là góp một phần kiến thức đã học, cùng phường xem xét, đánh giá lại một cách có hệ thống về thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương thời gian qua, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp khả thi cùng Đảng ủy, Ủy ban nhân dân phường nâng cao hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo
Với mục tiêu nêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lỳ luận cơ bản về công tác xóa đói giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Phước từ năm 2007-2012
Chương 3: Mục tiêu, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo
ở Phường Mỹ Phước từ nay đến năm 2015
Trang 3CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1 Quan niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo hay (XĐGN) chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Nói một cách khác, giảm nghèo là một quá trình chuyển một
bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn
Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn
sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người
Nói giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xóa đói và cũng giống như khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối Bởi nghèo có thể tái sinh, hoặc khi khái niệm nghèo và chuẩn nghèo thay đổi Do đó, việc đánh giá mức độ giảm nghèo phải được đánh giá trong một thời gian, không gian nhất định
Giảm nghèo là một phạm trù cũng chỉ mang tính lịch sử, do đó chỉ có thể từng bước giảm nghèo, chứ chưa thể xóa sạch được nghèo Chỉ khi nào xã hội loài người đạt tới trình độ xã hội cộng sản như chủ nghĩa Mác - Lênin dự đoán thì hiện tượng nghèo sẽ không còn nữa và giảm nghèo cũng không cần
Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau:
Nếu hiểu nghèo là dạng đình đốn của phương thức sản xuất đã bị lạc hậu song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo chính là quá trình chuyển đổi sang phương thức mới tiến bộ hơn
Trang 4Nếu hiểu nghèo là do phân phối thặng dư trong xã hội một cách bất công đối với người lao động, do chế độ sở hữu TBCN thì giảm nghèo chính là quá trình xóa bỏ chế độ sở hữu và chế độ phân phối này
Nếu hiểu nghèo là hậu quả của tình trạng chủ nghĩa thực dân đế quốc kìm hãm
sự phát triển ở các nước thuộc địa, phụ thuộc thì giảm nghèo là quá trình các nước thuộc địa, phụ thuộc giành lấy độc lập dân tộc để trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội
Nếu hiểu nghèo là do sự bùng nổ gia tăng dân số vượt quá tốc độ phát triển kinh tế thì phải tìm mọi cách để giảm gia tăng dân số lại, tất nhiên không phải bằng cách của Malthus đã làm
Còn nếu hiểu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng hoặc rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế thì giảm nghèo chính là tạo việc làm, tạo xã hội ổn định và phát triển
Ở nước ta hiện nay nghèo đói không phải là do bóc lột của giai cấp tư sản và địa chủ đối với lao động như trước đây mà do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế phát triển hiện đại Trong nền kinh tế này tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau Có trình độ sản xuất cũ, lạc hậu vẫn còn trong khi đó trình độ sản xuất mới, tiên tiến lại chưa đóng vai trò chủ đạo, thay thế các trình độ sản xuất cũ Do đó dẫn đến có sự giàu nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư
Như vậy, giảm nghèo (XĐGN) ở nước ta chính là từng bước thực hiện quá
trình chuyển đổi các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn
Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo (XĐGN) là quá trình tạo điều kiện giúp
đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn hơn giúp họ từng bước thoát ra khỏi tình trạng nghèo
