1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dùng ngôn ngữ Prolog viết chương trình tư vấn cho các loại đối tượng khác nhau (lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội,...) trong các lĩnh vực khác nhau

27 758 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 209,5 KB
File đính kèm chuongtrinh.rar (80 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó Quản lý tri thức là quản lý những thông tin có ý nghĩa và hữu ích đồng thời quản lý nhữngcông nghệ giúp cho mọi người hình thành tri thức Kiến thức Tri thức được định nghĩa là kiến

Trang 1

MỤC LỤC



LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN I 3

LÝ THUYẾT 3

I TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC 3

1 Tri thức và Quản lý tri thức ? 3

2 Tại sao tri thức lại quan trọng? 4

3 Quản lý tri thức ra đời khi nào? 4

4 Tại sao lại phải Quản lý tri thức? 5

II VAI TRÒ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC 6

1 Xuất phát từ nhu cầu nhân sự 6

2 Xuất phát từ nhu cầu kinh tế 7

3 Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức 7

4 Cơ cấu tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức 8

III VÀI ỨNG DỤNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC 10

1 Quản lý nhân sự: 10

2 Quản lý tri thức ở các doanh nghiệp 12

3 Thư viện và vấn đề quản lý tri thức 14

PHẦN II 16

BÀI TẬP 16

1 Yêu cầu bài toán: 16

2 Giới thiệu sơ lược về ngôn ngữ Prolog 16

3 Mã chương trình 18

4 Demo chương trình 22

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

đó Những vấn đề trung tâm của CNTT là tìm các phương pháp biểu diễn tri thức trong các chuyên ngành CNTT được phát triển mạnh trong những năm gần đây, là một nội dung chủ yếu của tin học hiện đại Một loại sản phẩm tiêu biểu của CNTT là các hệ chuyên gia, đó là các hệ chương trình máy tính thực hiện một số chức năng của chuyên gia trong các hoạt động trí tuệ Đã có một số hệ chuyên gia được ứng dụng trong thực tế như các hệ trợ giúp xác định công thức cấu trúc của các hợp chất hữu cơ phức tạp, hệ chẩn đoán bệnh trong y tế, hệ trợ giúp xác định thành phần địa chất, hệ trợ giúp quyết định trong quản lí kinh doanh, vv

Quản lý tri thức, viết tắt là QLTT (Knowledge Management) dùng để chỉ những công nghệ, kỹ thuật, hoặc những thông lệ xã hội nhằm thu thập và tổ chức "tri thức" sao cho có thể áp dụng chúng vào một địa điểm và thời điểm phù hợp Nói chung, việc quản lý tri thức tập trung vào những ứng dụng phần mềm hoặc cơ sở dữ liệu mà cho phép sử dụng cho mục đích thu thập thông tin.

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Huy Khánh đã nhiệt tình giảng dạy, góp

ý để nhóm em hoàn thành tiểu luận này.

Nhóm sinh viên thực hiện:

1 Huỳnh Tấn Dựng

2 Phạm Khánh Thiện

Trang 4

PHẦN I

LÝ THUYẾT

I TÌM HIỂU VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC

1 Tri thức và Quản lý tri thức ?

Theo định nghĩa thông thường, Tri thức (knowledge) là HIỂU và BIẾT Trongnền kinh tế tri thức và trong ngành khoa học thông tin và thư viện ngày nay địnhnghĩa Tri thức là Thông tin có ý nghĩa (meaningful) và hữu ích (useful) Do đó Quản

lý tri thức là quản lý những thông tin có ý nghĩa và hữu ích đồng thời quản lý nhữngcông nghệ giúp cho mọi người hình thành tri thức

