1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng án treo trong xét xử các vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên – Thực trạng và giải pháp

27 689 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 482,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới

Trang 1

1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong Luật hình sự Việt Nam, án treo là một chế định vô cùng quan trọng, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, mang tính giáo dục cao, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, góp phần đấu tranh phòng chống

và trừng trị tội phạm một cách tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Áp dụng chế định án treo một cách đúng đắn sẽ góp phần vào việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính nhân văn, khoan hồng của pháp luật, trừng trị tội phạm nhưng đồng thời tạo điều kiện cho người phạm tội hòa nhập cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm trở thành người có ích cho xã hội Ngược lại, nếu áp dụng chế định án treo sai, áp dụng một cách tùy tiện, không

có cơ sở pháp luật thì chế định án treo mất đi ý nghĩa của nó, không góp phần vào đấu tranh phòng chống tội phạm, không khuyến khích và tạo điều kiện cho người phạm tội hòa nhập vào cuộc sống Áp dụng án treo sai sẽ làm mất đi ý nghĩa trừng trị và giáo dục người phạm tội

Chế định án treo đã được Luật hình sự qui định từ lâu, nhưng trong thực tiễn

áp dụng thì luôn có nhiều điều bất cập Ở các Tòa án khác nhau và ở mỗi thẩm phán khác nhau, việc áp dụng án treo còn nhiều khác biệt Có không ít trường hợp,

do không hiểu cặn kẽ về án treo nên hội đồng xét xử áp dụng không đúng và cho người hưởng án treo một cách tùy tiện và không ít trường hợp lợi dụng qui định của pháp luật về án treo để vi phạm pháp luật Cũng có những trường hợp đáng cho hưởng án treo nhưng hội đồng xét xử không áp dụng

Vì vậy, việc hiểu qui định của pháp luật về án treo cho đúng và việc áp dụng

án treo vào thực tiễn xét xử như thế nào cho chính xác luôn là vấn đề thời sự và cần thiết Chính lý do trên, tôi chọn đề tài:

“Áp dụng án treo trong xét xử các vụ án hình sự

ở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên – Thực trạng và giải pháp”

làm tiểu luận cuối khóa cho lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính

Trang 2

2

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁN TREO 1.1 Khái quát chung về án treo

Án treo trong luật hình sự Việt Nam đã có từ rất lâu, qua nhiều lần thảo luận

ở nhiều thời điểm khác nhau, có nhiều ý kiến đề nghị bỏ qui định này vì nó không khác mấy so với hình thức cải tạo không giam giữ, nhưng cuối cùng qui định về án treo cũng được giữ lại và ghi nhận trong Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây viết tắt BLHS)

Trong hệ thống pháp luật hình sự nước ta từ năm 1945 đến nay, chưa có một định nghĩa cụ thể về án treo Trong những thời điểm cụ thể, định nghĩa về án treo được qui định trong những văn bản dưới luật, trong các văn bản hướng dẫn thi hành Theo Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao, hướng dẫn xét xử trong việc áp dụng các qui định trong phần chung của BLHS năm 1985, thì án treo được coi là “một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”

Trang 3

3

3 Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này

4 Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách

5 Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”

Từ những qui định trên, dưới góc độ pháp luật ta có thể định nghĩa án treo như sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, kèm theo một thời gian thử thách nhất định, được áp dụng đối với người bị xử phạt hình phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội

1.1.2 Án treo nhìn từ góc độ văn hóa: án treo là một nét đẹp trong cách ứng

xử Đó là sự tha thứ, nhưng có điều kiện Nó thể hiện tính nhân đạo, nhân văn trong cách cư xử, trừng trị cái ác nhưng cũng biết tha thứ nếu họ thấy được lỗi lầm

và biết ăn năn hối cải Án treo thể hiện tính bao dung cao quí cả người Việt Nam, sẵn sàng dang rộng tay dìu dắt người lầm lỗi để hướng họ trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội

1.1.3 Án treo nhìn từ góc độ kinh tế: Án treo là biện pháp đem lại hiệu quả

kinh tế cao vì nhà nước không phải tốn khoản kinh phí cho việc giam giữ người phạm tội và người phạm tội được ở ngoài xã hội sẽ có khả năng lao động để tạo ra của cải vật chất

1.1.4 Án treo nhìn từ góc độ xã hội: Án treo thể hiện tính tích cực nhiều

hơn tiêu cực Người phạm tội được cho hưởng án treo, đa số đều có những hành vi

xử sự đúng pháp luật và mang tính đạo đức trong thời gian thử thách, điều đó góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Cho người phạm tội hưởng án treo, nhà nước sẽ không giải quyết một số chính sách xã hội kèm theo như: ai sẽ chăm

