Do đó Quản lý tri thức là quản lý những thông tin có ý nghĩa và hữu ích đồng thời quản lý nhữngcông nghệ giúp cho mọi người hình thành tri thức Kiến thức Tri thức được định nghĩa là kiến
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN I: LÝ THUYẾT 3
I TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC 3
1 Tri thức và Quản lý tri thức 3
2 Tại sao tri thức lại quan trọng? 4
3 Quản lý tri thức ra đời khi nào? 4
4 Tại sao lại phải Quản lý tri thức? 5
II VAI TRÒ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC 7
1 Xuất phát từ nhu cầu nhân sự 7
2 Xuất phát từ nhu cầu kinh tế 8
3 Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức 8
4 Cơ cấu tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức 9
III VÀI ỨNG DỤNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC 11
1 Quản lý nhân sự 11
2 Quản lý tri thức ở các doanh nghiệp 13
3 Thư viện và vấn đề quản lý tri thức 15
PHẦN II: BÀI TẬP 17
I Yêu cầu bài toán 17
II Giới thiệu về Hệ chuyên gia 17
III Giới thiệu sơ lược về ngôn ngữ Prolog 17
1 Cú pháp 18
2 Dữ kiện 18
3 Luật 18
4 Ngữ nghĩa 19
IV Xây dựng chương trình 20
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3cơ phức tạp, hệ chẩn đoán bệnh trong y tế, hệ trợ giúp xác định thành phần địa chất,
hệ trợ giúp quyết định trong quản lí kinh doanh, v.v
Quản lý tri thức, viết tắt là QLTT (Knowledge Management) dùng để chỉ những công nghệ, kỹ thuật, hoặc những thông lệ xã hội nhằm thu thập và tổ chức "tri thức" sao cho có thể áp dụng chúng vào một địa điểm và thời điểm phù hợp Nói chung, việc quản lý tri thức tập trung vào những ứng dụng phần mềm hoặc cơ sở dữ liệu mà cho phép sử dụng cho mục đích thu thập thông tin.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Huy Khánh đã nhiệt tình giảng dạy, góp
ý để nhóm em hoàn thành tiểu luận này.
Nhóm sinh viên thực hiện:
1 Võ Văn Luận
2 Lê Văn Đông
3 Trương Văn Thới
Trang 4PHẦN I: LÝ THUYẾT
I TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
1 Tri thức và Quản lý tri thức
Theo định nghĩa thông thường, Tri thức (knowledge) là HIỂU và BIẾT Trongnền kinh tế tri thức và trong ngành khoa học thông tin và thư viện ngày nay địnhnghĩa Tri thức là Thông tin có ý nghĩa (meaningful) và hữu ích (useful) Do đó Quản
lý tri thức là quản lý những thông tin có ý nghĩa và hữu ích đồng thời quản lý nhữngcông nghệ giúp cho mọi người hình thành tri thức
Kiến thức (Tri thức) được định nghĩa là kiến thức và các kỹ năng thu được từmột người qua kinh nghiệm thực tế hoặc qua sự giáo dục; từ lý thuyết và thực hànhgiúp chúng ta hiểu về các chủ đề; điều đó biết được trong một lĩnh vực cụ thể hoặctrong sự tổng hợp; các sự kiện và thông tin hoặc sự nhận thức hoặc hiểu biết thu đượcbởi kinh nghiệm từ các sự kiện hoặc trong thực tế Sự tranh luận về triết học nóichung được bắt đầu với sự trình bày ý kiến của Plato như là “Niềm tin đúng đắn” Tuynhiên, ở đây chúng ta không định nghĩa hiện về tri thức và cũng không có một hoàncảnh cụ thể nào, hiện tại vẫn còn lại rất nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này
Có nhiều cách hiểu về quản trị tri thức, dưới đây là một số định nghĩa đã đượcđưa ra:
Quản trị tri thức là tạo ra tri thức và việc này được nối tiếp với việc thể hiệnkiến thức, truyền bá và sử dụng kiến thức, và sự duy trì (lưu giữ, bảo tồn) và cảibiên kiến thức
Quản trị tri thức là quá trình của việc quản lý một cách cẩn trọng tri thức để đápứng các nhu cầu hiện hữu, để nhận ra và khai thác những tài sản tri thức hiện có
và có thể đạt được và để phát triển những cơ hội mới
Quản trị tri thức là hoạt động mà hoạt động này quan tâm tới chiến lược vàchiến thuật để quản lý những tài sản mà trọng tâm là con người (human centerassets)
Quản trị tri thức là quá trình hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận và chuyểntải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnhtranh và hoàn thiện
Trên cơ sở tổng kết các định nghĩa khác nhau về quản trị tri thức, McAdam vàMcGreedy (1999) đã chỉ ra rằng chúng thể hiện một miền rộng lớn từ những quan
Trang 5điểm có tính cơ giới (coi tri thức là tài sản) tới quan điểm thiên về định hướng xã hội(tri thức được tạo ra trong tổ chức thông qua những quan hệ xã hội) Các định nghĩa
về quản trị tri thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau:
Quản trị tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và thực tiễn,
và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực
Quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin Công nghệ thông tin chỉ làyếu tố hỗ trợ, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản trị tri thức
Quản trị tri thức lấy yêu tố con người làm trọng tâm
2 Tại sao tri thức lại quan trọng?
Khi tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, giá nhân công không còn rẻ mạt thìnhững lợi thế thương mại khác phải được đánh giá đúng tầm của nó để mang lạinhững giá trị mong đợi của tổ chức Tỉ lệ giữa tài sản hữu hình và tài sản vô hìnhtrong kỷ nguyên công nghiệp là 75/25 nay đã chuyển thành 25/75 trong kỷ nguyên trithức Các thước đo giá trị của một tổ chức hay doanh nghiệp cũng đã thay đổi theohướng đem lại lợi ích thoả mãn nhiều đối tượng liên quan khác nhau như cổ đông,nhân viên, Nhà nước, nhà cung cấp, đối tác và cộng đồng
3 Quản lý tri thức ra đời khi nào?
Thuật ngữ “tri thức” xuất hiện từ thời Plato và Aristote và được nghiên cứunhiều bởi các học giả hiện đại như Daniell Bell (1973), Peter Drucker (1993), AlvinToffler (1970, 1980), Macheal Polanyi (1958, 1967) và Ikujiro Nonaka (1991, 1995).Các học giả này đã đưa ra những vấn đề xung quanh khái niệm tri thức, nguồn vốnhay tài sản trí tuệ của doanh nghiệp Các khái niệm dữ liệu, thông tin, tri thức và sựthông thái của tổ chức cũng được hình thành và phát triển bởi các học giả trên Tuynhiên, khái niệm “quản lý tri thức” lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những năm
80 Melissie C Rumizen, tác giả cuốn “The complete Idiot’s guide to KnowledgeManagement”, cho rằng tiến sỹ Karl-Erik Sveiby, người Thuỵ Điển, là người đầu tiênđưa ra khái niệm tài sản tri thức doanh nghiệp vào năm 1979 nhưng không được đónnhận Một báo cáo gần đây của Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng tiến sỹ Karl M Wiig(Viện nghiên cứu tri thức - KRI) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quản lý tri thứctrong một bài phát biểu tại Tổ chức lao động quốc tế của Liên Hợp Quốc (ILO) vàonăm 1986 Và đến đầu những năm 90 thì quản lý tri thức mới thực sự “nở rộ” như mộtcông cụ mới trong quản lý Thomas A Stewart được xem như là người đầu tiên viết
về quản lý tri thức trên các tạp chí về doanh nghiệp với bài viết “Brainpower” trên tạpchí kinh tế nổi tiếng “Fortune” vào năm 1991 Tiếp theo đó là cả một chuỗi các cuộctranh luận giữa các trường phái khác nhau về quản lý tri thức Hàng trăm trang web về
Trang 6quản lý tri thức ra đời và đến tận hôm nay, các quan niệm khác nhau về vấn đề nàyvẫn tồn tại.