Kiến thức (Tri thức) được định nghĩa là kiến thức và các kỹ năng thu được từmột người qua kinh nghiệm thực tế hoặc qua sự giáo dục; từ lý thuyết và thực hànhgiúp chúng ta hiểu về các chủ đề; điều đó biết được trong một lĩnh vực cụ thể hoặctrong sự tổng hợp; các sự kiện và thông tin hoặc sự nhận thức hoặc hiểu biết thu đượcbởi kinh nghiệm từ các sự kiện hoặc trong thực tế Sự tranh luận về triết học nóichung được bắt đầu với sự trình bày ý kiến của Plato như là “Niềm tin đúng đắn” Tuynhiên, ở đây chúng ta không định nghĩa hiện về tri thức và cũng không có một hoàncảnh cụ thể nào, hiện tại vẫn còn lại rất nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này

Có nhiều cách hiểu về quản trị tri thức, dưới đây là một số định nghĩa đã được đưara:

 Quản trị tri thức là tạo ra tri thức và việc này được nối tiếp với việc thể hiệnkiến thức, truyền bá và sử dụng kiến thức, và sự duy trì (lưu giữ, bảo tồn) và cảibiên kiến thức

 Quản trị tri thức là quá trình của việc quản lý một cách cẩn trọng tri thức để đápứng các nhu cầu hiện hữu, để nhận ra và khai thác những tài sản tri thức hiện có

và có thể đạt được và để phát triển những cơ hội mới

 Quản trị tri thức là hoạt động mà hoạt động này quan tâm tới chiến lược vàchiến thuật để quản lý những tài sản mà trọng tâm là con người (human centerassets)

 Quản trị tri thức là quá trình hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận và chuyểntải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnhtranh và hoàn thiện

Trên cơ sở tổng kết các định nghĩa khác nhau về quản trị tri thức, McAdam vàMcGreedy (1999) đã chỉ ra rằng chúng thể hiện một miền rộng lớn từ những quanđiểm có tính cơ giới (coi tri thức là tài sản) tới quan điểm thiên về định hướng xã hội

Trang 5

(tri thức được tạo ra trong tổ chức thông qua những quan hệ xã hội) Các định nghĩa

về quản trị tri thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau:

 Quản trị tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và thực tiễn,

và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực

 Quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin Công nghệ thông tin chỉ làyếu tố hỗ trợ, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản trị tri thức

 Quản trị tri thức lấy yêu tố con người làm trọng tâm

2 Tại sao tri thức lại quan trọng?

Khi tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, giá nhân công không còn rẻ mạt thì nhữnglợi thế thương mại khác phải được đánh giá đúng tầm của nó để mang lại những giátrị mong đợi của tổ chức Tỉ lệ giữa tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong kỷnguyên công nghiệp là 75/25 nay đã chuyển thành 25/75 trong kỷ nguyên tri thức.Các thước đo giá trị của một tổ chức hay doanh nghiệp cũng đã thay đổi theo hướngđem lại lợi ích thoả mãn nhiều đối tượng liên quan khác nhau như cổ đông, nhân viên,Nhà nước, nhà cung cấp, đối tác và cộng đồng

3 Quản lý tri thức ra đời khi nào?

Thuật ngữ “tri thức” xuất hiện từ thời Plato và Aristote và được nghiên cứu nhiềubởi các học giả hiện đại như Daniell Bell (1973), Peter Drucker (1993), Alvin Toffler(1970, 1980), Macheal Polanyi (1958, 1967) và Ikujiro Nonaka (1991, 1995) Các họcgiả này đã đưa ra những vấn đề xung quanh khái niệm tri thức, nguồn vốn hay tài sản trí tuệ của doanh nghiệp Các khái niệm dữ liệu, thông tin, tri thức và sự thông tháicủa tổ chức cũng được hình thành và phát triển bởi các học giả trên Tuy nhiên, kháiniệm “quản lý tri thức” lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những năm 80 Melissie

C Rumizen, tác giả cuốn “The complete Idiot’s guide to Knowledge Management”,cho rằng tiến sỹ Karl-Erik Sveiby, người Thuỵ Điển, là người đầu tiên đưa ra kháiniệm tài sản tri thức doanh nghiệp vào năm 1979 nhưng không được đón nhận Mộtbáo cáo gần đây của Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng tiến sỹ Karl M Wiig (Viện nghiêncứu tri thức - KRI) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quản lý tri thức trong mộtbài phát biểu tại Tổ chức lao động quốc tế của Liên Hợp Quốc (ILO) vào năm 1986

Và đến đầu những năm 90 thì quản lý tri thức mới thực sự “nở rộ” như một công cụmới trong quản lý Thomas A Stewart được xem như là người đầu tiên viết về quản

lý tri thức trên các tạp chí về doanh nghiệp với bài viết “Brainpower” trên tạp chí kinh

tế nổi tiếng “Fortune” vào năm 1991 Tiếp theo đó là cả một chuỗi các cuộc tranhluận giữa các trường phái khác nhau về quản lý tri thức Hàng trăm trang web về quản

lý tri thức ra đời và đến tận hôm nay, các quan niệm khác nhau về vấn đề này vẫn tồntại

Trang 6

4 Tại sao lại phải Quản lý tri thức?

Trong suốt 50 năm qua, kinh tế thế giới đã có những bước chuyển rõ rệt từ nềntảng sản xuất thuần tuý sang hệ thống sản xuất dựa vào kỹ năng và tri thức Ở Mỹ, chỉtrong vòng 40 năm số người lao động thuần tuý đã giảm gần một nửa (34% lực lượnglao động vào năm 1980 so với 57% vào năm 1940) Các nhà đầu tư cũng nghiêng vềcác công ty có năng lực quản lý tốt và có khả năng thích nghi nhanh chóng với nhữngthay đổi của thị trường thay vì chỉ chú trọng đến giá trị tài sản của công ty Ngày nay,tương lai và giá trị của một công ty phụ thuộc vào khả năng phát triển các sảnphẩm/dịch vụ mới một cách nhanh chóng và kịp thời để có thể bắt nhịp với những nhucầu luôn thay đổi Thay vì một số cách tiếp cận truyền thống các doanh nghiệp giờđây coi QLTT như một yếu tố mới nhưng quan trọng nhất để giữ vững lợi thế cạnhtranh bằng thoả mãn khách hàng Tóm lại, có 4 lý do chính dẫn đến sự xuất hiện củaquản lý tri thức:

 Cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi mỗi tổ chức phải liên tục đổi mới sảnphẩm và cải tiến hoạt động của mình dựa trên nguồn tri thức của mọi ngườitrong tổ chức

 Nhu cầu học hỏi trong một tổ chức luôn tồn tại nhưng thời lượng cho việcbồi bổ kinh nghiệm và kiến thức lại giảm đi rất nhiều do phải chú trọng vàocác tác nghiệp hàng ngày Vậy, các tổ chức cần kiến tạo và sử dụng tri thứcmột cách thông minh nhất để không bị tụt hậu

 Cơ chế thị trường tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho người lao động Nhucầu thay đổi nơi làm việc của người lao động có trình độ và kỹ năng caotăng lên chính là nguy cơ suy giảm nguồn tri thức của tổ chức Khi ra đi, họkhông chỉ làm giảm năng suất của tổ chức mà còn mang đi những tri thứccủa mình, thậm chí cả tri thức của tổ chức

 Đa phần các công ty thành công là những công ty nắm bắt nhanh, kịp thời,

và xử lý chính xác các nguồn thông tin (thị trường, khách hàng, sảnphẩm…) Việc biến các thông tin đó thành tri thức của tổ chức chính là lợithế cạnh tranh mà không phải nhà quản lý nào cũng làm được.Quản lý trithức đạt hiệu quả, tổ chức hay doanh nghiệp sẽ đạt được những kết quả rõrệt như:

 Tăng Năng suất

 Thúc đẩy hoạt động đổi mới

 Cải thiện hiệu quả quản lý

Trang 7

 Nâng cao sự thoả mãn của Khách hàng

 Thu hút và khai thác nhân tài

 Khuyến khích học hỏi, chia sẻ

Trang 8

II VAI TRÒ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC

1 Xuất phát từ nhu cầu nhân sự

Từ khía cạnh nhân sự, những nhu cầu về việc tăng việc trao đổi, chia sẻ và sángtạo trong các nhóm hoạt động gồm nhiều lĩnh vực khác nhau là một trong những lý dochính dẫn tới việc xây dựng quản trị tri thức Bên cạnh đó, nhu cầu tăng khả năng xử

lý của nhân viên trong các tình huống phức tạp và lưu giữ những tri thức khi cácnhóm làm việc tan rã hay tái lập cũng khiến việc xây dựng hệ thống QTTT trở nêncần thiết

Thứ nhất, nhu cầu về việc đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ và sáng tạo trong cácnhóm hoạt động ngày càng lớn hơn Lí do là vì các công ty đang có xu hướng kết hợpvới nhau để tăng khả năng cạnh tranh Do đó, nhân viên trong các công ty khác nhauthường xuyên phải làm việc với nhau Hơn nữa, để phát triển một sản phẩm đòi hỏiphải có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau (thiết kế, kĩ thuật, marketing, v.v.).Nói cách khác, thành viên của một nhóm làm việc phải từ các bộ phận khác nhau, mà

họ thường chỉ biết rõ về lĩnh vực chuyên môn của mình mà thiếu những hiểu biết cầnthiết về các lĩnh vực khác Sự khác biệt về văn hóa cũng có thể gây khó khăn trongquá trình làm việc nhóm Vì vậy, việc tăng khả năng và hiệu quả làm việc nhóm, màđiển hình là việc chia sẻ và trao đổi, của các thành viên trong nhóm là vô cùng cầnthiết Quản trị tri thức có thể trở thành lời giải tối ưu cho bài toán này, bởi vì nó thúcđẩy thảo luận và chia sẻ tri thức trong nhóm và tổ chức

Thứ hai, là về việc các nhóm làm việc được thành lập và giải tán Hiện nay, cácnhóm làm việc thường được thành lập để giải quyết những vấn đề, những dự án trongthời gian ngắn Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm này thường được giải tán,thành viên trở về với công việc thường ngày hoặc tham gia các nhóm làm việc khác,nơi mà khả năng chuyên môn của họ có giá trị hơn là tri thức thu được ở các lĩnh vựckhác trong dự án Điều quan trọng là, những tri thức đó lại không được lưu trữ lại, trởthành “tài sản cá nhân” của nhân viên Khi nhân viên đó ra đi, tri thức của công tycũng mất đi theo Quản trị tri thức có thể giúp công ty giải quyết vấn đề này một cáchhiệu quả, bởi vì trong đó có quá trình “nắm bắt” các tri thức ẩn – qua các quá trìnhtrao đổi trực tiếp và việc lưu trữ tri thức ẩn dưới dạng hiện

Ngoài ra, trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay, đòi hỏi về kĩ năng

và khả năng ra quyết định của nhân viên ngày càng cao hơn Ngày nay, thời gianchính là yếu tố cạnh tranh quyết định giữa mọi công ty Ta có thể phải đối mặt vớinhững thay đổi, những sáng tạo bất ngờ từ phía đối thủ, sự chuyển dịch mạnh mẽ củathị trường không ổn định Công ty rất có thể sẽ không bắt kịp được những bước tiếncủa môi trường bên ngoài Vì vậy, việc phản ứng và ra quyết định trước một tình