Trang 5Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo Ngược lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững Tuy nhiên trong mối quan hệ này thì giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu tố tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế chịu tác động của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, cạnh tranh, lợi nhuận, năng suất lao động… thì giảm nghèo lại chịu tác động quy luật phân hóa giàu nghèo, vấn đề phân phối và thu nhập, vấn đề lao động và việc làm, các chính sách xã hội… Trong quá trình vận động các yếu tố, các quy luật tác động lên tăng trưởng kinh tế
và giảm nghèo theo nhiều chiều hướng, có khi trái ngược nhau Do vậy, để đảm bảo được tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đòi hỏi Nhà nước có sự can thiệp sao cho sự tác động của các quy luật có hướng đồng thuận Đây là vấn đề không hề đơn giản và không phải quốc gia nào cũng làm được trong quá trình phát triển
1.2 Nguên nhân của đói nghèo”
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch sử để lại, vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải Nó đụng chạm trực tiếp đến cuộc sống của con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng xã hội Mỗi quốc gia, ở các mức độ phát triển khác nhau, đều phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo để vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằm tới sự phồn thịnh về kinh tế
và từng bước đạt tới công bằng xã hội
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu trung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất
Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất đai, khoa học công nghệ song tất cả những thứ đó người nghèo đều không có hoặc rất hạn chế
Trang 6về khả năng tiếp cận Một số người trong số họ có thể có sức lao động, nhưng họ sẽ không thể biến sức lao động đó thành nguồn lực, nếu không tiếp cận được với các nguồn lực khác như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, tức là họ không có việc làm
Một trong những nguồn lực nữa cần được chú ý hiện nay là vấn đề tín dụng Trong thực tế, xét về nhu cầu vốn, thì hầu hết số hộ đói nghèo ở nông thôn đều cần vốn Do thiếu nguồn vốn đủ lớn nên không tiếp cận được với công nghệ hiện đại, do
đó không tăng được năng suất lao động, đặc biệt là thiếu vốn để mở mang ngành nghề cũng như mở mang chăn nuôi, vì vậy họ khó có thể thoát khỏi đói nghèo trong khi tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai lại đang bị thu hẹp dần Do tất cả những nguyên nhân
đó mà thu nhập của người lao động ở nông thôn trở nên quá thấp, phần lớn không có tích lũy
Thứ hai, do dân số tăng nhan
Hiện các nước đang phát triển đang đóng góp lớn nhất vào phần tăng thêm của dân số thế giới Dân số tăng nhanh dẫn đến thu nhập bình quân đầu người giảm, đồng thời tạo ra áp lực rất gay gắt về việc làm và làm nhức nhối những vấn đề xã hội Nghèo đói ở các nước công nghiệp phát triển chủ yếu do thất nghiệp gây ra Còn nghèo đói ở các nước đang phát triển do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trực tiếp là dân số tăng nhanh Trên thế giới không có nơi đâu có tỷ lệ tăng dân
số cao mà vẫn giảm được tỷ lệ nghèo đói Do đó, các nước đang phát triển chỉ có thể giảm nghèo đói bằng cách giảm tỷ lệ sinh
Rơnê Đuy Mông trong "Một thế giới không thể chấp nhận được" đã cảnh báo các nước đang phát triển về sự bùng nổ dân số, về sự luẩn quẩn giữa đói nghèo - lạc hậu - dân số tăng nhanh Theo ông thì: Chính nhà nước phải có trách nhiệm đối với cộng đồng là đánh giá tài nguyên của mình về đất, nước, rừng, về khoáng sản, về khoảng không gian còn rỗi rãi, những hy vọng tiến bộ thật sự và từ đó định ra những