Trang 4

4

sóc con chưa thành niên của người phạm tội, giải quyết việc làm khi người phạm tội chấp hành án xong,

1.2 Quan điểm của Đảng về thi hành pháp luật hình sự

Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày

02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Công

cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả Nhận thức và sự quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đối với công tác tư pháp liên quan đến thi hành án hình

sự, Đảng ta xác định tiếp tục cải cách tư pháp theo các hướng như: Kiện toàn các

tổ chức thi hành án, bảo đảm thi hành đầy đủ, nhanh chóng các bản án và quyết định của Toà án; chấn chỉnh các trại giam để giáo dục, cải tạo tốt phạm nhân; Chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản lý tập trung thống nhất công tác thi hành án; Nghiên cứu việc thành lập cảnh sát tư pháp để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên toà, phục vụ công tác thi hành án, dẫn giải bị can, bị cáo, quản lý các trại giam…

1.3 Những qui định của pháp luật về án treo

Cho đến giai đoạn hiện nay, hầu như chế định về án treo chỉ được qui định tại Điều 60 BLHS và ở các văn bản dưới luật cụ thể Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt và Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ qui định về thi hành án treo Để hiểu rõ hơn những qui định của pháp luật liên quan đến chế định án treo, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số nội dung cơ bản của pháp luật về án treo:

Trang 5

5

1.3.1 Bản chất pháp lý của chế định án treo

Từ những qui định của pháp luật về án treo, qua định nghĩa về án treo, chúng ta có thể hiểu được bản chất pháp lý của án treo Bản chất này có thể tóm gọn như sau: án treo là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện trong việc Tòa án miễn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội đã được tuyên trong bản án với mức hình phạt tù có thời hạn không quá 03 năm và ấn định thời gian thử thách từ 01 đến 05 năm đối với người phạm tội khi có đầy đủ căn cứ và điều kiện do pháp luật hình sự qui định

1.3.2 Những điều kiện để áp dụng án treo

Việc áp dụng án treo và thực tế xét xử phải được Tòa án cân nhắc một cách

kỹ lưỡng, tuân thủ nghiêm chỉnh vào các qui định trong luật hình sự, không được

áp dụng tùy tiện theo cảm tính chủ quan Muốn áp dụng chế định án treo thì phải căn cứ vào qui định tại Điều 60 BLHS Chỉ khi nào có những căn cứ được qui định tại Điều 60, đồng thời cân nhắc vào từng thời điểm đấu tranh phòng chống tội phạm, yêu cầu chính trị tại địa phương, mà áp dụng chế định án treo cho chính xác

Theo qui định tại Khoản 1 Điều 60 BLHS thì muốn áp dụng án treo phải có các điều kiện sau:

1.3.2.1 Điều kiện về hình phạt

Người bị kết án chỉ có thể được hưởng án treo nếu người đó bị phạt tù không quá 03 năm, không phân biệt người đó phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng Tuy pháp luật không qui định, nhưng thực tiễn xét xử ở Tòa án các cấp thì đa số các trường hợp cho hưởng án treo là những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, số ít còn lại là phạm tội nghiêm trọng

Luật chỉ giới hạn hình phạt tối đa, không giới hạn hình phạt tối thiểu để áp dụng án treo Hình phạt tối đa, qua từng thời kì cũng có qui định khác nhau nhằm phục vụ công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, tránh việc áp dụng án treo trong những trường hợp không cần thiết Giới hạn tối đa để được áp dụng án treo, theo BLHS năm 1999 (có sửa đổi bổ sung năm 2009) là không quá 3 năm tù, giới hạn theo BLHS năm 1985 là không quá 05 năm tù

Trang 6

6

1.3.2.2 Điều kiện về nhân thân người phạm tội

Để cho một người được hưởng án treo thì trước hết người đó phải có nhân thân tốt, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, không tiền án, không tiền sự, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng (có thể nghiêm trọng), gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại, tự nguyện sửa chữa thiệt hại, tích cực giúp đỡ cơ quan tiến hành tố tụng điều tra và phát hiện tội phạm

Không phải bắt buộc đủ tất cả các tình tiết trên thì mới cho được hưởng án treo Các tình tiết trên là những tình tiết dự trù chung, tuy nhiên để cho hưởng án treo thì người phạm tội có càng nhiều tình tiết trên thì càng tốt Có trường hợp người phạm tội chỉ cần có hai tình tiết ở trên là có thể cho hưởng án treo, nhưng cũng có nhiều trường hợp người phạm tội đã hội đủ nhiều tình tiết trên nhưng không thể cho họ được hưởng án treo Bởi vì khi xem xét về nhân thân người phạm tội, Tòa án phải xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố thuộc về nhân thân của người phạm tội, thái độ của người phạm tội sau khi phạm tội, kết hợp với yêu cầu phòng chống tội phạm, nhiệm vụ chính trị tại địa phương để xem xét có cần thiết áp dụng hình phạt tù giam hay cho họ hưởng án treo

1.3.2.3 Điều kiện về các tình tiết giảm nhẹ

Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để cho hưởng án treo gần giống như áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xét xử dưới khung hình phạt hoặc chuyển sang tội danh khác với khung hình phạt nhẹ hơn Các tình tiết giảm nhẹ là một căn cứ quan trọng để Tòa án cân nhắc trong quá trình xét xử xem có áp dụng hay không áp dụng án treo đối với người phạm tội Nếu người phạm tội không có tình tiết giảm nhẹ, hoặc có nhưng không có ý nghĩa đáng kể thì Tòa án không thể cho người phạm tội được hưởng án treo Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét áp dụng án treo có thể là các tình tiết được qui định tại khoản 1 hoặc cũng có thể là các tình tiết được qui định tại khoản 2 Điều 46 BLHS

Trang 7

7

1.3.2.4 Về mặt ảnh hưởng của người phạm tội đối với xã hội

Tùy trường hợp, Hội đồng xét xử áp dụng tiểu mục 6.1 mục 6 tại Nghị quyết

số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản

án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (sau đây viết tắt Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007): xét thấy nếu không bắt người phạm tội đi chấp hành hình phạt tù thì người đó không gây nguy hiểm cho xã hội cũng như ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đó có thể là trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, lỗi vô ý, ăn năn hối cải

1.3.3 Thời gian thử thách của án treo

1.3.3.1 Khái quát chung về thời gian thử thách

Án treo khác với các loại hình phạt khác là Tòa án ấn định một thời gian thử thách đối với người bị kết án, đó là qui định có tính bắt buộc nhằm ràng buộc người bị kết án phải tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh bản án, tự răn đe mình Thời gian thử thách của án treo là một khoảng thời gian mà Tòa án ấn định để thử thách người bị kết án được hưởng án treo, nếu hết thời gian đó mà người bị kết án không phạm tội mới, thì hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên đối với người bị kết án sẽ không phải thi hành Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách mà người bị kết án lại phạm tội mới, thì ngoài việc chấp hành hình phạt đối với tội phạm mới, người

bị kết án còn phải chấp hành hình phạt mà tòa án đã tuyên nhưng cho họ hưởng án treo

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị Tòa án xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng Nếu trong hạn 12 tháng

kể từ ngày tuyên án mà A không phạm tội mới thì A không phải chấp hành hình phạt 06 tháng tù đã tuyên Nếu A phạm tội mới trong thời gian 12 tháng thử thách

từ ngày tuyên án, thì Tòa án xử tội phạm mới sẽ buộc A chấp hành hình phạt tội phạm mới đồng thời phải chấp hành hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án trước đó đã tuyên

Trang 8

8

Theo qui định tại khoản 1 Điều 60 BLHS và tại tiểu mục 6.4 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 thì thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo từ một năm đến năm năm Điều đó có nghĩa là thời gian thử thách không được dưới một năm và không quá năm năm

1.3.3.2 Cách tính thời gian thử thách

Cách tính thời gian thử thách, BLHS không có qui định, mà được thể hiện trong văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Cụ thể được qui định tại tiểu mục 6.5 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 qui định:

“Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo”

Hướng dẫn này là hướng dẫn đang có hiệu lực và đang được áp dụng vào thực tế xét xử ở Tòa án các cấp hiện nay Hướng dẫn trên có nghĩa là: nếu Tòa án cấp sơ thẩm cho người bị kết án được hưởng án treo, thì thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm; nếu Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo nhưng cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm

1.3.3.3 Những điều kiện người bị kết án phải tuân thủ trong thời gian thử thách

Những điều kiện này là những đòi hỏi có tính chất bắt buộc về mặt pháp lý

mà người được hưởng án treo phải chấp hành trong thời gian thử thách Chỉ khi nào người được hưởng án treo đã thực hiện đầy đủ những đòi hỏi này, thì người được hưởng án treo mới được Tòa án miễn chấp hành hình phạt tù và được qui định cụ thể tại khoản 2 và 3 Điều 60 BLHS như: Phải chịu sự giám sát giáo dục của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung

là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này

Trang 9

9

1.3.4 Quyền và nghĩa vụ của người được hưởng án treo

Quyền và nghĩa vụ của người được hưởng án treo không được qui định trong

Bộ luật hình sự 1985 và 1999, nhưng lại được qui định trong Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 và Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ qui định về thi hành án treo Cụ thể như sau:Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi người được hưởng án treo và nộp lại cho người trực tiếp giám sát, giáo dục khi hết thời gian thử thách; Người được hưởng án treo được rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện pháp luật qui định

1.3.5 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách

Theo qui định tại khoản 5 Điều 60 BLHS, nếu người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui dịnh tại Điều 51 BLHS Qui định này có khác so với qui định trước đây của BLHS 1985: người phạm tội mới chỉ bị tổng hợp hình phạt khi phạm tội mới do lỗi vô ý

và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do lỗi cố ý BLHS 1999 (có sửa đổi, bổ sung năm 2009) qui định chỉ cần người được hưởng án treo mà phạm tội mới thì Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt theo qui định Điều 51 BLHS mà không cần phân biệt lỗi vô ý hay cố ý, không phân biệt bị phạt tù hay không hình phạt tù Qui định này có tính nghiêm khắc hơn so với BLHS 1985, sẽ có tác dụng hơn trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay

Trang 10

10

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG ÁN TREO TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

2.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội của Thành phố Long Xuyên

Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh An Giang, có vị trí địa lý - kinh tế đặc biệt quan trọng đối với tỉnh An Giang và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long Mặt khác Long Xuyên là đô thị nằm trên trục hành lang kinh tế đô thị quốc gia và quốc tế, là đầu mối giao thương hàng hóa trong tỉnh và khu vực, có nhiều nhà máy chế biến xuất khẩu với nhiều mặt hàng như: gạo, cá, hàng may mặc, vật liệu xây dựng, rau quả đóng hộp…; có đường quốc lộ và đường sông thông suốt đến các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và nước bạn Campuchia

Với lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, cùng với truyền thống đoàn kết, cần cù, năng động, sáng tạo, những năm qua Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên đã đoàn kết nhất trí, phát huy nội lực, tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, tập trung mọi nguồn lực để xây dựng, phát triển Thành phố xứng đáng với vai trò và vị trí là trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh An Giang và đạt được những kết quả đáng kể

Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang nói chung và ở Thành phố Long Xuyên chưa đồng đều, đời sống bộ phận không nhỏ dân cư vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, nhất là ở những vùng sâu, vùng

xa, vùng đồng bào Khơme, trình độ dân trí còn thấp, tỷ lệ thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao, những tác động xấu của nền kinh tế thị trường đến người dân như tâm lý tham lam, hám lợi, nhu cầu vật chất ngày càng cao, muốn có nhiều tiền tiêu xài nhưng lười lao động hoặc nghề nghiệp không ổn định, muốn làm giàu bằng mọi cách kể

cả bằng các việc làm phi pháp trong bộ phận dân cư Đây chính là nhân tố thúc đẩy

bộ phận dân cư tham gia vào con đường phạm tội làm cho tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội gia tăng

Trang 11

Tính từ ngày 01/10/2011 đến ngày 30/9/2012, số bị cáo bị phạt tù cho hưởng

án treo thể hiện:

- Toàn ngành Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự quân khu, khu vực đã xét

xử sơ thẩm tổng số 67.369 vụ với 122.960 bị cáo, trong đó xử phạt tù cho hưởng

án treo 25.458 bị cáo (tỷ lệ 20,7%)

Trong 25.458 bị cáo được cấp sơ thẩm cho hưởng án treo thì có 488 bị cáo

có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (tỷ lệ 1,91%)

- Tòa án nhân dân tỉnh An Giang trong năm 2012 xét xử sơ thẩm 92 vụ với

101 bị cáo, trong đó có 03 vụ xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo với 03 bị cáo; xét xử phúc thẩm 159 vụ với 161 bị cáo, trong đó có 8 vụ xử phạt tù cho hưởng án treo với 08 bị cáo

- Tòa án nhân dân Tp.Long Xuyên trong năm 2012 xét xử sơ thẩm 107 vụ với 181 bị cáo, trong đó xử phạt tù cho hưởng án treo 15 vụ với 24 bị cáo, đã không có kháng cáo, kháng nghị các trường hợp cho hưởng án treo

Nhìn chung, trong năm qua việc cho hưởng án treo đều được các Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng, áp dụng đúng pháp luật Tỷ lệ án treo không đúng bị hủy, sửa giảm gần 50% so với năm 2011 và chỉ chiếm tỷ lệ 0,25% trên tổng số các bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo

2.2.2 Những trường hợp cho hưởng án treo không đúng và nguyên nhân sai trong thời gian qua

Tuy thời gian gần đây, lượng án hình sự được xét xử áp dụng án treo có giảm đáng kể và ít bị kháng cáo, kháng nghị nhưng thực tế vẫn còn tồn tại những

Trang 12

12

trường hợp cho hưởng án treo không đúng qui định pháp luật hoặc không chính xác Đây chính là một trong những nguyên nhân làm giảm chất lượng xét xử khi đánh giá kết quả công tác xét xử hàng năm của ngành Tòa án Có thể dẫn chứng một số trường hợpcho hưởng án treo không đúng và chỉ ra nguyên nhân sai sau đây:

2.2.2.1 Đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, dẫn đến quyết định cho bị cáo được hưởng án treo không đúng

Để rút kinh nghiệm trong trường hợp này, chúng ta xem lại nội dung vụ án

đã xảy ra năm 2011: bị cáo Hoàng Văn Thảo, Hoàng Duy Hợp, Đỗ Văn Tú cùng các cổ động viên khác đã lợi dụng việc cổ vũ bóng để vi phạm pháp luật Trong đó, Thảo và Hợp giữ vai trò chính, thực hiện tội phạm rất tích cực, chuẩn bị sẵn pháo

và phát cho các cổ động viên, hò hét, chửi bới, kính động các cổ động viên gây rối trật tự công cộng, ném gạch đá, vỏ chai, khiêu khích, đập phá tài sản của người đi đường; cản trở người thi hành công vụ, đập phá xe của Cảnh sát, đèn tín hiệu giao thông, vòi bơm xăng…Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại lên trên 29 triệu đồng Như vậy, các bị cáo đã phạm nhiều tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản

02 Điều 245 BLHS, hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài, tại nhiều địa điểm khác nhau, gây thiệt hại tài sản của công dân, xâm phạm nghiêm trọng đến an toàn công cộng, trật tự công cộng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 02 Điều 245 và khoản 01 Điều 143 BLHS để xử phạt Hoàng văn Thảo, Hoàng Duy Hợp – mỗi bị cáo 18 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” Tổng hợp hình phạt 02 tội là 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Đỗ Văn

Tú bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo theo khoản 02 Điều 245 BLHS

Việc xét xử các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định đã là nhẹ, đồng thời lại cho các bị cáo hưởng án treo là không đánh giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án, là gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trang 13

13

2.2.2.2 Chưa xác định đúng nhân thân của bị cáo

Có thể điển hình vụ án được xét xử vào tháng 7 năm 2012 như sau: Võ Hoàng Tiếng có hành vi đánh nhau đã bị Cơ quan Công an ra Quyết định xử phạt hành chính Một tháng sau, Tiếng lại có hành vi vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” và bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 năm 06 tháng tù Tuy vậy, Tòa án cả hai cấp đều không xác minh về lời khai của bị cáo là đã có tiền sự Từ đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã cho hưởng án treo (vì không có tiền án, tiền sự) như vậy là không đúng quy định của pháp luật

2.2.2.3 Đủ điều kiện cho hưởng án treo nhưng không cho treo

Chúng ta cùng tìm hiểu qua nội dung vụ án đã được đưa ra xét xử cuối năm 2012: Phạm Văn Tuyến có giấy phép lái xe ô tô, nhưng đã điều khiển xe ô tô không làm chủ được tốc độ khi tránh xe mô tô đi ngược chiều, gây tai nạn chết hai người Về phía người bị hại, điều khiển xe mô tô không có bằng lái xe, không làm chủ để mất lái, bất ngờ lao vào bên phải đầu xe ô tô ở phần đường của xe ô tô Như vậy, trong vụ án này có lỗi hỗn hợp, đồng thời bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Tự thú, thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại và người bị hại có lỗi Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng bị cáo đã gây tai nạn làm chết 02 người là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng để không cho Tuyến được hưởng án treo là không đúng

2.2.2.4 Nhận thức chưa đúng về án treo

Coi án treo như là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, do đó vì muốn cho hưởng treo nên đáng lẽ phải xử mức án cao thì lại xử phạt mức án thấp để tạo điều kiện cho hưởng án treo Hoặc, khi không cho hưởng án treo được thì giảm hình phạt tù một cách thiếu căn cứ

Chẳng hạn như trường hợp sau: Bị cáo Ma Văn Dương đã có 01 tiền án về tôi “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nhưng lại tiếp tục phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo theo điểm d khoản 2 Điều 135 BLHS Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng

Ngày đăng: 17/07/2015, 15:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w