Trang 9

huống của nhân viên cần phải không những chính xác mà còn phải càng nhanh càngtốt Điều này đòi hỏi trình độ tri thức của nhân viên phải cao hơn và thông tin phảiđược cung cấp nhanh chóng, chính xác hơn Nếu quản trị tri thức tốt, bạn hoàn toàn

có thể giải quyết được những vấn đề này

2 Xuất phát từ nhu cầu kinh tế

Lý thuyết kinh tế cũ cho rằng mọi tài sản đều dễ bị giảm giá trị khi thu hồi, nhưngđiều này không đúng với tri thức Những quy luật chi phối tri thức thì khác hẳn nhữngquy luật chi phối thế giới vật chất

ra một chu trình tự tăng cường Tri thức là biến số duy nhất lý giải nguyên nhân cómột khoảng cách ngày càng lớn giữa giá trị thị trường và cơ sở tài sản của một công

ty thành đạt Không như các tài nguyên có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tàisản tri thức và trí tuệ là những nguồn tài khuyên không giới hạn có thể sinh ra nhiềulợi nhuận qua hệ thống sử dụng và ứng dụng chúng Tri thức rộng giúp bạn có cáinhìn đa chiều về cùng một hiện tượng, một biến đổi bất thường trên thị trường Từ đóvừa có khả năng chống đỡ, vừa có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ Muốn có đượcđiều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải không ngừng sáng tạo, sáng tạo khôngngừng nghỉ để bắt kịp với xu thế chung của thời đại Cứ như thế tri thức ngày cànggia tăng

Quản trị tri thức mang đến cơ hội duy nhất biến tri thức thành hệ thống giúp tạo ralợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được liên tục, tạo ra giá trị kinh tế và giá trịthị trường không thể chối cãi được

3 Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn công việc.Hiện nay chúng ta có thể thu thập và lưu trữ một khối lượng lớn thông tin dễ dàng,truyền tải chúng một cách nhanh chóng Các công việc được hoàn thành dựa vào côngnghệ, đặc biệt là máy tính, ngày càng nhiều Sự quan trọng của công nghệ là không

Trang 10

thể phủ nhận Nhưng, công nghệ không tạo ra yếu tố cạnh tranh Ta có thể sở hữu mộtcông nghệ hoàn toàn mới, giúp công ty vượt lên trên đối thủ của mình Nhưng, thờigian sau đó, khi mà đối thủ tạo ra công cụ tương tự, hoặc cũng mua công nghệ đó, thìyếu tố cạnh tranh sẽ bị mất đi Trong thời đại công nghệ hiện nay thời gian cho mộtcuộc chạy đua công nghệ như vậy ngày càng ngắn dần, do vậy, chúng ta không thểcoi công nghệ như yếu tố cạnh tranh lâu dài.

Trong khi đó, công nghệ với hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải thông tin lạicho phép xây dựng một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin hiệu quả Công nghệtrở thành một nhân tố giúp lưu trữ, phân phối và trao đổi tri thức hữu hiệu Bằng cáchkết hợp công nghệ với quản trị tri thức một cách hiệu quả có thể tạo ra các yếu tố cạnhtranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài

Bên cạnh đó, nhờ có công nghệ phát triển mà các công việc, các quy trình đượchoàn thành nhanh chóng và hiệu quả hơn Vòng đời của sản phẩm, từ lúc được nghiêncứu, sản xuất, tới khi bán ra và các dịch vụ hậu mãi cũng do đó ngắn lại Các sảnphẩm cũng liên tục được nâng cấp và cải tiến, thị trường liên tục thay đổi Do vậy,thời gian cho ra sản phẩm trở thành một yếu tố sống còn, các quyết định ngày càngphải được đưa ra nhanh chóng và chính xác hơn Vậy yếu tố nào làm được điều này?Công nghệ có thể giúp chúng ta thu thập, lưu trữ, truyền tải thông tin một cách vôcùng hiệu quả, nhưng để biến thông tin thành tri thức, thành quyết định, thì lại cầnđến con người và kiến thức, kinh nghiệm của họ

Tri thức chứ không phải công nghệ trực tiếp giúp người sở hữu nó ra quyết định.Quản trị tri thức, với sự hỗ trợ của công nghệ, có thể giúp làm việc hiệu quả hơn, tựmình đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, giảm bớt sai lầm và thoả mãn yêu cầuđúng lúc nhất, v.v

4 Cơ cấu tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức

Cũng giống như công nghệ, cơ cấu tổ chức ngày nay thay đổi quá nhanh Chínhnhững thay đổi về cơ cấu tổ chức này bắt buộc có một hệ thống quản trị tri thức hữuhiệu

Ví dụ với một dự án lớn đột nhiên gặp phải một vấn đề nan giải, sau một thời giantìm kiểm giải pháp, một thành viên trong dự án nhớ ra rằng trong một dự án trước kia,vấn đề tương tự cũng đã nảy sinh và được giải quyết khá hiệu quả Ở đây, đặt ra vấn

đề là làm sao áp dụng tốt nhất tri thức đã có để giải quyết vấn đề này

Ngày nay, các công ty làm việc theo định hướng dự án Mỗi thành viên được nhặt

ra từ các bộ phận chức năng khác nhau để tạo ra một đội duy nhất Các đội sau khihoàn thành xong dự án thường chuyển lên một dự án khác cao hơn hoặc phân tán sang

Trang 11

các dự án khác Các tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng thu được trong suốt quá trình pháttriển sản phẩm , dịch vụ lại không được chuyển đến các đội dự án phụ trách việc pháttriển các phiên bản sau trong quá trình tiến hoá dịch vụ sản phẩm đó Ngoài ra với cơcấu tổ chức làm việc theo đội và dự án, các kỹ năng được phát triển trong quá trìnhhợp tác thường sẽ bị mất đi khi đội đó tan rã và các tri thức qui trình mà đội thu được

sẽ không có điều kiện để sử dụng lại trong tương lai Một hệ thống quản tri tri thứctrong trường hợp này sẽ giúp nắm bắt được các tri thức dự án, cho phép sử dụng lại

nó trong tương lai

Toàn cầu hoá tạo ra một sân chơi phẳng, cạnh tranh hơn bao giờ hết 20 năm trướckhông ai có thể nghĩ Ấn Độ lại có thể trở thành sân sau của Mĩ với hàng loạt các “callcenter” nằm rải rác khắp đất nước, cung cấp dịch vụ cho khách hàng trên toàn thếgiới, đặc biệt là các khách hàng từ Châu Âu và Mĩ Ngày nay, Microsoft không nhấtthiết phải động tay vào tất cả các giai đoạn tạo ra một phần mềm Họ có thể chuyểnphần việc gia công “ ít chất xám” sang các nước khác với mức lương chỉ bằng ½ mứcphải trả cho một lập trình viên tại Redmond Cũng lúc đó, để sản xuất ra một chiếcmáy tính xách tay, Dell có một tập hợp hơn 40 nhà cung cấp – là những công ty,xưởng, nhà máy trên toàn thế giới chuyên sản xuất linh kiện lắp ráp Đó là lý do vìsao cần quản trị tri thức

Việc cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn khi các nước đang dần dần dỡ bỏ các quiđịnh, để thị trường tự điều chỉnh theo những qui luật vốn có của nó Giả sử, bạn đang

có lợi thế về giá so với đối thủ cạnh tranh bởi vì nhà cung cấp của bạn ở Hàn Quốc vàchính phủ Hàn Quốc thì đã dỡ bỏ các hàng rào qui định khiến đầu vào của bạn rẻ hơn.Trong khi đó, tại Ấn Độ - nơi các hàng rào thuế quan vẫn còn tồn tại, đối thủ đangphải chật vật mua đầu vào với mức giá cao hơn Đột nhiên, Ấn Độ quyết định dỡ bỏtất cả các hàng rào thuế quan Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Thứ duy nhất có thể làm

là cắt giảm chi phí Chúng ta bắt đầu loay hoay với việc cắt giảm biên chế, xa thải,đuổi việc ,… Ta quên mất một điều rằng khi loại một ai đó ra khỏi công ty cũng loạiluôn nguồn tri thức mà người đó có Trong khi đó, điều tốt nhất là xây dựng một hệthống quản trị tri thức và các kỹ năng để tránh sáng tạo lại những gì đã có, đạt đượcmục tiêu cắt giảm chi phí đồng thời cả lợi thế cạnh tranh dài hạn

