Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty xây lắp.. Phân tích báo cáo tài chính của công t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
BÙI HOÀNG GIANG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KẾT CẤU KIM LOẠI VÀ LẮP MÁY DẦU KHÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ này là do tôi nghiên cứu và thực hiện, chƣa từng đƣợc công bố trên các công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu đƣợc
sử dụng trong luận văn có nguồn gốc đáng tin cậy Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận khoa học và trên cơ sở tác nghiệp thực tiễn tại Công ty
Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn , giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh tế, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Thị Hương đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên luận văn: Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại
và lắp máy Dầu khí
Tác giả: Bùi Hoàng Giang
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Bảo vệ năm: 2015
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Lưu Thị Hương
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Nghiên cứu và khảo sát thực trạng phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí
- Nhìn nhận, đánh giá và đưa ra một số giải pháp hợp lý để hoạt động phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí (PVC - MS) ngày càng được hoàn thiện
Nhiệm vụ:
- Trình bày các phương pháp được vận dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận
về phân tích tài chính tại Công ty PVC - MS
- Trình bày phương pháp, nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp; Nêu được những chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thiện phân tích tài chính cùng những nhân tố ảnh hưởng tới phân tích tài chính tại doanh nghiệp
- Trình bày các nội dung phân tích tài chính tại Công ty PVC - MS; Nêu ra những hạn chế và nguyên nhân khiến phân tích tài chính tại Công ty PVC -
MS chưa hoàn thiện để làm cơ sở đưa ra những giải pháp, kiến nghị
- Hoàn thiện phương pháp và nội dung phân tích tài chính tại Công ty PVC -
MS, Hoàn thiện Quy chế quy định phân tích tài chính, Hoàn thiện quy trình phân tích tài chính…
Trang 6Những đóng góp mới của luận văn:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng phân tích tài chính tại Công ty PVC – MS
- Đƣa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại Công ty PVC – MS giúp kết quả phân tích có tác du ̣ng hƣ̃u hiê ̣u đối với hoạt động quản lý nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung , tạo điều kiê ̣n cho hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh của Cô ng ty ngày càng có hiê ̣u quả hơn nữa
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Sự cần thiết phân tích tài chính doanh nghiê ̣p 5
1.2.1 Khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp 5
1.2.2 Sự cần thiết phân ti ́ch tài chính doanh nghiê ̣p 6
1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.3.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.3.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 10
1.3.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.3.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 15
1.3.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 21
1.3.6 Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp 32
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới phân tích tài chính doanh nghiệp 34
1.4.1 Nhân tố chủ quan 34
1.4.2 Nhân tố khách quan 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 38
2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 38
2.1.1 Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính 38
2.1.2 Thiết kế nghiên cứu định tính 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 42
2.2.1 Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu định lượng 42
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 43
Trang 8KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KẾT CẤU KIM LOẠI VÀ LẮP MÁY DẦU KHÍ 45
3.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí PVC - MS 45
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 45
3.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý 46
3.1.3 Hoạt động chủ yếu của Công ty 51
3.2 Thực tra ̣ng phân tích tài c hính tại Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí - PVC - MS 52
3.2.1 Thư ̣c trạng phương pháp phân tích tài chính 52
3.2.2 Nô ̣i dung phân tích tài chính 52
3.3 Đánh giá thực tra ̣ng phân tích tài chính ta ̣i Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí PVC - MS 64
3.3.1 Kết qua ̉ đạt được 64
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KẾT CẤU KIM LOẠI VÀ LẮP MÁY DẦU KHÍ 71
4.1 Định hướng hoạt động kinh doanh và yêu cầu hoàn thiện phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí 71
4.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh 71
4.1.2 Yêu cầu hoàn thiện phân tích tài chính 73
4.2 Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (PVC – MS) 74
4.2.1 Hoàn thiện hệ thống thông tin dùng trong phân tích tài chính 74
4.2.2 Hoàn thiện phương pha ́ p phân tích 75
4.2.3 Hoàn thiện nô ̣i dung phân tích 77
4.2.4 Hoàn thiện Quy chế, Quy định phân tích tài chính 97
Trang 94.2.5 Hoàn thiện quy trình phân tích tài chính 97
4.2.6 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ phân tích 98
4.3 Kiến nghị 99
4.3.1 Hoàn thiện chế độ kế toán, tăng cường vai trò kiểm toán 99
4.3.2 Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2 BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
3 BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
3 Bảng 3.3 Biến động các khoản mục trong Báo cáo Kết quả
5 Bảng 3.5 Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của PVC - MS 60
6 Bảng 3.6 Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của PVC - MS 6
10 Bảng 4.3 Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh qua Báo
11 Bảng 4.4 Tỷ lệ chi tiết giá vốn hàng bán/doanh thu 84
13 Bảng 4.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của PVC -
14 Bảng 4.7 Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của PVC -
15 Bảng 4.8 Phân phối lợi nhuận tại Công ty PVC - MS 94
16 Bảng 4.9 Chỉ tiêu đánh giá khả năng cân đối vốn của PVC -
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ:
1 Sơ đồ 1.1 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 10
Hình vẽ
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có những bước phát triển Cùng với sự phát triển đó, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt tạo ra những cơ hội, thách thức cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh này, việc nhận diện, đánh giá điểm mạnh và điểm yếu về tình hình tài chính của đơn vị so với các đối thủ là yếu tố quyết định thành công của nhà quản trị doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng đó, Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí (PVC - MS) đã quan tâm thường xuyên tới phân tích tài chính Mặc dù vậy, phân tích tài chính vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của Công ty: Phân tích tài chính chưa giúp nhà quản trị đánh giá được toàn diện, sát thực tình hình tài chính Công ty, chưa trợ giúp hữu hiệu cho việc ra quyết định tài chính Tình trạng này sẽ khó được khắc phục nếu phân tích tài chính tại Công ty không được cải thiện theo hướng hoàn thiện hơn Góp phần đáp ứng đòi hỏi đó của thực tiễn, đề tài
“Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí”
được lựa chọn nghiên cứu Với mục đích nhìn nhận, đánh giá và đưa ra một số giải pháp hợp lý để hoạt động phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại
và lắp máy Dầu khí (PVC - MS) ngày càng được hoàn thiện
2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Nghiên cứu và khảo sát thực trạng phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận phân tích tài chính doanh nghiệp là gì?
- Thực trạng phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (PVC-MS) như thế nào?
- Các giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính của Công ty Cổ phần Kết cấu
Trang 14Kim loại và Lắp máy Dầu khí là gì?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông qua những đánh giá về tình hình biến động tài sản, nguồn vốn, dòng tiền của Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (PVC - MS), phân tích các chỉ số tài chính, đo lường các yếu tố rủi ro và dự đoán về tốc độ tăng trưởng của Công ty
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (PVC – MS) dựa trên Báo cáo tài chính các năm của Công ty
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011-2013
Đề tài được nghiên cứu trên giác độ nhà quản trị doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp tiếp cận, hệ thống, so sánh, chi tiết chỉ tiêu phân tích và một
số phương pháp nghiên cứu khác Thông qua các phương pháp này, luận văn trình bày cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp, từ đó vận dụng làm rõ thực trạng phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí (PVC - MS) và đưa ra các giải pháp giúp Công ty hoàn thiện phân tích tài chính
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về Phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí
Trang 15Chương 4: Giải pháp hoàn thiện Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Để triển khai đề tài “Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí” với đầy đủ luận cứ khoa học, việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước là cần thiết Qua đó, tác giả luận văn tổng kết được một số vấn đề cụ thể như sau:
Hiện nay ở trong nước có nhiều công trình cùng đề tài “Phân tích tài chính tại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng”, nghiên cứu tại các đơn vị khác
Tác giả Nguyễn Viết Lợi (2003) trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho phân tích tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam” đã nghiên cứu thực trạng hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp khắc phục hệ thống báo cáo tài chính giúp cho việc phân tích tài chính các doanh nghiệp ở Việt Nam được minh bạch, chính xác hơn
Tác giả Lê Thị Ánh Tuyết (2012) trong luận văn thạc sỹ Kinh doanh và quản lý:
“Công tác phân tích báo cáo tài chính tại các công ty xây lắp - trường hợp tại Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại 319” đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác phân tích báo cáo tài chính cũng như sự cần thiết phải tổ chức công tác phân tích báo cáo tài chính trong các công ty xây lắp Việt Nam hiện nay Khái quát công tác phân tích
Trang 17các báo cáo tài chính tại các công ty xây lắp, trong đó tập trung vào phân tích số liệu của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại 319 trong những năm qua Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty xây lắp
Tác giả Phạm Ngọc Quế (2012) trong nghiên cứu “Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Lilama 10” đã Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính của công ty cổ phần Lilama
10 nhằm cung cấp những thông tin cần thiết, giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp cũng như các đối tượng sử dụng thông tin khác có cái nhìn khách quan về sức mạnh tài chính của Lilama 10 thông qua các chỉ số về khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả quản lý nợ, khả năng sinh lời Bên cạnh đó, luận văn phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài đã ảnh hưởng tới tình hình tài chính của Lilama 10 Đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định và tăng cường tình hình tài chính của công ty cổ phần Lilama 10
Đề tài “phân tích tài chính” đã được nhiều tác giả khác đề cập theo nhiều quan điểm, trên các khía cạnh và phạm vi khác nhau, đưa ra các chỉ tiêu phân tích tài chính
để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tuy nhiên, vẫn tồn tại một số khoảng trống cần tiếp tục bổ sung nghiên cứu đặc biệt là phân tích tài chính các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng “Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Kết cấu Kim loại và lắp máy Dầu khí” là công trình khoa học chưa được nghiên cứu
1.2 Sự cần thiết phân ti ́ch tài chính doanh nghiê ̣p
1.2.1 Khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Trang 18Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thi ̣ trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động,… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất - kinh doanh, giữa cổ đông và nhà quản lý, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua các chính sách của doanh nghiệp như : chính sách cổ tức, chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí, …
Để hoa ̣t đô ̣ng tài chính của doanh nghiê ̣p thực sự thúc đẩy hoa ̣t đô ̣ng sản
xuất kinh doanh của doanh nghiê ̣p đa ̣t kết quả cao thì doanh nghiê ̣p cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản như sử du ̣ng vốn có mu ̣c đích , tiết kiê ̣m và tuân thủ theo các quy định của Nhà nước
1.2.2 Sự cần thiết phân ti ́ch tài chính doanh nghiê ̣p
Phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động nhằm mục đích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai …
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tài chính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thì trường có sự quản lý của
Trang 19Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đề bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng… kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công , mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau, cụ thể như sau:
Phân tích tài chính đối với các nhà quản trị doanh nghiê ̣p
Nhà quản trị doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý do anh nghiê ̣p, do đó có thông tin đầy đủ và hiểu rõ hơn về doanh nghiê ̣p so với các đối tượng bên ngoài doanh nghiê ̣p, do đó ho ̣ có nhiều thông tin từ viê ̣c phân tích tài chính Nhà quản trị phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt đô ̣ng tài chính và dựa trên cơ sở các nghiê ̣p vu ̣ tài chính hàng ngày để đưa ra các quyết định nhằm đạt các mục tiêu về quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Các quyết định của nhà quản trị đều hướng đến sự t ồn tại và phát triển của doanh nghiệp , có khả năng cạnh tranh trên thị trường, tối đa hóa lợi nhuâ ̣n , tăng trưởng mô ̣t cách bền vững Với các nhà quản trị , yếu tố cần dự đoán là đầu tư dài ha ̣n , lâ ̣p kế hoa ̣ch cho tương lai , chiến lược ca ̣nh tranh Doanh nghiệp chỉ có thể hoa ̣t đô ̣ng tốt và mang la ̣i lợi ích cho chủ sở hữu khi các quyết định của nhà quản trị được đưa ra là đúng đắn Để thực hiê ̣n tốt điều đó ,
họ cần dựa vào các thông tin đưa r a từ công tác phân tích tài chính Trên cơ sở kết quả phân tích , nhà quản trị doanh nghiệp sẽ quyết định cách thức huy động vốn và sử du ̣ng vốn đầu tư
Phân tích tài chính đối với nhà quản trị doanh nghiê ̣p nhằm đáp ứng nh ững mục tiêu sau:
- Kết quả phân tích tài chính giúp nhà quản tri ̣ tài chính đánh giá được hoa ̣t
đô ̣ng kinh doanh của doanh nghiê ̣p trong quá khứ , xác định điểm mạnh , điểm yếu của doanh nghiệp , nguyên nhân , mức đô ̣ ảnh hưởng c ủa từng nhân tố tới tình hình tài chính doanh nghiệp , từ đó đưa ra các giải pháp cải thiê ̣n tình hình tài chính của doanh nghiê ̣p
Trang 20- Định hướng các quyết định về đầu tư , phân phối lợi nhuâ ̣n theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp
- Phân tích tài chính là cơ sở cho các dự báo tài chính
- Phân tích tài chính là công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động quản lý
Phân tích tài chính với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư có thể là các cá nhân hoặc các tổ chức là cổ đông của doanh nghiệp hoặc là những người có vốn nhưng chưa đầu tư và đang có nhu cầu sử dụng vốn mua cổ phiếu của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư (thu nhập trên cổ phiếu) và phần giá trị tăng thêm của vốn đầu tư do sự biến động của giá cổ phiếu trên thị trường
Mục đích của họ là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua cổ phiếu của doanh nghiê ̣p vì vâ ̣y ho ̣ luôn tìm kiếm cơ hô ̣i đầu tư vào các doanh n ghiê ̣p có khả năng sinh lời cao Tuy nhiên trong điều kiê ̣n nền kinh tế thi ̣ trường với sự ca ̣nh tranh có nhiều rủi ro như hiê ̣n nay , các nhà đầu tư rất quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp để tránh rủi ro
Phân tích tài chính với người cho vay
Người cho vay phân tích tài chính để thấy đươ ̣c khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của doanh nghiê ̣p Để quyết định cho vay , người cho vay trước hết cần xem xét là doanh nghiệp có thực sự có nhu cầu vay hay không, khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào Vì vậy việc phân tích tài chính của doanh nghiê ̣p đi vay là rất cần thiết nhằm mục tiêu xác định rõ tình hình tài chính của khách hàng : giá trị tài sản, tình hình công nợ, khả năng thanh toán, dự báo về tình hình tài chính của khách hàng trong tương lai, dự báo về các rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng
Việc phân tích tài chính đối với những khoản nợ dài hạn và ngắn hạn là khác nhau Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp Nếu là những khoản vay dài hạn, người cho vay quan tâm đến khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Trang 21 Phân tích tài chính với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
Đây là những người có nguồn thu nhâ ̣p chủ yếu là tiền lương nhâ ̣n được từ doanh nghiê ̣p Hiê ̣n nay ở nhiều doanh nghiê ̣p người hưởng lương có mô ̣t số cổ phần nhất đi ̣nh trong doanh nghiê ̣p Đối với những doanh nghiệp này , người hưởng lương có thu nhâ ̣p từ tiền lương được trả và cổ tức được chia Cả hai khoản thu nhâ ̣p này phu ̣ thuô ̣c vào kết quả hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh của doanh nghiê ̣p
Do vâ ̣y ho ̣ rất quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiê ̣p
Phân tích tài chính đối với cơ quan quản lý Nhà nước
Dựa trên các thông tin tài chính, các cơ quan quản lý của Nhà nước đánh giá , kiểm tra, kiểm soát các hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính của doanh nghiê ̣p có tuân thủ theo đúng chính sách , chế đô ̣ và pháp luâ ̣t quy đi ̣nh không , tình hình hạch toán và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như thế nào
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với mô ̣t số đối tươ ̣ng khác như: Các viện nghiên cứu, thanh tra, luật sư, học viên,… để phục vụ cho công việc của mình
Như vâ ̣y, phân tích tài chính doanh nghiê ̣p là công cu ̣ hữu ích được dùng để đánh giá các mă ̣t ma ̣nh, các mặt yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiê ̣p, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan , giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định tối ưu
1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng các phương pháp và công cụ cho phép thu thập
và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra
Trang 22những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo chiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp)
1.3.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp nhìn chung thường trải qua các bước chính sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
(Nguồn: Nguyễn Năng Phúc, 2008 )
Bước 1: Lập kế hoạch phân tích
Đây là giai đoạn đầu tiên có ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng, thời gian và nội dung phân tích tài chính Nếu giai đoạn này càng được chuẩn bị tốt bao nhiêu thì giai đoạn sau càng dễ dàng và hiệu quả bấy nhiêu Kế hoạch phân tích phải được xác định cả về nội dung, phạm vi, thời gian và cách thức tổ chức phân tích, cụ thể như sau:
Trang 23- Nội dung phân tích: xác định rõ vấn đề cần phân tích: toàn bộ tình hình tài chính
hay chỉ một vấn đề cụ thể như khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn,…
- Phạm vi phân tích: toàn đơn vị hay chỉ một số đơn vị được lựa chọn để
phân tích
- Thời gian: lập kế hoạch về thời gian chuẩn bị và thời gian tiến hành công
tác phân tích
- Cách thức tổ chức phân tích: phân công trách nhiệm cho các bộ phận trực
tiếp thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích
Bước 2: Thu thập dữ liệu phân tích
Thu thập các thông tin kế toán và thông tin quản lý để phục vụ cho phân tích tài chính
Bước 3: Thực hiện phân tích
Sau khi thu thập được đầy đủ các dữ liệu, bước tiếp theo của quy trình là tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng các phương pháp phân tích theo các chỉ tiêu đánh giá tài chính
Bước 4: Tổng hợp, đánh giá tình hình tài chính
Đây là bước cuối cùng trong quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp Những đánh giá được đúc kết từ quá trình phân tích sẽ được cán bộ phân tích tổng hợp, nhận xét và đưa ra dự báo xu hướng phát triển Bên cạnh đó, một yêu cầu quan trọng của bước cuối cùng này là đề xuất các giải pháp tài chính và các giải pháp cần thiết khác nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
1.3.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc
ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai của doanh nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnh vực: Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ; Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp
Thông tin chung: Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hoặc
Trang 24tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của giá cả các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ
đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả kinh doanh trong năm là khả quan Tuy nhiên khi những biến động của tình hình kinh tế là bất lợi, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy để có được sự đánh giá khách quan và chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta phải xem xét
cả thông tin kinh tế bên ngoài có liên quan
Thông tin theo ngành kinh tế: Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành
kinh tế là việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh doanh Đặc điểm của ngành kinh doanh liên quan tới: Tính chất của các sản phẩm; Quy trình kỹ thuật áp dụng; Cơ cấu sản xuất: công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ, những cơ cấu sản xuất này có tác động đến khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ… và nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung và các thông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp,
có thể sử dụng thông tin trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho phân tích tài chính Vả lại, các doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ cung cấp thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính- được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu:
đó là Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 251.3.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả (nguồn vốn)
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bảng cân đối kế toán Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần nguồn vốn
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dưới là phần nguồn vốn
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luôn bằng nhau: Tài sản = Nguồn vốn, hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Phần tài sản: Bao gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Về mặt pháp
lý, quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản
ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn (Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, các bên liên doanh…) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ (với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước…)
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện
Trang 26có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp: tài sản lưu động, tài sản cố định
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và các khoản phải trả
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
Nhìn vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
1.3.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong Báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu Từ
đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trưởng trong tương lai
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu số thuế còn phải
Trang 27nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là không khả quan
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.3.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản)
và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập
và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào
ra của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền
tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính Qua đó, họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ Tất nhiên, muốn được như vậy, các nhà phân tích cần tìm hiểu thêm nội dung chi tiết các khoản mục của báo cáo tài chính trong một số môn học liên quan
1.3.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để phân tích tài chính doanh nghiệp có thể sử dụng một hay tổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Những phương pháp phân tích tài chính sử dụng phổ biến là: Phương pháp
so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp đồ thị… Tuy nhiên hiện nay khi phân tích tài chính có thể sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
1.3.4.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính và thường được thực hiện ở bước khởi đầu của việc phân tích Việc sử dụng phương
Trang 28Tuy nhiên, vấn đề cần chú ý là khi thực hiện phép so sánh là hai số liệu đưa
ra so sánh phải đảm bảo các điều kiện:
* Cùng nội dung kinh tế
So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của chỉ tiêu kỳ
phân tích so với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô biến động của các hiện tượng kinh tế
So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân
tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế hoặc giữa trị số của kỳ phân tích so với
kỳ gốc đã được điều chỉnh theo tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy mô chung của chỉ tiêu phân tích
Trang 29So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối,
biểu hiện tính chất đặc trưng về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng tính chất
1.3.4.2 Phương pháp phân tổ
Một hiện tượng kinh tế do nhiều bộ phận cấu thành Nếu chỉ nghiên cứu hiện tượng kinh tế qua chỉ tiêu tổng hợp thì không thể hiểu sâu sắc hiện tượng kinh tế đó
Do vậy, cần có những chỉ tiêu chi tiết để nghiên cứu bộ phận, từng mặt cụ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh Hay nói cách khác, phải sử dụng phương pháp phân
tổ Phân tổ là phân chia sự kiện nghiên cứu, các kết quả kinh tế thành nhiều bộ phận, nhiều tổ theo những tiêu thức nhất định Thông thường trong phân tích, người
ta có thể phân chia các kết quả kinh tế theo các tiêu thức sau:
Phân chia theo thời gian: tháng, quý, năm
Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là một quá trình diễn ra trong một thời kỳ nhất định Trong mỗi khoảng thời gian khác nhau, sự kiện kinh tế chịu sự tác động của các nhân tố và các nguyên nhân khác nhau Do vậy, việc phân tích theo thời gian giúp nhà phân tích đánh giá chính xác kết quả kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các biện pháp cụ thể trong từng khoảng thời gian cho phù hợp
Chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh do nhiều bộ phận, theo phạm vi và địa điểm phát sinh khác nhau tạo nên Việc phân tích chi tiết này nhằm đánh giá kết quả kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi và địa điểm khác nhau, từ đó khai thác các mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu của từng bộ phận và phạm vi hoạt động khác nhau
Chi tiết các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu phân tích
Các chỉ tiêu kinh tế thường được chi tiết thành các bộ phận cấu thành Việc nghiên cứu chi tiết giúp ta đánh giá chính xác các bộ phận cấu thành của chỉ tiêu phân tích
Ví dụ: Chỉ tiêu tổng giá thành công trình được chi tiết theo giá thành của từng loại hạng mục công trình Trong mỗi loại hạng mục công trình, giá thành lại được chi tiết theo các khoản mục chi phí sản xuất như: nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công,
Trang 301.3.4.3 Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc nhận thức được các nhân tố và xác định mức độ ảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác phân tích
Để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp hiệu số phần trăm, phương pháp cân đối, phương pháp chỉ số Sau đây là một số phương pháp thường được sử dụng trong phân tích:
Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế khi các nhân tố ảnh hưởng này có quan hệ tích hoặc thương số với chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp thay thế liên hoàn được thực hiện theo nội dung và trình tự sau:
Thứ nhất: xác định công thức phản ánh mối liên hệ giữa các nhân tố đến chỉ
tiêu kinh tế
Thứ hai: sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định và không đổi trong cả
quá trình phân tích Theo quy ước, nhân tố lượng được xếp đứng trước nhân tố chất lượng, nhân tố hiện vật xếp trước nhân tố giá trị Trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì xếp nhân tố chủ yếu trước các nhân tố thứ yếu
Thứ ba: xác định đối tượng phân tích Đối tượng phân tích là mực chênh lệch
giữa chỉ tiêu kỳ phân tích (kỳ thực hiện) với chỉ tiêu kỳ gốc (kỳ kế hoạch, hoặc năm trước)
Thứ tư: xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Ở bước này, ta lần lượt
thay thế số kế hoạch của mỗi nhân tố bằng số thực tế Sau mỗi lần thay thế, lấy kết quả mới tìm được trừ đi kết quả trước đó Kết quả cho phép trừ này là ảnh hưởng của nhân tố thay thế
Trang 31Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là một dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn Về mặt toán học, phương pháp số chênh lệch là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn bằng cách đặt thừa số chung Vì vậy, khi thực hiện phương pháp số chênh lệch phải tuân thủ đầy đủ nội dung, các bước tiến hành của phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp cân đối
Trong quá trình hoạt động kinh doanh đã hình thành nhiều mối quan hệ cân đối Cân đối là sự cân bằng giữa các yếu tố với quá trình kinh doanh
Ví dụ như cân đối giữa tài sản với vốn, cân đối giữa thu với chi hay cân đối giữa nguồn cung cấp vật tư với sử dụng vật tư…
Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch và trong phân tích kinh tế để nghiên cứu các mối liên hệ cân đối trong quá trình kinh doanh Trên cơ sở đó, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động
Khác với các phương pháp trên, phương pháp cân đối được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố trong điều kiện các nhân tố có quan hệ tổng (hiệu) với chỉ tiêu phân tích Như vậy, xét về mặt toán học, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố là độc lập với nhau
Ngoài các phương pháp trên, trong phân tích tài chính ở các doanh nghiệp, có thể
sử dụng nhiều phương pháp khác như phương pháp chỉ số, phương pháp số tỷ lệ…
1.3.4.4 Phương pháp Dupont
Phương pháp Dupont được đặt tên bắt nguồn từ việc Công ty Dupont là công
ty đầu tiên sử dụng các mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các tỷ số tài chính Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số Theo phương pháp này, người phân tích
có thể tách riêng, phân tích tác động của từng yếu tố (biến số) tới chỉ tiêu tài chính tổng hợp như thế nào là có lợi hay bất lợi, từ đó có thể đưa ra quyết định tài chính phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp
Trang 32Thực tế, phương pháp phân tích Dupont thường được sử dụng trong việc phân tích chỉ số doanh lợi tổng tài sản (ROA) và chỉ số doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
Cụ thể, người ta chia tỷ số ROA và ROE thành những bộ phận có liên hệ với nhau
để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng
Tách ROA: Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác bên trong tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)
(1)
Nhìn vào công thức trên, ta thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố: Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu và Hiệu suất sử dụng của tổng tài sản
Tách ROE: Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (ROE)
Kết hợp (1) & (2) ta có:
Với Rd = Nợ/Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phương trình Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữu vào doanh lợi tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ
Trang 33Vận dụng phương pháp Dupont có thể giúp ta phân tích những nguyên nhân tác động tới doanh lợi vốn chủ sở hữu gồm: Tỷ số sinh lời trên doanh thu, hiệu suất
sử dụng tổng tài sản, hệ số nợ Từ đó, có giải pháp tài chính thích hợp để tác động tới tùng yếu tố gây ảnh hưởng nhằm làm tăng hệ số này
Sử dụng phương pháp phân tích Dupont giúp nhà phân tích phát hiện và tập trung vào các điểm mạnh và yếu điểm của doanh nghiệp Quan trọng nhất là tìm ra được những yếu tố cốt lõi gây ảnh hưởng bất lợi tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp, từ đó nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định tài chính chính xác
1.3.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.5.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính
Phân tích Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Người phân tích có thể thu thập được nhiều thông tin về hoạt động của doanh nghiệp thông qua bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Đây là hai báo cáo tài chính cơ bản, đã khái quát được toàn cảnh hoạt động của doanh nghiệp Mục đích của việc phân tích này nhằm cung cấp thông tin cho nhà phân tích về tính hợp lý của cơ cấu tài sản, nguồn vốn, tính chủ động tài chính và xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Qua bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các năm, ta có thể sử dụng phương pháp so sánh để thực hiện phân tích:
+ So sánh từng chỉ tiêu trên báo cáo tài chính theo chiều ngang để biết được quy
mô, tốc độ tăng, giảm của từng chỉ tiêu, và so sánh liên hệ giữa các chỉ tiêu với nhau để biết được bản chất, tính quy luật trong việc tăng, giảm của từng đối tượng nghiên cứu
+ So sánh theo chiều dọc để biết được kết cấu, tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng số, từ đó so sánh theo chiều ngang để biết được mức độ phù hợp của chỉ tiêu theo hoạt động, theo ngành
Qua đó, người phân tích có thể biết bản chất biến động của từng chỉ tiêu và xác định được những nguyên nhân ảnh hưởng, đưa ra các biện pháp nâng cao hoạt động tài chính
Trang 34Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thông qua phân tích báo cáo tài chính ta tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích như:
+ Hoạt động nào (hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính) tạo tiền cho doanh nghiệp, doanh nghiệp đã sử dụng tiền vào những mục đích gì?
+ Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có ổn định hay không? Nhân tố chính quyết định dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là gì? Nguyên nhân dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cao hơn (thấp hơn) lợi nhuận sau thuế?
+ Doanh nghiệp đang mở rộng đầu từ hay đang nhận tiền đầu tư?
+ Doanh nghiệp đang gia tăng vay vốn hay chủ yếu đang trả các khoản nợ? Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
= (Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu) – Tài sản dài hạn + Vốn lưu động ròng >0: Chứng tỏ tài sản dài hạn của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn và ổn định Phần thừa còn lại doanh nghiệp sử dụng vào các mục đích ngắn hạn
+ Vốn lưu động ròng < 0: Cho thấy doanh nghiệp đã dùng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh và đánh giá khái quát về khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp không đảm bảo, ngoại trừ một số đơn vị có ngành nghề kinh doanh đặc thù (như các doanh nghiệp xây lắp có thể cần phải mua sắm tài sản cố định, thiết bị thi công… và chưa thể kết luận được tốt hay không mà cần phải phân tích một số chỉ tiêu khác)
1.3.5.2 Phân tích khả năng thanh toán
Mỗi loại tài sản đều có mức độ thanh khoản không giống nhau, nó phụ thuộc vào hai yếu tố là: khả năng chuyển đổi thành tiền mặt và giá trị sau khi chuyển đổi thành tiền Như vậy, một tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách dễ dàng, thuận tiện và giá trị sau khi chuyển đổi không chênh lệch nhiều với giá trị ghi nhận của tài sản đó Ngoài ra, cũng có thể nhận biết một tài sản có tính thanh khoản cao thường đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn
Trang 35Trong bảng cân đối kế toán, các khoản mục tài sản được sắp xếp theo nguyên tắc thứ tự giảm dần của tính thanh khoản Theo đó, tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cũng giảm dần theo thứ tự: tiền mặt, đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu ngắn hạn, ứng trước ngắn hạn và hàng tồn kho
Tính thanh khoản của tài sản có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp, trực tiếp nhất là khả năng trả nợ của doanh nghiệp Khi nhắc đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, người ta thường xét đến năng lực tài chính
của doanh nghiệp để thanh toán các khoản nợ phải trả trong năm (hay còn gọi là nợ ngắn hạn): vay nợ ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả người bán… Để đảm
bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, các khoản nợ ngắn hạn cần phải được trang trải từ các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn khoản nợ Như vậy, để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta có thể xem xét theo tiêu chí thời gian đáp ứng khoản nợ, gồm các
hệ số chính: Hệ số khả năng thanh toán hiện hành, Hệ số khả năng thanh toán nhanh, Hệ số khả năng thanh toán tức thời
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Dùng để đo lượng khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản ngắn hạn khác
Công thức tính:
Hê ̣ số khả năng thanh toán hiê ̣n hành cho biết mô ̣t đồng ngắn ha ̣n phải trả của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể huy đ ộng để thanh toán Hê ̣ số này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiê ̣p càng tốt , tuy nhiên hê ̣ số này quá cao sẽ gây ra ứ đo ̣ng vốn , hiê ̣u quả sử du ̣ng vốn thấp
Theo Phan Đức Dũng, 2009: hệ số này bằng 1 được đánh giá là vừa đủ, bằng
2 được đánh giá là tốt, lớn hơn 2 thì chứng tỏ vốn bị ứ đọng, hiệu quả sử dụng vốn thấp, nhỏ hơn 1 thì được đánh giá là không tốt
Trang 36- Hê ̣ số thanh toán tức thời
Hê ̣ số này cho biết doanh nghiê ̣p có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn ha ̣n bằng những tài sản lưu đô ̣ng có khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh nhất ở mức đô ̣ nào Bất kỳ mô ̣t sự biến đô ̣ng nào của hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến hệ số này Theo Nguyễn Ngo ̣c Quang, 2011: Tỷ số này lớn hơn 0,5 và nhỏ hơn 1 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, nhỏ hơn 0,5 được đánh giá là thấp, lớn hơn 1 được đánh giá là cao Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài chứng tỏ doanh nghiệp không có đủ khản năng thanh toán các khoản công nợ ngắn hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện, nguy cơ phá sản có thể xảy ra Chỉ tiêu này cao quá, kéo dài có thể dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn giảm
- Hê ̣ số thanh toán nhanh
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của các tài sản dễ chuyển đổi thành tiền đối với các khoản nợ ngắn ha ̣n Theo Nguyễn Ngo ̣c Quang , 2011: Chỉ tiêu này nằm trong khoảng [0,75; 2] là hợp lý, nhỏ hơn 0,75 đươ ̣c đánh giá là thấp, lớn hơn 2 được đánh giá là cao Chỉ tiêu này thấp quá, kéo dài cũng không tốt,
có dấu hiệu rủi ro tài chính , nguy cơ phá sản có thể xảy ra Chỉ tiêu này cao quá , kéo dài cũng không tốt, có thể dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn giảm
1.3.5.3 Phân tích khả năng cân đối vốn
Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng cân đối vốn phản ánh mức độ ổn định và
tự chủ tài chính của doanh nghiệp Thông thường, người ta sử dụng các chỉ số sau:
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ): tỷ số này được sử dụng để xác định
nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn
Trang 37Công thức tính:
Các chủ nợ dựa vào tỷ số nợ trên tổng tài sản để đánh giá khả năng tự chủ tài
chính của doanh nghiệp, tỷ số nợ càng thấp thì khả năng tự chủ tài chính của doanh
nghiệp càng cao Điều này giúp cho doanh nghiệp không bị quá phụ thuộc vào
nguồn vốn bên ngoài tức là chủ động nguồn vốn trong hoạt động của mình và hạn
chế phát sinh các chi phí tài chính Hơn nữa, nếu chủ sở hữu doanh nghiệp đóng
góp một tỷ lệ lớn trong tổng số vốn thì khi rủi ro xảy ra trong sản xuất kinh doanh,
các khoản nợ sẽ được chi trả tốt hơn so với sử dụng nợ quá nhiều Mặt khác, bằng
cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát và
điều hành doanh nghiệp Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ tiền vay
thì lợi nhuận dành cho các chủ doanh nghiệp sẽ gia tăng đáng kể
Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay: cho biết mức độ đảm bảo khả năng trả
lãi vay từ lợi nhuận kinh doanh trong năm của doanh nghiệp
Công thức tính:
Hệ số khả năng trả lãi vay đo lường khả năng sử dụng lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh để trả lãi vay của doanh nghiệp Khả năng trả lãi của doanh
nghiệp cao hay thấp nói chung phụ thuộc vào khả năng sinh lợi và mức độ sử dụng
nợ Nếu khả năng sinh lời của doanh nghiệp chỉ có giới hạn trong khi doanh nghiệp
sử dụng quá nhiều nợ thì hệ số khả năng trả lãi vay sẽ giảm Theo Phan Đức Dũng ,
200.: Tỷ số này lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng sử dụng lợi nhuận từ
hoạt động sản xuất kinh doanh để trang trải lãi vay; nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì cho
thấy doanh nghiệp vay nợ quá nhiều và sử dụng nợ vay kém hiệu quả khiến cho lợi
nhuận làm ra không đủ trả lãi vay, hoặc là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp quá
thấp khiến cho lợi nhuận làm ra quá thấp không đủ trả lãi vay
Trang 381.3.5.4 Phân tích khả năng hoạt động
Vốn là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, là một phần “huyết mạch” ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Chính vì vậy, các nhà phân tích quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp không chỉ ở chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp Để phân tích các tỷ số khả năng hoạt động của doanh nghiệp, cần so sánh giữa thời kỳ này với thời kỳ khác và số trung bình ngành
Vòng quay hàng tồn kho:
Hàng tồn kho là toàn bộ số hàng mà doanh nghiệp đang nắm giữ với mục đích kinh doanh thương mại hoặc dự trữ cho việc sản xuất sản phẩm hay thực hiện dịch vụ cho khách hàng Hàng tồn kho được phân loại theo tiêu chí ngành nghề như sau:
- Đối với doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho bao gồm: hàng hóa tồn kho, hàng đang đi đường hoặc hàng gửi bán
- Đối với doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho bao gồm: nguyên vật liệu, sản phẩm đang chế tạo và thành phẩm
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Do đó, đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho có ý nghĩa quan trọng trong phân tích hoạt động của doanh nghiệp Ta có thể đo lường bằng chỉ tiêu số vòng quy hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho
Công thức tính:
Trang 39Khi đánh giá chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, ta chưa thể khẳng định khả năng quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp tốt hay kém nếu như chưa xét đến yếu
tố ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì, do quá trình mua bán hàng hóa diễn ra liên tục đối với những doanh nghiệp thương mại, nên các doanh nghiệp này thường có vòng quay hàng tồn kho cao; còn đối với những doanh nghiệp mà sản mang tính thời vụ, có quy trình sản xuất tốn nhiều thời gian và đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp thì vòng quay hàng tồn kho sẽ thấp hơn Như vậy, để đánh giá mức độ quay vòng hàng tồn kho cao hay thấp cần so sánh các chỉ số này với chỉ số trung bình ngành
Nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho lớn cho thấy tốc độ luân chuyển của hàng hóa trong kho nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ luân chuyển hàng tồn kho chậm Trong quá trình phân tích hiệu quả quản lý hàng tồn kho, cần kết hợp các thông tin phân tích khác trong các trường hợp sau:
- Nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho cao có nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang được vận hành “trơn tru”, hàng tồn khi không bị ứ đọng nhiều mà được luân chuyển đều đặn vào quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại là một dấu hiệu không tốt vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
- Nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho thấp so với số trung bình ngành, cho thấy doanh nghiệp đang có lượng hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều, chậm tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh vì hoạt động của doanh nghiệp đang gặp vấn đề xấu Hàng tồn kho bị ứ đọng quá lâu sẽ phát sinh tăng chi phí lưu kho, giảm giá trị hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho không chỉ đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho mà còn có ý nghĩa trong việc phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp Nếu hàng tồn kho của doanh nghiệp quay vòng nhanh, tức là khả năng chuyển hóa
Trang 40thành tiền tốt thì chỉ số khả năng thành toán hiện hành của doanh nghiệp càng có ý nghĩa trong việc đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn
Vòng quay khoản phải thu
Các khoản phải thu của doanh nghiệp thông thường gồm có: phải thu khách hàng (thường chiếm tỷ trọng cao nhất), các khoản tạm ứng chưa được thanh toán và trả trước người bán Trong đó, khoản mục phải thu khách hàng được hình thành khi doanh nghiệp cho phép đối tác mua hàng nhưng không phải thanh toán ngay, tùy theo quan hệ và uy tín của mỗi khách hàng mà thời gian trả chậm khác nhau Người
ta thường gọi hình thức này là cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Ở mỗi thời
kỳ, tùy vào tình hình hoạt động của doanh nghiệp và tình hình kinh tế lúc đó mà doanh nghiệp có chính sách tín dụng thương mại khác nhau:
- Chính sách tín dụng thương mại nới lỏng: Khi càng nhiều khách hàng được doanh nghiệp cho phép mua hàng trả chậm, ắt hản doanh thu bán hàng sẽ tăng lên Tuy nhiên, chính sách này cũng là con dao hai lưỡi khi mà nhiều khoản phải thu trở nên khó đòi làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí huy động nguồn vốn khác để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, khi doanh nghiệp sử dụng chính sách tín dụng thương mại nới lỏng cần cân đối hợp lý với nguồn vốn mà doanh nghiệp đang chiếm dụng được của các doanh nghiệp khác
- Chính sách tín dụng thương mại thắt chặt: Nhà quản trị sử dụng chính sách này để đảm bảo khả năng thành toán tức thời của doanh nghiệp
Như vậy, đánh giá hiệu quả trong việc quản lý các khoản phải thu có ý nghĩa quan trọng trong việc ra các quyết định liên quan đến chính sách bán hàng trong tương lai của doanh nghiệp Đối với các nhà phân tích tài chính ngoài doanh nghiệp sẽ hiểu rõ hơn về chính sách bán hàng của doanh nghiệp và có thể phát hiện ra các khoản phải thu khó đòi Các chỉ số để phân tích hiệu quả quản lý khoản phải thu gồm: