Kho bạc Nhà nước cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát chi NSNN trên cơ sở dự toán đơn vị được giao trừ một số trường hợp tạm cấp kinh phí, chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN: TỐNG THUÝ HÀ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO VĂN HÙNG
Hà Nội, tháng 10/2013
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
Chương 1 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
1.2 Khái quát chung về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
1.2.2 Nguyên tắc quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân
1.2.3 Nội dung và vai trò của Kho bạc Nhà nước trong công tác kiểm
1.2.3.2 Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong công tác kiểm soát chi
thường xuyên NSNN
16
1.2.4 Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên 17
1.2.4.2 Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị trong việc
quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN
18
a Đối với các khoản chi theo hình thức rút dự toán tại Kho bạc Nhà
nước
21
b Đối với hình thức chi theo lệnh chi tiền của cơ quan tài chính 25
Trang 3f Phương thức chi trả, thanh toán 26
h Kiểm soát, thanh toán việc sử dụng các khoản kinh phí quản lý hành
chính tiết kiệm
34
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi ngân sách nhà nước
1.4 Bài học kinh nghiệm quản lý và kiểm soát chi ngân sách nhà nước
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam 43
Chương 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
2.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái có ảnh
2.2 Tình hình thu chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Yên Bái 48
2.3 Tình hình cơ quan, đơn vị thụ hưởng chi thường xuyên NSNN
2.4 Tổ chức kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nuớc tại Kho
2.4.1 Thực trạng tổ chức bộ máy kiểm soát chi thường xuyên ngân
2.4.2 Nguyên tắc kiểm soát, thanh toán chi thường xuyên tại Kho bạc
2.4.3 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nuớc tại
2.4.3.1.Quy trình giao dịch “một cửa” trong kiểm soát chi thường 56
Trang 4xuyên tại Kho bạc Nhà nước Yên Bái
2.4.3.2.Qui trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc
Nhà nước Yên Bái hiện đang áp dụng
59
2.4.3.3 Kêt quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc
Nhà nước Yên Bái
67
2.4.4 Công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Yên Bái 81
2.5 Đánh giá thực trạng kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho
2.5.3 Những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế, trở ngại trong kiểm
soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước
Yên Bái
93
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT
CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KBNN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI
97
3.1 Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 97
3.2 Mục tiêu kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước 100
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước
3.1.1 Tăng cường thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho
người cung cấp hàng hóa dịch vụ và mở rộng thanh toán không dùng
tiền mặt
101
3.3.2 Xây dựng quy trình kiểm soát mua sắm tài sản công theo
phương phức mua tập trung nhằm hạn chế sự thất thoát ngân sách
nhà nước
102
3.3.3 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra nhằm
khắc phục những tồn tại hình thức kiểm soát chi theo dự toán 104
3.3.4 Xây dựng và thực hiện tốt quy trình kiểm soát cam kết chi trong
điều kiện triển khai hệ thống TABMIS
106
3.3.5 Hoàn thiện quy trình giao dịch “một cửa” qua Kho bạc Nhà
Trang 53.3.6 Xây dựng phần mềm tin học quản lý giao nhận hồ sơ kiểm soát
3.3.7 Hiện đại hóa công nghệ thông tin và triển khai thành công hệ
3.4.5 Kiến nghị với chính quyền và các cơ quan chức năng tỉnh Yên
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) của Việt Nam được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Chi NSNN là công cụ chủ yếu của Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Là một công cụ quan trọng của chính sách tài chính quốc gia, có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Chi ngân sách bao gồm: chi cho đầu tư phát triển (tích lũy), chi tiêu dùng thường xuyên duy trì hoạt động của các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị, đơn
vị hành chính sự nghiệp công lập và chi trả nợ gốc Chính phủ vay Trong các khoản chi thì chi thường xuyên giữ vai trò thúc đẩy toàn bộ guồng máy xã hội hoạt động trơn chu
Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN để có nền tài chính lành mạnh, góp phần quan trọng giám sát việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính một cách đúng mục đích, có hiệu quả; đồng thời là một biện pháp hữu hiệu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi thường xuyên NSNN nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động nghiệp vụ của hệ thống Kho
Trang 7bạc Nhà nước Để công tác kiểm soát chi đạt chất lượng tốt, đảm bảo tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán, đúng vai trò kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN đã từng bước được hoàn thiện, ngày một chặt chẽ hơn cả
về quy mô và chất lượng Kết quả của thực hiện cơ chế kiểm soát chi đã góp phần quan trọng trong việc sử dụng NSNN có hiệu quả
Kho bạc Nhà nước (cơ quan thực hiện chức năng kiểm soát chi NSNN) trên cơ sở dự toán đơn vị được giao (trừ một số trường hợp tạm cấp kinh phí, chi
từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao, chi ứng trước dự toán ngân sách nhà nước năm sau); đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền qui định; đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi; có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo quy định; ngoài ra, trường hợp sử dụng kinh phí NSNN để mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác thuộc phạm vi phải đấu thầu thì phải có đầy
đủ quyết định trúng thầu hoặc quyết định chỉ định đơn vị cung cấp hàng hóa của
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, trong quá trình giám sát chi thường xuyên vẫn còn bộc lộ một
số hạn chế, tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong xu thế đẩy mạnh mở cửa và hội nhập quốc tế, cụ thể như sau:
- Tình trạng sử dụng kinh phí ngân sách sai mục đích; tạm ứng sai chế độ; chi vượt định mức, tiêu chuẩn; chi vượt dự toán được giao vẫn còn diễn ra ảnh hưởng đến việc kiểm soát chi qua KBNN
- Sử dụng kinh phí NSNN vẫn còn tình trạng kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát, dễ phát sinh tiêu cực
- Công tác kiểm soát chi còn phân ra nhiều lĩnh vực với nhiều hình thức khác nhau; nhiều khoản chi chưa có đủ cơ sở để KBNN kiểm soát đến khâu cuối cùng và chưa có cơ chế quy trách nhiệm trong thực hiện một số nghiệp vụ chi cụ
Trang 8thể; chưa có cơ chế tổng thể và thống nhất để kiểm soát giá mua sắm một số hàng hóa dịch vụ một cách chặt chẽ và có hiệu quả nhất
- Việc phân công nhiệm vụ kiểm soát chi trong hệ thống KBNN còn một
số bất cập, chưa tạo điều kiện tốt nhất cho các đơn vị giao dịch
- Cán bộ, công chức làm nhiệm vụ chi ngân sách tại các đơn vị sử dụng NSNN còn có tình trạng chưa am hiểu đầy đủ về quản lý NSNN và chưa được đào tạo đồng đều
- Thực hiện chế độ công khai minh bạch trong chi tiêu ngân sách của những đơn vị sử dụng ngân sách còn hạn chế
Công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN được Kho bạc Nhà nước Yên Bái quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, trong quá trình giám sát chi thường xuyên của các đơn vị tại tỉnh Yên Bái vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cải cách thủ tục hành chính
Vì vậy, công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Yên Bái cần tiếp tục được hoàn thiện một cách khoa học và có hệ thống hơn
Căn cứ vào những vấn đề nêu trên, tác giả xin chọn đề tài: “Kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh Yên Bái” làm luận văn thạc sỹ, nhằm góp phần làm rõ hơn cơ chế kiểm soát chi NSNN và hoàn thiện cơ chế chi thường xuyên NSNN thông qua KBNN Yên Bái
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực kiểm soát chi NSNN
Chi NSNN là một phạm trù với nhiều vấn đề khác nhau, liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực; vì vây, trên thực tế đã có rất nhiều đề tài, nhiều công trình nghiên cứu với nhiều góc độ, cụ thể như:
- Luận văn thạc sĩ, năm 2000, tác giả Đinh Cẩm Vân: Đổi mới quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá
- Luận văn thạc sĩ, năm 2002, tác giả Dương Ngọc Ánh: Hoàn thiện quy
Trang 9trình và phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Luận văn thạc sĩ, năm 2006, tác giả Phùng Quang Anh, Kiểm soát chi thường xuyên từ NSNN qua KBNN Hà Nội - thực trạng và giải pháp
- Luận văn Thạc sĩ, năm 2008, tác giả Nguyễn Duy Minh: Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Việt Nam
- Luận văn Thạc sĩ, năm 2010, tác giả Lê Thanh Tú: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN tại KBNN Hoàn Kiếm - Hà Nội
- Tác giả Nguyễn Ngọc Hùng, Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2006: Quản lý ngân sách nhà nước
- Tác giả Vĩnh Sang, Tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc gia, số 62/2007: Kiểm soát một cửa hay giao dịch một cửa
- Tác giả Nguyễn Thị Huệ, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 6(95) – 2011: Bất cập và giải pháp chống thất thoát trong chi NSNN
- Tác giả Nguyễn Quang Hưng - Nguyễn Việt Dũng, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 6(95) - 2011: Kiểm soát chi NSNN nhìn từ góc độ hoá đơn thanh toán
- Tác giả Phạm Thị Thanh Vân, Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số
108 (T6/2011), số 109 (T7/2011): Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát chi NSNN của KBNN
Tuy nhiên, qua khảo sát, chưa thấy có công trình nào đi sâu nghiên cứu về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh Yên Bái Do đó, tác giả lựa chọn luận văn nêu trên nhằm đi sâu nghiên cứu để làm rõ những bất cập trong cơ chế chính sách về quản lý NSNN nói chung và cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN nói riêng trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Yên Bái
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN, hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về kiểm soát chi thường xuyên NSNN, luận văn
Trang 10đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng và những hạn chế của công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời gian qua; Từ đó, rút ra những nguyên nhân và đề xuất giải pháp chủ yếu cùng các điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN: Phạm vi nghiên cứu là hoạt động kiểm soát chi thường xuyên NSNN trên địa bàn qua hệ thống KBNN Yên Bái gồm 09 đơn vị KBNN (Văn phòng Kho bạc Yên Bái và 08 Kho bạc huyện, thị xã trực thuộc)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê, đối chiếu, phân tính, so sánh, tổng hợp…
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc
Nhà nước tại KBNN Yên Bái
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Yên Bái
Trang 11CHƯƠNG I
KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát chung về chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nghĩa vụ quản
lý Nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ - môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác
1.1.2 Đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang tính ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm
Hai là, các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng Hầu hết các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
và các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức
Ba là, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Bởi vì, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì bảo đảm hoạt động bình thường, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước Hơn nữa, những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN
1.1.3 Vai trò chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên các mặt
cụ thể như sau:
Trang 12Thứ nhất, chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có
ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước
Thứ hai, chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách xã hội góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
Thứ ba, thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước Nói cách khác, chi thường xuyên được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thứ tư, chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo ổn định, an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng
1.1.4 Nội dung chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Nội dung chi thường xuyên NSNN được phân biệt theo lĩnh vực chi, đối tượng chi và tính chất chi tiêu cụ thể như sau:
Theo lĩnh vực chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm các nội dung chi:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp
xã hội khác;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
- Hoạt động của các cơ quan Nhà nước;
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước;
- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
Trang 13Theo đối tượng chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm các nội dung chủ yếu:
- Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp như: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh, học bổng cho học sinh và sinh viên
- Các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quan Nhà nước như: văn phòng phẩm, sách, báo, dịch vụ viễn thông và thông tin, điện, nước, công tác phí, chi phí hội nghị
- Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung nhằm thực hiện các chính sách xã hội hay thực hiện điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước
- Các khoản chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước
- Chi nghiệp vụ chuyên môn: là các khoản chi đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị thụ hưởng NSNN như: chi mua văn phòng phẩm, chi trả dịch
vụ công cộng, chi mua hàng hoá vật tư, công cụ dụng cụ dùng trong công tác chuyên môn của từng ngành, chi bảo hộ lao động, trang phục, đồng phục và các khoản khác
- Chi mua sắm, sửa chữa: chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản khác
- Chi khác là các khoản chi ngoài các khoản chi nêu trên chẳng hạn như: chi hoàn thuế giá trị gia tăng, chi xử lý tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước và các khoản khác
Trang 141.2 Khái quát chung về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
* Khái niệm
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN sử dụng các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định
và theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài chính của Nhà nước
* Đặc điểm: Kiểm soát chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm sau:
Một là, kiểm soát chi thường xuyên gắn liền với những khoản chi thường xuyên nên phần lớn công tác kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định
Hai là, kiểm soát chi thường xuyên diễn ra trên nhiều lĩnh vực và nhiều nội dung nên rất đa dạng và phức tạp Chính vì thế, những quy định trong kiểm soát chi thường xuyên cũng hết sức phong phú, với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nội dung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng
Ba là, kiểm soát chi thường xuyên bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn những khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như: chi về tiền lương, tiền công, học bổng gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên; các khoản chi về chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nên những khoản chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng Bên cạnh đó, tất cả các đơn
vị thụ hưởng NSNN đều có tâm lý muốn giải quyết kinh phí trong những ngày đầu tháng làm cho cơ quan kiểm soát chi là KBNN luôn gặp áp lực về thời gian
Trang 15trong những ngày đầu tháng, các dịp quyết toán cuối năm do bổ sung dự toán kinh phí chi tiêu mua sắm
Bốn là, kiểm soát chi thường xuyên thường phải kiểm soát những khoản chi nhỏ, vì vậy cơ sở để kiểm soát chi như hoá đơn, chứng từ để chứng minh cho những nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, thường không đầy đủ, không rõ ràng, thiếu tính pháp lý gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ kiểm soát chi, đồng thời cũng rất khó để có thể đưa ra những quy định bao quát hết những khoản chi này trong công tác kiểm soát chi
1.2.2 Nguyên tắc quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước
Tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi
Mọi khoản chi ngân sách nhà nước được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách nhà nước Các khoản chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Việc thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
Trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi ngân sách nhà nước các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi cho ngân sách nhà nước theo đúng trình tự quy định
1.2.3 Nội dung và vai trò của Kho bạc Nhà nước trong công tác kiểm soát chi
Trang 16thường xuyên NSNN
1.2.3.1 Nội dung kiểm soát chi thường xuyên:
Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát hồ sơ của đơn vị theo các nội dung sau:
- Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán ngân sách nhà nước, bảo đảm các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, số dư tài khoản dự toán của đơn vị còn đủ để chi
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước, Kho bạc Nhà nước căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước đã được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao để kiểm soát
1.2.3.2 Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN
Kiểm soát chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc kiểm soát và sử dụng NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách nhiệm
về kết quả kiểm soát của mình Luật NSNN đã quy định mọi khoản chi của NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện quy định, đồng thời theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được NSNN hỗ trợ thường xuyên, phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra của
cơ quan Tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán và sử dụng kinh phí
Như vậy, KBNN là “ trạm gác và kiểm soát cuối cùng”, được Nhà nước giao nhiệm vụ KSC trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN
Thực hiện nhiệm vụ nói trên, KBNN chủ động bố trí ngân quỹ để chi trả đầy đủ kịp thời cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách theo yêu cầu trên cơ
sở dự toán ngân sách đã được duyệt và tồn quỹ ngân sách các cấp Để thực hiên việc cấp phát, thanh toán kinh phí một cách kịp thời, KBNN còn thường xuyên cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán như thực hiện hình thức thanh toán điện
Trang 17tử trong hệ thống, cải tiến chế độ kế toán, ứng dụng tin học vào kiểm soát các nghiệp vụ…Tăng cường thực hiện cấp phát, thanh toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người cung cấp hàng hoá dịch vụ theo tính chất của từng khoản chi NSNN
Trên cơ sở đó, KBNN phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế độ định mức chi tiêu của Nhà nước, có trong dự toán ngân sách được duyệt, được thủ trưởng đơn
vị chuẩn chi; Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện thấy cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng kinh phí được NSNN cấp không đúng mục đích, không đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, KBNN từ chối cấp phát thanh toán và phải chịu trách nhiệm về các khoản từ chối của mình
Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN, KBNN còn tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN qua KBNN theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách và từng khoản chi chủ yếu, rút ra những nhận xét, đánh giá về những kết quả đã đạt được, những hạn chế, tồn tại
và nguyên nhân Từ đó, cùng với các cơ quan hữu quan phối hợp nghiên cứu cải tiến và hoàn thiện cơ chế cấp phát, thanh toán và kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật NSNN sửa đổi và nhiều văn bản quy phạm pháp luật sau đó đã có những điều chỉnh, sửa đổi rất căn bản đối với hoạt động NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng
1.2.4 Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên
1.2.4.1 Điều kiện chi trả, thanh toán
- Kho bạc Nhà nước chỉ thực hiện thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước khi có đủ các điều kiện sau:
+ Đã có trong dự toán chi ngân sách nhà nước được giao, trừ các trường hợp sau:
Trang 18+ Tạm cấp kinh phí theo quy định tại Điều 45 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước
+ Chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao theo quy định tại Điều
54 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP và từ nguồn dự phòng ngân sách theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP
+ Chi ứng trước dự toán ngân sách nhà nước năm sau theo quyết định của cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 61 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền qui định
+ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi
+ Có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo quy định
+ Ngoài ra, trường hợp sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác thuộc phạm vi phải đấu thầu thì phải có đầy đủ quyết định trúng thầu hoặc quyết định chỉ định đơn
vị cung cấp hàng hóa của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
1.2.4.2 Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN
- Bộ Tài chính, Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Tài chính - Kế hoạch quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan tài chính):
+ Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.Trường hợp việc phân bổ không phù hợp với nội dung trong dự toán do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao, không đúng chính sách, chế độ thì yêu cầu cơ quan phân bổ ngân sách điều chỉnh lại;
+ Đảm bảo tồn quỹ ngân sách nhà nước các cấp để đáp ứng các nhu cầu chi của ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn Luật Trường hợp tồn quỹ ngân sách các cấp không đáp ứng đủ nhu cầu chi, cơ quan tài chính được quyền yêu cầu (bằng văn bản) Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán một số khoản
Trang 19chi về mua sắm, sửa chữa theo từng nhiệm vụ cụ thể để đảm bảo cân đối quỹ ngân sách nhà nước, nhưng không ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện nhiệm
vụ chính được giao của đơn vị;
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách ở các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, trường hợp phát hiện các khoản chi vượt nguồn cho phép, không đúng chế độ quy định hoặc đơn vị không chấp hành chế
độ báo cáo, thì có quyền yêu cầu Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán;
+ Chịu trách nhiệm nhập dự toán chi ngân sách vào hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (sau đây gọi tắt là TABMIS) theo quy định về hướng dẫn quản lý điều hành ngân sách nhà nước trong điều kiện áp dụng hệ thống TABMIS;
+ Đối với những khoản chi do cơ quan tài chính quyết định chi bằng hình thức “lệnh chi tiền”: Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoản chi, bảo đảm khoản chi đủ các điều kiện chi ngân sách, đảm bảo đúng đối tượng theo quy định;
+ Cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán cấp
I có trách nhiệm giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc đảm bảo đúng đối tượng, đúng nội dung thẩm tra của cơ quan Tài chính và đúng thời gian quy định Chịu trách nhiệm nhập dự toán chi ngân sách vào TABMIS theo quy định về hướng dẫn quản lý điều hành ngân sách nhà nước trong điều kiện áp dụng hệ thống TABMIS
- Đơn vị sử dụng ngân sách:
+ Đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách được giao và quyết toán ngân sách theo đúng chế độ Lập chứng
từ thanh toán theo đúng mẫu do Bộ Tài chính quy định; chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung chi đã kê trên bảng kê chứng từ thanh toán gửi KBNN
+ Thủ trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm:
Trang 20Quyết định chi theo chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN chịu trách nhiệm về quyết định chi và tính chính xác của các nội dung chi trên bảng kê chứng từ gửi KBNN
Quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; đúng định mức mua sắm, trang bị tài sản; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả Trường hợp vi phạm, tùy theo tính chất và mức
độ, sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
- Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm:
+ Kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán theo quy định tại Điều 51 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP và các quy định tại Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02.10.2012 của Bộ Tài chính
+ Tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách; xác nhận số thực chi, số tạm ứng, số dư kinh phí cuối năm ngân sách của các đơn vị sử dụng ngân sách tại Kho bạc Nhà nước
+ Kho bạc Nhà nước có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán và thông báo bằng văn bản cho đơn vị sử dụng ngân sách biết; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong các trường hợp sau:
Chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Không đủ các điều kiện chi theo quy định
Kho bạc Nhà nước không chịu trách nhiệm về những hồ sơ, chứng từ theo quy định không phải gửi đến Kho bạc Nhà nước để kiểm soát
- Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của
cơ quan tài chính (bằng văn bản) đối với các khoản chi về mua sắm, sửa chữa vượt nguồn cho phép, không đúng chế độ quy định hoặc đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo
Trang 21- Công chức Kho bạc Nhà nước không tuân thủ thời gian quy định về kiểm soát chi hoặc cố tình gây phiền hà đối với đơn vị sử dụng NSNN thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
1.2.4.3 Hồ sơ thanh toán, kiểm soát
a Đối với các khoản chi theo hình thức rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước:
đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước gửi đến KBNN các tài liệu, chứng từ dưới đây:
*) Hồ sơ gửi lần đầu bao gồm:
- Dự toán năm được cấp có thẩm quyền giao
- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập gửi Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; Quyết định giao quyền tự chủ của cấp có thẩm quyền
- Cơ quan Nhà nước thực hiện theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan Nhà nước gửi Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
*) Trường hợp tạm ứng: hồ sơ tạm ứng gửi từng lần tạm ứng bao gồm:
- Đối với các đề nghị tạm ứng bằng tiền mặt: Giấy rút dự toán (tạm ứng), trong đó ghi rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ kiểm soát và theo dõi khi thanh toán Các khoản chi tạm ứng tiền mặt phải đúng nội dung được phép chi bằng tiền mặt quy định tại Điều 5 Thông tư số 164/2011/TT-BTC
- Đối với các đề nghị tạm ứng bằng chuyển khoản:
+ Chi mua hàng hóa, dịch vụ (trừ trường hợp tạm ứng tiền mặt nêu trên): đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước các chứng từ sau: Giấy rút dự toán (tạm ứng), trong đó ghi rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ kiểm soát và bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi nhỏ lẻ không có hợp đồng)
Trang 22hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ (đối với trường hợp khoản chi phải
có hợp đồng)
+ Chi mua sắm, sửa chữa tài sản, xây dựng nhỏ: đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước các chứng từ sau: Giấy rút dự toán (tạm ứng), tùy theo hình thức lựa chọn nhà thầu, đơn vị gửi Quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Quyết định chỉ định thầu, Quyết định phê duyệt kết quả chào hàng cạnh tranh của cấp có thẩm quyền; Hợp đồng mua bán, sửa chữa, xây dựng
*) Hồ sơ thanh toán tạm ứng gửi từng lần thanh toán tạm ứng bao gồm:
Khi thanh toán tạm ứng, đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng Tùy theo từng nội dung chi, gửi kèm theo các tài liệu, chứng từ sau:
- Thanh toán tạm ứng các khoản chi tiền mặt:
+ Đối với các khoản chi có giá trị nhỏ không vượt quá 5 triệu đồng đối với một khoản chi quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư số 164/2011/TT-BTC thì đơn vị lập Bảng kê chứng từ thanh toán do Thủ trưởng đơn vị ký duyệt để gửi Kho bạc Nhà nước
+ Thanh toán tạm ứng đối với các khoản chi tiền mặt còn lại: các tài liệu, chứng từ thanh toán đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước thực hiện tương tự như thanh toán tạm ứng các khoản chi chuyển khoản
- Thanh toán tạm ứng các khoản chi chuyển khoản: Các tài liệu, chứng từ kèm theo đối với từng nội dung chi như trường hợp thanh toán trực tiếp quy định dưới đây
*) Hồ sơ thanh toán trực tiếp bao gồm:
- Giấy rút dự toán (thanh toán);
- Tuỳ theo từng nội dung chi, khách hàng gửi kèm theo các tài liệu, chứng
từ sau:
+ Đối với khoản chi thanh toán cá nhân:
• Đối với các khoản chi tiền lương, học bổng, sinh hoạt phí, các khoản đóng góp, chi cho cán bộ xã thôn, bản đương chức: danh sách những người hưởng lương, học bổng, sinh hoạt phí; danh sách những người hưởng tiền công
Trang 23lao động thường xuyên theo hợp đồng; danh sách cán bộ xã, thôn bản đương chức (gửi lần đầu và gửi khi có bổ sung, điều chỉnh)
• Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan hành chính thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ: thực hiện theo Thông tư
số 18/2006/TT-BTC ngày 13/03/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; Thông tư số BTC ngày 06/09/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
81/2006/TT-• Các khoản thanh toán khác cho cá nhân: danh sách theo từng lần thanh toán
• Đối với thanh toán cá nhân thuê ngoài: hợp đồng thuê khoán, thanh lý hợp đồng (nếu có);
+ Chi mua hàng hóa, dịch vụ:
• Chi thanh toán dịch vụ công cộng; thông tin, tuyên truyền liên lạc: Bảng
kê chứng từ thanh toán
• Chi mua vật tư văn phòng: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
• Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện việc khoán phương tiện theo chế độ, khoán văn phòng phẩm, khoán điện thoại: văn bản quy định về mức chi, danh sách những người hưởng chế độ khoán (gửi một lần vào đầu năm và gửi khi có phát sinh thay đổi)
+ Chi hội nghị: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi công tác phí: Bảng kê chứng từ thanh toán
Trang 24+ Chi phí thuê mướn: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi đoàn ra, đoàn vào: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi không có hợp đồng), hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi mua sắm tài sản: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng) Để cải cách thủ tục hành chính, tăng trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng giảm thiểu hồ sơ thanh toán đối với một số khoản chi mua sắm sau:
• Trường hợp mua sắm chi thường xuyên hoặc gói thầu mua sắm chi thường xuyên có giá trị dưới 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng): đơn vị lập
và gửi KBNN bảng kê chứng từ thanh toán (không phải gửi hợp đồng, hóa đơn, chứng từ liên quan đến khoản mua sắm cho KBNN) Kho bạc Nhà nước thực hiện chi theo đề nghị của đơn vị sử dụng NSNN; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN chịu trách nhiệm về quyết định chi và tính chính xác của các nội dung chi trên bảng kê chứng từ gửi KBNN
• Đối với các khoản mua sắm Thanh toán bằng hình thức thẻ “tín dụng mua hàng” theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ Tài chính quy định quản lý thu chi tiền mặt qua hệ thống KBNN: đơn vị lập 2 liên bảng kê chứng từ thanh toán kèm theo giấy rút dự toán ngân sách nhà nước gửi tới Kho bạc Nhà nước để làm thủ tục kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính Đơn vị giao dịch không phải gửi các hóa đơn mua hàng được in tại các điểm POS đến Kho bạc Nhà nước; đồng thời, đơn vị giao dịch phải tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung các khoản chi ghi trên bảng kê chứng từ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước
Trang 25+ Chi sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành: hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn Đối với các khoản chi phải lựa chọn nhà thầu, đơn vị phải gửi Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu của cấp có thẩm quyền
+ Các khoản chi khác: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi mua, đầu tư tài sản vô hình; chi mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn: Hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn Trường hợp phải lựa chọn nhà thầu, đơn vị phải gửi Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu của cấp có thẩm quyền
b) Đối với hình thức chi theo Lệnh chi tiền của cơ quan tài chính
Hồ sơ thanh toán là Lệnh chi tiền của cơ quan tài chính Đối với hồ sơ liên quan đến từng khoản chi bằng lệnh chi tiền, đơn vị gửi hồ sơ cho cơ quan tài chính,
cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm soát và lưu giữ hồ sơ chứng từ chi bằng hình thức lệnh chi tiền
c) Thời hạn xử lý hồ sơ
Thời hạn xử lý hồ sơ được tính từ thời điểm cán bộ kiểm soát chi ngân sách nhà nước của KBNN nhận đầy đủ hồ sơ, chứng từ kiểm soát chi theo quy định đến
khi xử lý thanh toán xong cho khách hàng, được quy định cụ thể như sau:
*) Đối với các khoản tạm ứng: thời hạn xử lý trong một ngày làm việc
*) Trường hợp thanh toán các khoản chi có hồ sơ đơn giản: thời hạn xử lý trong một ngày làm việc
*) Trường hợp thanh toán khoản chi có hồ sơ phức tạp: thời hạn xử lý là 02 ngày làm việc
*) Trường hợp thanh toán tạm ứng: thời hạn xử lý tối đa là 03 ngày làm việc
d) Kho bạc Nhà nước kiểm soát hồ sơ thanh toán của đơn vị
Trang 26- Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán ngân sách nhà nước được giao, đảm bảo chi có trong dự toán ngân sách nhà nước được duyệt;
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi;
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
e) Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán
- Trường hợp đảm bảo đầy đủ các điều kiện chi trả theo quy định, Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả, thanh toán cho đơn vị;
- Trường hợp chưa đủ điều kiện thanh toán, nhưng thuộc đối tượng được tạm ứng, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục tạm ứng cho đơn vị;
- Trường hợp không đủ điều kiện chi theo quy định, Kho bạc Nhà nước được phép từ chối chi trả, thanh toán và thông báo để đơn vị biết; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định từ chối thanh toán của mình
f) Phương thức chi trả, thanh toán
Việc chi trả kinh phí ngân sách nhà nước cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương và người cung cấp hàng hóa, dịch vụ Đối với các khoản chi chưa có điều kiện thực hiện việc chi trả trực tiếp, Kho bạc Nhà nước tạm ứng hoặc thanh toán cho đối tượng thụ hưởng qua đơn vị sử dụng ngân sách Các phương thức chi trả cụ thể như sau:
1 Tạm ứng: tạm ứng là việc chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước cho đơn
vị sử dụng ngân sách nhà nước trong trường hợp khoản chi ngân sách nhà nước của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước chưa có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định do công việc chưa hoàn thành
*) Nội dung tạm ứng:
- Tạm ứng bằng tiền mặt: nội dung tạm ứng bằng tiền mặt cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, bao gồm các khoản chi của đơn vị sử dụng ngân sách
Trang 27nhà nước thuộc nội dung được phép chi bằng tiền mặt quy định tại Điều 5 Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ Tài chính quy định quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
- Tạm ứng bằng chuyển khoản: nội dung tạm ứng bằng chuyển khoản cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Chi mua vật tư văn phòng
+ Chi hội nghị (trừ các khoản thanh toán cho cá nhân được phép tạm ứng bằng tiền mặt)
+ Chi thuê mướn (thuê nhà, thuê đất, thuê thiết bị )
+ Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành
+ Chi sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng từ nguồn kinh phí thường xuyên
+ Một số khoản chi cần thiết khác để đảm bảo hoạt động của bộ máy của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
*) Mức tạm ứng:
Đối với những khoản chi thanh toán theo hợp đồng, mức tạm ứng theo quy định tại hợp đồng đã ký kết của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhưng tối đa không vượt quá 30% dự toán bố trí cho khoản mua sắm đó (trừ trường hợp thanh toán hàng hóa nhập khẩu, thiết bị chuyên dùng phải nhập khẩu mà trong hợp đồng nhà cung cấp yêu cầu phải tạm ứng lớn hơn và các trường hợp đặc thù khác có hướng dẫn riêng của cơ quan có thẩm quyền, việc thanh toán được thực hiện trong phạm vi dự toán được giao và theo hợp đồng ký kết giữa đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và nhà cung cấp); đối với những khoản chi không có hợp đồng, mức tạm ứng thực hiện theo đề nghị của đơn vị sử dụng ngân sách, phù hợp với tiến độ thực hiện và trong phạm
vi dự toán được giao
*) Trình tự, thủ tục tạm ứng:
- Đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước gửi KBNN hồ sơ, tài liệu liên quan đến từng khoản chi tạm ứng theo quy định kèm theo giấy rút dự toán ngân sách
Trang 28nhà nước (tạm ứng), trong đó ghi rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ giải quyết và theo dõi khi thanh toán tạm ứng
- Kho bạc Nhà nước kiểm soát hồ sơ, chứng từ, nếu đảm bảo theo quy định thì làm thủ tục tạm ứng cho đơn vị
*) Thanh toán tạm ứng: Thanh toán tạm ứng là việc chuyển từ tạm ứng sang thanh toán khi khoản chi đã hoàn thành và có đủ hồ sơ chứng từ để thanh toán
- Đối với những khoản chi tạm ứng bằng tiền mặt đã hoàn thành và đủ hồ
sơ, chứng từ thanh toán, các đơn vị sử dụng ngân sách phải thanh toán tạm ứng với Kho bạc Nhà nước chậm nhất ngày cuối cùng của tháng sau
- Đối với những khoản chi tạm ứng bằng chuyển khoản: các khoản không
có hợp đồng đã hoàn thành và đủ hồ sơ chứng từ thanh toán, các đơn vị sử dụng ngân sách phải thanh toán tạm ứng với Kho bạc Nhà nước chậm nhất ngày cuối cùng của tháng sau Đối với những khoản chi có hợp đồng, ngay sau khi thanh toán lần cuối hợp đồng và kết thúc hợp đồng, các đơn vị sử dụng ngân sách phải làm thủ tục thanh toán tạm ứng với Kho bạc Nhà nước
- Khi thanh toán tạm ứng, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm gửi đến Kho bạc Nhà nước giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, kèm theo các hồ sơ, chứng từ tương ứng có liên quan theo quy định để Kho bạc Nhà nước kiểm soát, thanh toán
- Trường hợp đủ điều kiện quy định, thì Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán tạm ứng cho đơn vị sử dụng ngân sách, cụ thể:
+ Nếu số đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng: căn cứ vào giấy đề nghị thanh toán của đơn vị, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang thanh toán (số đã tạm ứng); đồng thời, đơn vị lập thêm giấy rút dự toán ngân sách gửi Kho bạc Nhà nước để thanh toán bổ sung cho đơn vị (số chênh lệch giữa số Kho bạc Nhà nước chấp nhận thanh toán và số đã tạm ứng);
+ Nếu số đề nghị thanh toán nhỏ hơn hoặc bằng số đã tạm ứng: căn cứ giấy đề nghị thanh toán tạm ứng của đơn vị, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang thanh toán (bằng số Kho bạc Nhà nước chấp nhận thanh
Trang 29toán tạm ứng), số chênh lệch sẽ được theo dõi để thu hồi hoặc thanh toán vào tháng sau, kỳ sau
- Tất cả các khoản đã tạm ứng (kể cả tạm ứng bằng tiền mặt và bằng chuyển khoản) để chi theo dự toán ngân sách nhà nước đến hết ngày 31 tháng 12 hàng năm chưa đủ hồ sơ, thủ tục thanh toán được xử lý theo quy định tại Thông
tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm
2 Thanh toán trực tiếp: Thanh toán trực tiếp là phương thức chi trả ngân sách trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước hoặc cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ khi công việc đã hoàn thành, có đủ các hồ sơ chứng từ thanh toán trực tiếp và các khoản chi ngân sách đáp ứng đầy đủ các điều kiện chi ngân sách theo quy định
*) Nội dung chi thanh toán trực tiếp:
- Các khoản chi tiền lương; chi học bổng, sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên; chi trả dịch vụ công (tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền vệ sinh)
- Các khoản chi có đủ hồ sơ chứng từ chi ngân sách nhà nước theo quy định về hồ sơ thanh toán trực tiếp theo quy định
*) Mức thanh toán:
Mức thanh toán căn cứ vào hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ, trong phạm
vi dự toán ngân sách nhà nước được giao và còn đủ số dư dự toán để thực hiện thanh toán
*) Trình tự, thủ tục thanh toán trực tiếp:
- Đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước hồ sơ, tài liệu liên quan đến từng khoản chi theo quy định kèm theo giấy rút dự toán ngân sách nhà nước (thanh toán), trong đó ghi rõ nội dung thanh toán để Kho bạc Nhà nước có căn cứ giải quyết và hạch toán kế toán
- Kho bạc Nhà nước kiểm soát, nếu đảm bảo theo quy định thì thực hiện thanh toán trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc qua đơn vị
sử dụng ngân sách
Trang 303 Tạm cấp kinh phí ngân sách:
*) Tạm cấp kinh phí thực hiện trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách nhà nước chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, Cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm cấp kinh phí ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ chi theo quy định tại điều 45 Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và hướng dẫn cụ thể tại các Thông tư điều hành ngân sách hàng năm của Bộ Tài chính
*) Cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm cấp kinh phí ngân sách cho đơn vị sử dụng ngân sách theo quy định Mức tạm cấp hàng tháng tối
đa không vượt quá mức chi bình quân 1 tháng của năm trước
*) Sau khi dự toán được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao, Kho bạc Nhà nước thực hiện giảm trừ khoản tạm cấp vào loại, khoản chi ngân sách được giao của đơn vị sử dụng ngân sách Trường hợp giao dự toán không đúng với loại, khoản đã được cấp, Kho bạc Nhà nước thông báo bằng văn bản cho cơ quan Tài chính
4 Chi ứng trước dự toán cho năm sau:
*) Việc ứng trước dự toán ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ
*) Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện chi ứng trước cho đơn vị sử dụng ngân sách theo quy định
*) Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi vốn ứng trước theo dự toán thu hồi của cơ quan phân bổ dự toán ngân sách nhà nước
g) Kiểm soát, thanh toán đối với một số khoản chi chủ yếu
*) Các khoản chi thanh toán cá nhân
- Đối với lương cấp bậc, chức vụ và sinh hoạt phí: căn cứ vào danh sách chi trả lương, phụ cấp lương đối chiếu với bảng đăng ký biên chế, quỹ lương, sinh hoạt phí năm, Kho bạc Nhà nước thanh toán cho đơn vị để chi trả cho người được hưởng theo quy định hiện hành
Trang 31- Đối với các khoản thanh toán cho các cá nhân thuê ngoài: căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao; nội dung thanh toán theo hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng lao động; giấy rút dự toán ngân sách nhà nước của đơn vị, Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán trực tiếp cho người được hưởng hoặc qua đơn vị để thanh toán cho người được hưởng
- Đối với phần chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức từ nguồn kinh phí tiết kiệm: căn cứ vào giấy rút dự toán ngân sách nhà nước của đơn vị (trong đó ghi rõ nội dung chi trả thu nhập tăng thêm từ nguồn kinh phí tiết kiệm), Kho bạc Nhà nước kiểm tra đảm bảo hệ số tăng thêm của quỹ tiền lương tối đa không quá 1,0 (một) lần so với mức tiền lương cấp bậc chức vụ do Nhà nước quy định, cụ thể:
+ Trong năm, sau khi thực hiện quý trước, nếu xét thấy đơn vị có khả năng tiết kiệm được kinh phí; thủ trưởng đơn vị căn cứ vào số kinh phí dự kiến tiết kiệm được lập giấy rút dự toán ngân sách nhà nước (tạm ứng) để tạm chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức trong đơn vị theo quý; Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm ứng theo mức thủ trưởng đơn vị đề nghị đảm bảo trong phạm vi
dự toán được giao và tối đa không vượt quá 60% quỹ tiền lương cấp bậc, chức
vụ một quý của đơn vị
+ Kết thúc năm ngân sách, sau khi đơn vị xác định được chính xác số thực tiết kiệm, căn cứ vào đề nghị thanh toán tạm ứng (phần tạm ứng chi thu nhập tăng thêm) của đơn vị, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục thanh toán phần chi thu nhập tăng thêm cho đơn vị và thu hồi phần kinh phí đã tạm ứng Trường hợp đơn vị đã tạm ứng vượt quá số thực tiết kiệm, Kho bạc Nhà nước cho chuyển tạm ứng sang năm sau để thực hiện thu hồi bằng cách giảm trừ vào số tiết kiệm năm sau của đơn vị
*) Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn
Căn cứ vào dự toán do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn vị, giấy rút dự toán ngân sách nhà nước và các hồ sơ, chứng từ có liên quan đến từng khoản chi; Kho bạc Nhà nước thực hiện đối chiếu với các tiêu chuẩn, định
Trang 32mức chế độ quy định hoặc Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị (nếu là đơn vị tự chủ theo Nghị định 130 của Chính phủ) cho từng nội dung công việc để kiểm soát, thanh toán cho đơn vị, song mức tối đa không được vượt tiêu chuẩn, chế
độ, định mức chi tiêu hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp đơn vị thực hiện chế độ tự chủ đề nghị chi vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ được quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ, song chưa vượt mức do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc đơn vị chưa gửi Quy chế chi tiêu nội bộ tới Kho bạc Nhà nước, thì Kho bạc Nhà nước chấp nhận thanh toán khi có văn bản đề nghị của thủ trưởng đơn vị
Trường hợp các khoản chi chưa đủ điều kiện thanh toán, thì đơn vị đề nghị Kho bạc Nhà nước tạm ứng theo quy định
*) Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện, vật tư
- Căn cứ vào dự toán do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn
vị, giấy rút dự toán ngân sách nhà nước (thanh toán) và các hồ sơ, chứng từ có liên quan; Kho bạc Nhà nước thực hiện đối chiếu với các điều kiện chi, kiểm tra theo các quy định của Nhà nước về các hình thức mua sắm (đấu thầu, chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu…), nếu đủ điều kiện theo quy định thì làm thủ tục thanh toán trực tiếp bằng chuyển khoản cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán bằng tiền mặt (đối với các khoản chi giá trị nhỏ) qua đơn vị để chi trả cho đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ
- Trường hợp các khoản chi chưa đủ điều kiện thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm ứng cho đơn vị
+ Căn cứ giấy rút dự toán ngân sách nhà nước (tạm ứng) và các hồ sơ, chứng từ có liên quan của đơn vị, Kho bạc Nhà nước tạm ứng bằng chuyển khoản để thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán bằng tiền mặt cho đơn vị để đơn vị thanh toán cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ
+ Sau khi thực hiện chi, đơn vị có trách nhiệm thanh toán số đã tạm ứng với Kho bạc Nhà nước theo chế độ quy định Căn cứ hồ sơ, chứng từ có liên
Trang 33quan kèm theo giấy đề nghị thanh toán tạm ứng của đơn vị, Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát, nếu đủ điều kiện thanh toán, thì làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang thanh toán cho đơn vị
*) Kiểm soát các khoản chi phục vụ công tác thu phí, lệ phí