Trang 12

III VÀI ỨNG DỤNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC

1 Quản lý nhân sự

Nguồn nhân lực đã trở thành “một tài sản quý nhất, quan trọng nhất và quyếtđịnh nhất” cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một tổ chức nào Song, khi nói vềnhững nhận thức được hầu hết mọi người chấp nhận này thì cần phải hiểu đó là nguồnnhân lực có tri thức, có kỹ năng ở trình độ cao, biết lao động sáng tạo chứ không phảisức lao động cơ bắp dựa trên kinh nghiệm Lực lượng lao động xã hội đã có sựchuyển biến rõ rệt từ những công nhân “cổ xanh” là chủ yếu thành những công nhân

“cổ trắng” là chủ yếu Peter Drucker (1993) - một chuyên gia hàng đầu của lý luậnquản lý - đã nhận xét rằng: “Trong thời kỳ 1880, khoảng chín phần mười số người laođộng là lao động chân tay; ngày nay, con số này giảm xuống một phần năm Bốn phầnnăm lực lượng lao động là những người lao động tri thức”

Toàn cầu hóa đã làm cho việc tiếp cận và mở rộng các thị trường dễ dàng hơn,

dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực tốt nhất và rẻ nhất cho họat động củamình và vì thế các lợi thế so sánh truyền thống đã mất đi, hoặc ít nhất đã yếu đi Vìthế, Drucker (1995) kết luận: “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức trong đó nguồnlực kinh tế cơ bản không phải là vốn mà là và sẽ là tri thức” và “tri thức đã và đangtrở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể làduy nhất - của lợi thế cạnh tranh Những nhận xét của Drucker hoàn toàn phù hợp vớinhững dự báo của Alvin Tofler trong tác phầm nổi tiếng của ông về một xã hội trithức.”

Sự bùng nổ thông tin và tri thức với tốc độ chóng mặt hiện nay đã làm chonhững người lao động và các tổ chức khó khăn hơn trong việc giải quyết các vấn đềcủa mình Trong điều kiện bùng nổ của tri thức và thông tin, sự quá tải thông tin trởthành một gánh nặng và vì thế để tìm được những thông tin cần thiết cho việc ra quyếtđịnh hoặc gỉải quyết vấn đề là cực kỳ khó và là một quá trình tốn kém rất nhiều thờigian và công sức cho tất cả mọi người hiện nay Trong một cuộc hội thảo về quản lýtri thức, Bill Gate(1999) đã nhận xét: “Những người công nhân trí thức cần chia sẻnhững hiểu biết của họ, và cần tiếp cận những thông tin đúng (cần thiết) vào đúngthởi điểm Và điều này là cực kỳ khó hiện nay” (Trích từ VNU Business Media) Đểgiúp cho các tổ chức và cá nhân xử lý và giải quyết tốt các vấn đề của mình cũng như

để nâng cao hiệu quả của các quyết định nói chung, với sự phát triển của công nghệthông tin, từ đầu những năm 1990 trở lại đây, các công ty trên thế giới và các nhànghiên cứu đã áp dụng và tiếp cận một xu hướng mới trong phát triển doanh nghiệp

và các tổ chức đó là: Quản lý tri thức (Knowledge Management)

Việc sớm và kiên trì ứng dụng quản lý tri thức vào quản lý và họat động củadoanh nghiệp dù dù trong một thời gian ngắn ngủi đã mang lại những kết quả khích

lệ Cuộc khảo sát của Reuters vào năm 2001 chỉ ra rằng 90% các công ty triển khai

Trang 13

các giải pháp quản lý tri thức đă có những quyết định tốt hơn, và 81% công ty chorằng họ nhận thấy sự gia tăng năng suất một cách rõ rệt (Malhotra, 2001).

Vào đầu những năm 80, tiến sỹ Eric Sveiby - một học giả người Thụỵ Điển - đãgửi tới tạp chí Kinh Doanh thuộc đại học Harvard của Mỹ (Harvard Business Review)một bài viết về tài sản tri thức doanh nghiệp Ban biên tập tạp chí lịch sự từ chối đăngbài của ông vì lý do “không phù hợp với các doanh nghiệp Mỹ” Hơn 10 năm sau,chính người Mỹ lại nói nhiều nhất đến tài sản tri thức và quản lý tri thức trong doanhnghiệp Những công ty đi đầu và đã tạo dựng nên sự thành công vượt trội nhờ khảnăng quản trị tri thức tuyệt vời của mình có thể kể tên như: Microsoft, Dell, Coca –Cola, General Electric, Yamanouchi Pharmaceuticals, Nabisco…

Kinh nghiệm quản trị tri thức của Microsort:

Thư viện điện tử của Microsoft lưu trữ những thông tin về bất động sản, thươnghiệu hàng hoá và luật bản quyền là những ví dụ điển hình về quản trị tri thức tại mộtcông ty hàng đầu thế giới Theo Bill Gates, xét theo nghĩa chung quản trị tri thức tạiMicrosoft tức là việc thu thập và quản lý thông tin, phổ biến thông tin đến nhữngngười cần biết và liên tục rà soát lại thông tin qua việc phân tích, hợp tác – là vô cùnghữu ích Quản trị tri thức không nhằm để chỉ một sản phẩm phần mềm hoặc một loạiphần mềm Quản trị tri thức thậm chí không khởi đầu bằng công nghệ Nó được khởiđầu bằng mục tiêu và quy rìh doanh nghiệp cùng với sự nhận thức rõ ràng về nhu cầuchia sẻ thông tin Quản trị tri thức chính là quản lý luồng lưu chuyển thông tin, đưathông tin đến người dùng để họ có thể hành động nhanh nhất Chúng ta nhớ lạiMichael Dertouzos đã từng nói rằng thông tin là một loại động từ, không phải mộtdanh từ ở dạng tĩnh Quản trị tri thức là phương tiện chứ không phải kết quả sau cùng

Kết quả sau cùng là nâng cao trí tuệ tập thể hay còn gọi là chỉ số thông minhcủa công ty Trong thị trường năng động ngày nay, một công ty phải có chỉ số thôngminh cao mới có khả năng cạnh tranh và thành công được Khi dùng thuật ngữ chỉ sốthông minh của công ty, không chỉ nói đến những người thông minh trong công ty mà

là một phương thức đo lường mức độ chia sẻ thông tin cho mọi người và cách thứcmọi người trong công ty xây dựng và phát triển ý tưởng của mình trên ý tưởng củangười khác Chỉ số thông minh công ty bao gồm việc chia sẻ kiến thức cũ và mới Sựđóng góp cho chỉ số thông minh công ty là do sự học tập của các thành viên và sựphối hợp tư tưởng của nhiều người với nhau

Nhân viên trong công ty có chỉ số thông minh công ty cao sẽ hợp tác với nhauchặt chẽ để các nhân vật chủ chốt trong dự án đều được thông tin đầy đủ và tiếp thêmsinh lực Mục đích sau cùng của công t là sử dụng một nhóm nhân viên để phát triểncác ý tưởng tốt nhất tích hợp từ kinh nghiệm và ý tưởng của các thành viên khác trongcông ty, từ đó hành động trên cơ sở thống nhất mục đích và tập trung như thể mộtngười duy nhất

Các nhân viên điều hành cấp cao trong công ty cần phải có niềm tin vào việcchia sẻ thông tin, kể cả khi có những lỗ lực lớn trong việc chia sẻ thông tin bị thất bại.Các nhà lãnh đạo phải cho nhân viên thấy rằng họ không tự giam mình trong trong

Ngày đăng: 17/07/2015, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w