tỷ lệ hợp lý về tăng số dân để bảo đảm cho mỗi người một cuộc sống kha khá hơn là
để một ngày nào đó lại phải dùng những biện pháp cưỡng bức
Trang 7Thứ ba, do trình độ giáo dục thấp
Số dân đông, lại nghèo đói, do đó ngân sách chi cho giáo dục và y tế thấp đó là lôgíc vận động của hiện thực Khi mức chi cho giáo dục và y tế thấp cộng thêm thu nhập thấp tại các nước nghèo thì chỉ số phát triển nhân lực luôn ở cuối bảng xếp hạng của UNDP Cố nhiên, những tiêu thức về lượng không thể phản ánh đầy đủ cả về chất của
sự vật, song trên giác độ của vấn đề nghèo, đói thì lượng lại phản ánh đúng bản chất của vấn đề Vì ở các nước này luôn diễn ra tình trạng thiếu các chuyên gia đầu ngành, thiếu lao động lành nghề có kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ lạc hậu, do đó sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp và cứ như vậy cái vòng luẩn quẩn của đói, nghèo sẽ kìm hãm sự mở rộng phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và do đó kìm hãm sự phát triển kinh
tế, tiến bộ xã hội Do đó, tạo ra được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao là mục tiêu quan trọng của các nước nghèo
Thứ tư, do viện trợ không đến tay người nghèo và sử dụng không đúng mục đích
Trong thực tế, hiện nay có nhiều khoản viện trợ cho phát triển mà chủ yếu là đầu tư phát triển nhân lực đã không đến được tay người nghèo Một phần bị rơi rụng dần và phần còn lại rất lớn lại được sử dụng không đúng mục đích, nên hiệu quả của những nguồn viện trợ rất thấp
Qua những nguyên nhân gây nên đói nghèo ở các nước đang phát triển vừa nêu, ta thấy nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân kinh tế
Do đó, việc xóa đói ở đây trước hết được hiểu như là sự hỗ trợ phát triển của nhà nước và cộng đồng để nâng cao đời sống dân cư, xóa bỏ tình trạng còn tồn tại các
hộ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu như cơm không đủ ăn, áo không
đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở bằng tranh tre vách đất, nhằm duy trì cuộc sống bình thường Từ đó giúp họ vượt qua tình trạng đói khổ triền miên để đi tới sự phát triển
Trang 8Giảm nghèo tức là tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo tiếp cận được với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống làm cho mức sống chung của toàn bộ cộng đồng được nâng lên
Giảm nghèo còn được hiểu là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng và sự nỗ lực vươn lên của bản thân các hộ nghèo ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng người nghèo có ít sự lựa chọn sang tình trạng có nhiều sự lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người
Như vậy, có thể nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đó họ có nhiều sự lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói
XĐGN còn gắn với trung lưu hóa một bộ phận dân cư, khuyến khích và tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư biết vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật cho phép
Kinh tế thị trường mở ra nhiều khả năng và cơ hội cho con người phát triển đồng thời cũng phơi bày những yếu kém bất cập của con người trong sản xuất - kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường xóa đói, giảm nghèo luôn gắn liền với khuyến khích một bộ phận dân cư có điều kiện, khả năng vươn lên làm giàu chính đáng Đó cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu ngăn cản hiện tượng nghèo tái sinh Những người vừa thoát nghèo rất có khả năng bị rơi vào nghèo đói trở lại khi những giải pháp giảm nghèo không bền vững hoặc chỉ có tác dụng trong ngắn hạn
