1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các loại hình doanh nghiệp tại việt nam.doc

32 2,1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các loại hình doanh nghiệp tại việt nam
Tác giả Trần Thủy Tiên, Nguyễn Thị Huỳnh Như, Nguyễn Thị Nhan, Đỗ Hưng Hoàng, Nguyễn Tuấn Cường, Ung Nguyễn Huy, Lê Chí Trung, Đinh Đăng Khải, Tạ Vũ Linh
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Sao
Trường học Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2009-2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 230,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại hình doanh nghiệp tại việt nam

Trang 1

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÀI TIỂU LUẬN

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

GV hướng dẫn: TSHoàng Trọng Sao Niên khóa:2009-2010

Lớp học phần: 210704003

Nhóm :1

Thành phố Hồ Chí Minh,tháng 2 năm 2010

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM

Trang 3

MỤC LỤC

Lời Mở Đầu 4

Nội Dung 6

I/Khái niệm 6

II/Các Loại Hình Doanh Nghiệp 6

1Tiêu chí phân loại hình doanh nghiệp 6

1.1.Tiêu chí về sở hữu 6

1.2.Tiêu chí về sự tách bạch 9

1.3.Tiêu chí về kinh tế 14

2.Các loại hình doanh nghiệp tại nước ta 16

Sau 1975 Doanh nghiệp quốc doanh 16

Hợp tác xã 17

Sau 1986 Doanh nghiệp quốc doanh 18

Doanh nghiệp tập thể 20

Doanh nghiệp tư nhân 27

Kết Bài 31

Trang 4

Song sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975 Đảng và Nhà Nước ta đãnhận thức và tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình nền kinh tế khép kín,hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng; chủ yếu dựa vào lợi thế vềlao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ từ các nứơc xã hội chủ nghĩa,chủ lực thực hiện công nghiệp hoá là Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước,việc phân bổ nguồn lực chủ yếu dựa vào cơ chế tập trung quan liêu bao cấptrong một nền kinh tế phi thị trường Nhưng do chúng ta tiến hành côngnghiệp hoá từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại mắc những sai lầmnghiêm trọng trong việc xác định mục tiêu, bước đi về cơ sở vật chất, bố trí cơcấu sản xuất, cơ cấu đầu tư đã làm cho nền kinh tế Việt Nam vẫn trong tìnhtrạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển và rơi vào khủng hoảng kinh tế - xãhội

Nhưng với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thất, đánh giá đúng sự thật, nói rõ

sự thật” tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1986) đã

nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệphoá và đã quyết định đổi mới phá triển kinh tế theo định hướng xã hội chủnghĩa bằng con đường phát triển kinh tế nhiều thành phần.Theo đó nước ta sẽ

Trang 5

có nhiều thành phần kinh tế và được tự do buôn bán , cơ cấu kinh tế có thể tự

do linh hoạt hoạt động mà không phải chịu sự chi phối của nhà nước nhưngvẫn phải tuân theo pháp luật Từ đó mà nhà nước ta đã hình thành nhiều loạihình quản lý nhà nước , giúp nước ta cải thiện được phần nào tình hình kinh

tế - xã hội lúc bấy giờ

Vậy để hiều rõ hơn về nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu qua bài tiểu luận

của nhóm với đề tài: “các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 6

Khái niệm kinh doanh theo định nghĩa trên tương đồng với định nghĩahành vi thương mại ở các nước khác.

II/ CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP:

1 Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp:

Mỗi cách phân loại gắn kết với một mục tiêu cụ thể, phục vụ mục đíchquản lý hoặc thể hiện một quan niệm nào đó Có ba câu hỏi được nhấn mạnhkhi bàn về các tiêu chí được xây dựng để xác định các loại hình doanh nghiệp:(1) Quan tâm đến doanh nghiệp của ai? (nghiêng về sở hữu); (2) Quan tâmđến hình thức tổ chức doanh nghiệp như thế nào?; (3) Quan tâm đến quản lý

và hỗ trợ doanh nghiệp như thế nào để có hiệu quả nhất?

1.1 Tiêu chí về sở hữu

Một khi đặt nặng vấn đề sở hữu, khung pháp luật sẽ thể hiện mức phânvùng theo các thành phần kinh tế Các loại hình doanh nghiệp tương ứng vớimột thành phần kinh tế sẽ có những điều chỉnh đặc thù Theo đó, khung phápluật thường có khuynh hướng phân tán, khó tìm được tiếng nói chung giữa cácloại hình doanh nghiệp Đối với những nước thuộc khối kinh tế xã hội chủ

Trang 7

nghĩa ngày trước, khung pháp luật hướng tới bảo vệ sở hữu toàn dân, thể hiệnqua vai trò độc tôn của doanh nghiệp nhà nước và sự kỳ thị kinh tế tư nhân

Tiêu chí sở hữu được xây dựng để phân loại doanh nghiệp bắt nguồn từviệc nhấn mạnh vai trò của các doanh nghiệp nhà nước Thật vậy, đối với nềntảng tư hữu đã có gốc rễ từ lâu đời, các loại hình doanh nghiệp chỉ tập trungtìm kiếm những mô thức quản trị hiệu quả Tuy nhiên, sau thế chiến thứ hai,bên cạnh sự phát triển của hệ thống kinh tế mệnh lệnh, nhu cầu cần có sự tậptrung lớn các nguồn tài nguyên để tái kiến thiết đất nước đã mở rộng vai tròcủa các công ty nhà nước tại những nước Tây Âu Trong hệ thống kinh tế xãhội chủ nghĩa, sự can thiệp toàn diện của nhà nước đòi hỏi những thể hiệntương ứng trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp, trong đó phải có sự phânchia theo tính chất sở hữu để phục vụ cho vai trò “quản lý xí nghiệp” và sựvận hành độc tôn của kinh tế quốc doanh Như vậy, phân loại doanh nghiệptheo tiêu chí sở hữu không tuân theo sự vận động, phát triển của các loại hìnhdoanh nghiệp mà hướng tới các đặc thù có tính lịch sử của các hình thức sởhữu, một dạng “phát triển theo sự thuận tiện” Một khi quan tâm đến tính chất

sở hữu, khuynh hướng chung của khung pháp luật về doanh nghiệp là sự phânvùng thành các tiểu hệ thống biệt lập Vấn đề sở hữu, tự bản thân nó, hàmchứa khả năng tự cô lập trong sự khẳng định vai trò của các chủ thể Việctuyên bố nhận diện về cái chúng ta có thường ngầm ẩn ý chống đối với cáingười khác đang có Sự vận động, phát triển của các tiểu hệ thống thường

“lệch pha”, làm việc vận hành chung của khung pháp luật không đồng bộ vàkém hiệu quả Định hình doanh nghiệp theo sở hữu, vì vậy, khó có sự kết nốichung giữa các tiểu hệ thống nhằm tạo lập tính đồng bộ của khung pháp luật.Các yếu tố khác như mô thức quản trị hiệu quả, sự tách bạch tài sản, kiểm soátnội bộ, các thể thức điều hành… phải “biến dạng” theo các tiểu hệ thống trước

Trang 8

khi đóng vai trò thúc đẩy hiệu quả và tính đồng bộ của khung pháp luật Sựbiến dạng đó tất yếu dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không bìnhđẳng giữa các loại hình doanh nghiệp Bên cạnh đó, đi theo tiêu thức sở hữu

sẽ gặp nhiều khó khăn trong du nhập và đón nhận các loại hình doanh nghiệpmới vì nếu không tuân theo những xác lập định sẵn về sở hữu, cái mới sẽ trởthành “dị biệt”, toàn bộ hệ thống sẽ khập khiễng Ngay cả khi định vị đượccác loại hình mới, chi phí tạo các mối liên kết, san lấp các cách biệt sẽ rất lớn,chưa kể đến việc “cộng dồn” những biệt lệ hay này theo thời gian sẽ khiếnkhung pháp luật về doanh nghiệp càng thêm rối rắm

Khi việc phân loại doanh nghiệp dựa trên tính chất sở hữu, tiêu chí sởhữu sẽ xác lập các loại hình doanh nghiệp phổ biến Ở nước ta, khung phápluật về doanh nghiệp phân hóa theo tính chất sở hữu, tạo thành bốn vùngchính sau: doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp thuộc sở hữu

tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các hợp tác xã đại diệncho kinh tế tập thể Nguồn gốc sự phân loại này bắt nguồn từ vai trò độc tôncủa các xí nghiệp quốc doanh Khi chuyển sang cơ chế mới, sự thừa nhận banđầu các hình thức tổ chức doanh nghiệp bắt buộc phải dựa trên những quanniệm mới về sở hữu Điều này đã tạo nên “lối mòn” trong phân loại các doanhnghiệp nước ta theo tính chất về sở hữu Không chấp nhận liệu pháp “sốc”,khung pháp luật về doanh nghiệp biến đổi bằng cách “lai ghép” từ từ để tạo sựđột biến, không đào bới gốc rễ Với điều kiện, đặc điểm nước ta, hướng đithận trọng tỏ ra hợp lý và có thể biện giải được Tuy nhiên, đã đến lúc phảixem xét tính đồng bộ của khung pháp luật về doanh nghiệp, chuẩn bị chonhững thay đổi căn bản hơn

Trang 9

1.2 Tiêu chí về sự tách bạch:

Tiêu chí về sự tách bạch, được đúc kết từ lịch sử lâu dài của các sáng kiến về thương mại cũng như về pháp lý, là nền tảng của luật về tổ chức doanh nghiệp.

Về cơ bản, tiêu chí này hướng tới phân loại doanh nghiệp dựa trên mức

độ tách bạch giữa doanh nghiệp và các chủ sở hữu doanh nghiệp Trong lịch

sử hình thành tiêu chí về sự tách bạch, các sáng kiến bắt đầu từ thời La mã cổ

Tiêu chí về sự tách bạch xuyên suốt lịch sử phát triển các loại hình doanh nghiệp Sự tách bạch phát triển cùng nền kinh tế thị trường, với sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp có khả năng mở rộng về quy mô thu hút vốn đầu tư Chế độ trách nhiệm hữu hạn, được đặt ra nhằm nhằm giải quyết yêu cầu đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, phải đặt nền tảng trên sự táchbạch Dạng trách nhiệm theo phần đã bắt đầu từ rất sớm Nhưng chỉ khi việc tách bạch trở nên vững chắc, chế độ trách nhiệm hữu hạn mới trở thành sáng kiến trong tổ chức doanh nghiệp Cũng cần thấy rằng, “đặc tính trách nhiệm

vô hạn hay trách nhiệm hữu hạn chỉ xuất hiện và chỉ được đề cập tới khi một chủ thể của luật dân sự :Kinh tế bị vỡ nợ mà đối với các doanh nghiệp được gọi là phá sản” Các loại hình doanh nghiệp tiến hóa xoay quanh tiêu chí về sựtách bạch, vấn đề pháp nhân hay thể nhân, trách nhiệm hữu hạn hay trách nhiệm vô hạn đóng vai trò như những hệ quả phát sinh Vì vậy, đề cập đến tiêu chí tách bạch không có nghĩa đồng nhất với vấn đề trách nhiệm hữu hạn hay ngược lại Việc xem sự tách bạch là sản phẩm riêng có của những loại hình doanh nghiệp theo chế độ trách nhiệm hữu hạn thường là một nhầm lẫn thường thấy

Sự tách bạch có hai chiều chủ yếu sau:

Trang 10

- Thứ nhất, tách bạch tài sản giữa các chủ sở hữu doanh nghiệp với bản

thân doanh nghiệp, gọi là nguyên tắc tự vệ Tài sản các chủ sở hữu độc lập vàđược bảo vệ trước các khoản nợ của doanh nghiệp

- Thứ hai, tách bạch tài sản giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu

doanh nghiệp đó, gọi là nguyên tắc khẳng định Tài sản của doanh nghiệp độclập và được bảo vệ trước những khoản nợ của các chủ sở hữu.Các trường phái

cổ điển đều cho rằng, sự tách bạch doanh nghiệp với người sáng lập ra nónhằm bảo vệ nhà đầu tư trước những rủi ro, bất trắc trong kinh doanh

Sự tách bạch tập trung ở một số nội dung chính sau:

- Tách bạch trừu tượng Một doanh nghiệp khi khởi lập, đã có sự tách

bạch tương đối với những người sáng lập ra nó Như vậy, đã có một ranh giới

mờ nhạt giữa nhà đầu tư với thực thể kinh doanh, tuy có liên hệ mật thiết,không phải là chính anh ta Doanh nghiệp tư nhân ABC, công ty hợp danhXYZ…, tuy không có chế độ trách nhiệm hữu hạn, vẫn có sự tách bạch tươngđối (ít nhất về tên gọi) với các chủ sở hữu Ở các nước có quy định về phá sản

cá nhân, vấn đề này sẽ được đặt ra khi có sự tranh chấp giữa các chủ nợ: chủ

nợ của doanh nghiệp và chủ nợ riêng của các cá nhân

- Tách bạch về tài sản Tài sản luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu khi thiết lập việc tách bạch Từ hình thái sơ khai của các peculium, các commenda

đến các loại hình công ty cổ phần hiện đại, tất cả đều xuất phát từ nhu cầu bảo

vệ khối tài sản của doanh nghiệp và khối tài sản riêng của các nhà đầu tư Cónhiều cách thể hiện tách bạch về tài sản như: tuyên bố về khối tài sản táchbạch; chuyển quyền sở hữu sang một thực thể pháp lý độc lập, tách rời với cácchủ thể sáng lập; chế độ trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp;quyền ưu tiên của các chủ nợ… Vì chế định hợp đồng không thể điều chỉnhnổi vấn đề này nên xuất hiện vai trò của các luật về tổ chức doanh nghiệp

Trang 11

Theo Hansmann, nguyên tắc khẳng định trong tách bạch tài sản đòi hỏi xáclập khung pháp lý và khả năng phân định ranh giới thực tiễn giữa tài sảndoanh nghiệp với tài sản của các thành viên doanh nghiệp Nếu việc tách bạchtài sản ở mức thấp, ý chí đơn lẻ của một thành viên có thể phá hỏng cấu trúcdoanh nghiệp.

- Tách bạch về việc đại diện Một khi có sự tách bạch tương đối giữa

doanh nghiệp và các nhà đầu tư, vấn đề được đặt ra là: ai sẽ là người đượcdoanh nghiệp ủy quyền đại diện cho ý chí của doanh nghiệp trong các quan hệđối nội và đối ngoại.Ở mức tách bạch thấp, các chủ sỡ hữu cùng nhau đạidiện, chi phối và quản lý doanh nghiệp theo một cơ chế khép kín Ơ mức caohơn, việc điều hành, đại diện, quản lý doanh nghiệp được tách biệt khỏi đa sốcác thành viên hay cổ đông của doanh nghiệp Như một thực thể độc lập,doanh nghiệp có thể tập trung vào việc làm tăng giá trị, bỏ qua việc chia lời lãicho các thành viên Bản thân các thành viên không có chuyên môn và hứngthú đối với việc kinh doanh cũng sẵn sàng đánh đổi các khoản chia cố địnhhàng năm lấy phần giá trị tăng thêm trên thị trường chuyển nhượng Tuynhiên, việc tách bạch sẽ bị phá hỏng nếu những nhân vật đại diện cho doanhnghiệp có quyền lực quá lớn và không có cơ chế hữu hiệu để tách biệt ý chícủa doanh nghiệp (như một thực thể độc lập) với ý chí của họ Một số yếu tố

có thể kể ra như: số lượng thành viên quá ít, vốn tập trung vào một số ít các cổđông, kiểu quản trị dựa trên gia tộc và các mối quan hệ thân hữu, sự can thiệpquá đáng của các cơ quan hành chính nhà nước…

- Tách bạch về quyền kiểm soát Khi doanh nghiệp trở thành một thực

thể pháp lý tách biệt, người bỏ vốn sáng lập ra nó trở thành người “thay mặt”,đảm nhận công việc được doanh nghiệp ủy thác Cơ chế kiểm soát được thiếtlập để doanh nghiệp thực hiện sự kiểm soát đối với hoạt động của những

Trang 12

người nhân danh mình Các thành viên cũng không thể thực hiện quyền kiểmsoát trực tiếp đối với đồng vốn mình đã bỏ ra Quyền kiểm soát của doanhnghiệp được thực hiện thông qua thiết lập các cơ chế, phương thức quản lý nội

bộ Trong khi đó, quyền kiểm soát của các thành viên chủ yếu thông qua cáckênh thông tin và việc bầu bán trong các cuộc họp thường niên.Sự kết hợp cácnội dung trên của việc tách bạch sẽ ấn định đặc trưng của loại hình tổ chứcdoanh nghiệp Trong mỗi nội dung của sự tách bạch sẽ có nhiều mức độ khácnhau từ cao, thấp đến các cấp trung gian, tương ứng với nhiều phương thức,biện pháp thể hiện khác nhau Đây cũng là cơ sở cho sự phát triển và hìnhthành các loại hình doanh nghiệp mới Một khuynh hướng chung là, sự táchbạch ở mức cao thường gắn với mẫu hình doanh nghiệp hiện đại, đặc trưngcho nền kinh tế thị trường

Theo tiêu chí về sự tách bạch, doanh nghiệp được phân loại như sau:

- Loại hình doanh nghiệp có sự tách bạch yếu :Các nội dung tách bạchđược kết hợp ở mức yếu nhất, đặc biệt về khối tài sản của doanh nghiệp vớikhối tài sản của các thành viên Một khi không có sự tách bạch về tài sản, cácyếu tố khác sẽ ở mức rất thấp

- Loại hình doanh nghiệp có sự tách bạch ở mức trung bình :Tuy đã có

sự tách bạch tương đối, các yếu tố vẫn ở mức trung bình Các phương thức thểhiện sự tách bạch còn nặng về hình thức, xoay quanh các thành viên, khônghẳn xoay quanh doanh nghiệp như một thực thể độc lập Khả năng “đánhđồng” thường xảy ra ở loại hình này

- Loại hình doanh nghiệp có sự tách bạch ở mức cao: Đây là loại hìnhtách bạch rõ ràng nhất đối với các chủ thể góp vốn tạo dựng doanh nghiệp.Các nội dung tách bạch được thể hiện bằng những phương thức, cơ chế hiệuquả và thực tiễn.Tiêu chí về sự tách bạch phụ thuộc vào điều kiện phát triển

Trang 13

của nền kinh tế thị trường cũng như mức độ hoàn thiện của các khuôn khổpháp lý.

Sự phân chia trên chỉ có tính tương đối và không phụ thuộc vào tên gọicủa các loại hình tổ chức doanh nghiệp Loại hình công ty trách nhiệm hữuhạn có thể vẫn có sự tách bạch ở mức cao, và ngược lại đối với loại hình công

ty cổ phần Vai trò của các luật tổ chức doanh nghiệp, vì vậy, hết sức quantrọng

Dưới đây là bảng mô tả sự tách bạch theo các loại hình doanh nghiệp ởViệt Nam, với ba mức độ tách bạch: thấp, trung bình và cao Qua đó có thểthấy việc phân chia theo hình thức sở hữu rất gượng ép khi ứng dụng tiêu chí

về sự tách bạch để xây dựng mô hình doanh nghiệp hiệu quả

Trang 14

1.3 Tiêu chí về các yếu tố kinh tế:

Cùng sự phát triển của các trường phái kinh tế, doanh nghiệp được xem

là nơi kết hợp các nguồn lực đầu vào Mọi hình thức tổ chức doanh nghiệp, dovậy, được quy về bài toán tối ưu với các chiến lược về hiệu quả Các nhà kinh

tế đã quy đổi các yếu tố vốn thuộc lĩnh vực pháp lý như: trách nhiệm hữu hạn,quyền và nghĩa vụ… thành các biến số kinh tế và giải thích chúng bằng các

Trang 15

khái niệm kinh tế Ví dụ: trách nhiệm hữu hạn ra đời vì giảm được chi phíquản trị và kiểm soát, phân tán rủi ro; quyền sở hữu và quyền kiểm soát nêntách bạch vì đưa đến chi phí tối ưu… Các lý thuyết này ngày càng trở nênthịnh hành ở các nước phương Tây, tuy vẫn khá xa lạ ở nước ta

Theo cách tiếp cận này, các yếu tố kinh tế tạo quyết định thành lậpdoanh nghiệp của nhà đầu tư gồm:

- Chi phí thành lập doanh nghiệp

- Tính liên tục của doanh nghiệp

Sự kết hợp các yếu tố trên đã đưa đến nhiều loại hình doanh nghiệp,tương ứng với nhiều tên gọi khác nhau Mỗi yếu tố lại có một cơ chế pháp lýthể hiện riêng, lại phân hóa về mặt pháp lý và tiếp tục kết hợp để có nhữngloại hình doanh nghiệp mới, đa dạng hơn

Trang 16

Ví du: yếu tố về tính liên tục, ngoài phân định hợp danh và các công ty,

có thể phân hóa theo các quy định pháp luật đối với các doanh nghiệp hoạtđộng theo dự án, tạo thành đặc điểm riêng có của doanh nghiệp FDI nước ta

2 Các loại hình doanh nghiệp hoạt động ở nước ta:

_Sau 1975,nước ta phát triển theo hướng quan liêu bao cấp theo hướng kế hoạch hóa tập trung gồm 2 loại hình chính:

Doanh nhiệp quốc doanh(doanh nghiệp nhà nước) :Doanh

nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công

ty nhà nước

+Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư

+Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Riêng đối với việc quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ

+Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện khi được cơ quan

Ngày đăng: 22/09/2012, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w