1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm cách biểu diễn tri thức, tìm cách vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề và tìm cách bổ sung tri thức bằng cách phát hiện tri thức từ các thông tin sẵn có (máy học).

22 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 221 KB
File đính kèm Nhom 16.rar (299 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, ngành khoa học mới mẻ này vẫn đang tiến bộ mỗi ngày và đang tỏ ra ngày càng hữu dụng trong một số công việc đòi hỏi trí thông minh của con người.. Xây dựng trí tuệ nhân tạo là t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Lớp: Khoa học máy tính – Khóa 11 Niên khóa: 2009 - 2011

Đà Nẵng, 03 - 2010

Trang 2

MỞ ĐẦU

Chế tạo được những cỗ máy thông minh như con người (thậm chí thông minh hơn con người) là một ước mơ cháy bỏng của loài người từ hàng ngàn năm nay Hẳn chúng ta còn nhớ đến nhà khoa học Alan Turing cùng những đóng góp to lớn của ông trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo Năng lực máy tính ngày càng mạnh mẽ là một điều kiện hết sức thuận lợi cho trí tuệ nhân tạo Điều này cho phép những chương trình máy tính áp dụng các thuật giải trí tuệ nhân tạo có khả năng phản ứng nhanh và hiệu quả hơn trước Sự kiện

máy tính Deep Blue đánh bại kiện tướng cờ vua thế giới Casparov là một minh chứng

hùng hồn cho một bước tiến dài trong công cuộc nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo Tuy có

thể đánh bại được Casparov nhưng Deep Blue là một cỗ máy chỉ biết đánh cờ ! Nó thậm

chí không có được trí thông minh sơ đẳng của một đứa bé biết lên ba như nhận diện được những người thân, khả năng quan sát nhận biết thế giới, tình cảm thương, ghét, Ngành trí tuệ nhân tạo đã có những bước tiến đáng kể, nhưng một trí tuệ nhân tạo thực sự vẫn chỉ có trong những bộ phim khoa học giả tưởng Vậy thì tại sao chúng ta vẫn nghiên cứu

về trí tuệ nhân tạo? Điều này cũng tương tự như ước mơ chế tạo vàng của các nhà giả kim thuật thời Trung Cổ, tuy chưa thành công nhưng chính quá trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề

Mặc dù mục tiêu tối thượng của ngành TTNT là xây dựng một chiếc máy có năng lực tư duy tương tự như con người nhưng khả năng hiện tại của tất cả các sản phẩm TTNT vẫn còn rất khiêm tốn so với mục tiêu đã đề ra Tuy vậy, ngành khoa học mới mẻ này vẫn đang tiến bộ mỗi ngày và đang tỏ ra ngày càng hữu dụng trong một số công việc đòi hỏi trí thông minh của con người Hình ảnh sau sẽ giúp bạn hình dung được tình hình của ngành trí tuệ nhân tạo

Trang 3

Mục tiêu của ngành khoa học trí tuệ nhân tạo tạo ra những chiếc máy tính có khả năng nhận thức, suy luận và phản ứng Nhận thức được hiểu là khả năng quan sát, học hỏi, hiểu biết cũng như những kinh nghiệm về thế giới xung quanh Quá trình nhận thức giúp con người có tri thức Suy luận là khả năng vận dụng những tri thức sẵn có để phản ứng với những tình huống hay những vấn đề - bài toán gặp phải trong cuộc sống Nhận thức và suy luận để từ đó đưa ra những phản ứng thích hợp là ba hành vi có thể nói là đặc trưng cho trí tuệ của con người (Dĩ nhiên còn một yếu tố nữa là tình cảm Nhưng chúng

ta sẽ không đề cập đến ở đây!) Do đó, cũng không có gì ngạc nhiên khi muốn tạo ra một chiếc máy tính thông minh, ta cần phải trang bị cho nó những khả năng này Cả ba khả năng này đều cần đến một yếu tố cơ bản là tri thức

Xây dựng trí tuệ nhân tạo là tìm cách biểu diễn tri thức, tìm cách vận dụng tri

thức để giải quyết vấn đề và tìm cách bổ sung tri thức bằng cách "phát hiện" tri thức từ

các thông tin sẵn có (máy học) Tuy nhiên, trong phạm vi có hạn của đề tài này, nhóm chúng tôi chỉ đề cập đến một vấn đề nhỏ về lý thuyết của biểu diễn tri thức ( Knowledge

representation)

Trang 4

PHẦN I:

THÔNG TIN, DỮ LIỆU VÀ TRI THỨC

Tri thức là một khái niệm rất trừu tượng Do đó, chúng ta sẽ không cố gắngđưa ra một định nghĩa hình thức chính xác ở đây Thay vào đó, chúng ta hãy cùngnhau cảm nhận khái niệm "tri thức" bằng cách so sánh nó với hai khái niệm khác làthông tin và dữ liệu

Nhà bác học nổi tiếng Karan Sing đã từng nói rằng "Chúng ta đang ngập

chìm trong biển thông tin nhưng lại đang khát tri thức" Câu nói này làm nổi bật sự

khác biệt về lượng lẫn về chất giữa hai khái niệm thông tin và tri thức

Trong ngữ cảnh của ngành khoa học máy tính, người ta quan niệm rằng dữ

liệu là các con số, chữ cái, hình ảnh, âm thanh mà máy tính có thể tiếp nhận và

xử lý Bản thân dữ liệu thường không có ý nghĩa đối với con người Còn thông tin

là tất cả những gì mà con người có thể cảm nhận được một cách trực tiếp thôngqua các giác quan của mình (khứu giác, vị giác, thính giác, xúc giác, thị giác vàgiác quan thứ 6) hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật như tivi, radio,cassette, Thông tin đối với con người luôn có một ý nghĩa nhất định nào đó Vớiphương tiện máy tính (mà cụ thể là các thiết bị đầu ra), con người sẽ tiếp thu được

một phần dữ liệu có ý nghĩa đối với mình Nếu so về lượng, dữ liệu thường nhiều

hơn thông tin

Cũng có thể quan niệm thông tin là quan hệ giữa các dữ liệu Các dữ liệuđược sắp xếp theo một thứ tự hoặc được tập hợp lại theo một quan hệ nào đó sẽchứa đựng thông tin Nếu những quan hệ này được chỉ ra một cách rõ ràng thì đó làcác tri thức Chẳng hạn :

Trang 5

+ Trong toán học : Bản thân từng con số riêng lẻ như 1, 1, 3, 5, 2, 7, 11, là các

dữ liệu Tuy nhiên, khi đặt chúng lại với nhau theo trật tự như dưới đây thì giữachúng đã bắt đầu có một mối liên hệ

Bản thân những con số trong các cột của bản trên không có mấy ý nghĩa nếu

ta tách rời chúng ta Nhưng khi đặt kế nhau, chúng đã cho thấy có một sự liên hệnào đó Và mối liên hệ này có thể được diễn tả bằng công thức đơn giản sau :

Công thức này là tri thức

Trang 6

+ Trong cuộc sống hàng ngày : Hằng ngày, người nông dân vẫn quan sát thấy các

hiện tượng nắng, mưa, râm và chuồn chuồn bay Rất nhiều lần quan sát, họ đã có

nhận xét như sau : Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì

râm

Lời nhận xét trên là tri thức

Có quan điểm trên cho rằng chỉ những mối liên hệ tường minh (có thể chứng minh được) giữa các dữ liệu mới được xem là tri thức Còn những mối quan hệ không tường minh thì không được công nhận Ở đây, ta cũng

có thể quan niệm rằng, mọi mối liên hệ giữa các dữ liệu đều có thể được xem là tri thức, bởi vì, những mối liên hệ này thực sự tồn tại Điểm khác biệt

là chúng ta chưa phát hiện ra nó mà thôi Rõ ràng rằng "dù sao thì trái đất cũng vẫn xoay quanh mặt trời" dù tri thức này có được Galilê phát hiện ra hay không!

Như vậy, so với dữ liệu thì tri thức có số lượng ít hơn rất nhiều Thuật ngữ ít

ở đây không chỉ đơn giản là một dấu nhỏ hơn bình thường mà là sự kết tinh hoặc

cô đọng lại Hãy hình dung dữ liệu như là những điểm trên mặt phẳng còn tri thức

chính là phương trình của đường cong nối tất cả những điểm này lại Chỉ cần một phương trình đường cong ta có thể biểu diễn được vô số điểm! Cũng vậy, chúng ta

cần có những kinh nghiệm, nhận xét từ hàng đống số liệu thống kê, nếu không,

chúng ta sẽ ngập chìm trong biển thông tin như nhà bác học Karan Sing đã cảnh

báo!

Người ta thường phân loại tri thức ra làm các dạng như sau :

Trang 7

+Tri thức sự kiện : là các khẳng định về một sự kiện, khái niệm nào đó (trong một

phạm vi xác định) Các định luật vật lý, toán học, thường được xếp vào loại này.(Chẳng hạn : mặt trời mọc ở hướng đông, tam giác đều có 3 góc 600, )

+ Tri thức thủ tục : thường dùng để diễn tả phương pháp, các bước cần tiến hành,

tr nh từ hay ngắn gọn là cách giải quyết một vấn đề Thuật toán, thuật giải là mộtdạng của tri thức thủ tục

+Tri thức mô tả : cho biết một đối tượng, sự kiện, vấn đề, khái niệm, được thấy,

cảm nhận, cấu tạo như thế nào (một cái bàn thường có 4 chân, con người có 2 tay,

2 mắt, )

+Tri thức Heuristic : là một dạng tri thức cảm tính Các tri thức thuộc loại này

thường có dạng ước lượng, phỏng đoán và thường được hình thành thông qua kinhnghiệm

Trên thực tế, rất hiếm có một trí tuệ mà không cần đến tri thức (liệu có thể có một đại kiện tướng cờ vua mà không biết đánh cờ hoặc không biết các thế cờ quan trọng không?) Tuy tri thức không quyết định sự thông minh (người biết nhiều định

lý toán hơn chưa chắc đã giải toán giỏi hơn!) nhưng nó là một yếu tố cơ bản cấu thành trí thông minh Chính vì vậy, muốn xây dựng một trí thông minh nhân tạo, ta

cần phải có yếu tố cơ bản này Từ đây đặt ra vấn đề đầu tiên là các phương pháp

đưa tri thức vào máy tính được gọi là biểu diễn tri thức - Knowledge

representation.

Trang 8

PHẦN II:

BIỂU DIỄN TRI THỨC( KNOWLEDGE REPRESENTATION)

Tri thức của một hệ chuyên gia có thể được biểu diễn theo nhiều cách khácnhau Thông thường người ta sử dụng các cách sau đây :

 Biểu diễn tri thức bởi các luật sản xuất

 Biểu diễn tri thức nhờ mệnh đề logic

 Biểu diễn tri thức nhờ mạng ngữ nghĩa

 Biểu diễn tri thức nhờ ngôn ngữ nhân tạo

Ngoài ra, người ta còn sử dụng cách biểu diễn tri thức nhờ các sự kiện khôngchắc chắn, nhờ bộ ba : đối tượng, thuộc tính và giá trị (O-A-V: Object-Attribute-Value), nhờ khung( frame), v.v Tuỳ theo từng hệ chuyên gia, người ta có thể sửdụng một cách hoặc đồng thời cả nhiều cách

I. Biểu diễn tri thức bởi các luật sản xuất

Hiện nay, hầu hết các hệ chuyên gia đều là các hệ thống dựa trên luật, bới lý donhư sau :

Bản chất đơn thể (modular nature) Có thể đóng gói tri thức và mở rộng hệ

chuyên gia

 một cách dễ dàng

Khả năng diễn giải dễ dàng (explanation facilities) Dễ dàng dùng luật để

diễn giải vấn đề nhờ các tiền đề đặc tả chính xác các yếu tố vận dụng luật, từ

đó rút ra được kết quả

Tương tự quá trình nhận thức của con người Dựa trên các công trình của

Newell và Simon, các luật được xây dựng từ cách con người giải quyết vấn

đề Cách biểu diễn luật nhờ IF THEN đơn giản cho phép giải thích dễ dàngcấu trúc tri thức cần trích lọc

Luật là một kiểu sản xuất được nghiên cứu từ những năm 1940 Trong một hệthống dựa trên luật, công cụ suy luận sẽ xác định những luật nào là tiên đề thỏamãn các sự việc

Các luật sản xuất thường được viết dưới dạng IF THEN Có hai dạng :

IF < điều kiện > THEN < hành động >

hoặc IF < điều kiện > THEN < kết luận > DO < hành động >

Tuỳ theo hệ chuyên gia cụ thể mà mỗi luật có thể được đặt tên Chẳng hạn

mỗi luật có dạng Rule: tên Sau phần tên là phần IF của luật.