Trang 9CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở PHƯỜNG MỸ PHƯỚC TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2012
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội phường Mỹ Phước:
a) Đặc điểm tự nhiên:
Mỹ Phước là phường nội ô Thành phố Long Xuyên, theo hướng Long Xuyên – Thành phố Cần Thơ Bắc giáp phường Mỹ Long, Mỹ Xuyên, Đông Xuyên, nam giáp phường Mỹ Quý, đông giáp xã Hòa Bình, tây giáp xã Mỹ Hòa
Diện tích tự nhiên là 430 ha Trong đó, đất trồng lúa là 72 ha, thuộc 2 khóm Đông Thịnh 8 và Đông Thịnh 9; có kênh rạch đảm bảo nước tưới tiêu cho sản xuất; năng suất bình quân 5,7 tấn/ha
Phường Mỹ Phước có 30.943 nhân khẩu với 7.456 hộ chia thành 10 khóm gồm: Khóm Đông Thịnh 1, Khóm Đông Thịnh 2, Khóm Đông Thịnh 3, Khóm Đông Thịnh
4, Khóm Đông Thịnh 5, Khóm Đông Thịnh 6, Khóm Đông Thịnh 7, Khóm Đông Thịnh 8, Khóm Đông Thịnh 9 và Khóm Mỹ Lộc Có 02 Khu dân cư Xẽo Chanh, Xẽo Trôm và làng ghe ven sông Hậu với 377 hộ
b) Đặc điểm về kinh tế - xã hội:
- Kinh tế phường Mỹ Phước có cơ cấu Thương mại – dịch vụ, Tiểu thủ công
nghiệp và Nông nghiệp Về Thương mại – dịch vụ : với 1.524 cơ sở, chủ yếu là mua
bán vật liệu xây dựng, bách hóa, ăn uống, mua bán lẻ, nhà trọ, ; Tiểu thủ công nghiệp: với 213 cơ sở sản xuất chì chày, làm len, dụng cụ nông nghiệp, chân vịt nhôm, mộc gia dụng
- Kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội:
+ Đường giao thông : 21.536 km Trong đó, có 19.780 km đã được láng nhựa,
bê tông xi măng, tỉ lệ 91,8 %
+ Có Đài truyền thanh, với hơn 18km dường dây, 25 loa phát
Trang 10+ Có trạm y tế;
+ Trường học: 01 trường THCS; 2 trường tiểu học và 1 trường Mẫu giáo;
+ Chợ Mỹ Phước, chợ Xẽo Trôm
Hiện nay trên địa bàn phường Mỹ Phước có 208 hộ nghèo (chiếm 2,78 %); 262
hộ cận nghèo (chiếm 3,50 %); 197 hộ khó khăn (chiếm 2.64 %) Phường Mỹ Phước
có làng ghe ven sông Hậu và 02 Khu dân cư Xẽo Trôm và Xẽo Chanh, đa số là những
hộ nghèo bị giải toả từ địa phương khác về nên cuộc sống người dân về nơi ở mới vẫn còn nghèo, những hộ sống ở làng ghe ven sông Hậu phần lớm là Việt kiều Campuchia
về Việt Nam sống nên họ không có nghề nghiệp ổn định mà chủ yếu là mua bán nhỏ, làm thuê, đưa đò, bóc vác cho đầu mối chợ Long Xuyên Sống lênh đênh trên sông nước càng khó khăm hơn khi gặp mưa giông, lũ lụt tràn về hàng năm
2.2 Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở phường Mỹ Phước từ năm
2007 đến năm 2012:
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân:
a) Kết quả:
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác xóa đói
giảm nghèo, căn cứ vào đặc điểm kinh tế - xã hội của phường Mỹ Phuớc, Nghị quyết
Đảng ủy phường Mỹ Phước lần thứ XIII xác định: Giới thiệu việc làm cho 700 lao động/năm Giảm tỷ lệ hộ nghèo vào cuối nhiệm kỳ còn 0,5% (theo chuẩn nghèo mới) Thực hiện hoàn thành 98% chương trình y tế quốc gia; duy trì nâng chất chuẩn quốc gia về y tế, hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,08%; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến cuối nhiệm kỳ còn 16% (Văn kiện ĐH Đảng bộ phường Mỹ Phuớc lần thứ XIII, trang 2)
Quán triệt mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, công tác xóa đói giảm nghèo ở phường
Mỹ Phước những năm qua đạt được những kết quả khá toàn diện:
- Về chỉ đạo tổ chức thực hiện:
Trang 11Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3,12 triệu
đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Thực hiện chỉ thị số 25/1998/CT.UB, ngày 01/7/1998 và đề án 31 của UBND tỉnh An Giang về công tác XĐGN, trong những năm qua phường Mỹ Phước đã nổ lực triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2007 -
2012 của địa phương, do đó đã tác động tích cực đến nhu cầu cải thiện cuộc sống, vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân nói chung và người nghèo nói riêng Nhìn chung trong thời gian qua các hộ nghèo đều được vay vốn kinh doanh, một bộ phận
chí thú làm ăn đã vươn lên thoát nghèo bền vững, từng bước ổn định cuộc sống
Thực hiện theo chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo của Thành phố Long Xuyên giai đoạn 2011 – 2015 và kế hoạch số 69/KH.UBND của ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên về việc điều tra rà soát hộ nghèo, năm 2012 địa phương
có 208 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 2,78%, hộ cận nghèo 262, chiếm tỷ lệ 3,50%
- Về công tác tuyên truyền vận động:
Đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân lao động đặc biệt là các hộ nghèo về ý thức tiết kiệm, học tập lao động sản xuất, tìm kiếm việc làm thích hợp để tự vươn lên thoát nghèo Có tinh thần tương thân tương ái, sống có trách nhiệm với cộng đồng, quan tâm chăm sóc nuôi dạy con cái, kế hoạch
hóa gia đình và tự lực vượt khó vươn lên thoát nghèo
Tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân trên địa bàn từng khóm thông qua việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư”, “Xây dựng khóm văn hóa, gia đình văn hóa”, các buổi tọa đàm, tư vấn, họp theo cụm liên tổ dân phố, tạo ý thức trong cộng đồng dân cư hiểu được “đói nghèo” là gánh nặng của xã hội từ đó cùng nhau tham gia XĐGN bằng nhiều hình thức Thông
Trang 12qua những việc làm thiết thực có hiệu quả các chương trình, chỉ thị, nghị quyết về XĐGN thông qua việc vận động, thuyết phục từng hộ nghèo đồng thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng nhân dân và hướng dẫn họ cách làm ăn, buôn bán, giới thiệu việc làm…
để họ ý thức được trách nhiệm của mình đối với chính bản thân họ, đối với gia đình
và xã hội từ đó tự lực vươn lên thoát nghèo Và việc triển khai thực hiện cũng đạt
được một số thành tựu thể hiện ở bảng số 1 như sau:
Bảng số 1: Kết quả 6 năm thực hiện ( 2007 – 2012 )
Nguồn: Ban XĐGN phường
- Chính sách hỗ trợ về tín dụng, giới thiệu việc làm:
Hỗ trợ vốn là một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện tốt chương trình XĐGN Trong những năm qua dự án tín dụng đã đầu tư cho hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh gắn với các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác ở địa phương, thông qua nhiều nguồn vốn và hình thức cho vay đa dạng như: trả góp theo định kỳ tuần, tháng, chu kỳ vay ngắn hạn hoặc dài hạn để làm ăn hoặc mua bán nhỏ,
góp phần giúp hộ nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo
Ngân hàng chính sách xã hội đã ký kết hợp đồng ủy thác cho vay vốn thu nợ với Hội Phụ nữ, Nông Dân và Hội Cựu chiến binh Công tác ủy thác phát vay và thu
hộ dân
Số hộ nghèo
Tỷ lệ (%)
Hộ thoát nghèo
Hộ nghèo phát sinh
Trang 13nợ đã được các Hội thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả, trong 6 năm qua phường Mỹ Phước đã xét và giải quyết cho vay: 714 hộ nghèo; 365 trường hợp học sinh, sinh
viên; giới thiệu việc làm 4383 trường hợp; cụ thể, thể hiện ở bảng số 2 như sau:
Bảng số 2: Hỗ trợ về tín dụng, giới thiệu việc làm ( 2007 – 2012)
Trườn
g hợp
Số tiền (đồng)
Thực hiện
Chỉ tiêu
Đạt (%) Năm
( Nguồn: Ban XĐGN và bộ phận Thương binh xã hội phường)
Nhìn chung, dự án tín dụng cho người nghèo ngày càng được quan tâm và củng
cố, Đảng ủy - UBND phường chỉ đạo phân công cán bộ phường phối hợp với khóm tham gia quản lý chặt chẽ, đảm bảo đồng vốn đến tận tay người nghèo, khắc phục tình trạng cho vay tràn lan làm mất vốn Với cách làm chặt chẽ, thiết thực, phù hợp điều kiện của hộ vay và một phần cũng do nổ lực của các hộ nghèo chí thú làm ăn nên đa
Trang 14số hộ nghèo đều làm ăn có hiệu quả, tích lũy được vốn hoặc mua sắm các phương tiện phục vụ sinh hoạt và vươn lên thoát nghèo một cách bền vững
- Giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, dạy nghề cho người lao động:
Vận động đi xuất khẩu lao động: trong 6 năm qua địa phương đã vận động được 32 lao động đi làm việc ở Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật…đồng thời xét
đề nghị Ngân hàng chính sách xã hội và Ban quản lý vốn xóa đói giảm nghèo cho lao động
Vay vốn với tổng số tiền 1.329.300.000đ / 82 lao động cụ thể:
+ Năm 2007: 285.100.000đ / 14 lđ + Năm 2008: 310.100.000đ / 19 lđ + Năm 2009: 193.100.000đ / 12 lđ + Năm 2010: 281.000.000đ / 14 lđ + Năm 2011: 81.000.000đ / 10 lđ + Năm 2012: 179.000.000đ / 13 lđ
Dạy nghề: 1407 học viên:
+ Năm 2007: 162học viên / 250 học viên, đạt 64,8 % + Năm 2008: 159 học viên / 250 học viên, đạt 63,6 % + Năm 2009: 243 học viên / 300 học viên, đạt 81 % + Năm 2010: 315 học viên / 300 học viên, đạt 105 %
+ Năm 2011: 455 học viên / 350 học viên, đạt 127%
+ Năm 2012: 405 học viên / 350 học viên, đạt 116 %
- Chính sách bảo trợ xã hội:
Cùng với công tác XĐGN, trong 6 năm qua phường còn thực hiện tốt các chính sách bảo trợ xã hội thường xuyên cho những đối tượng khó khăn ở cộng đồng như người cao tuổi, người già neo đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi, vận động các mạnh thường quân chăm lo cho hộ nghèo trong dịp tết Nguyên đán, tặng quà cho thiếu nhi nghèo nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, tết Trung thu, các trường hợp ốm đau, tang
Trang 15chế, cất nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, mái ấm tình thương, với tổng số tiền là
2.751.256.000đ giúp đỡ cho 12.985 trường hợp
- Chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình
(DS-KHHGĐ):
Thực hiện tốt việc tuyên truyền trong nhân dân về các chương trình y tế quốc gia nhằm nâng cao nhận thức giữ gìn vệ sinh môi trường, không để xảy ra dịch bệnh lớn tại cộng đồng từng bước làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đối với các bệnh
nguy hiểm
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là người nghèo ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng Mặt trận cùng ban, ngành, đoàn thể hàng năm đều vận động các mạnh thường quân hỗ trợ tổ chức khám chữa bệnh, cấp thuốc
miễn phí cho hộ chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn
Cơ sở vật chất của Trạm y tế thường xuyên được bổ sung trang thiết bị, vật chất, nâng cấp khang trang bên cạnh đó không ngừng nâng cao chất lượng điều trị, đạo đức nghề nghiệp người thầy thuốc Việt Nam Mỗi năm bình quân khám, chữa
bệnh gần 50.754 ngàn lượt người Được công nhận chuẩn quốc gia về y tế
Công tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện đúng định kỳ vào 02 ngày 24-25
hàng tháng
Hội phụ nữ kết hợp cùng Ban dân số - gia đình trẻ em thường xuyên hướng dẫn cho các bà mẹ cách nuôi con khỏe, dạy con ngoan, cách phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ Tổ chức nhiều buổi nấu ăn phục hồi dinh dưỡng cho trẻ em nghèo tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng 14,36% ( nghị quyết 16%), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,08% ( nghị
quyết 1,08%)
Công tác DS-KHHGĐ được Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm chỉ đạo
vì đây là yếu tố quan trọng để góp phần thực hiện công tác XĐGN có hiệu quả Mỗi
năm đều tổ chức các đợt chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền vận động, lồng ghép
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản / KHHGĐ” Huy động sự tham gia của