Căn cứ chế độ thu-chi phí, lệ phí, Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị (nếu là đơn vị tự chủ theo Nghị định 130 của Chính phủ), Kho bạc Nhà nước kiểm soát, thanh toán cho đơn vị, đảm bảo theo đúng nội dung chi và không vượt quá mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
*) Kiểm soát, thanh toán đối với những khoản chi khác
Các khoản chi khác trong nội dung kinh phí được giao, nhưng không thuộc 4 nội dung chi nêu trên thì Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát và thanh toán cho đơn vị như sau:
- Đối với những khoản chi đủ điều kiện thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi theo chế độ quy định và thực hiện thanh toán trực tiếp cho đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ;
- Đối với những khoản chi chưa thực hiện thanh toán trực tiếp: căn cứ vào
dự toán ngân sách nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao và giấy rút dự toán ngân sách nhà nước (tạm ứng), Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm ứng cho đơn vị Đầu tháng sau, chậm nhất vào ngày 5 hàng tháng, đơn vị phải lập bảng kê chứng từ thanh toán kèm các hồ sơ, chứng từ liên quan gửi Kho bạc Nhà nước để làm thủ tục thanh toán tạm ứng Căn cứ bảng kê chứng từ thanh toán và kiểm tra, đối chiếu với tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi, các hồ sơ, chứng từ có liên quan, nếu đủ điều kiện quy định, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang thanh toán tạm ứng cho đơn vị Đơn vị tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ thanh toán và quyết định chi tiêu của mình
h) Kiểm soát, thanh toán việc sử dụng các khoản kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm
Trang 34- Các khoản kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được chỉ được sử dụng cho các nội dung sau:
+ Bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức theo hệ số tăng thêm quỹ tiền lương, nhưng tối đa không quá 1,0 (một) lần so với quỹ tiền lương tính theo mức tiền lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định;
+ Chi khen thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích;
+ Chi cho các hoạt động phúc lợi trong cơ quan;
+ Chi trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức;
+ Trường hợp xét thấy khả năng kinh phí tiết kiệm không ổn định, đơn vị
có thể trích một phần số tiết kiệm được để lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập
- Căn cứ Quy chế chi tiêu nội bộ, Quyết định của thủ trưởng đơn vị (nếu
là đơn vị tự chủ theo Nghị định 130 của Chính phủ) về việc sử dụng kinh phí tiết kiệm được và thông báo xét duyệt (thẩm định) quyết toán chi ngân sách hàng năm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát và thanh toán, chi trả cho đơn vị
1.2.5 Xử lý kinh phí cuối năm
- Đối với kinh phí giao không thực hiện chế độ tự chủ, cuối năm không sử dụng hết được xử lý theo các quy định hiện hành
- Đối với kinh phí giao để thực hiện chế độ tự chủ:
+ Số dư tạm ứng được tiếp tục thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán và quyết toán vào niên độ ngân sách nhà nước theo quy định Trường hợp hết thời gian chỉnh lý quyết toán vẫn không đủ điều kiện thanh toán, đơn vị có văn bản đề nghị Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch chuyển tạm ứng cùng với việc chuyển nguồn kinh phí tương ứng sang năm sau để thực hiện thanh toán, quyết toán vào niên độ ngân sách năm sau (phần kinh phí này không được xác định là kinh phí tiết kiệm chuyển năm sau của đơn vị)
+ Số dư dự toán kinh phí thực hiện chế độ tự chủ và kinh phí tiết kiệm của đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng Căn cứ vào số dư dự
Trang 35toán, kết quả tiết kiệm và tình hình sử dụng kinh phí tiết kiệm của đơn vị, Kho bạc Nhà nước thực hiện chuyển số dư dự toán và kinh phí tiết kiệm chưa sử dụng hết sang năm sau cho đơn vị
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề KSC thường xuyên NSNN Tuy nhiên, xem xét trên khía cạnh nguồn gốc tác động đến cơ chế KSC thì có thể chia làm hai nhóm nhân tố ảnh hưởng; đó là: nhân tố bên trong (nhân tố chủ quan) và nhân tố bên ngoài (nhân tố khách quan) Trong đó, nhân tố bên trong chính là nhân tố thuộc về KBNN; nhân tố bên ngoài thì nhân tố chính đề cập đó chính là sự tác động của cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với vấn đề KSC thường xuyên NSNN
1.3.1 Nhân tố bên trong
Một là, tổ chức bộ máy KSC NSNN qua KBNN phải gọn nhẹ theo hướng cải cách hành chính, thu gọn các đầu mối quản lý, đơn giản hoá quy trình và thủ tục hành chính; đồng thời cần phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý ngân sách, quản lý tài chính nhà nước
Hai là, năng lực, trình độ của đội ngũ công chức làm công tác kiểm soát chi Trình độ và năng lực công chức kiểm soát chi là nhân tố quyết định chất lượng công tác kiểm soát chi Vì vậy, công chức kiểm soát chi phải có trình độ chuyên sâu về quản lý tài chính, am hiểu về các lĩnh vực chuyên ngành mình quản lý, có khả năng phân tích, xử lý thông tin được cung cấp và giám sát đối chiếu với các quy định hiện hành của Nhà nước, có phẩm chất đạo đức tốt để có thể vừa làm tốt công tác kiểm soát chi vừa đảm bảo tính trung thực, khách quan, không lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm được giao để vụ lợi hay có thái độ hách dịch, sách nhiễu đối với đơn vị trong quá trình kiểm soát chi
Ba là, quy trình, thủ tục kiểm soát chi phải rõ ràng, đơn giản nhưng đảm bảo tính chặt chẽ trong trong quản lý chi tiêu NSNN, không tạo khe hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thất thoát, lãng phí NSNN
Trang 36Bốn là, ứng dụng công nghệ thông tin Muốn thực hiện tốt công tác KSC đòi hỏi chúng ta cũng cần phải quan tâm như: hệ thống kế toán Nhà nước (kế toán NSNN, kế toán đơn vị sử dụng NSNN), hệ thống mục lục NSNN, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm soát của KBNN, công nghệ thanh toán trong nền kinh tế nói chung…
1.3.2 Nhân tố bên ngoài
Một là, hệ thống luật pháp và chế độ, định mức về chi thường xuyên
NSNN: Đã có nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể về KSC thường xuyên NSNN,
nhưng do chi thường xuyên NSNN đa dạng, phức tạp và rộng khắp, đồng thời chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, nên nhiều
khi ban hành còn thiếu cơ sở thực tế để thực hiện, có tình trạng chưa đồng bộ
Định mức chi tiêu ngân sách là mức chuẩn để làm căn cứ tính toán, xây dựng dự toán, phân bổ dự toán và để kiểm soát chi tiêu Nếu hệ thống định mức chi tiêu ngân sách thoát ly thực tế, thì việc tính toán, phân bổ dự toán chi không khoa học, không chính xác; dẫn đến tình trạng chi ngoài dự toán; thiếu căn cứ để KSC; ĐVSDNS thường phải tìm mọi cách để hợp lý hoá các khoản chi cho phù hợp với những định mức đã lạc hậu nên dễ vi phạm kỷ luật tài chính
Định mức chi tiêu càng cụ thể, chi tiết, sát với thực tế bao nhiêu càng có tác dụng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN nói chung và hiệu quả công tác KSC qua KBNN nói riêng bấy nhiêu Việc chấp hành định mức chi tiêu của Nhà nước cũng là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng quản
lý và điều hành ngân sách của các ngành, các cấp
Tuy nhiên, do tính chất đa dạng của các đơn vị sử dụng NSNN, do tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng cho nên việc ban hành đồng
bộ và ổn định hệ thống định mức là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp
Do vậy hệ thống luật pháp, chính sách, chế độ và định mức về chi thường xuyên NSNN luôn là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến cơ chế KSC thường xuyên NSNN
Hai là, năng lực kiểm soát, điều hành của các cấp chính quyền Theo Luật
Trang 37Ngân sách nhà nước hiện nay, Quốc hội quyết nghị dự toán ngân sách Trung ương và trợ cấp cho ngân sách Địa phương Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố quyết nghị dự toán ngân sách cấp mình và trợ cấp cho ngân sách cấp dưới Tương tự như vậy đối với ngân sách quận, huyện, thị xã
Bộ Tài chính căn cứ vào quyết nghị của Quốc hội ra quyết định giao dự toán chi NSNN cho các Bộ, Ban, Ngành ở trung ương và trợ cấp ngân sách cho các địa phương UBND tỉnh, thành phố, căn cứ vào quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, ra quyết định giao dự toán chi thường xuyên ngân sách cho các sở, ban, ngành và trợ cấp cho ngân sách quận, huyện Các huyện, thị xã nhận được quyết định giao dự toán các đơn vị dự toán cấp I phân bổ dự toán cho các đơn vị sử dụng NSNN
Như vậy, năng lực kiểm soát điều hành của các cấp chính quyền và các cấp kiểm soát NSNN sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế KSC NSNN nói chung
và KSC thường xuyên NSNN nói riêng
Dự toán NSNN là một trong những căn cứ quan trọng để KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN Chất lượng dự toán chi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm soát chi Vì vậy, để nâng cao chất lượng kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN thì việc giao dự toán chi NSNN phải đảm bảo tính kịp thời, chính xác, đầy đủ và chi tiết để làm căn cứ cho KBNN kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu của đơn vị
Ba là, chấp hành ngân sách của các đơn vị dự toán ngân sách Các đơn vị khi thực hiện luật ngân sách, đề ra quy định, chế độ tại đơn vị mình linh hoạt, hiệu quả và đúng quy định của Nhà nước sẽ tác động tích cực tới công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN
Về ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Nếu các đơn
vị sử dụng NSNN có tính tự giác cao trong việc chấp hành chế độ chi tiêu NSNN thì các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đảm bảo
có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ từ đó giúp cho việc kiểm soát chi của KBNN được thuận lợi, nhanh chóng, tránh tình trạng phải trả lại hồ sơ, chứng
Trang 38từ, thông báo từ chối cấp phát gây lãng phí thời giờ và công sức Do vậy, cần làm cho đơn vị sử dụng NSNN thấy được trách nhiệm của mình trong tất cả các khâu của quy trình ngân sách
1.4 Bài học kinh nghiệm quản lý và kiểm soát chi ngân sách nhà nước của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của các nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Singapore về quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra
Lập ngân sách theo đầu ra là một hoạt động quản lý ngân sách dựa trên cơ
sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính để đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển của Chính phủ Nguyên
lý cơ bản của lập ngân sách theo kết quả đầu ra ở Singapore là đòi hỏi các nhà quản lý khu vực công có trách nhiệm hơn đối với công việc được giao, đồng thời tạo điều kiện cho họ có thêm quyền tự chủ trong quản lý để đạt được mục tiêu
đã đặt ra Với việc thực hiện lập kế hoạch ngân sách theo kết quả đầu ra, các Bộ, ngành sẽ được quản lý theo mô hình tự chủ tài chính Các cơ quan thực hiện tự chủ tài chính là các cơ quan Nhà nước có kết quả đầu ra và mục tiêu hoạt động
đã được xác định rõ, những cơ quan này được linh hoạt trong quản lý để có thể cung cấp dịch vụ một cách có hiệu quả hơn Một cơ quan, đơn vị được xem là tự chủ về tài chính khi có đầy đủ 4 yếu tố cơ bản làm cơ sở cho việc lập ngân sách theo kết quả đầu ra như sau:
Xác định được trước mục tiêu công việc và sản phẩm đầu ra: Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ được làm rõ hơn vì hàng năm họ phải xác định trước đầu ra và đặt mục tiêu công việc trình lên Bộ trưởng để được phân bổ ngân sách theo hình thức “bỏ phiếu” trước đây, ngân sách được phân bổ trên cơ sở điều chỉnh tăng dự toán theo một tỷ lệ nhất định so với dự toán thực hiện năm trước Việc điều chỉnh này sẽ bù đắp cho sự gia tăng về chi phí đầu vào như tăng giá
Hệ thống phân bổ ngân sách trước đây ở Singapore chủ yếu dựa trên yếu
tố đầu vào, gắn với các nội dung chi cụ thể Các Bộ, ngành chỉ cần lập ngân sách
Trang 39theo số lượng đầu vào cần cho hoạt động của mình mà không liên kết giữa đầu vào và đầu ra
Hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra hiện nay đòi hỏi Chính phủ trở thành người mua dịch vụ thay mặt cho những người nộp thuế Chính phủ xem các Bộ, ngành như là những người cung cấp dịch vụ và phân bổ ngân sách cho các Bộ, ngành theo mức độ công việc hoàn thành Như vậy, các Bộ, ngành sẽ có trách nhiệm hơn với công việc của mình
Có cơ chế khuyến khích việc hoàn thành mục tiêu đề ra: Theo cơ chế điều hành ngân sách hiện hành, nguồn vốn ngân sách cấp nếu cuối năm không sử dụng hết thì phải hoàn trả ngân sách Do đó, các Bộ, ngành có xu hướng cố gắng
sử dụng hết nguồn ngân sách thừa trước khi kết thúc năm tài khoá Để khuyến khích hoạt động có hiệu quả hơn, các cơ quan thực hiện đạt và vượt mục tiêu ban đầu đề ra sẽ được phép giữ lại phần ngân sách còn thừa
Áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sẽ được trao quyền chủ động và linh hoạt tối đa đối với các vấn đề có liên quan đến tổ chức, nhân sự và tài chính trong phạm vi ngân sách được duyệt
Trong quá trình lập ngân sách theo kết quả đầu ra ở Singapore, việc xác định kế hoạch đầu ra là một công đoạn quan trọng nhất Kế hoạch đầu ra là một công cụ tổng hợp đối với tất cả các cơ quan tự chủ, là cơ sở cho việc thực hiện lập ngân sách theo kết quả đầu ra Trước hết, kế hoạch đầu ra với vai trò là một công cụ giám sát, bao gồm một danh mục các mục tiêu hoạt động và đầu ra hoàn chỉnh trong đó cơ quan tự chủ sẽ có nhiệm vụ phải mang lại những kết quả tương xứng với nguồn lực được phân bổ Việc tăng cường trách nhiệm này được thực hiện đồng thời với việc tăng cường quyền quản lý Kế hoạch đầu ra cần được soạn thảo phù hợp với kế hoạch ngân sách hàng năm và trong chừng mực
có thể, việc phân bổ ngân sách cần gắn liền với mức sản lượng đầu ra Kế hoạch đầu ra cũng chính là một công cụ để đánh giá hoạt động của đơn vị nhằm khuyến khích đạt mục tiêu đã đặt ra
Trang 40Ở Singapore, sử dụng 5 chỉ số để đánh giá kết quả hoạt động của một đơn
vị tự chủ tài chính áp dụng theo kết quả đầu ra: kết quả tài chính; số lượng sản phẩm đầu ra; chất lượng dịch vụ; hiệu quả hoạt động và kết quả hoạt động
1.4.1.2 Kinh nghiệm kiểm soát cam kết chi tại Cộng hoà Pháp
Trong suốt chu trình quản lý chi NSNN đòi hỏi một khoản chi của NSNN phải được quản lý, kiểm soát từ khâu lập dự toán ngân sách; phân bổ ngân sách;
ký kết hợp đồng và thực hiện cam kết chi; thực hiện nhận hàng hoá, dịch vụ; thanh toán chi trả; kế toán và quyết toán ngân sách Trên thế giới, rất nhiều nước
đã thực hiện chu trình này, trong đó có nước Pháp Cam kết chi là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý chi NSNN
Cam kết chi: Là việc các ĐVSDNS cam kết sử dụng dự toán chi ngân sách được giao hàng năm (có thể một phần hoặc toàn bộ dự toán được giao trong năm) để thanh toán cho hợp đồng đã được ký giữa đơn vị dự toán với nhà cung cấp
Cam kết chi NSNN của nước Cộng hoà Pháp được thực hiện qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 : Cam kết về mặt pháp lý được thực hiện khi đơn vị tiến hành
ký kết hợp đồng với nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo luật thầu công Tại bước này, chỉ thực hiện kế toán tổng quát (theo kiểu ghi đơn), chưa thực hiện kế toán ngân sách
Giai đoạn 2 : Cam kết về khả năng thanh toán được thực hiện khi đơn vị
đã nhận được l phần hàng hoá, dịch vụ của nhà cung cấp Tại bước này, cùng với việc hạch toán kế toán ngân sách (hạch toán kép) thì cũng sẽ trừ vào dự toán được giao của đơn vị (tại Pháp phần kinh phí này được gọi là kinh phí chi trả) để đảm bảo có đủ kinh phí thanh toán cho các hợp đồng đã ký
Như vậy, cam kết về khả năng thanh toán luôn có ý nghĩa quan trọng, nó đảm bảo cho cam kết pháp lý được thực hiện Kiểm soát viên tài chính sẽ kiểm soát quá trình cam kết này Tại Pháp có một số đơn vị, cá nhân tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát cam kết chi và thực hiện thanh toán, cụ thể như sau: