Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quá trình sử dụng trang mạng xã hộivào quá trình dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin,hướng dẫn phương pháp tự
Trang 1MỤC LỤC
M Đ U Ở ĐẦU ẦU 1
CH ƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI NG 1: C S KHOA H C C A VI C S D NG M NG XÃ H I ƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI Ở ĐẦU ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI Ử DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỤNG MẠNG XÃ HỘI ẠNG XÃ HỘI ỘI VÀO D Y H C ẠNG XÃ HỘI ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MÔN NH NG NGUYÊN LÝ C B N CH NGHĨA MÁC- ỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC- ƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ẢN CHỦ NGHĨA MÁC- ỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI LÊNIN TR Ở ĐẦU ƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NG CAO Đ NG, Đ I H C ẲNG, ĐẠI HỌC ẠNG XÃ HỘI ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI .12
1.1 C s lý lu nơ sở lý luận ở lý luận ận 12
1.1.1 Nh ng khái ni m c b n ững khái niệm cơ bản ệm cơ bản ơ bản ản 12
1.1.1.1 Khái ni m m ngệm mạng ạng 12
1.1.1.2 Khái ni m m ng xã h iệm mạng ạng ội 13
1.1.2 Ph ươ bản ng pháp c a vi c d y môn Nh ng nguyên lý c b n ch ủa việc dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ệm cơ bản ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ững khái niệm cơ bản ơ bản ản ủa việc dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩaMác –Lênin qua m ng xã h i ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ội 14
1.1.2.1.Phươ sở lý luậnng pháp khai thác thông tin 14
1.1.2.2 Phươ sở lý luậnng pháp x lý thông tinử lý thông tin 15
1.1.2.3 Phươ sở lý luậnng pháp th o lu n nhóm trong d y h cảo luận nhóm trong dạy học ận ạng ọc 17
1.1.2.4 Cách th c t o tài kho n trên m ng xã h i đ s d ng vào ức tạo tài khoản trên mạng xã hội để sử dụng vào ạng ảo luận nhóm trong dạy học ạng ội ể sử dụng vào ử lý thông tin ụng vào d y h c môn Nh ng nguyên lý c b n c a Ch nghĩa Mác – Lêninạng ọc ững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin ơ sở lý luận ảo luận nhóm trong dạy học ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin 20
1.2 C s Th c ti nơ sở lý luận ở lý luận ực tiễn ễn 22
1.2.1 Th c tr ng s d ng m ng xã vào d y h c môn Nh ng nguyên lý ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ọc môn Những nguyên lý ững khái niệm cơ bản c b n Ch nghĩa Mác – Leenin Tr ơ bản ản ủa việc dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ở Trường Đại học, Cao đẳng ường Đại học, Cao đẳng ng Đ i h c, Cao đ ng ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ọc môn Những nguyên lý ẳng 22
1.2.1.1 Vài nét Khoa Giáo d c chính tr c a Tr ụng vào ị của Trường Đại học Sư phạm Huế ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ường Đại học Sư phạm Huế ng Đ i h c S ph m Hu ạng ọc ư ạng ế 22
1.2.1.2 Đ c đi m ,n i dung môn Nh ng nguyên lý c b n ch nghĩaặc điểm ,nội dung môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa ể sử dụng vào ội ững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin ơ sở lý luận ảo luận nhóm trong dạy học ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin Mác –Lênin 25
1.2.1.3 Vai trò c a vi c s d ng m ng xã h i vào d y h c môn ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ệm mạng ử lý thông tin ụng vào ạng ội ạng ọc Nh ng nguyên lý c b n c a Ch nghĩa Mác – Lêninững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin ơ sở lý luận ảo luận nhóm trong dạy học ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin 27
Trang 21.2.1.4 Th c tr ng vi c s d ng m ng xã h i vào d y h c môn ực tiễn ạng ệm mạng ử lý thông tin ụng vào ạng ội ạng ọc Nh ng ững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin nguyên lý c b n c a ch nghĩa Mác –Lênin Tr ơ sở lý luận ảo luận nhóm trong dạy học ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ở lý luận ường Đại học Sư phạm Huế ng Đ i h c, Cao Đ ng ạng ọc ẳng
30
1.2.1.5 S c n thi t s d ng m ng xã h i vào d y h c môn Nh ng ực tiễn ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ế ử lý thông tin ụng vào ạng ội ạng ọc ững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin nguyên lý c b n c a Ch nghĩa Mác – Lênin Tr ơ sở lý luận ảo luận nhóm trong dạy học ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ở lý luận ường Đại học Sư phạm Huế ng Cao đ ng, Đ i ẳng ạng h c ọc 34
Ti u K t Ch ểu Kết Chương 1 ết Chương 1 ương 1 ng 1 38
CH ƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI NG 2 QUY TRÌNH VÀ ĐI U KI N S D NG M NG XÃ H I ỀU KIỆN SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI Ử DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỤNG MẠNG XÃ HỘI ẠNG XÃ HỘI ỘI VÀO D Y H C MÔN NH NG NGUYÊN LÝ C B N CH NGHĨA ẠNG XÃ HỘI ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC- ƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ẢN CHỦ NGHĨA MÁC- ỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MÁC- LÊNIN TR Ở ĐẦU ƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NG CAO Đ NG, Đ I H C ẲNG, ĐẠI HỌC ẠNG XÃ HỘI ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI .39
2.1 Quy trình s d ng m ng xã h i vàoử lý thông tin ụng vào ạng ội thi t k bài gi ng môn Nh ng ế ế ảo luận nhóm trong dạy học ững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin nguyên lý c b n Ch ghĩa Mác Lênin Trơ sở lý luận ảo luận nhóm trong dạy học ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ở lý luận ường Đại học Sư phạm Huếng Cao Đ ng Đ i h cẳng ạng ọc 39
2.1.1 Xác đ nh m c tiêu c a vi c thi t k ịnh mục tiêu của việc thiết kế ụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ủa việc dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ệm cơ bản ết kế ết kế 39
2.1.2 Xác đ nh đúng nh ng n i dung tr ng tâm ịnh mục tiêu của việc thiết kế ững khái niệm cơ bản ội ọc môn Những nguyên lý .40
2.1.3 Xây d ng k ch b n cho quá trình th c hi n ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ịnh mục tiêu của việc thiết kế ản ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 41
2.1.4 Mutimedia hóa t ng đ n v ki n th c ừng đơn vị kiến thức ơ bản ịnh mục tiêu của việc thiết kế ết kế ức 42
2.1.5 Xây d ng các th vi n t li u và l a ch n ph n m m trình di n ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ư ệm cơ bản ư ệm cơ bản ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ọc môn Những nguyên lý ần mềm trình diễn ềm trình diễn ễn đ xây d ng ti n trình d y h c ể xây dựng tiến trình dạy học ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ết kế ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ọc môn Những nguyên lý .42
2.1.6 Ch y th ch ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ươ bản ng trình, s a ch a và hoàn thi n đóng gói ử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 44
2.2 Ngh thu t thu hút chú ý c a sinh viên trong thi t k bài gi ngệm mạng ận ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ế ế ảo luận nhóm trong dạy học 46
2.2.1 Các cách đ thi t k trang trình chi u ể xây dựng tiến trình dạy học ết kế ết kế ết kế 48
2.2.2 S d ng các trang PowerPoint k t h p các ho t đ ng d y h c ử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ết kế ợp các hoạt động dạy học ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ội ạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ọc môn Những nguyên lý 53 Ti u K t Ch ểu Kết Chương 1 ết Chương 1 ương 1 ng 2 58
CH ƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI NG 3: TH C NGHI M S D NG M NG XÃ H I VÀO D Y H C MÔN ỰC NGHIỆM SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN ỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI Ử DỤNG MẠNG XÃ HỘI ỤNG MẠNG XÃ HỘI ẠNG XÃ HỘI ỘI ẠNG XÃ HỘI ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI NH NG NGUYÊN LÝ C B N CH NGHĨA MÁC-LÊNIN TR ỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC- ƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ẢN CHỦ NGHĨA MÁC- ỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI Ở ĐẦU ƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC NG CAO Đ NG, Đ I H C ẲNG, ĐẠI HỌC ẠNG XÃ HỘI ỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI .59
Trang 33.1 K ho ch th c nghi mế ạng ực tiễn ệm mạng 59
3.1.1 Gi thuy t th c nghi m ản ết kế ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 59
3.1.2 M c đích th c nghi m ụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 59
3.1.3 Nhi m v th c nghi m ệm cơ bản ụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 60
3.1.4 Đ a đi m, đ i t ịnh mục tiêu của việc thiết kế ể xây dựng tiến trình dạy học ối tượng và thời gian thực nghiệm ượp các hoạt động dạy học ng và th i gian th c nghi m ờng Đại học, Cao đẳng ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 60
3.1.5 Ph ươ bản ng pháp th c nghi m ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 60
3.2 N i dung th c nghi mội ực tiễn ệm mạng 60
3.2.1 Nh ng n i dung khoa h c c n th c nghi m ững khái niệm cơ bản ội ọc môn Những nguyên lý ần mềm trình diễn ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 60
3.2.2 Các b ước tiến hành thực nghiệm c ti n hành th c nghi m ết kế ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 61
3.2.2.1 Xây d ng tiêu chí và thang đánh giáực tiễn 61
3.2.2.2 Đi u tra k t qu đ u vào c a l p th c nghi m và đ i ều tra kết quả đầu vào của lớp thực nghiệm và đối ế ảo luận nhóm trong dạy học ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin ớp thực nghiệm và đối ực tiễn ệm mạng ối ch ngức tạo tài khoản trên mạng xã hội để sử dụng vào 62
3.2.2.3 Thi t k giáo án và bài gi ng th c nghi mế ế ảo luận nhóm trong dạy học ực tiễn ệm mạng 65
3.2.3 Ph n bài gi ng th c nghi m và các b ần mềm trình diễn ản ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản ước tiến hành thực nghiệm c th hi n bài gi ng ể xây dựng tiến trình dạy học ệm cơ bản ản 66
3.3 K t qu th c nghi mế ảo luận nhóm trong dạy học ực tiễn ệm mạng 74
3.3.1 Phân tích, đánh giá k t qu c a sinh viên tr ết kế ản ủa việc dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ ước tiến hành thực nghiệm c trong và sau quá trình th c nghi m ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 74
3.3.1.1 Nh n xét k t qu th c nghi m l n th nh tận ế ảo luận nhóm trong dạy học ực tiễn ệm mạng ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ức tạo tài khoản trên mạng xã hội để sử dụng vào ất 75
3.3.1.2 Nh n xét k t qu th c nghi m l n th haiận ế ảo luận nhóm trong dạy học ực tiễn ệm mạng ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ức tạo tài khoản trên mạng xã hội để sử dụng vào .77
3.3.1.3 Phân tích k t qu tr ng c u ý ki n sinh viênế ảo luận nhóm trong dạy học ư ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ế 79
3.3.2 Nh n xét chung sau th c nghi m ận xét chung sau thực nghiệm ực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý ệm cơ bản 82
Ti u k t ch ểu Kết Chương 1 ết Chương 1 ương 1 ng 3 85
K T LU N CHUNG ẾT LUẬN CHUNG ẬN CHUNG 86
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, loài người đã chứng kiến sựbùng nổ công nghệ thông tin phát triển như vũ bão tạo ra những bước tiếnnhảy vọt, đặc biệt trong khoa học và công nghệ Đó là sự thay đổi bộ mặt củathế giới đưa con người bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoahọc công nghệ thông tin, kỷ nguyên tiến bộ xã hội Tất cả những điều nàykhiến chúng ta có điều kiện để tìm tòi tri thức mới, phương pháp mới, khoahọc mới tạo nên con người mới
Những thành tựu này, đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống
xã hội trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu Để diễn đạt bước ngoặttrong tiến trình phát triển của nhân loại, người ta đã nói đến một thời đại sựbùng nổ thông tin và công nghệ đổi mới nhanh đến mức chóng mặt Đó chính
là nền tảng khoa học công nghệ của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triểncủa kinh tế tri thức Những chuyển biến hết sức mạnh mẽ này đã làm thay đổi
và đảo lộn nhiều triết lý, quan niệm, phương thức tổ chức và hoạt động củahầu hết các lĩnh vực mà trước hết và chủ yếu lại chính là giáo dục và đào tạo.Tri thức mới được tạo ra với cấp số nhân, được phổ biến nhanh và rộng đếnmức không hình dung được lại có thể lưu giữ những khối lượng khổng lồbằng những phương tiện vô cùng gọn nhẹ và việc tìm kiếm sử dụng dễ dàng.Trong bối cảnh ấy kiến thức chuyên môn cụ thể rất nhanh lạc hậu, cái mớiluôn có cái mới hơn thay thế trong một thời gian ngắn Đã xuất hiện và trởnên rất phổ biến các lớp học khoa học công nghệ thông tin, thư viện điện tử,các chương trình đào tạo từ xa, hội nghị trực tuyến…Cho đến hôm nay việctìm kiếm thông tin, kiến thức và giao lưu qua mạng đã trở nên phổ biến hơn
`rất nhiều so với việc đọc sách, báo giấy trước đây
Trang 5Hội đồng quốc tế về Giáo dục của UNESCO do Jacques Delors chủ trì
đã khẳng định: “Học tập suốt đời nổi lên như là một trong các chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ 21” Vậy việc học rất là quan trọng trong suốt cuộc đời học
để biết, để làm, để tự khẳng định mình… Các nước, bắt đầu từ những nước cónền khoa học phát triển đã tiến hành xem xét lại toàn bộ hệ thống giáo dụccủa mình và một chuyển biến tương đối rõ là họ chuyển dần từ dạy kiến thứcchuyên môn sang dạy cách tự học Việc học tập không chỉ thực hiện ở nhàtrường mà có thể ở nhà hoặc ở bất cứ đâu Cơ hội học tập không chỉ dành chovới lứa tuổi cắp sách đến trường mà với bất cứ ai Triết lý xã hội học tập, họcsuốt đời dần hình thành Với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ thông tinvới các phần mềm ứng dụng vô cùng phong phú thì rất nhiều kiến thức trướcđây thầy cần rất nhiều thời gian và công sức để dạy và trò phải vô cùng vất vả
để nhớ thì nay chỉ cần biết có nó và nó có thể dùng vào việc gì, còn những chitiết, thậm chí cả những thao tác để tính toán tìm ra kết quả chỉ cần một thaotác là xong Trí tuệ con người được dùng vào việc sáng tạo, những kiến thứccần nhớ đã có sự trợ giúp của máy tính hay một thiết bị gọn nhẹ mà bất cứmột trí nhớ siêu việt nào cũng không thể so sánh được
Bên cạnh đó, sự tha hóa đạo đức trong xã hội ngày càng trầm trọngđang tạo nên những bức xúc, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải điều chỉnh theohướng tăng mạnh việc trang bị tảng nền văn hóa, kỹ năng sống và các giá trịđạo đức cho người học Chưa bao giờ yêu cầu dạy làm người cấp bách nhưbây giờ Tuy nhiên, bất cứ nền giáo dục nào cũng lại chịu sự chi phối rấtmạnh của văn hóa dân tộc và những bệ đỡ tư tưởng xuất phát từ những ý thức
hệ khác nhau nên trong một thời gian dài từng tồn tại sự khác biệt rất xa vềcấu trúc hệ thống giáo dục và cấu tạo chương trình Quá trình toàn cầu hóadiễn ra như một xu thế không thể cưỡng lại, từ các nước Châu Âu cho đến
Trang 6Bắc Mỹ đều tiến hành xem xét lại hệ thống giáo dục của mình và tiến hành rấtnhiều điều chỉnh mang tính cải cách.
Đổi mới giáo dục đào tạo, phải được xem là xu thế mang tính toàn cầu.Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó Trong ý nghĩa này, công cuộc đổi mớigiáo dục đào tạo ở Việt Nam không phải chỉ là vấn đề của riêng nước ta màphải thực sự cả trong môi trường quốc tế Vận dụng mục tiêuđó để phát triểngiáo dục nhằm đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với khoa học công
nghệ tại Nghị quyết TW II (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Chỉ thị 58 CT/TW của Bộ chính trị,
quyết định 81/2001/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, và chỉ thị 29/2001/CT-BGD & ĐT của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT với mục tiêu tăng cường giảngdạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục 2001-
2005 góp phần nâng cao nhận thức vai trò của công nghệ thông tin trong tiếntrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xác định rõ vai trò của công nghệ thôngtin trong GD-ĐT tất yếu sẽ lập ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổimới nội dung chương trình, phương pháp hình thức giảng dạy, học tập vàquản lý giáo dục trong nhà trường Việt nam
Những phương pháp truyền thống phải mất quá nhiều thời gian và côngsức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” sinh viên như máy thu ghi lại tri thứcthầy cô giảng nên không thể phát huy được tư duy sáng tạo tình trạng đó luôngây ra sự quá tải từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thờigian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học
để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lốisống, học cách tự học và thực tế giáo dục và đào tạo là việc dạy và học gắn
Trang 7chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học Đặc biệt sự bùng nổ công nghệthông tin sẽ làm thay đổi phương pháp giáo dục đó là người học có cơ hội traudồi kiến thức bằng nhiều thông tin trên các trang mạng rất có ích lại chi phí rẻthuận tiện cho quá trình học tập Hiện nay số lượng sinh viên,giáo viên cáctrường cao đẳng, đại học sử dụng mạng internet, mạng xã hội chiếm số lượngđông đảo và là nhu cầu không thể thiếu trong hoạt động dạy và học của giáodục Nhưng bên cạnh đó lượng thông tin trên các trang mạng quá nhiều vàhỗn tạp giữa đúng và sai gây cho người học khó khăn tiếp nhận tri thức đó màlàm lệch lạc tư tưởng vì vậy việc khai thác và xử lý thông tin đó có lợi,có hạicho người học luôn là vấn đề giải quyết giáo dục đại học Vì vậy giáo dục cần
có sự đổi mới phương pháp dạy học cũng như đưa phương pháp hiện đại vàoquá trình học tập phù hợp xu thế chung Ở giáo dục nước ta các trường caođẳng, đại học môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin là giáo dụcbắt buộc vì môn này giúp cho người học hiểu được chủ trương Đảng và nhànước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng
xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu,nước mạnh,dân chủ,công bằng,vănminh” Nhưng môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin khôkhan,nhàm chán lại quá khó đòi hỏi người học phải tự học là chính để tiếp thutri thức người học tìm đến các trang mạng để học tập Các trang mạng thìlượng thông tin rất là phong phú trên trang mạng internet,mạng xã hội để chongười học trao đổi tìm tòi tri thức nhưng với lượng thông tin phong phú đadạng từ các trang mạng đó đâu là nguồn tri thức chính thống đâu là tri thứckhông chính thống ảnh hưởng tư tưởng lệch lạc không đúng chủ trươngđường lối nhà nước trong sinh viên các trường cao đẳng,đại học
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng, Đại học” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các tài liệu công trình nghiên nước ngoài cũng như trong nước, chưa
có đề tài nghiên cứu đưa mạng xã hội vào dạy học mà chỉ đề cập đến CNTTnói chung.Trong khi đó, mạng xã hội là một mảng nhỏ của CNTT Có thể nói,ngành CNTT ra đời là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kỹthuật hiện nay.Việc nghiên cứu, ứng dụng CNTT vào giáo dục và đào tạo đãđược thực hiện ở nhiều quốc gia và khu vực như: Bắc Mỹ, Tây Âu, NICs… Ởcác nước Đông Á, CNTT&TT có một vị trí quan trọng trong chương trình đổimới giáo dục
Một số quan niệm, yêu cầu và thao tác của việc sử dụng phương tiện kỹthuật dạy học nói chung, bao gồm CNTT, đã được đề cập trong nhiều công
trình nghiên cứu đã được công bố, đáng kể nhất là: Đề án “Tin học cho mọi người” (Informatique pour tous)- Pháp, 1970; Chương trình MEP (Microelectronics Education Program)- Anh, 1980; Cácchương trình và phần mềm các môn học cho trường trung học được cung cấp bởi NSCU (National Software-Cadination Unit) - Australia, 1984; Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School) - Ấn Độ, 1985; Hội thảo về “Xây dựng phần mềm tin học”, các nước châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại Malaysia, 1985; Hội thảo quốc tế lần 2 về “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục - đào tạo”, tổ chức tại Hà Nội, 2004 Các đề tài, nội dung hội thảo
tập trung nghiên cứu, trao đổi việc sử dụng CNTT trong giảng dạy và xemđây là nguồn lực quan trọng cho việc đổi mới phương pháp dạy học ởtrường cao đẳng, đại học
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, một số tài liệu tiêu biểu như
“Intructional Technology for Teaching and Learning”của Timothy J Newby
và các cộng sự (1996) đã đề cập đến ba vấn đề chủ yếu: phát triển các ý tưởng
Trang 9và xây dựng kế hoạch tiến hành các hoạt động dạy học có sự hỗ trợ củaphương tiện kỹ thuật theo hướng phát huy vai trò tích cực của người học; đềxuất các biện pháp sử dụng phương tiện kỹ thuật phù hợp với những yêu cầu
và hình thức dạy học cụ thể; đồng thời, nhấn mạnh vai trò của phương tiện kỹthuật nói chung, đặc biệt là CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các
hoạt động dạy học Cuốn “Teaching with Technology: Creating Centered-Classrooms” của Judith H Sandholtz (1997), trình bày về dự án
Student-ACOT (The Apple Classrooms of Tomorrow) nhằm triển khai các hướng ứngdụng công nghệ máy tính trong giảng dạy theo hướng người học là trung tâm
và những ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục hiện đại; Trong cuốn
“Learning with Technology:A Contrustivis Perspective” (1999), David H.
Jonassen và các cộng sự tập trung trình bày những tác động tích cực của côngnghệ máy tính đối với cách học của người học Các tác giả đã làm rõ vai trò tolớn của các phương tiện đa truyền thông đối với việc kích thích một cách tíchcực các giác quan của SV, giúp mỗi người học có thể phát huy tốt năng lực,sở thích, năng khiếu riêng để tự khám phá và tìm kiếm tri thức…
Những định hướng nghiên cứu và yêu cầu của việc ứng dụng CNTTtrong dạy học đã được đề cập cụ thể hơn trong một số tài liệu được đánh giá
cao, như các cuốn: “Handbook of Research for Education Communication and Technology”củaDavid H Jonassen và nhiều tác giả (1996); “101 Essential List for Using ICT in the Classroom” của George Cole (2006) và nhiều công trình nghiên cứu về Xu hướng ứng dụng CNTT trong dạy - học của S.Retalis, T.Leinonen, Maria Ranieri, Gerry White Các tác giả đã
đề xuất những ý tưởng, quan điểm khi nghiên cứu các ứng dụng CNTT vàodạy học, đồng thời chỉ ra những điểm có lợi và bất lợi, nên và không nên khisử dụng CNTT cùng một số dẫn chứng vào dạy học một số môn cụ thể, chủyếu là các bộ môn khoa học tự nhiên, trong những điều kiện dạy học khá lý
Trang 10tưởng Các tác giả của hầu hết tài liệu trên đã quan tâm đến việc khai thác cácthông tin Multimedia từ các CD-Rom, các trang Web trên Internet có nộidung tích cực nhằm giúp cho SV những cơ hội, điều kiện tiếp cận tri thức tốthơn và tạo ra những khả năng trao đổi thông tin, nghiên cứu, học tập vừa tiệních, vừa tích cực giữa GV - SV và giữa SV - SV Ở các nước phát triển, cùngvới những phần mềm dạy học chuyên ngành, các phần mềm công cụ luônđược GV và SV quan tâm sử dụng.
Nhìn chung, các bài viết, tài liệu trên đã đem lại cho chúng tôi nhữngnhận thức và hình dung rõ nét hơn về xu hướng, ý tưởng, biện pháp sửdụng mạng xã hội trong dạy học nói chung và dạy học môn Những nguyên lý
cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin nói riêng ở trường Cao đẳng, Đại học Tuynhiên, cần có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể ởnước ta, nơi mà điều kiện trang bị phương tiện kỹ thuật dạy học, hệ thốngmạng Internet, mạng xã hội năng lực và thói quen chủ động sử dụng mạng xãhội của GV, SV… chưa trở nên phổ biến rộng như các nước công nghiệp pháttriển mà các tác giả nước ngoài đã đề cập
2.2 Những tài liệu và công trình nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, CNTT đã được đưavào trường phổ thông thử nghiệm với tư cách là một môn học – môn Tin Từnhững năm cuối của thập niên này, CNTT mới được quan tâm ứng dụng vàodạy học các bộ môn khác, nhất là sau khi có các Chỉ thị, Nghị quyết củaĐảng, Nhà nước và Bộ GD-ĐT về vấn đề này Nhiều bài viết, công trìnhnghiên cứu về vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường cao đẳng,đại
học ngày một phong phú hơn Tiêu biểu là các bài: “Một số điểm về cơ sở lý luận dạy học của việc sử dụng máy tính điện tử” của Nguyễn Quang Lạc, Lê Công Triêm,1992; “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí giáo dục” của Trần Kiều, Nguyễn Thanh Lương, 1994; “Công nghệ thông tin
Trang 11với việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường” của Phan Trọng Luận, 1998; “Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ thông tin - Xu thế của thời đại” của Quách Tuấn Ngọc, 1999; “Sự hỗ trợ của máy vi tính với hệ thống multimedia trong dạy học” của
Lê Công Triêm, 2002; “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam” của Lưu Lâm, 2002; “Công nghệ thông tin và truyền thông với giáo dục đào tạo ở Việt Nam” của Lê Hồng Sơn, 2002; “Xu thế nghiên cứu thiết kế và sử dụng thiết bị dạy học mới có ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông” của Nguyễn Thị Kim Thành, Ngô Quang Sơn, 2003; “Ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực”,PGS.TS Phó Đức Hoà, TS Ngô Quang
Sơn, NXB Giáo dục, 2008.,…Các tài liệu, bài viết trên đều khẳng định xu thếtất yếu của việc ứng dụng CNTT trong nền giáo dục hiện đại, đồng thời cònnêu những vấn đề có tính định hướng chung về những nguyên tắc, yêu cầu,quy trình; những mặt tích cực, hạn chế…, trong việc sử dụng phương tiện dạyhọc này Vẫn còn ít bài viết trình bày rõ về những khó khăn cũng như các giảipháp khả thi đối với nhà trường trong việc triển khai các ứng dụng CNTT vàodạy học
Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, gópphần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, các nhà phươngpháp dạy học trong nước đã tổ chức nhiều hội thảo, công trình nghiên cứuviệc ứng dụng CNTT Song, việc xây dựng các giáo án sử dụng mạng xã hội
là chưa có, mới chỉ có các cuộc hội thảo về ứng dụng CNTT hay mạng
Internet như: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy”,“Kỷ yếu Hội thảo Khoa học công nghệ”, Bộ GD - ĐT, 2001.
Một số tài liệu, bài báo, luận văn về LL& PPDH bước đầu đề cập đếnvấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học như là một phương tiện kỹ thuật dạyhọc, đồng thời nêu lên ý nghĩa, tác dụng của nó đối với mục tiêu giáo dưỡng
Trang 12cũng như việc giáo dục tình cảm, rèn luyện các kỹ năng tư duy, kỹ năng thực
hành của SV Những bài viết trong Tạp chí giáo dục: “Nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình phổ thông nhờ sự hỗ trợ của thiết bị và phần mềm dạy học”, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, ĐSVP TP Hồ Chí Minh,
2005; đã thể hiện một bước tiến đáng kể về nhận thức vai trò, ý nghĩa, củaviệc ứng dụng CNTT và phương pháp tiến hành trong dạy học Các bài viết
đã khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong dạy học trên cơ sởđảm bảo sự phù hợp nội dung, chức năng và đặc trưng bộ môn Tuy nhiên,vẫn chưa có những công trình nghiên cứu về các sử dụng mạng xã hội trongdạy học phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và điều kiện dạy học ở trường caođẳng, đại học hiện nay
Các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã bước đầu trình bày một cáchkhái quát những vấn đề về lý luận và thực tiễn, về vị trí, ý nghĩa, khả năng,biện pháp sư phạm… của việc ứng dụng CNTT trong dạy học trường caođẳng,đại học Tuy nhiên, các tài liệu, công trình nghiên cứu này chưa đề cậpđến việc sử dụng mạng xã hội và nhất là vẫn chưa có hệ thống về cơ sở lýluận và thực tiễn cũng như các yêu cầu, quy trình thiết kế và biện pháp sư
phạm cụ thể của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý
cơ bản chủ nghĩa Mác-Lêninở trường cao đẳng, đại hoc.
Nhìn chung, ở những mức độ khác nhau, các giáo trình, tài liệu thamkhảo và các bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên là những tư liệu quý báu,
là cơ sở rất quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp chúng tôi đi sâu nghiêncứu, giải quyết tốt những mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ cơ sở lí luận và nângcao khả năng dạy học qua mạng, qua đó giúp cho sinh viên phương pháp tự
Trang 13học và khả năng khai thác xử lý thông tin học môn Những nguyên lý cơ bảnchủ nghĩa Mác – Lênin qua các trang mạng xã hội.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình sử dụng trang mạng xã hội vào quá trình dạy mônlý luận chính trị
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quá trình sử dụng trang mạng xã hộivào quá trình dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin,hướng dẫn phương pháp tự học và khai thác và xử lý thông tin trên các trangmạng xã hội tại một số trường miền Trung ( Đại học sư phạm Huế)
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài quán triệt phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết là: phân tích và tổng hợp,nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, kết hợp phương pháp lôgíc
và lịch sử, phương pháp cụ thể và trừu tượng
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: phương pháp quan sát,phương pháp trao đổi kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm sư phạm,phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê toán học…
6 Luận cứ cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về sử dụng mạng xã hội vào dạy mônNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin vào Trường Caođẳng,Đại học
- Làm rõ thực trạng việc sinh viên sử dụng mạng xã hội vào học tậpmôn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin
Trang 14- Đề xuất một số phương pháp dạy để góp phần vào quá trình giúp sinhviên sử dụng mạng xã hội vào học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin.
7 Cấu trúc của luận văn
- Bố cục luận văn gồm 3 phần mở đầu ,nội dung,kết luận và kiến nghị.Phần nội dung được chia làm 3 chương như sau:
* Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng mạng xã hội vào dạymôn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác- Lênin ở Trường Cao đẳng,Đạihọc
* Chương 2:Quy trình và điều kiện thực nghiệm sử dụng mạng xã hộivào dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin ở Trường Caođẳng,Đại học
* Chương 3:Thực nghiệm sử dụng mạng xã hội vào dạy môn Nhữngnguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác- Lênin vào Trường Cao đẳng,Đại học
Trang 15CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm mạng
Cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bùng nổ công nghệ thông tintruyền thông và phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật,kinh tế… đó là vấn đề được cả nhân loại quan tâm Và đặc biệt giáo dục lànơi đào tạo nhân lực cho toàn xã hội nên rất cần chú trọng đưa công nghệthông vào giảng dạy để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyếnkhích học tập suốt đời, phát triển năng lực cốt lõi dành cho học sinh, sinh viêntrong tương lai Chính lý do trên chúng tôi đi tìm hiểu về mạng nơi trao đổilên kết mọi thông tin và có rất nhiều quan niệm khác nhau về mạng nhưsau:Mạng: hệ thống những đường đan nối với nhau có một chức năng chung
Mạng cục bộ: là toàn bộ mạng các máy tính được lien kết với nhautrong phạm vi xý nghiệp , công ty, hay nói chung trong một phạm vi địa lýhẹp nhất định
Mạng diện rộng : Hai hay nhiều mang cục bộ nối liên kết với nhau sẽtạo thành mạng nội bộ, từ đó hình thành nên khái niệm mạng diện rộng WAN( Wide Area Network ) hay mạng Extrnet
Mạng internet toàn cầu : Nếu như mạng các máy tính được nối vớinhau ngày càng trải rộng ở các nước khác nhau trên thới giới lúc này hìnhthành nên mạng gọi là Global Wide Area Network mạng diện rộng toàn cầu
từ thuật ngữ này mà giới kỷ thuật vẫn dung như trên, khi mang trở nên phỗbiến, người ta đưa ra khái niệm “ International Network”, “Mạng quốc tế”hay gọi tắt là internet
Trang 161.1.1.2 Khái niệm mạng xã hội
Xã hội hiện đại đã kéo theo nhiều xu thế mới phát triển, hội nhập quốc
tế hình thành và liên kết rộng khắp Việc trao đổi thông tin qua mạng xã hộiđược sử dụng ngày càng tăng nhanh
Khái niệm mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng anh: socialnetwork ) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên internet lại vớinhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian
The boyd và Ellison định nghĩa mạng xã hội là “các dịch vụ dựa trênweb cho các cá nhân xây dựng một hồ sơ công khai trong một hệ thống giớihạn , công khai một danh sách các người dung khác mà họ đã có mối quan hệ
và xem đi qua các danh sách các kết nối được tạo ra bởi những người kháctrong hệ thống của họ
Các đặc tính của mạng xã hội
Mạng xã hội trực tuyến được xây dựng và định hướng bởi chính ngườixử dụng người dùng sẽ quyết định nội dung của các trang mạng xã hội trựctuyến Sự định hướng nội dung đó được xác định bởi bất cứ ai tham gia vàocuộc thảo luận Đây là những gì tạo nên sự thú vị và tính động mà mạng xãhội mang lại cho người dung internet
Ở các trang mạng xã hội, mỗi thành viên điều có một hồ sơ với mộttrang cá nhân riêng biệt của mình Người dung có quyền thiết lập các thongtin cá nhân, đăng tải các bài viết và thiết lập tính riêng tư, công khai, ban bèhoặc công khai trong giới hạn một số thành phần bạn bè của họ
Một đặc tính khác của mạng xã hội hiện đại là sự tương tác Ngườidùng trên các trang mạng xã hội có thể giao tiếp một cách dễ dàng và thamgia các trò chơi trực tuyến với nhau
Mạng xã hội được xây dựng và duy trì dựa trên các đặt tính của cộngđồng, các nhóm được thiết lập dựa trên sở thích, niềm tin…
Trang 17Cộng đồng trên các trang mạng xã hội trực tuyến là một cộng đồng mở,ở đó người dùng được thoải mái lựa chọn và phát triển các mối quan hệ củamình Người dùng càng có nhiều mối quan hệ trong mạng, càng thiết lập themnhiều các mối quan hệ khác đã có.
Một đặc tính độc đáo của các mạng xã hội là yếu tố cảm xúc trong khicác trang web trước đây đã tập trung vào việc cung cấp thong tin cho kháchtruy cập , mạng xã hội thực sự cung cấp cho người dùng với cảm giác an toànchia sẻ thong tin và ý thức rằng không có vấn đề gì là khó khăn, bế tắc, bạn bècủa họ luôn ở bên cạnh họ, lắng nghe họ nói bất cứ gì lúc nào
1.1.2 Phương pháp của việc dạy môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩaMác –Lênin qua mạng xã hội
Trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người luôn tìmcách làm cho hoạt động của mình ngày càng trở nên nhẹ nhàng hơn, đỡ tốnkém về sức lực và thời gian nhưng lại có hiệu quả hơn Nên sử dụng mạng xãhội vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cần cónhững phương pháp giúp quá trình dạy và học đạt kết quả cao hơn bằngnhững phương pháp sau:
1.1.2.1.Phương pháp khai thác thông tin
Trong từ điển Tiếng Việt nêu ra [51]: Khai thác là quá trình cá nhântiếp nhận những tác động của môi trường xung quanh
Vì vậy mạng xã hội có rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau chính thống
và không chính thống nên dạy học môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩaMác – Lênin cần phải có phương pháp khai thác thông tin sau:
- Khai thác chủ trương và chính sách có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Khai thác cơ sở lý thuyết có liên quan đến nội dung và đối tượng
nghiên cứu
Trang 18- Khai thác thành tựu đạt được và kết quả nghiên cứu trước đó đã được
công bố có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
- Khai thác các số liệu thống kê
Nội dung khai thác thông tin
- Nghiên cứu các nguồn tài liệu:
+ Lập danh mục tư liệu trên mạng cần theo hệ thống phân loại phù hợp
để tương thích với hệ thống thông tin tư liệu chung
+ Lập phiếu thư mục: người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục đểtiện tra cứu, trong đó ghi rõ: nguồn tư liệu, mã số tư liệu, trang mạng xã hội
+ Đọc tài liệu: đọc kỹ, đọc lướt nhanh, tóm tắt, trích ghi, phân tích,đánh giá, phê phán, ghi nhận xét ý kiến các cá nhân Người nghiên cứu cầnđọc đầy đủ các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài để làm tổng quan vềnhững thành tựu liên quan đến đề tài
Để khai thác thông tin, người nghiên cứu thường sử dụng các phươngpháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu từ các nguồn trang mạng xã hội khácnhau( tạp chí, báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ, số liệu thống
kê, thông tin đại chúng ), phỏng vấn, tiến hành quan sát, tiến hành thực nghiệm
Các tài liệu lý thuyết và thực tế thu nhập được từ các phương phápnghiên cứu khác nhau giúp cho người nghiên cứu chứng minh cho giả thuyếtkhoa học đã đưa ra Vì mục đích khai thác thông tin là chắt lọc thông tinchính xác để có thể phục vụ quá trình học tập môn Những nguyên lý cơ bảnchủ nghĩa Mác – Lênin nhanh nhất
1.1.2.2 Phương pháp xử lý thông tin
Trong từ điển Tiếng Việt: Xử lý là quá trình các nhân áp dụng nhữngthao tác nhận thức để nghiên cứu, biến những thông tin đã tiếp thu trước đóthành tri thức của bản thân
Chọn lọc tài liệu, tư liệu, số liệu từ các trang mạng xã hội
Trang 19- Nghiên cứu mối liên hệ giữa các tài liệu, tư liệu, số liệu.
- So sánh, đối chiếu, chọn lọc những tài liệu, tư liệu, số liệu quan trọng,thiết thực, có độ tin cậy cao
Sắp xếp tài liệu, tư liệu, số liệu:
- Quy thành các nhóm tài liệu, số liệu
- Lập dàn ý, sắp xếp cụ thể từng nội dung của từng vấn đề theo mộtlogic nhất định
- Chọn các vấn đề cần đi sâu phân tích
Phân tích và xử lý các thông tin
Đây là giai đoạn cơ bản, quyết định chất lượng của đề tài, vì các tư liệu,
số liệu được xử lý đúng đắn, chính xác có ý nghĩa trong việc xác nhận( chứngminh) hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra
Mục đích của việc phân tích và xử lý thông tin, tư liệu, là tập hợp ,chọn lọc và hệ thống hóa các phần khác nhau của thông tin, của tư liệu đã cóthể từ đó tìm ra những khía cạnh mới, kết luận mới về đối tượng Quá trìnhphân tích, xử lý thông tin, tư liệu là quá trình sử dụng kiến thức tổng hợp củanghiên cứu, là quá trình sử dụng tư duy biện chứng và logic cùng với cácphương pháp nghiên cứu khoa học để xem xét đối tượng Quá trình này dotrình độ của người nghiên cứu quy định Nội dung và phương pháp xử lýthông tin bao gồm: xử lý thông tin định lượng để phát hiện động thái và quyluật biến động của các tham số, xử lý các thông tin định tính để tìm kiếm cácmối quan hệ logic
Trong quá trình phân tích và xử lý thông tin cần chú ý
- Tôn trọng tính khách quan của sự kiện, con số, người nghiên cứukhông được chủ quan áp đặt theo ý đồ của mình
- Cần phát huy tinh thần dũng cảm, mạnh dạn trong nghiên cứu khoahọc, bởi vì trong quá trình phân tích, xử lý các thông tin có thể dẫn đến những
Trang 20kết luận, những nhận xét dễ bị phê phán, bác bỏ Trong trường hợp này, ngườinghiên cứu cần phải thận trọng kiểm tra lại các kết luận của mình, đồng thờiphải mạnh dạn phê phán các tư tưởng lạc hậu, lỗi thời và ủng hộ tích cực các
tư tưởng mới, các ý tưởng mới mà các công trình nghiên cứu đã chỉ ra
Tổng hợp tài liệu
- Bổ túc tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch
- Lựa chọn tài liệu, chỉ chọn những tài liệu cần, đủ để xây dựng chứng cứ
- Sắp xếp tài liệu theo lịch đại, đồng đại và theo quan hệ nhân quả đểnhận dạng động thái, tương quan và tương tác của chúng
- Làm tái hiện quy luật là bước quan trọng nhất trong nghiên cứu tàiliệu, chính là mục đích tiếp cận lịch sử
- Giải thích quy luật: đòi hỏi phải sử dụng các thao tác logic để đưa ranhững phán đoán về bản chất các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng
Phương pháp xử lý là quá trình nhận thức được để đưa ra những đánhgiá nhận xét nên đòi cần có sự cẩn thận, chính xác về bản chất cũng như nộidung khai thác được
1.1.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
Qua trình bày ở phần trên cho thấy việc lựa chọn và sử dụng PPTLN làmột vấn đề quan trọng đối với quá trình dạy học.Hơn nữa, sử dụng PP dạyhọc không đơn giản chỉ hiểu là PP mà là biết tổ chức và thực hiện mộtphương pháp.Thảo luận nhóm là một phương pháp thích hợp với việc học tậpnghiên cứu trong các trường cao đẳng, đại học hiện nay Nó giúp phát huyđược tính tích cực trong hoạt động của sinh viên bởi vì :
+ Học tập bằng PPTLN đã tạo được môi trường học tập thuận lợi, cởimở, vì ở đó mỗi thành viên trong nhóm trao đổi, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau
Trang 21+ Đồng thời để lĩnh hội những nội dung cơ bản trong bài học, giáo viên
có thể chia sẻ sinh viên thành từng nhóm nhỏ và hướng dẫn thảo luận, vì vậythảo luận nhóm đã tạo ra các nhóm nhỏ có khả năng học tập
+ Bằng sự giúp đỡ của các thành viên trong nhóm cụ thể là những sinhviên có trình độ khá, giỏi đối với những sinh viên có trình độ trung bình yếu,kém thì học bằng PPTLN sẽ nâng cao được thành tích học tập của lớp học
+ PPTLN cũng giúp cho sinh viên tính sáng tạo, khả năng làm việc độclập và tự giải quyết các vấn đề
+ Các thành viên trong lớp học theo PPTLN sẽ có được kỹ năng tổchức , lãnh đạo, giao tiếp…
+ Học bằng PPTLN sẽ trang bị cho sinh viên khả năng hợp tác trongcuộc sống , đó cũng là điều phù hợp với xu thế chung của thời đại hiện nay
Với môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, thì PPthảo luận nói chung và PPTLN nói riêng có một vai trò vô cùng quan trọng.Vai trò này cũng đã được quy định cụ thể trong phân phối chương trình của
Bộ Giáo Dục – Đào Tạo Cụ thể trong các trường cao đẳng hiện nay, số tiếtdành cho Xêmina chiếm một phần hai trong tổng số tiết của môn Nhữngnguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin.Điều đó khẳng định một lần nữaPPTLN có vai trò vô cùng to lớn trong quá trình dạy và học Những nguyên lý
cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên về một nội dung cụ thể nào đó trongbài học, thì thảo luận nhóm giúp sinh viên nắm sau hơn kiến thức, làm rõnhững kiến thức cơ bản của bài học hoặc cũng có thể là khả năng vân dụngnhững kiến thức đó để nhận thức những hiện tượng khác nhau của đời sống
xã hội… dưới những vấn đề cụ thể mà giáo viên đưa ra sinh viên sẽ trao đổi,bàn bạc và đi đến kết luận để nắm và hiểu sâu sắc hơn những kiến thức đã học
Trang 22Mục đích của PPTLN trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản củaChủ nghĩa Mác - Lênin là rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng, kỷ xảotrong lập luận, diễn đạt sự bình tĩnh, mạnh dạn, linh hoạt trong giao tiếp, kĩnăng đánh giá, nhận định và khả năng vận dụng những kiến thức những hiệntượng khác nhau của đời sống xã hội.
Mỗi một cá nhân, từ nhỏ đến lớn đều có xu hướng thích sinh hoạt ,quan hệ và làm việc trong các nhóm nhỏ ở đó họ cảm thấy có hứng khởi, làmviệc năng suất và hiệu quả hơn.Vì thế có thể nói rằng PPTLN có một ý nghĩa
to lớn trong quá trình giảng dạy và học tập môn Những nguyên lý cơ bản củaChủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện rõ :
* Đối với Sinh Viên
+ Thảo luận nhóm là trường họp rất tốt về tư duy logic, về các đào sâu
và trau dồi kiến thức của mình, là trường học về công tác tuyên truyền, là giaiđoạn quan trọng trên con đường đi từ kiến thức tới qua điểm, niềm tin
+ Thảo luận nhóm cho dạy học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaMác - Lênin giúp sinh viên bước đầu biết nêu và giải quyết vấn đề khoa học,biết phân tích, đánh giá nhận định của người khác và bảo vệ ý kiến của mìnhvới những khoa học vững chắc
+ Qua tư duy thảo luận nhóm giúp sinh viên hình thành giao tiếp, tổchức lãnh đạo, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, trao đổi, giúp đỡ hòa nhậpcộng đồng Mặt khác qua thảo luận nhóm sinh viên còn khắc phục được tínhrụt rè, lung túng khi trình bày quan điểm, nhận xét và bảo vệ quan điểm củamình, rèn luyện thói quen tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và trongnghiên cứu
Đối với giáo viên :
Trang 23+ Qua thảo luận nhóm trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản củaChủ nghĩa Mác - Lênin, giáo viên có điều kiện mở rộng những kiến thức màkhi lên lớp không có thời gian thực hiện.
+ Hình thức dạy học này giúp cho giáo viên tìm hiểu được từng sinhviên, kiểm tra được tính hệ thống chiều sâu của sinh viên, tạo điều kiện choviệc phân loại sinh viên một cách chính xác trong quá trình học tập
+ Thảo luận nhóm giúp giáo viên có điều kiện uốn nắn những tri thứcsai lệch, không chuẩn xác và định hướng kiến thức cần thiết cho sinh viên
+ Thảo luận nhóm còn là nơi áp dụng và kiểm nghiệm tính đúng đắncủa những phương pháp và phương thức giảng dạy và học tập có tính đặc thùcủa môn học, cũng như đối với phần chương, mục của bài giảng
Phương pháp thảo luận nhóm là Phương pháp giúp ích rất nhiều choquá trình học môn Những nguyên lý cơ bản Chủ nghĩa Mác – Lênin có sửdụng mạng xã hội vì quá trình thảo luận nhóm sử dụng mạng xã hội khôngmất nhiều thời gian cũng như chi phí đi lại cũng như tốn kém mà mọi ngườivẫn đưa ra được quan điểm của mình thông qua việc lập các nhóm bài thảoluận trên trang mạng xã hội
Bằng những phương pháp dạy học trên giúp cho sinh viên cũng nhưgiảng viên có thể dễ dàng khai thác và xử lý thông tin cũng như trao đổi thôngtin nhanh nhất đem hiệu quả trong quá trình học tập môn Những nguyên lý cơbản chủ nghĩa Mác – Lê nin
1.1.2.4 Cách thức tạo tài khoản trên mạng xã hội để sử dụng vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Để sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản chủnghĩa Mác - Lênin người sử dụng phải đăng ký thành viên thông qua địa chỉmail theo hòm thư của từng trường Cụ thể, để khởi đầu, một thành viêntrong trường (sẽ là quản trị) sẽ sử dụng địa chỉ email của mình để tạo tài
Trang 24khoản của trường mình trên trang mạng xã hội Sau khi được xác nhận quaemail, thành viên này sẽ có thể gửi các lời mời tham gia tới các cá nhântrong trường Các cá nhân trong trường khi nhận được email mời tham giacủa người quản trị, sẽ được được cung cấp liên kết dẫn tới trang chủ Tạiđây, thành viên của hệ thống sẽ phân biệt thành hai đối tượng là giáo viên vàhọc sinh Để tạo thành các lớp học, đối tượng là giáo viên sẽ có chức năng
“Tạo lớp học” với mã lớp riêng Thành viên học sinh muốn gia nhập vào lớpnào thì phải có mã của lớp đó
Biểu đồ biểu diễn
Hình 1.1: Bi u ể xây dựng tiến trình dạy học đồ bi u di n ể xây dựng tiến trình dạy học ễn gói “Đăng ký, quản lý thông tin cá nhân”\
Quản lý lớp học
Như đã trình bày ở tính năng “Đăng ký, quản lý thông tin cá nhân”,tính năng này cho phép các giáo viên tạo và quản lý các lớp học của mình.Sau khi đăng ký là giảng viên, giảng viên có thể tạo mã của lớp học vàcung cấp cho các học sinh của mình để đăng ký vào lớp học Mã của một
Trang 25lớp là duy nhất, tuy nhiên không phải cứ biết mã số đó là học sinh có thểđăng ký là thành viên của lớp học đó Giáo viên có thể chấp nhận hoặc từchối đăng ký của một học sinh.
Giảng viên có các đặc quyền với lớp học của mình như: tạm đóngcửa lớp học và không có học sinh nào có thể tham gia thêm trừ khi giáoviên mở cửa lại lớp Giảng viên cũng có thể loại bỏ học sinh ra khỏi lớphọc của mình, và khi loại bỏ học sinh đó ra khỏi lớp thì mọi thông tin củahọc sinh đó sẽ mất
Hệ thống còn cung cấp cho giáo viên khả năng tạo các nhóm nhỏtrong lớp học để giúp cho việc quản lý làm các bài tập theo nhóm…Ngoài
ra hệ thống cho phép giáo viên khả năng “tạm dừng” một lớp hoặc “xóa”lớp
Qua cách đăng ký tài khoản thì ta thấy các bước sử dụng mạng xã hội dạyhọc môn Những nguyên lý cơ bản Chủ nghĩa Mác- Lênin thuân tiện và dễ dàng
Thông qua sử dụng mạng xã hội thì trao đổi thông tin một cách dễ dànghơn và mọi bài giảng mà giảng viên muốn truyền đạt đến người học qua giáođiện tử hay bài giảng online hay những clip đều có thể thực hiện mộ cách nhanhchóng đó là đưa lên trang mạng xã hội
1.2 Cơ sở Thực tiễn
1.2.1 Thực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản Chủ nghĩa Mác – Leenin ở Trường Đại học, Cao đẳng
1.2.1.1 Vài nét Khoa Giáo dục chính trị của Trường Đại học Sư phạm Huế
Ngày 1 tháng 3 năm 1957, chính quyền Sài Gòn ra Sắc lệnh số 45 – GD
về việc thành lập Viện Đại học Huế, đồng thời với Sắc lệnh trên, chính quyềnSài Gòn đã ra Nghị quyết số 95 GD về việc mở các ban và lớp tại Viện Đạihọc Huế trong niên khoá 1957 -1958, trong đó có Chi nhánh Trường Cao
Trang 26đẳng Sư phạm Sài Gòn Ngay sau đó, Chi nhánh Trường Cao đẳng Sư PhạmSài Gòn được đổi tên thành Trường Cao đẳng Sư phạm Huế trực thuộc ViệnĐại học Huế Ngày 21 tháng 8 năm 1958, chính quyền Sài Gòn ra Sắc lệnh số426-GD về việc cải tổ Trường Cao đẳng Sư phạm Huế (từ niên khoá 1958 –1959), và tách Trường Cao đẳng Sư phạm Huế khỏi Viện Đại học Huế.
Tính đến năm 1995, qua gần 20 năm hoạt động và tham gia giảng dạycác môn khoa học Mác-Lênin tại Trường Đại học Sư phạm Huế, tập thể cán
bộ và giáo viên bộ môn Mác –Lênin đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệpgiáo dục của Nhà trường Bằng bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận và nhiệttình cách mạng của mình, đội ngũ giáo viên Mác-Lênin đã cùng với các bộmôn khoa học khác của Trường Đại học Sư phạm Huế đào tạo cho đất nướcnhững giáo viên vừa “hồng” vừa “chuyên”, góp phần trang bị cho những nhàgiáo tương lai thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng, giúp
họ nắm vững chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng trong thời kỳ mới,tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tin tưởng vào tươnglai tất thắng của chủ nghĩa xã hội
Ngày 4 háng 4 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định30/CP về việc thành lập Đại học Huế, cũng theo Nghị định này, Đại học Sưphạm Huế trở thành trường thành viên trực thuộc Đại học Huế Để đáp ứngnhững đòi hỏi của tình hình mới, toàn bộ Bộ môn Mác-Lênin (gồm 18 cán bộ
và giáo viên) của trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã được điềuchuyển sang trường Đại học Khoa học - Đại học Huế
Ngày 03/02/1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra công văn số 764/KHTcho phép Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế mở ngành đào tạo cử nhânGiáo dục Chinh trị Tiếp theo, ngày 19 tháng 2 năm 1997, Giám đốc Đại họcHuế ra công văn số 1008/ĐT-ĐHH về việc giao cho trường Đại học Sư phạm
Trang 27- Đại học Huế nhiệm vụ đào tạo trình độ cử nhân chuyên ngành Giáo dụcChính trị
Ngày 29 tháng 01 năm 2007, sau gần 10 năm kể từ khi chính thức thànhlập Bộ môn GDCT tại trường Đại học Sư phạm - Đại học huế, Giám đốc Đạihọc Huế ký Quyết định số 059/QĐ – ĐHH – TCNS thành lập Khoa Giáo dụcChính trị trực thuộc trường Đại học Sư phạm Huế Từ năm học 2007-2008,được sự cho phép của Đại học Huế, khoa GDCT đã phối hợp với Trung tâmGDQP - Đại học Huế mở thêm ngành đào tạo ghép môn GDCT-GDQP Việcnâng cấp Bộ môn GDCT lên thành Khoa GDCT và mở thêm mã ngành đàotạo GDCT-GDQP không chỉ là sự ghi nhận của Trường Đại học Sư phạm, củaĐại học Huế đối với những đóng góp của Khoa GDCT cho sự nghiệp đào tạocủa trường Đại học Sư phạm cũng như của Đại học Huế trong suốt hơn mộtthập niên vừa qua, mà còn thể hiện sự tin tưởng, kỳ vọng của các cấp lãnh đạovào sự phát triển của Khoa GDCT trong giai đoạn cách mạng tiếp theo Sựkiện này đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của tập thể cán bộ, giảng viên vàsinh viên ngành GDCT, một thời kỳ phát triển mới đầy thử thách và vinhquang đang chờ đợi chúng ta ở phía trước
Kể từ lớp sinh viên đầu tiên (11 sinh viên - khoá 1), đến nay khoaGDCT - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã tuyển sinh 16 khoá vớinhiều hệ khác nhau Tổng số sinh viên đã và đang theo học tại Khoa GDCT là
1985 sinh viên thuộc 20 dân tộc đến từ 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam và một
số tỉnh, thành phố của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào anh em Trong
10 năm qua đã có 1355 sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành GDCT.Các anh, các chị đang tích cực tham gia công tác trên nhiều vị trí khác nhau, ởnhiều cương vị khác nhau, dù ở nơi giảng đường đại học, cao đẳng, nơi bụcgiảng trường phổ thông, hay tham gia công tác chính quyền, đoàn thể, hoặctrong lực lượng vũ trang nhân dân …ở cương vị nào các anh, các chị cũng
Trang 28đang nỗ lực hết mình để hoàn hành tốt những nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước
và nhân dân giao phó
Hơn 10 năm qua, bên cạnh nhiệm vụ đào tạo cho sinh viên chuyênngành GDCT, tập thể cán bộ và giảng viên Khoa GDCT đã phối hợp vớiKhoa Mác - Lênin (Đại học Khoa học), Khoa KTCT (Đại học Kinh tế) đểgiảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho hàngngàn sinh viên thuộc các khối không chuyên của trường Đại học Sư phạm,Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế; Khoa Giáo dục thể chất- Đại học Huế,phối hợp với Đại học Khoa học- Đại học Huế đào tạo các lớp Chứng chỉNghiệp vụ Sư phạm; phối hợp với các Sở GD & ĐT Quảng Bình, An Giang,Quảng Trị, Khánh Hoà, Đồng Tháp, và trường Cao đẳng Sư phạm TP Hồ ChíMinh(nay là Đại học Sài Gòn) mở các lớp Chuyên tu đào tạo Giáo dục Côngdân; tích cực tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ…cho giáo viên cốtcán GDCD các sở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông,Đồng Tháp, Sóc Trăng, Ninh Thuận… Ngoài ra, Khoa GDCT còn phối hợpvới Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại học Huế trong việc đào tạo hàng ngàn cửnhân Giáo dục Chính trị (hệ từ xa)
1.2.1.2 Đặc điểm ,nội dung môn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác –Lênin
Chủ nghĩa Mác- Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa họccủa chủ nghĩa C.Mác, Ph,Ăngghen và sự phát triển của V.I Lênin, được hìnhthành và phát triển trên cơ sở kế thừa Chủ nghĩa Mác – Lênin những giá trị tưtưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại, là thế giới quan khoa học.Phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng,
là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân laođộng, khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
Trang 29Với nghĩa như vậy, nội dung chủ nghĩa Mác- Lênin bao quát các lĩnhvực tri thức hết sức rộng lớn mang nhiều giá trị khoa học và thực tiễn.Thếnhưng nếu nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin với tư cách khoa học về sựnghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ
áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người thì có thể thấy nội dung chủnghĩa Mác- Lênin được cấu thành từ ba bộ phận lý luận cơ bản, có mối quan
hệ nhất biện chứng với nhau Đó là triết học Mác- Lênin Kinh tế chính trịMác- Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học
Triết học Mác- Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vậnđộng, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giớiquan và phương pháp luận chung nhất khoa học và thực tiễn cách mạng
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chínhtrị Mác- Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế xã hội, đặc biệt là nhữngquy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời phát triển phương thức sản xuất mới –Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội khoa học là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giớiquan, phương pháp luận triết học và kinh tế chính trị Mác- Lênin vào việcnghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng
xã hội chủ nghĩa – bước chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản
Ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác- Lênin có đối tượngnghiên cứu cụ thể khác nhau nhưng điều nằm trong hệ thống lý luận khoa họcthống nhất - đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động khỏichế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
Ngày nay, có thể nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phónggiai cấp, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người khỏi ách áp
Trang 30bức , bóc lột nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác- Lênin mới là học thuyết khoa họcnhất, chắc chắn nhất và chân chính nhất để thực hiện ý tưởng ấy
1.2.1.3 Vai trò của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Qua trình bày ở phần trên cho thấy,việc lựa chọn và sử dụng mạng xãhội là một vấn đề quan trọng đối với quá trình dạy học Hơn nữa sử dụngmạng xã hội không đơn giản là phải hiểu biết về mạng xã hội mà là biết tổchức và thực hiện một cách có phương pháp,sử dụng mạng xã hội trong dạyhọc môn những NLCB.CN - Mác- Lênin là một PP rất thích hợp với việc họctập nghiên cứu trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay Nó phát huyđược tính tích cực hoạt động của sinh viên bởi vì:
+ Học tập bằng mạng xã hội tạo được môi trường học tập thuận lợi, cởimở vì ở đó các thành viên trong lớp trao đổi, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau
+ Đồng thời để lĩnh hội những nội dung cơ bản trong bài học , giáoviên có thể hướng dẫn sinh viên cách tìm kiếm thông tin trên mạng Internet
Vì vậy sử dụng mạng xã hội tạo ra sự hứng thú, tính tích cực cho mỗi sinhviên trong quá trình học tập
+ Trong quá trình học tập sinh viên luôn hào hứng, say mê tập trungchú ý vào những dữ liệu thông tin mà giáo viên đưa ra dưới dạng những hìnhảnh trình chiếu đẹp mắt Từ đó sinh viên kiên trì hoàn thành các bài tập đượcgiáo viên giao, không nản lòng trước những vấn đề khó khăn…
Ngoài những biểu hiện trên, giáo viên còn có thể nhận biết được tínhtích cực học tập của sinh viên cũng như thấy được vai trò của mạng xã hộithông qua những biểu hiện cử chỉ, nét mặt, ánh mắt khi theo dõi bài giảng…
+ Sử dụng mạng xã hội cũng giúp cho sinh viên tính sáng tạo , khảquan làm việc độc lập và tự giài quyết các vấn đề khi tự mình tìm kiếm thôngtin dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Trang 31+ Học tập bằng mạng xã hội sẽ rèn luyện cho sinh viên khả năng chủđộng chiếm lĩnh tri thức trong cuộc sống, đó cũng là điều phù hợp với xu thếchung của thời đại ngày nay.
Với môn những Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác –Lênin sửdụng mạng xã hội có một vai trò vô cùng quan trọng Do phân phối chươngtrình của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay, sốtiết dành cho lý thuyết chiếm gần hai phần ba tổng số tiết của môn Vì vậyviệc giảng dạy của giảng viên rất cần đến sự đổi mới để khắc phục tình trạngnhàm chán của sinh viên khi nghe giảng và ghi chép lý thuyết quá nhiều tronggiờ học.Việc lựa chọn và sử dụng mạng xã hội trong truyền đạt kiến thứchiện nay đang ngày càng tạo ra hứng thú và có vai trò quan trọng nhiều hơntrong quá trình dạy – học cho cả sinh viên và giảng viên
Thực tế hiện nay phương pháp dạy học ở nước ta chưa đáp ứng đượcnhu cầu của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Phần lớn giáo viên vẫn sử dụngphương pháp truyển thống: thầy đọc giảng – trò ghi chép, phương pháp nàybiến lớp học trở thành nơi phổ biến kiến thức, còn sinh viên trở thành nhữngmáy ghi chép, đã không phát huy được tính năng động, sáng tạo của ngườihọc, làm cho họ thụ động, trì trệ lệ thuộc hoàn toàn vào những gì giáo viêncung cấp.Giáo viên chỉ quan tâm đến việc hoàn thành trách nhiệm của mìnhtruyền đạt hết nội dung quy định trong trương trình, cố gắng làm cho sinhviên nhớ và hiểu những điều giáo viên giảng, cách dạy này của thầy đã hìnhthành cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, không chịu suy nghĩ, cho nên
đã hạn chế chất lượng, hiệu quả day – học, không đáp ứng được yêu cầu pháttriển năng động của xã hội hiện đại Chính vì vậy sử dụng mạng xã hội trongquá trình giảng dạy sẽ khắc phục được tình trạng này
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên về nội dung cụ thể nào đó trong bàihọc, sử dụng mạng xã hội giúp sinh viên nắm sâu thêm kiến thức, làm rỏ
Trang 32những kiến thức cơ bản của bái học hoặc cũng có thể là khả năng vận dụngnhững kiến thức đó để nhận thức những hiện tượng khác nhau của đời sống
xã hội…Từ những vấn đề cụ thể mà giáo viên đưa ra sinh viên sẽ trao đổi,bàn bạc và đi đến kết luận để nắm và hiểu sâu sắc hơn những kiến thức cơ bảncủa bài học mới, hoặc khắc sâu và mở rộng hơn những kiến thức đã học
Trong khi sử dụng mạng xã hội, giáo viên không còn là người truyềnđạt kiến thức có sẵn, không còn là người phổ biến kiến thức nữa mà là ngườiđịnh hướng đạo diễn cho người tự học tự mình khám phá ra kiến thức, khámphá ra phương pháp tiếp cận kiến thức.Nếu để người tự học tìm kiếm thôngtin về bài học để học tập thì đó là việc làm khó khăn nếu không có sự hướngdẫn cũa giáo viên Giáo viên sẽ là người nêu ra vấn đề, giới thiệu những địachỉ trang web liên quan, hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tiếp cận tracứu thông tin để có thể lựa chọn những nội dung tri thức phù hợp với vấn đề
mà giáo viên nêu ra Như thế không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người giáoviên, giáo viên từ chổ là người thấy bình thường truyền đạt tri thức có tronggiáo trình , tài liệu đã vươn lên thành người thầy giỏi chủ yếu dạy cho ngườihọc cách tìm kiếm thông tin, cách sử lý những khó khăn gặp phải do thông tinđặt ra, Thầy trở thành người hướng dẫn, cố vấn và là điểm tựa cho người họctrong quá trình tìm cách làm việc với công nghệ hiện đại – máy vi tính Quan
hệ giữa thầy và trò trong phương pháp dạy học truyền thống là quan hệ “ phụctùng” thầy nói- trò nghe Thầy đọc – trò chép, nhưng với việc sử dụng mạng
xã hội, mối quan hệ thầy trò dựa trên cơ sở tin cậy, tôn trọng và hợp tác lẫnnhau Trong quá trình vừa tự mình tìm tòi, nghiên cứu thông tin đồng thờicùng hợp tác với bạn để củng cố kiến thức đã tìm được chính thầy giáo làngười định hướng cho cá nhân người học hành động, đồng thời , đồng thời làngười đạo diễn, tổ chức tập thể lớp giúp cho tri thức mà cá nhân người học tựtìm ra mag tính xã hội, khách quan, khoa học hơn Khi những thông tin mà cá
Trang 33nhân người thu được, có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau., thì lúc này vai tròkhông thể thay thế được người thầy là phát huy vai trò người trọng tài khoahọc Thầy là người kết luận có tính chất khẳng định về mặt khoa học các cuộctranh luận ở tập thể lớp, giúp người học sử lý đúng đắn các tình huống phứctạp nổi lên trong quá trình hoạt động học tập.
Ngày nay chúng ta bước vào cuộc cách mạng mới: cách mạng siêucông nghiệp, tương ứng với nó là một xã hội mới đang manh nha – xã hội “
cú sốc tương lai” một xã hội mà “ kiến thức là quyền lực” thì các nhà giáosiêu công nghiệp không nên áp đặt giá trị cho học sinh mà phải biết tổ chứcmột các có hệ thống những hoạt động chính thức và bán chính thức nhằmgiúp học sinh tự xác định, thử nghiệm những giá trị của bản thân mình AlvinToffer nhà tương lai học người Mỹ, trong cuốn : Fetere Shock – 1970 nói “các trường học ngày mai không chỉ dạy thông tin dữ liệu mà còn dạy cách sửlý nó…Học là một các học” thì sử dụng mạng xã hội trong học tập đã làmđược việc đó
Như vậy khi sử dụng mạng xã hội trong học tập, thầy là người đạodiễn, tổ chức cho trò biết cách hành động và hợp tác với các bạn, tự mình mày
mò ra tri thức khoa học và biết cách ứng dụng những thông tin tri thức đó vàothực tế cuộc
1.2.1.4 Thực trạng việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin ở Trường Đại học, Cao Đẳng
Để tìm hiểu thực trạng này, chúng tôi tiến hành khảo sát thông qua phátphiếu điều tra cho 10 GV dạy môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaMác – Lênin, 60 phiếu của GV bộ môn khác và 268 SV (thuộc các lớp: 3A,3B, 2A, 2B, 1A,1B,) trong Trường Đại học Sư phạm Huế
Trang 34* Nhận thức của GV bộ môn, GV dạy môn Những nguyên lý cơ bản
Chủ nghĩa Mác – Lênin và SV về vai trò của việc sử dụng mạng xã hội trongnhà trường
Hiện nay, chất lượng giáo dục luôn được đặt lên hàng đầu, đặc biệt làđối với SV - giai đoạn then chốt, tạo điều kiện cho SV khả năng tiếp nhậnthích ứng cho quá trình học tập và làm việc sau này Để làm tốt điều đó, cầnphải rèn luyện cho SV khả năng sử dụng mạng xã hội
Để tìm hiểu nhận thức của GV và SV trường Đại học Sư phạm quátrình tìm hiểu và sử dụng, chúng tôi đưa ra câu hỏi, với 4 mức độ là: “rất cầnthiết - cần thiết - bình thường - không cần thiết” Kết quả thu được như sau:
STT
S c n thi t c aực tiễn ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ế ủa Chủ nghĩa Mác – Lênin
vi c ệm mạng vi c sệm mạng ử lý thông tin
d ng m ng xãụng vào ạng
1 R t c n thi tất ần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ế 52 86,7 10 100 197 73,5
2 C n thi tần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ế 8 13,3 0 0 56 20,9
4 Không c n thi tần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những ế 0 0 0 0 2 0,7
Bảng 1.2 Nhận thức các GV bộ môn, GV môn Những nguyên lý cơ bản Chủ
nghĩa Mác – Lênin về việc sử dụng mạng xã hội cho SV
Qua bảng số liệu trên, chúng tôi nhận thấy:
- Từ phía GV: 100% GV môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaMác – Lênin đều khẳng định việc sử mạng xã hội cho SV có vai trò rất cầnthiết Phần lớn GV các bộ môn khác khẳng định việc sử dụng mạng xã hội là
Trang 35rất cần thiết đối với mỗi SV trong quá trình học tập ở trường Đại Học SưPhạm Trong tổng số 60 GV được hỏi có 52 GV (86,7%) cho là rất cần thiết,
8 GV (13,3%) cho là cần thiết Như vậy, đại đa số GV đã nhận thức được vaitrò quan trọng việc việc sử dụng mạng xã hội trong nhà trường cho SV, từ đó
đề ra những hướng đi cho riêng bản thân để có thể tích hợp sử dụng mạng xãhội cho SV thông qua nội dung các bài học
- Từ phía SV: Qua bảng 3 cho thấy, trong tổng số 268 SV được hỏi có
197 em (chiếm 73,5%) đánh giá sử dụng mạng xã hội là “rất cần thiết”, 56 em(20,9%) cho là “cần thiết” Tuy nhiên vẫn có 2 em (chiếm 0,7%) chưa nhậnthức đúng đắn nên cho là “không cần thiết” Như vậy, đa số SV đã nhận thứcđược việc sử dụng mạng xã hội sẽ giúp SV tiếp thu bài học tốt hơn
Nhận xét của GV về sử dụng mạng xã hội cho SV thông qua nội dungcác môn học:
GV môn Nh ngững nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – LêninNLCB Mác-Lênin
có rất ít GV (10,1% ) cho rằng là “ dễ” và “ rất dễ”
Thực trạng trên cho thấy, việc sử dụng mạng xã hội cho SV thông quamôn học là rất khó do đặc thù môn học, thời lượng kiến thức
Trang 36- Đối với GV bộ môn Những NLCB Mác-Lênin: Việc sử dụng mạng
xã hội cho SV theo đánh giá của bảng phiếu thu lại thì mỗi GV có nhận thứckhác nhau tùy mức độ Với 3 phiếu được hỏi thì có 4 phiếu có câu trả lời:
“bình thường”, có 6 phiếu có câu trả lời: “khó” Thực trạng trên cho thấy, việcsử dụng mạng xã hội cho SV thông qua môn học này cũng tùy vào quan niệm,
sự nhận thức của từng GV
Từ thực trạng trên chúng tôi đã tiến hành thăm dò một số ý kiến của SV
về việc sử dụng mạng xã hội qua môn học như thế nào? Kết quả cho thấy ởmột số SV được hỏi cho rằng: Sử dụng mạng xã hội là rất thiết thực và đápứng nhu cầu trao đổi thông tin dễ dàng
Từ những quan điểm trên cho thấy, muốn sử dụng mạng xã hội thật sựđem lại hiệu quả cao và thuận lợi thì cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữacác lực lượng giáo dục trong nhà trường
Để đánh giá mức độ hứng thú của SV khi học các môn có kết hợp vớiviệc rèn luyện KNGT như thế nào, chúng tôi tiến hành tìm hiểu:
Đánh giá mức độ hứng thú của SV khi dạy học có sử dụng mạng xã hội
và 7 phiếu (11,4%) là không thích học những giờ có sử dụng mạng xã hội quamôn học
Trang 37Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn sau một số SV thì đa số các em lạirất hứng thú và thích học những giờ học mà các giáo viên có sử dụng mạng xãhội, đặc biệt là trong môn Những nguyên lý cơ bản Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Em Nguyễn Thị Xuân, lớp 3A tâm sự: “Em rất hứng thú khi học giờ côHương giảng dạy, ngoài kiến thức trong sách thì cô còn dạy cho chúng em rấtnhiều khai thác và xử lý thông tin tư liệu, kiến thức trên mạng xã hội Nhưvậy, sử dụng mạng xã hội vào trong môn học đã đem lại hiệu quả nhất địnhtrong việc trang bị cho các em những bước khởi đầu cần thiết giúp các SVkhai thác, xử lý thông tin đạt kết quả cao
Thực trạng trên nói lên rằng, tuy việc sử dụng mạng xã hội qua dạy họcmôn Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin chưa làm tốt được yêucầu đặt ra Bởi việc sử dụng mạng xã hội vào trong các bài học bên cạnhnhững thuận lợi còn không ít khó khăn
1.2.1.5 Sự cần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin ở Trường Cao đẳng, Đại học
Với sự bùng nổ công nghệ thông tin giúp việc truyền đạt, trao đổithông tin, hợp tác, giao lưu giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắphành tinh diễn ra nhanh chóng và cực kỳ tiện ích, góp phần vào sự phát triểncủa quyền tự do ngôn luận trên toàn thế giới Chính vì vậy, mạng internet,mạng xã hội là phương tiện giúp cho mọi người trên toàn thế giới gần gũinhau hơn, là đòn bẩy giúp phát huy sức mạnh cộng đồng, trong đó có sứcmạnh của những người trẻ, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế tri thức
Mạng internet, mạng xã hội đã đóng một phần quan trọng trong lĩnhvực giáo dục Như đào tạo từ xa, học trực tuyến qua mạng, thậm chí là họccác chương trình đào tạo của nước ngoài thông qua Internet đã không cònmới mẻ ở nước ta hiện nay Học viên có thể học bất cứ lúc nào có thời gianrảnh và trao đổi trực tiếp với giáo viên trên mạng xã hội, vừa tiết kiệm chi phí
Trang 38vừa tiết kiệm được thời gian Vì vậy, phương thức đào tạo này mang tính cáchmạng trong lĩnh vực giáo dục đã mở ra cơ hội học tập cho những đối tượngkhông có thời gian đến lớp trực tiếp hoặc vừa làm vừa học,cũng là kho kiếnthức rộng rãi để cho mội người khai thác giúp cho quá trình học tập suốt đờidễ dàng hơn.
Để phù hợp xu thế hội nhập quốc tế giáo dục cần phải thay đổi phươngpháp dạy học cho phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại Khi phươngpháp dạy học truyền thống rất mất thời gian,chi phí tốn kiếm mà lượng thôngtin và kiến thức quá nhiều nên rất khó khăn để tiếp thu những tri thức mới Vìvậy mạng internet, mạng xã hội ra đời là phương tiện, công cụ rất phù hợptích hợp giáo dục hiện đại giúp người học tiết kiệm thời gian và chi phí màvẫn tiếp thu được lượng thông tin tri thức mới nhanh nhất, mới nhất thông quaviệc học tập trên mạng
Đối với môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin làmôn khoa học trừu tượng và đòi hỏi chính xác, chân thật, sáng tạo Nên việcgiảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin cần làmrõ được bản chất khoa học của nó, do vậy người học cũng cần phải chủ độngtìm tòi, và tự học, tự tiếp thu những tri thức mới, để học suốt đời Qua nhữngphân tích trên khăng định sự cần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy và họcmôn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin là một yêu cầu cầnthiết để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học ở trường ĐHSP Huế nói riêng
và các Trường ĐH nói chung
Ý nghĩa của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin là một yêu cầu cần thiết để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học ở trường ĐHSP Huế.
Việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác –Lênin có thể diễn ra trên lớp học cố định và cũng có thể
Trang 39diễn ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu như trên lớp học ảo (trên mạng) được tậphợp thành nhóm nhỏ hay từng cá nhân.
Viêc học của người học có thể được cá nhân hóa với sự giúp đỡ củangười dạy bằng cách trao đổi trực tiếp với người dạy mà không cần mất thờigian gặp mặt trực tiếp
Việc truy cập mạng xã hội thường xuyên có thể trang bị thêm chongười học các thông tin, các kỹ năng về công nghệ và ngoại ngữ nói chung
Việc truy cập mạng xã hội để khai thác, xử lý thông tin môn học trongthư mục điện tử, tài liệu số cũng tạo cho người dạy và người học niềm đam
mê, hứng thú trong học tập và giảng dạy , giúp cho họ có thêm động cơ họctập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin
Người học có thể chủ động trong việc xây dựng lộ trình học tập củamình và có thể mở rộng hoặc giới hạn mối quan tâm của mình
Những bài giảng môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin trên mạng xã hội là công cụ quan trọng trong việc giúp người học thựchành khả năng làm việc nghiên cứu độc lập
Môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin là nhữngkiến thức khá trừu tượng và khái quát liên quan đến nhiều môn khoa họckhác, kể cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Người dạy có thể liên kếtcác ngành kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bài giảng điện tử tận dụng đượckho thông tin, hình ảnh khổng lồ trên mạng xã hội giúp người học dễ dàngliên hệ thực tế, thêm nhiều kiến thức về kinh tế văn hóa xã hội mà trong giáotrình không thể đưa ra hết, giúp chúng ta cập nhật thông tin, tiết kiệm thờigian học, và chuẩn bị các đồ dùng dạy học
Người học có thể làm việc theo nhóm, độc lập hay kết hợp với nhiềuthành viên ngoài lớp học, ngoài trường, ngoài thành phố, thậm chí quốc gia để
có thể thực hiện việc học tập của mình Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn đốivới sinh viên trường ĐHSP Huế có cơ hội tiếp xúc với những tri thức về kinh
Trang 40tế chính trị mới nhất, tránh tình trạng lạc hậu về kiến thức, hạn chế trong cáchnhìn nhận.
Như vậy có thể thấy việc xây dựng bài giảng Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác –Lênin sử dụng mạng xã hội là hết sức cần thiết, có thểứng dụng cho nhiều môn khoa học khác và cho nhiều đối tượng học tập khác,với các hình thức học tập đa dạng và phong phú