Trang 9

Phần giữa IF và THEN là phần trái luật (LHS: Left - Hand -Side), có nội

dung được gọi theo nhiều tên khác nhau, như tiền đề (antecedent), điều kiện (conditional part), mẫu so khớp (pattern part), Phần sau THEN là kết luận hay hậu

quả (consequent) Một số hệ chuyên gia có thêm phần hành động (action) được gọi

là phần phải luật (RHS: Right - Hand -Side).

cho uống thuốc Aspirin

Hệ thống chẩn đoán xe máy (OPS5)

Trang 10

Tại vị trí vết thương có máu, AND

Chưa biết chắc chắn cơ quan bị tổn thương, AND

Chất nhuộm màu âm tính, AND

Vi khuẩn có dạng hình que, AND

Bệnh nhân bị sốt cao

THEN

Cơ quan có triệu chứng (0.4) nhiễm trùng

II Biểu diễn tri thức nhờ mệnh đề logic

Người ta sử dụng các ký hiệu để thể hiện tri thức và các phép toán lôgic tácđộng lên các ký hiệu để thể hiện suy luận lôgic Kỹ thuật chủ yếu thường được sửdụng là lôgic vị từ( predicate logic)

II 1 Cú pháp của ngôn ngữ vị từ bậc một

Trong ngôn ngữ vị từ bậc một (firstorder predicate language), bằng cách sửorder predicate language), bằng cách sửdụng một bảng ký hiệu đặc biệt, người ta đưa vào các khái niệm hạng (term),

nguyên tử (atom), trực kiện (literal) và công thức chỉnh (wellformed formula) đểorder predicate language), bằng cách sử

xây dựng các biểu thức đúng (correct expressions).

II 1 1 Bảng ký hiệu

Bảng ký hiệu để xây dựng các biểu thức đúng gồm :

Các dấu phân cách (separator signs) là dấu phẩy ( , ), dấu mở ngoặc ( ( ) và

Các vị từ (predicate) được viết tương tự các biến, là các chuỗi sử dụng các

chữ cái in hoa A Z.

Ví dụ : ISRAINING, ON(table), P(X, blue), BETWEEN(X, Y, Z).

Khi cần thao tác trên một vị từ nào đó, cần phải ghi rõ bậc (arite) hay số các

đối(argument) của vị từ đó Bậc là một số nguyên dương Ví dụ, trong một ứng

dụng nào đó, bậc của các vị tự ISRAINING, ON, P và BETWEEN lần lượt là 0, 1,

2 và 3 Khi bậc có giá trị cố định là 0, vị từ còn được gọi là mệnh đề (proposition).

Chẳng hạn ISRAINING, EMPTY là các mệnh đề

Trang 11

Các hàm (function), có cách viết tương tự các hằng, sử dụng các chữ in

thường a z Mỗi hàm cũng có bậc (hay số lượng các đối) cố định, là một số

nguyên dương Ví dụ f(X), weight(elephan), successor(M, N) là các hàm cóbậc lần lượt là 1, 1, và 2 Người ta quy ước rằng các hằng là những hàm bậckhông (nil) Ví dụ a, elephan, block là các hằng

Các phép nối logic (logical connector) là , , , và  tương ứng với các

phép phủ định, và, hoặc, kéo theo và kéo theo lẫn nhau

Dấu  là lượng tử tồn tại (existential quantifier) và là lượng tử toàn thể

II 1 3 Nguyên tử (atom)

Nguyên tử được tạo thành từ hai luật sau :

Trang 12

Một CTC được gọi là một trực kiện (literal) hay một trị đúng nếu nó là một

nguyên tử hay có dạng (G), với G là một nguyên tử

Trong một CTC, trước hoặc sau các ký tự nối, ký tự phân cách, các hằng,

các biến, các hàm, các vị từ, người ta có thể đặt tùy ý các dấu cách (spacehay blank) Từ nay về sau ta quy ước rằng, trong một công thức, nếu có mộtbiến được lượng tử hóa, tức là biến xuất hiện ngay theo sau ký hiệu hay

thì từ đó trở đi, tất cả các vị trí đứng sau của cùng biến này cũng được

lượng tử hóa Một CTC có thể chứa các biến không được lượng tử hóa, chúng được gọi là những biến tự do (free variable) Ví dụ : P(X) và (Y)Y)Q(X, Y) là các CTC có chứa biến tự do X.

 Logic vị từ được gọi là «bậc một» (firstorder) vì trong định nghĩa các order predicate language), bằng cách sử CTC

không chứa các lượng tử cho vị từ hay cho hàm

Ví dụ : (P)P(a) và (f) (f) (X) P(f (X), b) không phải là những CTC logic vị từ

bậc một, mà có bậc cao hơn (higher-order)

II 1 5 Biểu diễn và sử dụng tri thức( knowledge)

Thực tế, các CTC dùng để diễn tả các nghĩa Ví dụ CTC dưới đây :

(X) (MAN(X) M (X)) thể hiện câu «tất cả mọi người đều chết» bằng cách quyước rằng MAN(X) có nghĩa «X là một người» và M (X) có nghĩa «X chết» Không

phải luôn luôn dễ dàng dùng một CTC để biểu diễn một tri thức diễn tả theo ngôn

ngữ tự nhiên (natural language) Chẳng hạn, để diễn tả rằng «nếu hai vật bằng nhauthì chúng có cùng tính chất», người ta có thể viết :

(P) (X) (Y) (EQUAL(X, Y) (P(X) P(Y)))

Nhưng biểu thức trên không phải là logic vị từ bậc một vì có lượng tử ápdụng cho một ký tự vị từ là P

II 2 Các luật suy diễn (inference rule)

Một luật suy diễn là cách biểu diễn sao cho từ một hoặc nhiều CTC, có thể suy dẫn (derive) thành các CTC khác Chẳng hạn các luật suy diễn sau đây :

Trang 13

Luật suy diễn modus ponens : Từ hai CTC lần lượt là G và (G H), có thể suy dẫn ra CTC H (ở đây vẫn quy ước rằng các tên như G, H phải được thay thế bởi các CTC mà chúng biểu diễn).

Luật suy diễn modus tollens : Từ các CTC là (H) và (G H), ta suy dẫn

ra được (G) Người ta viết quy ước hai luật suy diễn trên như sau :

G G  H

H G

modus ponens modus tollens

Luật suy diễn chuyên dụng (universal specialization), nếu từ một CTC có

dạng :

(X) G(X)

và từ một hằng bất kỳ, chẳng hạn «a», có thể suy dẫn thành CTC :

nghĩa là mọi vị trí X trong G được thay thế bởi a

Cho trước một tập hợp cố định các luật suy diễn, người ta có thể xem xét họ

các bài toán sau : Từ một tập hợp các CTC đã chọn, bằng cách áp dụng một số hữu hạn lần nào đó các luật suy diễn, có thể nhận được một CTC đã cho trước hay

không ?

Các CTC được chọn lúc đầu được gọi là các tiên đề (axiom) Các CTC nhận được bằng cách áp dụng các luật suy diễn được gọi là các định lý (theorem) Một dãy các áp dụng các luật suy diễn từ các tiên đề dẫn đến định lý là một phép chứng

minh (proving) của định lý.

Một số kỹ thuật hợp giải vấn đề (problem resolution) thuộc lĩnh vực «Trí tuệ

nhân tạo» như tìm kiếm trong không gian các trạng thái, có thể được xem như việctìm kiếm một chứng minh cho một định lý đã cho Theo nghĩa không gian cáctrạng thái, tập hợp các tiên đề có thể xem là một trạng thái đầu, các luật suy diễnđóng vai trò là các phép chuyển trạng thái, các trạng thái đích sẽ là tập hợp các

CTC trong đó có chứa định lý cần chứng minh.

II 3 Ngữ nghĩa của ngôn ngữ vị từ bậc một

Sau đây, ta sẽ nghiên cứu cách sử dụng các CTC để biểu diễn và suy luận trên các giá trị chân (truth value) của các tri thức đã có để tìm được giá trị chân

của các tri thức khác

II 3 1 Diễn giải (Interpretation)

Ngày đăng: 17/07/2015, 11:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Biểu diễn tri thức nhờ mạng ngữ nghĩa - tìm cách biểu diễn tri thức, tìm cách vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề và tìm cách bổ sung tri thức bằng cách phát hiện tri thức từ các thông tin sẵn có (máy học).
Hình 1. Biểu diễn tri thức nhờ mạng ngữ nghĩa (Trang 17)
Hình   dưới   đây   thể   hiện   một   đơn   vị   tri   thức   (luật)   trong   hệ   chuyên   gia MYCIN dùng để chẩn đoán các bệnh virut - tìm cách biểu diễn tri thức, tìm cách vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề và tìm cách bổ sung tri thức bằng cách phát hiện tri thức từ các thông tin sẵn có (máy học).
nh dưới đây thể hiện một đơn vị tri thức (luật) trong hệ chuyên gia MYCIN dùng để chẩn đoán các bệnh virut (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w