1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

190 450 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân…, là đòi hỏi khách quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam cụ thể là đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH NGỌC THẮNG

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân trong điều kiện xây dựng

và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay

Chuyờn ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và phỏp luật

Mó số : 62 38 01 01

luận án tiến sĩ LUậT HọC

Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts NGUYễN THị VIệT HƯƠNG

Hà Nội - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu

c ủa riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có

ngu ồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận án

ch ưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

ĐINH NGỌC THẮNG

Trang 3

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY

2.1 Quan niệm về dân chủ và xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở

2.2 Hội đồng nhân dân - thiết chế dân chủ ở địa phương 40 2.3 Một số mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa

phương trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam 60

Chương 3: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI

3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Hội đồng nhân dân ở Việt Nam 75 3.2 Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân theo pháp luật Việt

3.3 Ưu điểm và bất cập trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng

Chương 4: NHU CẦU, QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG

ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NỀN DÂN CHỦ Ở

4.1 Nhu cầu khách quan đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng

nhân dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở

4.2 Các quan điểm đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân

dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt

4.3 Các giải pháp bảo đảm đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng

nhân dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở

Trang 4

1 ASEAN : Các quốc gia Đông Nam Á

2 DCTT : Dân chủ trực tiếp

3 HĐND : Hội đồng nhân dân

4 LLSX : Lực lượng sản xuất

5 NNPQ : Nhà nước pháp quyền

6 UBND : Ủy ban nhân dân

7 UBHC : Ủy ban hành chính

8 XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xét về bản chất, dân chủ và pháp quyền có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau Có thể khẳng định Dân chủ Xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một hình thức chính trị - nhà nước của xã hội, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực Chính vì vậy, dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển của công cuộc đổi mới đất nước Dân chủ luôn luôn là mục tiêu lớn của cách mạng Việt Nam

và dân chủ hóa là con đường để hiện thực hóa mục tiêu đó Tuy nhiên, mở rộng dân chủ và quá trình dân chủ hóa phải được thực hiện trên một nền tảng pháp luật vững chắc và một cơ chế hoạt động hợp lý, có hiệu quả từ phía nhà nước Xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh chính là một biện pháp quan trọng nhằm khắc phục những hạn chế của chế độ dân chủ trước đây, góp phần tiếp tục đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa và đáp ứng tốt hơn đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 12 tháng 01 năm 2011 đến ngày 19 tháng 1 năm 2011 đã tiếp tục khẳng định mục tiêu xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Từ mục tiêu này, Đảng ta khẳng định Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu

sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và

Trang 6

trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân

1.2 Sắc lệnh tổ chức và hoạt động của HĐND và ủy ban Hành chính

(UBHC) (số 63/SL ngày 22-11-1945) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký là văn bản pháp luật đầu tiên đặt nền móng cho việc tổ chức, hoạt động của HĐND các cấp Trải qua các giai đoạn lịch sử, thiết chế HĐND đã không ngừng được hoàn thiện, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên trong thực tế hoạt động của HĐND

ở nhiều địa phương vẫn còn mang tính hình thức chưa phát huy một cách có hiệu quả vị trí, vai trò của mình

1.3 Cải cách hành chính nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết là cải cách

tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm

vụ, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô thị và nông thôn Quá trình cải cách hành chính ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số kết quả tích cực, song trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc về thể chế, tổ chức bộ máy, con người và hiệu quả quản lý Việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở cả trung ương và địa phương, phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn đang là đòi hỏi bức thiết hiện nay Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững của các địa phương trong những năm tiếp theo đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương, đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường

và hội nhập kinh tế quốc tế

1.4 Hiện nay, Quốc hội giao cho Chính phủ thực hiện thí điểm không

tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường với mục đích qua thí điểm sẽ

Trang 7

tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi Hiến pháp, pháp luật về

tổ chức chính quyền địa phương, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương

Trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân, đơn vị hành chính huyện, quận, phường chỉ còn Ủy ban nhân dân, với tư cách

là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Việc nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường là yêu cầu bức thiết, góp phần kiến nghị đổi mới đồng bộ bộ máy chính quyền địa phương khi việc thí điểm đạt kết quả và triển khai trên diện rộng

Mặt khác, để có căn cứ sửa đổi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, việc nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường khi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân là việc làm cần thiết

1.5 Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm

vi được phân cấp Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân…, là đòi hỏi khách quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam (cụ thể là đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của người dân tại cơ sở)

Từ những lý do trình bày ở trên, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận

và thực tiễn về HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết nhằm góp phần tiếp tục hoàn thiện quy định

về tổ chức và hoạt động của HĐND, đáp ứng những yêu cầu mà thực tiễn đang đặt ra cho công tác nghiên cứu lý luận về tổ chức và hoạt động của HĐND ở Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án sẽ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về yêu đổi mới tổ chức và hoạt động HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam dưới góc độ lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Trang 8

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trình bày một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐND nhằm xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam trong các văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu và trong thực tiễn

- Trình bày những quan điểm lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng chính quyền địa phương (trong đó tập trung vào việc đánh giá thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường), rút ra những yếu tố hợp

lý góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là xác định những căn cứ lý luận và thực tiễn làm

cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ khái niệm dân chủ và quá trình xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

- Làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng của HĐND trong bộ máy nhà nước và vai trò của HĐND trong việc đảm bảo quyền làm chủ của người dân

- Khái quát lịch sử phát triển, thực trạng về mô hình tổ chức và hoạt động của HĐND ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay và xác định những vấn đề hạn chế cần giải quyết nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

- Phân tích mô hình tổ chức chính quyền địa phương của một số quốc gia trên thế giới để rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc xây dựng mô hình tổ chức HĐNDở Việt Nam

Trang 9

- Xác định quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

4.1 Phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các học thuyết chính trị về nhà nước và pháp luật trên thế giới; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước Việt Nam về đổi mới bộ máy nhà nước nói chung và Hội đồng nhân dân nói riêng; về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐND trong bộ máy nhà nước Luận án cũng được nghiên cứu trên cơ sở lý luận về xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, trước hết là Luật tổ chức HĐND và UBND; những vấn đề rút ra

từ việc sơ kết thực tiễn thi hành Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm không

tổ chức HĐND ở một số huyện, quận, phường; những quy định khác về tổ chức

và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để phân tích các tài liệu thu thập được trên cơ sở đó có những đánh giá khoa học

về những ưu điểm, hạn chế của các vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin và ý kiến từ các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề tổ chức, hoạt động của HĐND và đổi mới tổ chức, hoạt động của thiết chế này trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam thông qua các cuộc trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp qua các phương tiện thông tin hiện đại

Trang 10

- Phương pháp thống kê: Bằng phương pháp này, tác giả thu thập được các số liệu thống kê cần thiết phục vụ cho việc đưa ra các luận chứng khoa học của mình

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ việc phân tích tài liệu, chuyên gia… nhằm đưa

ra những luận giải, nhận xét của tác giả về các vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh các vấn đề nghiên cứu trong nước tại từng thời điểm hoặc để so sánh với các vấn

đề nghiên cứu ở nước ngoài Từ đó, rút ra bài học và lựa chọn những yếu tố hợp lý, phù hợp để áp dụng trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện,

hệ thống vấn đề về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam Bởi vậy, luận án có những điểm mới sau đây:

- Luận án có cách tiếp cận về HĐND theo lát cắt dựa vào đặc điểm của nền dân chủ và yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam, qua đó phát hiện những vấn đề bất cập đang đặt ra cần phải có nhận thức mới, quan điểm mới trong tổ chức và hoạt động của HĐND phù hợp với điều kiện đất nước trong thời kỳ đổi mới;

- Đưa ra quan niệm về dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, từ đó khái quát về những yêu cầu đảm bảo dân chủ trong tổ chức và hoạt động của HĐND;

- Phân tích, đánh giá về thực tiễn thực hiện chủ trương thí điểm không

tổ chức HĐND huyện, quận, phường Từ đó, đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế của chủ trương này;

Trang 11

- Qua nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền địa phương của một số nước trên thế giới, luận án góp phần trong việc phân tích kinh nghiệm tổ chức chính quyền địa phương ở một số nước trên thế giới và đưa ra những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND

- Qua nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của HĐND trong pháp luật và thực tiễn vận động của thiết chế này ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, luận án xác định những thành công và hạn chế về tổ chức và hoạt động của HĐND ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những vấn đề bất cập cần khắc phục trong tổ chức và hoạt động của HĐND đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam;

- Xác định định hướng, quan điểm và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: Luận án góp phần bổ sung, làm phong phú, hoàn chỉnh thêm các luận chứng khoa học về quan điểm, đường lối cải cách bộ máy nhà nước nói chung và HĐND nói riêng ở nước ta trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Từ đó, tạo ra sự nhận thức đúng đắn và góp phần bổ sung những tri thức mới để thúc đẩy quá trình cải cách tổ chức

và hoạt động của HĐND phù hợp với điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở nước ta hiện nay

Về mặt thực tiễn: Kết quả luận án có thể làm tài liệu phục vụ cho việc tham khảo, học tập kinh nghiệm tổ chức bộ máy chính quyền địa phương của các nước khác và việc rút kinh nghiệm về tổ chức, hoạt động của HĐND ở nước ta trong các giai đoạn nhằm tìm ra những biện pháp phù hợp để đổi mới

tổ chức, hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở nước ta hiện nay Vì vậy, luận án có giá trị làm tài liệu tham khảo

Trang 12

cho các cơ quan nghiên cứu về cải cách bộ máy nhà nước, HĐND các cấp và cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý

7 Kết cấu của luận án

Với đối tượng, phạm vi nghiên cứu và mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra như trình bày trên đây, luận án được kết cấu gồm: ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 4 chương, 12 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Vấn đề dân chủ và vai trò của HĐND trong việc bảo đảm quyền làm chủ của người dân luôn được các nhà khoa học dành mối quan tâm đặc biệt Trong những năm gần đây, trước yêu cầu đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vấn đề này đã được các nhà khoa học nghiên cứu một cách công phu, nghiêm túc Có thể khái quát tình hình nghiên cứu đó như sau:

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dân chủ và yêu cầu hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay

GS.TSKH Đào Trí úc: "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật" (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991), "Nhà nước và pháp luật của chúng

ta trong s ự nghiệp đổi mới" (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997); "Xây

d ựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/1997), các công trình của tập

thể các nhà khoa học của Viện Nhà nước và Pháp luật được công bố trong

những năm gần đây: "Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp

lu ật" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); Kỷ yếu Hội thảo khoa học:

"Nh ững vấn đề lý luận về nền chính trị và hệ thống chính trị ở nước ta"

thuộc đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.01.04 năm 1993; Chương trình

KH-CN KX 01: "Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta"; Đề tài KX 05-05 thuộc Chương trình Nhà nước KX 05: "Cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong hệ

th ống chính trị ở nước ta hiện nay" (Hà Nội, 1993); "Dân chủ tư sản và

dân ch ủ xã hội chủ nghĩa" của Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo (Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1991); "Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện

Trang 14

nay" của TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông (chủ biên, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2005); "Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực

ti ễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2005) Cùng hàng loạt các các bài nghiên cứu của PGS.TS Lê Minh Thông, PGS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS Bùi Xuân Đức, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng, PGS TS Vũ Thư; hay kết quả nghiên cứu ban đầu của các tác giả

Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.04: "Xây dựng Nhà nước pháp

quy ền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân" do GS.VS Nguyễn Duy

Quý làm chủ nhiệm Tất cả những công trình nghiên cứu khoa học này, ở những khía cạnh và cấp độ khác nhau, đều phân tích những tiền đề lý luận chung về nhà nước, pháp luật, về nhà nước pháp quyền, mối quan hệ nhà nước - công dân, về dân chủ và các hình thức dân chủ; bản chất của nó trong một xã hội phát triển

Trong số các công trình nghiên cứu về dân chủ và các hình thức thực hiện dân chủ ở nước ta trong những năm gần đây cũng cần kể đến các bài viết của GS.TS Nguyễn Phú Trọng, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nguyễn Văn Thảo; Phùng Văn Tửu, GS.TS Hoàng Chí Bảo, GS.TS Hoàng Văn Hảo, PGS.TS Nguyễn Đăng Dung và của các tác giả khác trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Nghiên cứu lập pháp và các tạp chí chuyên ngành khác Các bài viết đã đề cập ở cấp vĩ mô hoặc chuyên sâu các vấn đề lý luận - thực tiễn của dân chủ và dân chủ hóa trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; về lịch sử, khái niệm, phạm trù, nội dung của dân chủ; xác lập quan điểm, nguyên tắc và giải pháp thực hiện cơ chế thực hiện dân chủ ở nước ta

Tuy nhiên, liên quan nhiều hơn đến vấn đề của luận án là các công trình nghiên cứu quan trọng và mang tính hệ thống cao như: Đề tài khoa

học với số đăng ký: 96-98-043/ĐT "Tổ chức thực hiện quyền lực nhân

dân và m ối quan hệ giữa nhà nước và công dân" (Hà Nội, 2000 do TS

Trang 15

Đinh Văn Mậu Chủ nhiệm và TS Phạm Hồng Thái làm Thư ký); "Dân

ch ủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn"(Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001 của TS Nguyễn Tiến Phồn); "Các đoàn thể nhân dân với việc

b ảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2003, Phan Xuân Sơn (chủ biên); "Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã-

m ột số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2000, PGS.TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên); "Một số suy nghĩ về xây

d ựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2004, TS Đỗ Trung Hiếu) và nhiều công trình khác của các tác giả và tập thể tác giả của Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý -

Bộ Tư pháp, Trung tâm nghiên cứu quyền con người - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh… Những bài viết và đề tài nghiên cứu này chủ yếu

đề cập nhiều đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân chủ, nội dung, cơ chế và phương thức thực hiện dân chủ và sự phát triển của dân chủ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; phân tích một cách bao quát mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước với thực hiện và phát huy quyền làm chủ của công dân, đồng thời các tác giả cũng đưa ra những kiến nghị liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

Trong khoa học chính trị, pháp lý hiện tại ở nước ta, liên quan trực

tiếp và mật thiết nhất với nội dung của luận án là các công trình: "Chủ tịch Hồ

Chí Minh v ới sự nghiệp thực hiện quyền lực nhân dân ở nước ta", GS.TSKH

Đào Trí úc, Tạp chí Cộng sản, số 4/1990; "Dân chủ là gì?" GS Hồ văn Thông,

Tạp chí Cộng sản số 3/1990; "Các nội dung cơ bản của khái niệm dân chủ"

TS Nguyễn Đăng Quang, Tạp chí Cộng sản, số 4/1990; "Khái niệm dân chủ,

s ự khác nhau và giống nhau giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ

ngh ĩa" TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Cộng sản, số 3/1990; "Dân chủ và Nhà

n ước bảo đảm thực hiện dân chủ", Nguyễn Văn Thảo, Tạp chí Cộng sản, số 3/1990; "Vấn đề dân chủ", Hà Xuân Trường, Tạp chí Cộng sản số 1/1990;

Trang 16

"Thực hiện dân chủ trực tiếp trên địa bàn làng, xã", Bùi Ngọc Trình, Tạp chí Cộng sản số 19/1997; "Làm chủ - một tư tưởng cao đẹp", Vũ Hiền, Tạp chí Cộng sản, số 7/1997; "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở", Đỗ Mười, Tạp chí Cộng sản, số 20/1998; "Thực hiện dân chủ ở cơ sở", PGS, TS Trần Quang Nhiếp, Tạp chí Cộng sản số 13/1998; "Dân chủ và kỷ cương", GS Văn Tạo, Tạp chí Cộng sản số 13/1998; "Củng cố các hình thức dân chủ vì sự

v ững mạnh của Nhà nước ta", GS, TSKH Đào Trí úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/1998; "Để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân

và vì dân ", PGS, TS Lê Minh Thông, Tạp chí Triết học số 1/1998; "Dân chủ

làng xã - nh ững vấn đề cần đặt ra nghiên cứu", Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/1998; "Một số ý kiến về dân chủ trực tiếp", Nguyễn Văn Mạnh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/1998; "Mở rộng

dân ch ủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động" của Lưu Văn Sùng, Tạp chí Cộng sản số 17/1997; "Mở rộng dân chủ trực

ti ếp, thiết thực, đúng hướng và có hiệu quả" của Hoàng Minh, Tạp chí Cộng sản số 22/1997; "Sự lãnh đạo của đảng với việc phát huy dân chủ trong xã

h ội", TS Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lý luận chính trị số 8/2001; "Bảo đảm và

phát huy dân ch ủ trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền", GS TS Tô

Huy Rứa, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 2-2000 Luận án PTS Luật học của

NCS Nguyễn Văn Mạnh: "Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực

hi ện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay", Hà Nội 1995; "Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở nước ta" của

PGS.TS Lê Minh Thông đăng trên Tạp chí Nhà nước & Pháp luật 8/2000;…

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về Hội đồng nhân dân và vấn đề đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân ở Việt Nam

1.1.2.1 Nhóm các đề tài khoa học

- Đề tài cấp Bộ: "Tổ chức hành chính địa phương" do PGS.TS Nguyễn

Hữu Tri làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 1998 Đề tài đã làm rõ mỗi

Trang 17

chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều có những nội dung và cách thức quản

lý đất nước khác nhau Thực chất của các hoạt động này là mối quan hệ thi hành quyền lực giữa nhà nước trung ương với các cấp chính quyền địa phương, trong đó hành chính địa phương là cơ bản nhất để biến ý muốn của các nhà quản lý đất nước thành hiện thực và tạo ra sự hoà nhập giữa ý chí của dân chúng với các chủ trương, chính sách của nhà nước

- Đề tài cấp Bộ: "Phân cấp quản lý trong hệ thống hành chính nhà

n ước của chính quyền địa phương - ví dụ trên một số lĩnh vực", do TS Bùi

Đức Kháng làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2002 Đề tài đã giải quyết những nội dung sau: Căn cứ mối tương quan giữa chức năng chấp hành và chức năng đại diện cộng đồng, các tác giả đưa ra hai mô hình tổ chức chính quyền địa phương Mô hình chính quyền địa phương thiên về tản quyền với đặc trưng chức năng chấp hành nổi trội hơn chức năng đại diện và mô hình chính quyền địa phương thiên về phân quyền với sự nổi trội hơn của chức năng đại diện cộng đồng; các tác giả cũng rút ra kết luận không thể có mẫu hình chung về phân công, phân cấp cho mọi cấp, mọi ngành từ đó các tác giả đưa ra những giải pháp mang tính định hướng chung để đẩy nhanh quá trình phân công, phân cấp quản lý hành chính nhà nước

- Đề tài cấp Bộ: "Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cơ

s ở các nước ASEAN", do PGS.TS Võ Kim Sơn làm chủ nhiệm, bảo vệ thành

công năm 2002 Đề tài gồm ba chương Qua phân tích, đánh giá, nhóm tác giả

đã cung cấp một khối lượng thông tin, tư liệu lớn về chính quyền địa phương nói chung và chính quyền địa phương cơ sở nói riêng Đề tài đã hệ thống hoá thực trạng chính quyền cơ sở các nước ASEAN, với tính đa dạng, muôn màu, muôn vẻ của từng nước Các tác giả cũng đã tiến hành so sánh hành chính cơ

sở các nước ASEAN với 11 tiêu chí: thể chế tổ chức bộ máy, lịch sử hình thành, pháp lý, cấp, loại chính quyền, quy mô, tính chất, quyền hạn, quy trình thành lập, nhân sự, tài chính và cải cách hành chính Từ việc nghiên cứu

Trang 18

chính quyền địa phương cơ sở các nước ASEAN cũng như một số nước đối tác của ASEAN, các tác giả đã tìm ra những nét đặc trưng chung của các mô hình, đồng thời tìm ra được những nét đặc trưng riêng Trên cơ sở đó tạo cơ hội cho các nhà quản lý điều chỉnh, thay đổi cách thức tổ chức, hoạt động và quản lý chính quyền địa phương các cấp thông qua việc học tập kinh nghiệm của các nước

- Đề tài cấp Bộ: "Cơ sở phương pháp luận của sự phân chia các đơn vị

và các c ấp lãnh thổ hành chính ở Việt Nam", do TS Nguyễn Hữu Khiển làm

chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2002 Các tác giả khẳng định lãnh thổ hành chính là "bộ khung", là hình thức trong đó diễn ra các nội dung kinh tế -

xã hội của một nhà nước Vì vậy, việc phân chia hợp lý các đơn vị hành chính bên trong là một đòi hỏi, là một sự hoàn thiện việc tăng cường độc lập chủ quyền, giữ vững thể chế, mở rộng dân chủ Trên cơ sở đó, đề tài hướng đến việc tạo lập những cơ sở khoa học thiết thực cho việc phân định địa giới hành chính

- Đề tài cấp Bộ: "Hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã và vấn đề phát

huy dân ch ủ cơ sở", do TS Vũ Đức Đán làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công

năm 2002 Đề tài gồm 3 chương Trong đó vừa đưa ra các cơ sở lý luận về chính quyền cấp xã, vừa khảo sát đánh giá thực trạng về tổ chức, hoạt động từ

đó nêu lên một số phương hướng nhằm hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp

xã như: chú trọng kiện toàn tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND xã, củng cố vai trò của trưởng thôn, trưởng bản, quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã; tăng cường dân chủ cơ sở thông qua việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng và văn hoá - xã hội, chú trọng xây dựng các thôn, làng tự quản

- Đề tài cấp Bộ: "Thiết lập mô hình tổ chức chính quyền đô thị" do

PGS.TS Phạm Hồng Thái làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2003 Các tác giả đã chỉ ra nhiều cách tiếp cận khác nhau về tổ chức chính quyền đô thị Trên cơ sở nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền đô thị Việt Nam qua các

Trang 19

thời kỳ và tham khảo mô hình tổ chức chính quyền đô thị một số nước trên thế giới, các tác giả đã đưa ra những kiến nghị thiết lập mô hình tổ chức chính quyền

đô thị ở Việt Nam, đó là: cần phải có sự phân biệt giữa nông thôn và thành thị,

do đó cần phải thu hẹp tới mức tối thiểu các thành phố hiện nay, không thể bao hàm cả vùng nông thôn rộng lớn, thậm chí cả miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo; thiết lập một cấp chính quyền đô thị hoàn chỉnh và hai cấp hành chính, ngoại đô tổ chức như các vùng nông thôn; chuyển chế độ bầu và phê chuẩn thành chế độ bổ nhiệm; phân biệt các cơ quan chuyên môn của UBND

- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng

mô hình c ơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo tinh thần Nghị

quy ết Trung ương 5 khoá X" do PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2009 Đề tài gồm 3 chương hướng tới giải quyết 03 vấn đề sau: Chương 1 nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc xây dựng mô hình

cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo Nghị quyết Trung ương

5 khoá X Chương 2 của đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá X Chương 3 của đề tài các tác giả đã chỉ ra một số vấn đề đúc kết từ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa X Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị cả về lý luận và thực tiễn là tài liệu tham khảo quý cho những nhà nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

- Đề tài cấp Bộ: “ Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và

ho ạt động của Hội đồng nhân dân địa phương” (góp phần sửa đổi chế định

H ội đồng nhân dân trong Hiến pháp năm 1992) do GS.TS Thái Vĩnh Thắng

làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2012 Đề tài là một công trình công phu với gần 500 trang của tập thể các tác giả có uy tín và kinh nghiệm trong nghiên cứu về Bộ máy nhà nước nói chung và HĐND nói riêng Đề tài gồm 4

Trang 20

chương hướng tới việc giải quyết những nội dung như sau: Nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng của HĐND trong tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế; Nghiên cứu phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của HĐND, UBND và cấp ủy đảng các cấp Phân biệt chức năng, nhiệm vụ của HĐND ở khu vực đô thị và HĐND ở khu vực nông thôn Việc phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương Những điều kiện cần thiết để đảm bảo HĐND địa phương hoạt động độc lập, có hiệu lực, hiệu quả; Nghiên cứu kinh nghiệm

tổ chức và hoạt động của HĐND ở các nước lục địa Châu Âu, Châu Mỹ La tinh, Châu Á, Đông Nam Á; Nghiên cứu nhu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa; Nghiên cứu phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động HĐND, cách thức bầu cử HĐND ở nước ta hiện nay Những kết quả nghiên cứu nói trên là nguồn tư liệu quý giá để tác giả có thêm định hướng và cơ sở trong khi thực hiện nội dung của luận án

1.1.2.2 Nhóm các luận văn, luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ

- Trương Đắc Linh (2002), Chính quyền địa phương với việc bảo đảm

thi hành Hi ến pháp và pháp luật ở địa phương, Luận án Tiến sĩ Luật học Tác

giả luận án đã xây dựng được khái niệm về chính quyền địa phương, xác định vị trí vai trò của chính quyền địa phương trong bộ máy nhà nước nói chung và vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật Luận án cũng đã xác định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, đồng thời phân tích thực trạng, chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những nguyên nhân của sự yếu kém trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật của chính quyền địa phương trong thời gian qua Luận án cũng đã nghiên cứu về chính quyền địa phương và vấn đề bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở một số nước trên thế giới, từ đó để có sự so sánh và rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam Trên cơ sở những đánh giá, kết luận và có sự so

Trang 21

sánh với chính quyền địa phương một số nước trên thế giới, Luận án đã đề ra phương hướng tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở nước ta hiện nay

- Nguyễn Thị Phượng (2008), Chính quyền địa phương trong việc bảo

v ệ quyền công dân ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính nhà nước

Tác giả Luận án đã xây dựng được các khái niệm về quyền công dân nói chung và quyền công dân ở Việt Nam nói riêng, xác định được các đặc điểm

và mối quan hệ trong việc thực hiện các quyền công dân Luận án cũng đã đi sâu phân tích, đánh giá về hoạt động của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm quyền công dân ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu lên các kiến nghị, đề xuất các giải pháp

để tiếp tục hoàn thiện hoạt động bảo đảm quyền công dân trong điều kiện hiện nay, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong việc bảo đảm quyền công dân

- Đàm Bích Hiên (2007), Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học

Tác giả Luận án đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này góp phần xây dựng bộ máy chính quyền địa phương gọn nhẹ, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tác giả Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, xây dựng những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã Luận án cũng đã đi sâu phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, các quan điểm

và giải pháp về hoàn thiện pháp luật được tác giả nêu ra có sức thuyết phục

Trang 22

cao Đây là tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu nhằm đưa ra những luận chứng khoa học tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy chính quyền địa phương nói riêng ở Việt Nam hiện nay

- Vũ Thị Loan (2008), Hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu hội đồng nhân

dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học Tác giả Luận án đã tập

trung phân tích vị trí, vai trò, chức năng của HĐND trong điều kiện nhà nước pháp quyền XHCN; khẳng định vai trò quan trọng của HĐND trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Luận án cũng đã phân tích thực trạng tổ chức

và hoạt động của HĐND các cấp trong bộ máy chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay Ngoài việc khẳng định những kết quả khả quan trong tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện sâu sắc bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Nhà nước

ta, tác giả Luận án cũng đã chỉ ra những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp Tác giả Luận án đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập đó là do chế độ bầu cử HĐND hiện nay ở nước ta vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý Bằng việc phân tích thực trạng chế

độ bầu cử HĐND ở nước ta trong thời gian qua, tác giả đã nêu một số quan điểm

và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ bầu cử HĐND ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN

- Phạm Quang Hưng (2007), Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính

quy ền địa phương ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học Trên cơ sở hệ

thống hoá những kết quả nghiên cứu về vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, luận văn đã góp phần bổ sung luận chứng về cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay; đồng thời cũng góp phần làm rõ những hạn chế, yếu kém của tổ chức chính quyền địa phương cũng như những nguyên nhân của vấn đề này Trên cơ

sở đó, Luận văn đã nêu lên một số nguyên tắc, đề ra một số phương hướng, giải

Trang 23

pháp chủ yếu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước Tuy nhiên, với quy mô của một luận văn thạc sĩ, vẫn còn nhiều vấn đề về tổ chức chính quyền địa phương mà tác giả chưa giải quyết được Mặc dù vậy, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo quý để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, xây dựng

mô hình tổ chức chính quyền địa phương

1.1.2.3 Nhóm các công trình chuyên khảo

- PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (chủ biên), (2006), Tổ chức bộ máy nhà

n ước Việt Nam theo các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 1992 sửa đổi, bổ

sung 2001, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách tổng quan những vấn đề chung về việc quy định tổ chức bộ máy nhà nước trong các bản Hiến pháp Trong đó, cuốn sách cũng đã tập trung phân tích sâu những quy định về tổ chức

bộ máy nhà nước của Hiến pháp năm 1992 đồng thời chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập dẫn đến nhu cầu tất yếu phải sửa đổi Hiến pháp 1992 Với những nội dung mà cuốn sách đã cung cấp, những nhà khoa học có được nguồn tài liệu cần thiết để tiếp tục nghiên cứu, phân tích đưa ra những luận chứng khoa học tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước trong đó có chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay

- Nguyễn Văn Yểu, GS.TS Lê Hữu Nghĩa (đồng chủ biên) (2006), Xây

d ựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã nhìn nhận lại 20 năm đổi mới

tư duy về Nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; làm rõ những luận điểm khoa học về nhà nước pháp quyền, về phát huy dân chủ, về mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; về tổ chức và phân công quyền lực nhà nước,

về mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 24

- PGS.TS Bùi Xuân Đức (2007), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước

trong giai đoạn hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội Cuốn sách bao gồm các bài

viết, các công trình đã công bố của tác giả trong suốt thời gian dài theo sát quá trình cải cách bộ máy nhà nước Cuốn sách được chia thành 3 phần: Phần

I - Những vấn đề chung về đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước; Phần II - Đổi mới, hoàn thiện các cơ quan nhà nước ở trung ương; Phần III - Đổi mới chính quyền địa phương

- GS.TSKH Đào Trí Úc (chủ biên) (2007), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà

Nội Đặc biệt trong phần III của cuốn sách, các tác giả đã tập trung phân tích khái quát về thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam; nêu lên những nguyên tắc xác định mô hình tổng thể tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và đề xuất mô hình tổng thể về tổ chức

và hoạt động của chính quyền địa phương trong Nhà nước pháp quyền XHCN Trong đó các tác giả đặc biệt quan tâm đến việc xác định tính chất, vị thế của HĐND trong nhà nước pháp quyền Theo các tác giả, đã đến lúc phải thừa nhận tính chất tự quản của HĐND nhưng không vì thế mà phủ nhận tính chất quyền lực của cơ quan này Theo đó, HĐND vẫn có vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, lại vừa có vị trí là cơ quan đại diện cho cộng đồng dân cư để quyết định những vấn đề của địa phương và thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước

- GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Phạm Hữu Nghị (đồng chủ biên)

(2009), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Từ điển bách khoa,

Hà Nội Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả, như: GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Phạm Hữu Nghị, TS.Nguyễn Minh Đoan, PGS.TS Bùi Xuân Đức, PGS.TS Nguyễn Như Phát, PGS.TS Lê Minh Thông, TS Nguyễn Thị Việt Hương, PGS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS Dương Đăng Huệ,

Trang 25

PGS.TS Hà Thị Mai Hiên… Hầu hết các bài viết tập trung phân tích các yếu

tố đảm bảo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như: định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong nhà nước pháp quyền, khắc phục sự chồng chéo về chức năng

và nhiệm vụ giữa các cơ quan Đảng và chính quyền, vai trò của Nhà nước, quyền công dân, xã hội dân sự, phân cấp quản lý, hệ thống pháp luật, cải cách

tư pháp… Trong đó PGS.TS Lê Minh Thông đã tập trung phân tích làm rõ vai trò của phân cấp quản lý trong việc đảm bảo thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, xác định rõ mối quan hệ giữa trung ương và địa phương và khẳng định phân cấp là một xu thế tất yếu, là cơ sở đảm bảo quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương được thực hiện thống nhất và thông suốt

- PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2009), Nhà nước là những con số cộng

gi ản đơn, Nxb Lao động, Hà Nội Là một nhà nghiên cứu chuyên sâu, có

nhiều kinh nghiệm về thể chế và bộ máy nhà nước, tác giả đã có cách tiếp cận khá độc đáo khi nói về sự giản đơn trong tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước vô cùng phức tạp nhằm điều hành những vấn đề xã hội đa dạng, muôn màu muôn vẻ với mục tiêu trở thành nhà nước dân chủ với "các cơ thể cấu thành chịu trách nhiệm trước nhân dân" Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích những "phép cộng" giữa xã hội chính trị với xã hội công dân; giữa lập pháp và hành pháp; chính trị và hành chính; trung ương và địa phương v.v… thực chất là miêu tả và đề xuất những phương cách giải quyết mối quan hệ giữa các phạm trù đó trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ XHCN nhằm đổi mới hệ thống chính trị phục vụ xây dựng, củng cố và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Đồng thời tác giả cũng khẳng định, về nguyên tắc hiện nay mọi nhà nước đều phải là nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân Nhưng xu thế của việc thiết lập một nhà nước đại diện buộc nhà nước này phải chịu trách nhiệm Muốn có một nhà nước chịu trách nhiệm rõ ràng, thì

Trang 26

cách thức tổ chức của nhà nước phải hết sức đơn giản Chính sự đơn giản này

là lý do buộc nhà nước phải tổ chức thành cơ cấu những con số cộng đơn giản hai số hạng, và mỗi số hạng phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình Đặc biệt trong chương 5 của cuốn sách, tác giả đã tập trung phân tích sâu mối quan hệ giữa trung ương và địa phương dưới các giác độ phân quyền; phân tích các mô hình tổ chức chính quyền địa phương của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam hiện nay, từ đó tác giả khẳng định để chính quyền địa phương hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả thì cần tăng cường phân cấp

rõ ràng cụ thể hơn và phải được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật

- PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh (2010), Xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã h ội chủ nghĩa Việt Nam - lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội Cuốn sách tập trung phân tích và làm rõ cơ sở lý luận, đặc trưng của nhà nước pháp quyền; cơ sở hình thành quan điểm, tư tưởng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quá trình nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới và đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đánh giá thành tựu, hạn chế trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta; đưa ra quan điểm và giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

ở nước ta hiện nay

- PGS.TS Lê Minh Thông (2011), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà

n ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện

nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1, Yêu cầu đổi mới bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam; Chương 2, Quá trình đổi mới bộ máy nhà nước trong lịch sử lập hiến Việt Nam; Chương

3, Thực trạng mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

từ năm 1992 đến nay; Chương 4, Phương hướng đổi mới mô hình tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách là kết quả nghiên cứu công phu của tác giả qua thời gian dài theo sát công tác cải cách bộ máy nhà nước

Trang 27

Là một nhà nghiên cứu luôn tâm huyết với quá trình cải cách bộ máy nhà nước, tác giả đã cung cấp cho độc giả nguồn tư liệu phong phú với những luận điểm hết sức khoa học về vấn đề cải cách bộ máy nhà nước trong đó có chính quyền địa phương ở Việt Nam Đặc biệt trong mỗi chương, tác giả đều dành những phần riêng cho nghiên cứu về chính quyền địa phương, chỉ ra những ưu điểm và những hạn chế của chính quyền địa phương, xác định đổi mới chính quyền địa phương là tất yếu Tác giả cũng đã đề cập đến một số cơ

sở lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay

1.1.2.4 Nhóm các bài báo nghiên cứu

- PGS.TS Lê Minh Thông, Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và

UBND các c ấp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/1999 Bài viết đã nhấn

mạnh đến vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ mối quan hệ quyền lực giữa bộ máy nhà nước ở trung ương và bộ máy quyền lực nhà nước ở địa phương Tác giả khẳng định cần phải có các biện pháp bảo đảm để HĐND có thực quyền, tránh tính hình thức của HĐND Theo tác giả, để HĐND có thực quyền, cần xem xét lại tính chất "quyền lực" của HĐND, cần đổi mới cách nhìn nhận về tính chất vai trò của HĐND theo hướng xem HĐND là cơ quan

tự quản ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và trước cơ quan nhà nước cấp trên

- Trương Đắc Linh, Bàn về khái niệm chính quyền địa phương, Tạp chí

Khoa học pháp lý số 2/2001 Tác giả khẳng định, hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chính quyền địa phương, tuỳ theo từng giác độ nghiên cứu nhất định mà có thể tiếp cận khái niệm chính quyền địa phương theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp Tác giả cho rằng, theo nghĩa hẹp nếu quan niệm chính quyền địa phương chỉ bao gồm HĐND và UBND là chưa đầy đủ Bởi vậy, theo tác giả chính quyền địa phương ngoài cơ cấu gồm HĐND và UBND còn có

Trang 28

thêm các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Đây là cách tiếp cận khá mới, mở

ra hướng nghiên cứu mới về chính quyền địa phương

- PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Tổ chức chính quyền địa phương của Nước

C ộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - quá trình hình thành và phát triển,

nh ững bất cập và phương hướng đổi mới, Tạp chí Luật học số 4/2002 Bài

viết đã khái quát về quá trình hình thành và phát triển của tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến nay Qua phân tích những ưu điểm và hạn chế về tổ chức chính quyền địa phương qua mỗi thời kỳ, trên cơ sở đó bài viết đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong tổ chức chính quyền địa phương hiện nay và chỉ ra phương hướng để khắc phục những hạn chế, bất cập đó Trong đó, bài viết đã quan tâm đến việc phân biệt tổ chức chính quyền giữa nông thôn và đô thị, cho rằng đó là vấn đề mang tính tất yếu không thể không quan tâm trong việc tổ chức chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay

- PGS.TS Bùi Xuân Đức, Đổi mới tổ chức chính quyền địa phương ở

n ước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9/2002 Từ cách nhìn nhận,

đánh giá những bất cập trong thực trạng tổ chức bộ máy chính quyền địa phương như: việc xác định tính chất của HĐND và UBND chưa thật sự chính xác, cách thức tổ chức HĐND và UBND còn nhiều bất cập, cách thức kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với chính quyền địa phương chưa hiệu quả, không tận dụng được những ưu thế của cách thức tổ chức chính quyền tự quản…, tác giả đã trình bày những quan điểm chung khi đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương và đề xuất một số phương án đổi mới cụ thể Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh đến sự đa dạng hoá các mô hình chính quyền địa phương theo các cấp hành chính, thiết kế lại các mối quan hệ giữa các cơ quan trong chính quyền địa phương và giữa cơ quan chính quyền địa phương với cơ quan nhà nước cấp trên, khẳng định tính chất tự quản của chính quyền địa phương

- Phan Lan Hương, Một vài ý kiến đóng góp về luật tổ chức chính

quy ền địa phương, Việt Báo ngày 09/7/2003 Bài viết cho rằng tổ chức chính

Trang 29

quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay còn quá cồng kềnh, nhiều tầng nấc, chưa có sự phân định rạch ròi chức năng giữa HĐND và UBND, thậm chí giữa chính quyền các cấp Xã, phường là chính quyền cơ sở, quan hệ trực tiếp với dân hàng ngày nhưng cơ cấu quá đơn giản, đội ngũ cán bộ yếu Mô hình

tổ chức chính quyền địa phương hiện nay chưa hợp lý Qua nhiều lần sửa đổi (năm 1962, 1983, 1989, 1994), các luật về chính quyền địa phương chưa thực

sự tạo ra thay đổi cơ bản Chính quyền các cấp chuyển sang thời kỳ kinh tế thị trường không có khác biệt lớn nào so với thời kinh tế tập trung Vì vậy, việc sửa đổi toàn diện các luật về chính quyền địa phương là cần thiết Tác giả cũng đã đưa ra một số ý kiến đóng góp về luật tổ chức chính quyền địa phương như: nên thay tên Luật Tổ chức HĐND và UBND thành Luật Tổ chức chính quyền địa phương; tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp cơ sở là quận, huyện hoặc xã, phường; quy định bầu cử trực tiếp chức danh Chủ tịch Uỷ ban hành chính (UBHC); phân định rõ chức năng của HĐND với UBHC

1.2.

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CèU Þ N ÚC NGOÀI LIÊN QUAN оN ÐÀ TÀITÌNH HÌNH NGHIÊN CèU Þ N ÚC NGOÀI LIÊN QUAN оN ÐÀ TÀI TÌNH HÌNH NGHIÊN CèU Þ N ÚC NGOÀI LIÊN QUAN оN ÐÀ TÀI

Hiện nay, những kết quả nghiên cứu về dân chủ và tổ chức chính quyền địa phương rất đồ sộ và đa dạng Có thể khái quát những công trình tiêu biểu như sau:

- C Mác, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976

- V.I.Lênin, Toàn tập, tập 23,29,33,34,36, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1976

- Huntington, Samuel P (1991), The Third Wave: Democratization in

the Late Twentieth Century, Norman, London: University of Oklahoma Press

(Làn sóng th ứ ba: Sự dân chủ hoá cuối thế kỷ XX)

- The Bureau of International Information Programs, U.S Department

of State (2005), Foundations of Democracy (Tóm tắt nền dân chủ)

Trang 30

- Joe Michael Sasanuma (2004), Japanese electoral politics: reform,

results, and prospects for the future, Boston College, April 2004 (Chế độ

chính tr ị ở Nhật Bản: Cải cách, kết quả và triển vọng cho tương lai)

- IFES (2007), Strategic Concept: Challenges and Opportunities in

Providing Assistance to Parliaments , IFES (Chiến lược tư tưởng: những cơ

h ội và thách thức, điều kiện trợ giúp cho chính phủ)

- Denis Petit (2000), Resolving Election Disputes in the OSCE Area: Towards a Standard Election Dispute Monitoring System, ODIHR Rule of

Law Expert, Warsaw, 2000, © OSCE/ODIHR (Hướng về hệ thống những

tiêu chu ẩn kiểm tra, bầu cử dân chủ)

- InternationalIDEA (2000), Capacity-Building Series 8, Democratization

in Indonesia An Assessment, Forum for Democratic Reform, International IDEA

(N ền dân chủ ở Indonesia, diễn đàn cho cải cách dân chủ)

- Guy S Goodwin-Gill (2006), “Free and Fair Elections-New

expanded edition ”, Inter-Parliamentary Union, Geneva (Tự do và bầu cử

công khai - s ự mở rộng mới)

Trong “tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, Mác - Ăngghen đã đề cao tính dân chủ trong nhà nước pháp quyền, dân chủ là chính quyền của dân, do dân,

vì dân

Nghiên cứu các tác phẩm của V.I Lênin - lãnh tụ của giai cấp vô sản chủ trương xây dựng nhà nước Xô Viết Nhà nước Xô Viết theo quan điểm của Lênin có đặc điểm là: các cấp chính quyền thì phải có đầy đủ cơ cấu, thành phần, tức là phải có cơ quan quyết nghị, cơ quan chấp hành và cơ quan xét xử, tất cả các cơ quan này đều đặt dưới sự lãnh đạo và trực thuộc cơ quan dân cử Chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của hệ thống nhà nước thống nhất, không có sự phân chia quyền lực giữa các cấp chính quyền,

mà chỉ có sự phân công, phân nhiệm, ngoài việc phải chịu sự lãnh đạo của

Trang 31

chính quyền cấp trên, chính quyền địa phương còn phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của cấp uỷ địa phương

Nghiên cứu các tác phẩm khác đề cập đến chế độ dân chủ của nhà nước; chế độ bầu cử; hệ thống kiểm tra, giám sát bầu cử; cải cách nền dân chủ…

Các tác phẩm, các công trình ngoài nước cung cấp cho tác giả những tư liệu phong phú đề cập đến chế độ bầu cử, chế độ dân chủ, thiết chế cơ quan đại diện của nhân dân… ở một số nước, từ đó giúp tác giả có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu luận án của mình

1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ PHẠM VI VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu các nhóm công trình trên có thể nhận thấy các công trình này đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

Th ứ nhất, các công trình trên chủ yếu tập trung nghiên cứu lý luận và thực

tiễn về tổ chức bộ máy nhà nước hoặc chính quyền địa phương nói chung

Th ứ hai, khi nghiên cứu về chính quyền địa phương, các công trình trên

phần lớn tiếp cận chính quyền địa phương theo cách phân chia cấp đơn vị hành chính - lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã) mà chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về HĐND ở các cấp

Th ứ ba, khi nghiên cứu về chính quyền địa phương, các công trình trên

phần lớn tập trung nghiên cứu cải cách tổ chức và hoạt động của cả UBND và HĐND, chưa có công trình nào nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của HĐND trong việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

Th ứ tư, Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể việc thí điểm không

tổ chức HĐND huyện, quận, phường

Th ứ năm, một số công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương

trong điều kiện kinh tế - xã hội trước đây có những khác biệt nhất định, bởi

Trang 32

vậy kết quả nghiên cứu không còn phù hợp để ứng dụng trong điều kiện đổi

mới đất nước hiện nay

1.3.2 Phạm vi những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi xác định những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu gồm:

M ột là, cần bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận

về dân chủ, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam nhìn từ góc độ tổ chức bộ máy nhà nước

Hai là, cần nghiên cứu tổng thể về tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam

Ba là, tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc thêm các kinh nghiệm tổ chức chính quyền địa phương của một số nước trên thế giới và đưa ra những gợi

mở vào xây dựng chính quyền địa phương ở Việt Nam

B ốn là, cần có sự nghiên cứu nghiêm túc, công phu và khoa học về cơ

sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức, hoạt động của HĐND với mục đích đảm bảo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, góp phần vào sự thành công của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

*

* *

Để có tư liệu, cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc thực hiện đề tài luận

án, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu một số công trình có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hình thành, phát triển và đổi mới tổ chức, hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay Luận án đã chia các công trình trên làm hai nhóm: nhóm thứ nhất là tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài; nhóm thứ hai là tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Qua xem xét khái quát những công trình trên, có thể nhận thấy, việc nghiên cứu về dân chủ và

Trang 33

tổ chức bộ máy nhà nước nói chung đã được các nhà khoa học dành mối quan tâm đặc biệt Riêng về HĐND, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp cải cách, đổi mới Tuy vậy, so với việc nghiên cứu

về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung thì các công trình nghiên cứu về HĐND đặc biệt là trong mối quan hệ với quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam còn ít về số lượng cũng như chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn

Tác giả đã cố gắng khái quát những thành quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài của các nhà khoa học, đồng thời chỉ ra những nội dung cần phải tiếp tục được nghiên cứu Vì vậy, tác giả khẳng định đề tài mà tác giả lựa chọn làm Luận án tiến sĩ Luật học không trùng lặp với các công trình đã công

bố Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN

NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

2.1 QUAN NIỆM VỀ DÂN CHỦ VÀ XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

2.1.1 Nhận thức chung về dân chủ

Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI, VII trước công nguyên Theo đánh giá của Arustotle (384 - 322 trước công nguyên) thì Solon (khoảng 638 - 559 trước công nguyên) là người đầu tiên đặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ Solon mong muốn xây dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ thông qua tuyển cử và hòa nhập sức mạnh với pháp luật

Trong tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ (Demokratia) được cấu thành từ hai gốc là: Demos tức là nhân dân và kratia nghĩa là cai trị Sau này các nhà chính trị học giản lược mệnh đề đó thành "tất cả quyền lực thuộc về nhân dân"

Như vậy, thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố đó là nhân dân, quyền lực cộng đồng và mối quan hệ giữa chúng

Trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, hình thức quyền lực công cộng đầu tiên của các quốc gia, đô thị được sử sách ghi lại chính là nhà nước Do vậy, có thể khẳng định, dân chủ là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư với nhà nước Theo đó, cộng đồng là chủ thể và có quyền năng áp đặt ý chí lên nhà nước

Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", Ph.Ăngghen đã không coi chế độ thị tộc là một thể chế dân chủ, tuy nhiên ông dùng thuật ngữ dân chủ để giải thích về hội nghị thị tộc: Thị tộc

có một hội đồng, tức đại hội dân chủ của toàn thể các thành viên của thị tộc, trai cũng như gái, tất cả đều có quyền bầu cử như nhau

Trang 35

Bản thân thuật ngữ dân chủ ngày càng được hiểu và được sử dụng theo nhiều nghĩa Nếu sử dụng phương pháp logic để phân tích dân chủ thì có thể thấy dân chủ hiện diện ở nhiều bình diện khác nhau: Dân chủ là một dòng triết học, dân chủ là một chỉnh thể hiện thực, dân chủ là một hiện thực chính trị, dân chủ là một hiện thực kinh tế, dân chủ là một hiện thực xã hội và dân chủ là một trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế

Nếu đi theo tiến trình lịch sử nhân loại thì dân chủ bao gồm : dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ XHCN

Tóm l ại, dân chủ bao gồm một tổ hợp các giá trị nhân bản, duy lý và cao đẹp Dân chủ là sự hòa hợp của các giá trị: tự do, bình đẳng, sự thống nhất

trong tính đa dạng Ở chiều cạnh này dân chủ được hiểu như một lý tưởng mà

con ng ười khao khát hướng đến và cố gắng thực hành trong cuộc sống

Dân chủ còn hàm chứa những phương pháp luận giải khác nhau, nhằm khẳng định tính hợp lý và tính đáng được tuân thủ của những giá trị dân chủ

Nó đề ra các phương pháp thực hiện các giá trị đó trong đời sống, mà chủ yếu tập trung vào ba khâu quan trọng: Nhà nước - pháp luật - xã hội công dân

"Dân chủ là một giá trị xã hội chỉ có thể đạt đến một trình độ cao khi có sự phấn đấu của toàn thể cộng đồng nhân dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền" [45, tr.12]

Trong khuôn khổ luận án này, tác giả chỉ xin đề cập đến vấn đề dân chủ XHCN: đó là nền dân chủ ra đời từ khi thành lập chính quyền nhà nước của giai cấp công dân và nhân dân lao động thông qua cách mạng XHCN (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng và giai cấp công nhân lãnh đạo)

Bản chất của nền dân chủ XHCN thể hiện ở chỗ:

Nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân, là nền dân chủ của đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích của đa số nhân dân Trong xu hướng phát triển của nó là tiến tới một chế độ xã hội không còn sự khác biệt giai cấp

Trang 36

Nền dân chủ XHCN là nền dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhất nguyên về chính trị

Nền dân chủ XHCN được thực hiện bằng hệ thống tổ chức với tính cách là một chế độ chính trị, trước hết được thực hiện chủ yếu bằng nhà nước

và thông qua nhà nước Quá trình đó diễn ra cùng với quá trình phát triển kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của cộng cuộc đổi mới đất nước

Trong văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định:

Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mực tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của dân, đồng thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại

đa số nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước [32]

Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ XHCN của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta đã tiếp tục kế thừa và mở rộng dân chủ XHCN để các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị, đặc biệt là thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở nhằm mục tiêu:

Th ứ nhất, đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong

cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị: "Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý -

nhân dân làm chủ" cả ba mặt này đều phải được coi trọng, không vì nhấn mạnh mặt này mà coi nhẹ, hạ thấp mặt khác

Trang 37

Th ứ hai, vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất

lượng và hiệu quả của hoạt động Quốc hội, HĐND và UBND các cấp, vừa thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình

Th ứ ba, phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội

và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả

Th ứ tư, phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, thể hiện tinh thần dân

chủ đi đôi với Hiến pháp, pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ, chống quan liêu, mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ, vi phạm pháp luật

Th ứ năm, gắn quá trình xây dựng và thực hiện qui chế dân chủ với

công tác cải cách hành chính, sửa đổi cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính không phù hợp với thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước

2.1.2 Dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Trong xây dựng Nhà nước, dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

- Nhân dân tham gia xây dựng các tổ chức, bộ máy của hệ thống quyền lực nhà nước và lựa chọn các đại biểu của mình bằng bầu cử, theo

phương thức dân chủ đại diện, từ bầu cử Quốc hội đến bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương và cơ sở

- Nhân dân tham gia các công việc quản lý nhà nước để thực hiện

quyền lực của mình Đó là thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật, xây dựng hoặc sửa đổi Hiến pháp và các văn bản luật, các quy định, quy chế mang tính pháp lý Đề xuất các kiến nghị với chính quyền các cấp thông qua các đại biểu nhân dân những vấn đề về luật pháp và chính sách liên quan tới cuộc sống của mình

- Nhân dân tham gia đánh giá chính sách, pháp luật của nhà nước

Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương, đưa ra những kiến nghị

Trang 38

điều chỉnh, bổ sung, sửa chữa chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của mình

- Nhân dân đánh giá, nhận xét và chất vấn về hoạt động của các tổ

chức nhà nước, về thực hiện nhiệm vụ của các đại biểu được dân ủy quyền, giám sát công việc, hành vi, tư cách của họ trong quan hệ với dân, thái độ đối

xử với dân và hiệu quả phục vụ nhân dân theo cương vị, chức trách của người đại biểu

- Nhân dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, phát hiện

và đề nghị thanh tra, xử lý các biểu hiện tham nhũng, các vụ việc vi phạm chính sách, luật pháp, đạo đức của công chức, của các quan chức nhà nước gây tổn hại tới lợi ích chung và lợi ích công dân, ảnh hưởng xấu đến uy tín, thanh danh của nhà nước, của chế độ

- Nhân dân có quyền đòi hỏi các tổ chức, cơ quan nhà nước và các

công chức, đặc biệt là những người có chức, có quyền, có trọng trách do dân

ủy thác phải cung cấp thông tin kịp thời theo những quy định được ban hành cho dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra Quy chế dân chủ ở cơ sở xoay quanh những vấn đề đó Đó là công cụ pháp lý đảm bảo thực hiện dân chủ và

quyền làm chủ của dân ở cơ sở

Các đại biểu của dân và chính quyền của dân, phải thực hiện chế độ trách nhiệm, kỷ luật công vụ và đạo đức công chức trong sự giám sát thường xuyên của nhân dân Bằng những việc làm cụ thể đó, nhân dân chẳng những tham gia xây dựng và tổ chức nên các cơ quan quyền lực, tham gia quản lý để thực thi quyền lực mà còn tham gia vào việc kiểm soát quyền lực nhà nước

Thực hiện dân chủ và làm chủ, đó vừa là quyền vừa là nghĩa vụ Với công dân, thoái thác nghĩa vụ, không thực hiện nghĩa vụ là tự làm suy giảm quyền của mình, tự cản trở việc thực hiện dân chủ của mình, cho mình Nguyên lý dân chủ trong nhà nước pháp quyền là quyền gắn liền với nghĩa

vụ, lợi ích gắn liền với trách nhiệm, dân chủ đồng thời là luật pháp Dân chủ

Trang 39

hóa đồng thời là pháp chế hóa Dân chủ chỉ thực sự lành mạnh khi nó vận động trong hành lang luật pháp, do pháp luật kiểm soát và điều tiết

Với cơ quan nhà nước, với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước,

n ếu thiếu vắng chế độ trách nhiệm, nếu không có những quy định pháp luật

th ật rõ ràng, minh bạch và những chế tài nghiêm ngặt để buộc thực hiện và

để xử lý các hậu quả tiêu cực xảy ra theo chế độ trách nhiệm thì đó sẽ là mảnh đất thuận lợi cho những sự vi phạm dân chủ và quyền làm chủ của dân, làm tổn hại tới quyền lực nhân dân Nó xa lạ với dân chủ và nhà nước pháp quyền

Do đó, để phát huy dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

trong xây dựng nhà nước thì tất yếu phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa

công dân v ới nhà nước, mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, giữa lợi ích với

trách nhi ệm, giữa công chức, quan chức với dân chúng, giữa đại biểu dân cử với

c ử tri Những mối quan hệ này phải được thể chế hóa, phải được luật pháp điều

tiết với sự hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ của đạo đức, của văn hóa đạo đức

2.1.3 Hình thức và phương pháp thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước

Trang 40

các hình thức tự quản trong sản xuất và cơ sở địa phương Việc thực hiện DCTT phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Dân chủ trực tiếp là tiếng nói của người dân có giá trị quyết định trong việc xây dựng chính sách, lựa chọn cách lãnh đạo

Tóm lại, trong nền dân chủ trực tiếp: Người dân tự thực hiện quyền lực của mình mà không cần qua trung gian hay đại diện

- Có 03 cách thể hiện quyền dân chủ trực tiếp:

+ Bầu cử: lá phiếu của cử tri quyết định trực tiếp người trúng cử

+ Trưng cầu dân ý: để quyết định 1 vấn đề, Nhà Nước mang ra hỏi ý kiến của người dân và ý kiến của nhân dân có ý nghĩa quyết định về vấn đề đó

+ Bãi nhiệm đại biểu: cử tri đi bầu Đại Biểu và có quyền bãi nhiệm Đại Biểu khi người đó không còn xứng đáng với niềm tin của mọi người

2.1.3.2 Dân chủ gián tiếp (Dân chủ đại diện)

Người dân không tự thực hiện quyền lực mà thông qua vai trò của một đại diện hay trung gian và hiện nay, ở Việt Nam, người dân thực hiện quyền dân chủ gián tiếp thông qua Quốc hội và HĐND các cấp Đây là những cơ quan do dân bầu, mang quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân

Ph ương thức thực hiện dân chủ đại diện:

M ột là, dân chủ đại diện được thực hiện thông qua hoạt động của đại biểu

Hai là, dân chủ đại diện được thực hiện thông qua việc Quốc hội và HĐND thực hiện các chức năng do pháp luật quy định

Ba là, dân chủ đại diện còn được thực hiện thông qua hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội như: Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội Phụ nữ, hội Nông dân, hội Cựu chiến binh

Việc mở rộng dân chủ đại diện đòi hỏi phải tiếp tục cải tiến chế độ bầu

cử các cơ quan dân cử, đảm bảo cho nhân dân được tiếp xúc, đối thoại với các đại biểu của mình, có đầy đủ thông tin để trao đổi, nhận xét, lựa chọn thực sự dân chủ

Ngày đăng: 17/07/2015, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 63-SL ngày 22/11/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ
Tác giả: Chủ tịch Chính phủ lâm thời
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1945
13. Chủ tịch Chính phủ lâm thời (1945), Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ
Tác giả: Chủ tịch Chính phủ lâm thời
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1945
14. Ngô Huy Cương (2001), "Nhà nước pháp quyền với việc xây dựng chính quyền", Nghiên cứu lập pháp, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền với việc xây dựng chính quyền
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2001
15. Nguyễn Đăng Dung (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương - Lịch sử và hiện tại, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương - Lịch sử và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
16. Nguyễn Đăng Dung (1998), Hội đồng nhân dân trong hệ thống cơ quan nhà nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: H"ộ"i "đồ"ng nhân dân trong h"ệ" th"ố"ng c"ơ" quan nhà n"ướ"c
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1998
17. Nguyễn Đăng Dung (2000), Một số vấn đề về Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" v"ề" Hi"ế"n pháp và b"ộ" máy nhà n"ướ"c
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2000
18. Nguyễn Đăng Dung (2001), "Nhà nước pháp quyền - một hình thức tổ chức nhà nước", Nghiên cứu lập pháp, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền - một hình thức tổ chức nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2001
19. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2006), Tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam theo các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 1992 sửa đổi, bổ sung 2001, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam theo các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 1992 sửa đổi, bổ sung 2001
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Nguyễn Đăng Dung (2007), “Bàn về cải cách chính quyền nhà nước ở địa phương”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 05/10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách chính quyền nhà nước ở địa phương
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản điện tử
Năm: 2007
21. Nguyễn Đăng Dung (2009), Nhà nước là những con số cộng giản đơn, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà n"ướ"c là nh"ữ"ng con s"ố" c"ộ"ng gi"ả"n "đơ"n
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
22. Nguyễn Sỹ Dũng (2001), "Một số mô hình của chính quyền địa phương các nước trên thế giới", Nghiên cứu lập pháp, số đặc biệt về Sửa đổi Hiến pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số mô hình của chính quyền địa phương các nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Sỹ Dũng
Năm: 2001
23. Nguyễn Ánh Dương (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền thị xã, thành phố thuộc tỉnh ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: i m"ớ"i t"ổ" ch"ứ"c và ho"ạ"t "độ"ng c"ủ"a chính quy"ề"n th"ị" xã, thành ph"ố" thu"ộ"c t"ỉ"nh "ở" Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n nay
Tác giả: Nguyễn Ánh Dương
Năm: 2007
24. Vũ Đức Đán (2000), Tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố trực thuộc trung ương, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố trực thuộc trung ương
Tác giả: Vũ Đức Đán
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
25. Vũ Đức Đán (2002), Hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã và vấn đề phát huy dân chủ cơ sở, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã và vấn đề phát huy dân chủ cơ sở
Tác giả: Vũ Đức Đán
Nhà XB: Đề tài cấp Bộ
Năm: 2002
26. Vũ Đức Đán (2002), Đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố trong giai đoạn hiện nay, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền thành phố trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Vũ Đức Đán
Nhà XB: Đề tài cấp Bộ
Năm: 2002
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi"ế"n l"ượ"c "ổ"n "đị"nh và phát tri"ể"n kinh t"ế" - xã h"ộ"i "đế"n n"ă"m 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị" quy"ế"t H"ộ"i ngh"ị" l"ầ"n th"ứ" ba Ban ch"ấ"p hành Trung "ươ"ng Khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
146. Website: http://www.hanhchinh.com.vn 13./1/2009 147. Website: http://www.gso.gov.vn/default.aspx.Tiếng Anh Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w