4 Tại sao lại phải Quản lý tri thức?
Trong suốt 50 năm qua, kinh tế thế giới đã có những bước chuyển rõ rệt từ nềntảng sản xuất thuần tuý sang hệ thống sản xuất dựa vào kỹ năng và tri thức Ở Mỹ, chỉtrong vòng 40 năm số người lao động thuần tuý đã giảm gần một nửa (34% lực lượnglao động vào năm 1980 so với 57% vào năm 1940) Các nhà đầu tư cũng nghiêng vềcác công ty có năng lực quản lý tốt và có khả năng thích nghi nhanh chóng với nhữngthay đổi của thị trường thay vì chỉ chú trọng đến giá trị tài sản của công ty Ngày nay,tương lai và giá trị của một công ty phụ thuộc vào khả năng phát triển các sảnphẩm/dịch vụ mới một cách nhanh chóng và kịp thời để có thể bắt nhịp với những nhucầu luôn thay đổi Thay vì một số cách tiếp cận truyền thống các doanh nghiệp giờđây coi QLTT như một yếu tố mới nhưng quan trọng nhất để giữ vững lợi thế cạnhtranh bằng thoả mãn khách hàng Tóm lại, có 4 lý do chính dẫn đến sự xuất hiện củaquản lý tri thức:
Cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi mỗi tổ chức phải liên tục đổi mới sảnphẩm và cải tiến hoạt động của mình dựa trên nguồn tri thức của mọi ngườitrong tổ chức
Nhu cầu học hỏi trong một tổ chức luôn tồn tại nhưng thời lượng cho việc bồi
bổ kinh nghiệm và kiến thức lại giảm đi rất nhiều do phải chú trọng vào các tácnghiệp hàng ngày Vậy, các tổ chức cần kiến tạo và sử dụng tri thức một cáchthông minh nhất để không bị tụt hậu
Cơ chế thị trường tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho người lao động Nhu cầuthay đổi nơi làm việc của người lao động có trình độ và kỹ năng cao tăng lênchính là nguy cơ suy giảm nguồn tri thức của tổ chức Khi ra đi, họ không chỉlàm giảm năng suất của tổ chức mà còn mang đi những tri thức của mình, thậmchí cả tri thức của tổ chức
Đa phần các công ty thành công là những công ty nắm bắt nhanh, kịp thời, và
xử lý chính xác các nguồn thông tin (thị trường, khách hàng, sản phẩm…) Việcbiến các thông tin đó thành tri thức của tổ chức chính là lợi thế cạnh tranh màkhông phải nhà quản lý nào cũng làm được.Quản lý tri thức đạt hiệu quả, tổchức hay doanh nghiệp sẽ đạt được những kết quả rõ rệt như:
o Tăng Năng suất
o Thúc đẩy hoạt động đổi mới
o Cải thiện hiệu quả quản lý
Trang 7o Nâng cao sự thoả mãn của Khách hàng
o Thu hút và khai thác nhân tài
o Khuyến khích học hỏi, chia sẻ
Trang 8II VAI TRÒ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC
1 Xuất phát từ nhu cầu nhân sự
Từ khía cạnh nhân sự, những nhu cầu về việc tăng việc trao đổi, chia sẻ và sángtạo trong các nhóm hoạt động gồm nhiều lĩnh vực khác nhau là một trong những lý dochính dẫn tới việc xây dựng quản trị tri thức Bên cạnh đó, nhu cầu tăng khả năng xử
lý của nhân viên trong các tình huống phức tạp và lưu giữ những tri thức khi cácnhóm làm việc tan rã hay tái lập cũng khiến việc xây dựng hệ thống QTTT trở nêncần thiết
Thứ nhất, nhu cầu về việc đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ và sáng tạo trong cácnhóm hoạt động ngày càng lớn hơn Lí do là vì các công ty đang có xu hướng kết hợpvới nhau để tăng khả năng cạnh tranh Do đó, nhân viên trong các công ty khác nhauthường xuyên phải làm việc với nhau Hơn nữa, để phát triển một sản phẩm đòi hỏiphải có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau (thiết kế, kĩ thuật, marketing, v.v.).Nói cách khác, thành viên của một nhóm làm việc phải từ các bộ phận khác nhau, mà
họ thường chỉ biết rõ về lĩnh vực chuyên môn của mình mà thiếu những hiểu biết cầnthiết về các lĩnh vực khác Sự khác biệt về văn hóa cũng có thể gây khó khăn trongquá trình làm việc nhóm Vì vậy, việc tăng khả năng và hiệu quả làm việc nhóm, màđiển hình là việc chia sẻ và trao đổi, của các thành viên trong nhóm là vô cùng cầnthiết Quản trị tri thức có thể trở thành lời giải tối ưu cho bài toán này, bởi vì nó thúcđẩy thảo luận và chia sẻ tri thức trong nhóm và tổ chức
Thứ hai, là về việc các nhóm làm việc được thành lập và giải tán Hiện nay, cácnhóm làm việc thường được thành lập để giải quyết những vấn đề, những dự án trongthời gian ngắn Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm này thường được giải tán,thành viên trở về với công việc thường ngày hoặc tham gia các nhóm làm việc khác,nơi mà khả năng chuyên môn của họ có giá trị hơn là tri thức thu được ở các lĩnh vựckhác trong dự án Điều quan trọng là, những tri thức đó lại không được lưu trữ lại, trởthành “tài sản cá nhân” của nhân viên Khi nhân viên đó ra đi, tri thức của công tycũng mất đi theo Quản trị tri thức có thể giúp công ty giải quyết vấn đề này một cáchhiệu quả, bởi vì trong đó có quá trình “nắm bắt” các tri thức ẩn – qua các quá trìnhtrao đổi trực tiếp và việc lưu trữ tri thức ẩn dưới dạng hiện
Ngoài ra, trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay, đòi hỏi về kĩ năng
và khả năng ra quyết định của nhân viên ngày càng cao hơn Ngày nay, thời gianchính là yếu tố cạnh tranh quyết định giữa mọi công ty Ta có thể phải đối mặt vớinhững thay đổi, những sáng tạo bất ngờ từ phía đối thủ, sự chuyển dịch mạnh mẽ củathị trường không ổn định Công ty rất có thể sẽ không bắt kịp được những bước tiếncủa môi trường bên ngoài Vì vậy, việc phản ứng và ra quyết định trước một tìnhhuống của nhân viên cần phải không những chính xác mà còn phải càng nhanh càng
Trang 9tốt Điều này đòi hỏi trình độ tri thức của nhân viên phải cao hơn và thông tin phảiđược cung cấp nhanh chóng, chính xác hơn Nếu quản trị tri thức tốt, bạn hoàn toàn
có thể giải quyết được những vấn đề này
2 Xuất phát từ nhu cầu kinh tế
Lý thuyết kinh tế cũ cho rằng mọi tài sản đều dễ bị giảm giá trị khi thu hồi,nhưng điều này không đúng với tri thức Những quy luật chi phối tri thức thì khác hẳnnhững quy luật chi phối thế giới vật chất
ra một chu trình tự tăng cường Tri thức là biến số duy nhất lý giải nguyên nhân cómột khoảng cách ngày càng lớn giữa giá trị thị trường và cơ sở tài sản của một công
ty thành đạt Không như các tài nguyên có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tàisản tri thức và trí tuệ là những nguồn tài khuyên không giới hạn có thể sinh ra nhiềulợi nhuận qua hệ thống sử dụng và ứng dụng chúng Tri thức rộng giúp bạn có cáinhìn đa chiều về cùng một hiện tượng, một biến đổi bất thường trên thị trường Từ đóvừa có khả năng chống đỡ, vừa có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ Muốn có đượcđiều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải không ngừng sáng tạo, sáng tạo khôngngừng nghỉ để bắt kịp với xu thế chung của thời đại Cứ như thế tri thức ngày cànggia tăng
Quản trị tri thức mang đến cơ hội duy nhất biến tri thức thành hệ thống giúp tạo
ra lợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được liên tục, tạo ra giá trị kinh tế và giátrị thị trường không thể chối cãi được
3 Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn côngviệc Hiện nay chúng ta có thể thu thập và lưu trữ một khối lượng lớn thông tin dễdàng, truyền tải chúng một cách nhanh chóng Các công việc được hoàn thành dựavào công nghệ, đặc biệt là máy tính, ngày càng nhiều Sự quan trọng của công nghệ làkhông thể phủ nhận Nhưng công nghệ không tạo ra yếu tố cạnh tranh Ta có thể sở
Trang 10hữu một công nghệ hoàn toàn mới, giúp công ty vượt lên trên đối thủ của mình.Nhưng, thời gian sau đó, khi mà đối thủ tạo ra công cụ tương tự, hoặc cũng mua côngnghệ đó, thì yếu tố cạnh tranh sẽ bị mất đi Trong thời đại công nghệ hiện nay thờigian cho một cuộc chạy đua công nghệ như vậy ngày càng ngắn dần, do vậy, chúng takhông thể coi công nghệ như yếu tố cạnh tranh lâu dài.
Trong khi đó, công nghệ với hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải thông tinlại cho phép xây dựng một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin hiệu quả Côngnghệ trở thành một nhân tố giúp lưu trữ, phân phối và trao đổi tri thức hữu hiệu Bằngcách kết hợp công nghệ với quản trị tri thức một cách hiệu quả có thể tạo ra các yếu tốcạnh tranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài
Bên cạnh đó, nhờ có công nghệ phát triển mà các công việc, các quy trình đượchoàn thành nhanh chóng và hiệu quả hơn Vòng đời của sản phẩm, từ lúc được nghiêncứu, sản xuất, tới khi bán ra và các dịch vụ hậu mãi cũng do đó ngắn lại Các sảnphẩm cũng liên tục được nâng cấp và cải tiến, thị trường liên tục thay đổi Do vậy,thời gian cho ra sản phẩm trở thành một yếu tố sống còn, các quyết định ngày càngphải được đưa ra nhanh chóng và chính xác hơn Vậy yếu tố nào làm được điều này?Công nghệ có thể giúp chúng ta thu thập, lưu trữ, truyền tải thông tin một cách vôcùng hiệu quả, nhưng để biến thông tin thành tri thức, thành quyết định, thì lại cầnđến con người và kiến thức, kinh nghiệm của họ
Tri thức chứ không phải công nghệ trực tiếp giúp người sở hữu nó ra quyếtđịnh Quản trị tri thức, với sự hỗ trợ của công nghệ, có thể giúp làm việc hiệu quảhơn, tự mình đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, giảm bớt sai lầm và thoả mãnyêu cầu đúng lúc nhất, v.v
4 Cơ cấu tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức
Cũng giống như công nghệ, cơ cấu tổ chức ngày nay thay đổi quá nhanh Chínhnhững thay đổi về cơ cấu tổ chức này bắt buộc có một hệ thống quản trị tri thức hữuhiệu
Ví dụ với một dự án lớn đột nhiên gặp phải một vấn đề nan giải, sau một thờigian tìm kiểm giải pháp, một thành viên trong dự án nhớ ra rằng trong một dự ántrước kia, vấn đề tương tự cũng đã nảy sinh và được giải quyết khá hiệu quả Ở đây,đặt ra vấn đề là làm sao áp dụng tốt nhất tri thức đã có để giải quyết vấn đề này
Ngày nay, các công ty làm việc theo định hướng dự án Mỗi thành viên đượcnhặt ra từ các bộ phận chức năng khác nhau để tạo ra một đội duy nhất Các đội saukhi hoàn thành xong dự án thường chuyển lên một dự án khác cao hơn hoặc phân tánsang các dự án khác Các tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng thu được trong suốt quá trìnhphát triển sản phẩm , dịch vụ lại không được chuyển đến các đội dự án phụ trách việc
Trang 11phát triển các phiên bản sau trong quá trình tiến hoá dịch vụ sản phẩm đó Ngoài ravới cơ cấu tổ chức làm việc theo đội và dự án, các kỹ năng được phát triển trong quátrình hợp tác thường sẽ bị mất đi khi đội đó tan rã và các tri thức qui trình mà đội thuđược sẽ không có điều kiện để sử dụng lại trong tương lai Một hệ thống quản tri trithức trong trường hợp này sẽ giúp nắm bắt được các tri thức dự án, cho phép sử dụnglại nó trong tương lai.
Toàn cầu hoá tạo ra một sân chơi phẳng, cạnh tranh hơn bao giờ hết 20 nămtrước không ai có thể nghĩ Ấn Độ lại có thể trở thành sân sau của Mĩ với hàng loạt các
“call center” nằm rải rác khắp đất nước, cung cấp dịch vụ cho khách hàng trên toànthế giới, đặc biệt là các khách hàng từ Châu Âu và Mĩ Ngày nay, Microsoft khôngnhất thiết phải động tay vào tất cả các giai đoạn tạo ra một phần mềm Họ có thểchuyển phần việc gia công “ ít chất xám” sang các nước khác với mức lương chỉ bằng
½ mức phải trả cho một lập trình viên tại Redmond Cũng lúc đó, để sản xuất ra mộtchiếc máy tính xách tay, Dell có một tập hợp hơn 40 nhà cung cấp – là những công ty,xưởng, nhà máy trên toàn thế giới chuyên sản xuất linh kiện lắp ráp Đó là lý do vìsao cần quản trị tri thức
Việc cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn khi các nước đang dần dần dỡ bỏ cácqui định, để thị trường tự điều chỉnh theo những qui luật vốn có của nó Giả sử, bạnđang có lợi thế về giá so với đối thủ cạnh tranh bởi vì nhà cung cấp của bạn ở HànQuốc và chính phủ Hàn Quốc thì đã dỡ bỏ các hàng rào qui định khiến đầu vào củabạn rẻ hơn Trong khi đó, tại Ấn Độ - nơi các hàng rào thuế quan vẫn còn tồn tại, đốithủ đang phải chật vật mua đầu vào với mức giá cao hơn Đột nhiên, Ấn Độ quyếtđịnh dỡ bỏ tất cả các hàng rào thuế quan Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Thứ duy nhất
có thể làm là cắt giảm chi phí Chúng ta bắt đầu loay hoay với việc cắt giảm biên chế,
xa thải, đuổi việc ,… Ta quên mất một điều rằng khi loại một ai đó ra khỏi công tycũng loại luôn nguồn tri thức mà người đó có Trong khi đó, điều tốt nhất là xây dựngmột hệ thống quản trị tri thức và các kỹ năng để tránh sáng tạo lại những gì đã có, đạtđược mục tiêu cắt giảm chi phí đồng thời cả lợi thế cạnh tranh dài hạn
Trang 12III VÀI ỨNG DỤNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC
1 Quản lý nhân sự
Nguồn nhân lực đã trở thành “một tài sản quý nhất, quan trọng nhất và quyếtđịnh nhất” cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một tổ chức nào Song, khi nói vềnhững nhận thức được hầu hết mọi người chấp nhận này thì cần phải hiểu đó là nguồnnhân lực có tri thức, có kỹ năng ở trình độ cao, biết lao động sáng tạo chứ không phảisức lao động cơ bắp dựa trên kinh nghiệm Lực lượng lao động xã hội đã có sựchuyển biến rõ rệt từ những công nhân “cổ xanh” là chủ yếu thành những công nhân
“cổ trắng” là chủ yếu Peter Drucker (1993) - một chuyên gia hàng đầu của lý luậnquản lý - đã nhận xét rằng: “Trong thời kỳ 1880, khoảng chín phần mười số người laođộng là lao động chân tay; ngày nay, con số này giảm xuống một phần năm Bốn phầnnăm lực lượng lao động là những người lao động tri thức”
Toàn cầu hóa đã làm cho việc tiếp cận và mở rộng các thị trường dễ dàng hơn,
dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực tốt nhất và rẻ nhất cho họat động củamình và vì thế các lợi thế so sánh truyền thống đã mất đi, hoặc ít nhất đã yếu đi Vìthế, Drucker (1995) kết luận: “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức trong đó nguồnlực kinh tế cơ bản không phải là vốn mà là và sẽ là tri thức” và “tri thức đã và đangtrở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể làduy nhất - của lợi thế cạnh tranh Những nhận xét của Drucker hoàn toàn phù hợp vớinhững dự báo của Alvin Tofler trong tác phầm nổi tiếng của ông về một xã hội trithức.”
Sự bùng nổ thông tin và tri thức với tốc độ chóng mặt hiện nay đã làm chonhững người lao động và các tổ chức khó khăn hơn trong việc giải quyết các vấn đềcủa mình Trong điều kiện bùng nổ của tri thức và thông tin, sự quá tải thông tin trởthành một gánh nặng và vì thế để tìm được những thông tin cần thiết cho việc ra quyếtđịnh hoặc gỉải quyết vấn đề là cực kỳ khó và là một quá trình tốn kém rất nhiều thờigian và công sức cho tất cả mọi người hiện nay Trong một cuộc hội thảo về quản lýtri thức, Bill Gate(1999) đã nhận xét: “Những người công nhân trí thức cần chia sẻnhững hiểu biết của họ, và cần tiếp cận những thông tin đúng (cần thiết) vào đúngthởi điểm Và điều này là cực kỳ khó hiện nay” (Trích từ VNU Business Media) Đểgiúp cho các tổ chức và cá nhân xử lý và giải quyết tốt các vấn đề của mình cũng như
để nâng cao hiệu quả của các quyết định nói chung, với sự phát triển của công nghệthông tin, từ đầu những năm 1990 trở lại đây, các công ty trên thế giới và các nhànghiên cứu đã áp dụng và tiếp cận một xu hướng mới trong phát triển doanh nghiệp
và các tổ chức đó là: Quản lý tri thức (Knowledge Management)
Việc sớm và kiên trì ứng dụng quản lý tri thức vào quản lý và họat động củadoanh nghiệp dù dù trong một thời gian ngắn ngủi đã mang lại những kết quả khích
Trang 13lệ Cuộc khảo sát của Reuters vào năm 2001 chỉ ra rằng 90% các công ty triển khaicác giải pháp quản lý tri thức đă có những quyết định tốt hơn, và 81% công ty chorằng họ nhận thấy sự gia tăng năng suất một cách rõ rệt (Malhotra, 2001).
Vào đầu những năm 80, tiến sỹ Eric Sveiby - một học giả người Thụỵ Điển - đãgửi tới tạp chí Kinh Doanh thuộc đại học Harvard của Mỹ (Harvard Business Review)một bài viết về tài sản tri thức doanh nghiệp Ban biên tập tạp chí lịch sự từ chối đăngbài của ông vì lý do “không phù hợp với các doanh nghiệp Mỹ” Hơn 10 năm sau,chính người Mỹ lại nói nhiều nhất đến tài sản tri thức và quản lý tri thức trong doanhnghiệp Những công ty đi đầu và đã tạo dựng nên sự thành công vượt trội nhờ khảnăng quản trị tri thức tuyệt vời của mình có thể kể tên như: Microsoft, Dell, Coca –Cola, General Electric, Yamanouchi Pharmaceuticals, Nabisco…
Kinh nghiệm quản trị tri thức của Microsort:
Thư viện điện tử của Microsoft lưu trữ những thông tin về bất động sản, thươnghiệu hàng hoá và luật bản quyền là những ví dụ điển hình về quản trị tri thức tại mộtcông ty hàng đầu thế giới Theo Bill Gates, xét theo nghĩa chung quản trị tri thức tạiMicrosoft tức là việc thu thập và quản lý thông tin, phổ biến thông tin đến nhữngngười cần biết và liên tục rà soát lại thông tin qua việc phân tích, hợp tác – là vô cùnghữu ích Quản trị tri thức không nhằm để chỉ một sản phẩm phần mềm hoặc một loạiphần mềm Quản trị tri thức thậm chí không khởi đầu bằng công nghệ Nó được khởiđầu bằng mục tiêu và quy rìh doanh nghiệp cùng với sự nhận thức rõ ràng về nhu cầuchia sẻ thông tin Quản trị tri thức chính là quản lý luồng lưu chuyển thông tin, đưathông tin đến người dùng để họ có thể hành động nhanh nhất Chúng ta nhớ lạiMichael Dertouzos đã từng nói rằng thông tin là một loại động từ, không phải mộtdanh từ ở dạng tĩnh Quản trị tri thức là phương tiện chứ không phải kết quả sau cùng
Kết quả sau cùng là nâng cao trí tuệ tập thể hay còn gọi là chỉ số thông minhcủa công ty Trong thị trường năng động ngày nay, một công ty phải có chỉ số thôngminh cao mới có khả năng cạnh tranh và thành công được Khi dùng thuật ngữ chỉ sốthông minh của công ty, không chỉ nói đến những người thông minh trong công ty mà
là một phương thức đo lường mức độ chia sẻ thông tin cho mọi người và cách thứcmọi người trong công ty xây dựng và phát triển ý tưởng của mình trên ý tưởng củangười khác Chỉ số thông minh công ty bao gồm việc chia sẻ kiến thức cũ và mới Sựđóng góp cho chỉ số thông minh công ty là do sự học tập của các thành viên và sựphối hợp tư tưởng của nhiều người với nhau
Nhân viên trong công ty có chỉ số thông minh công ty cao sẽ hợp tác với nhauchặt chẽ để các nhân vật chủ chốt trong dự án đều được thông tin đầy đủ và tiếp thêmsinh lực Mục đích sau cùng của công t là sử dụng một nhóm nhân viên để phát triểncác ý tưởng tốt nhất tích hợp từ kinh nghiệm và ý tưởng của các thành viên khác trong