Cho đến nay các nghiên cứu thường tập trung đánh giá vai trò của tầng cây gỗ nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh rừng và bảo vệ môi trường giữ nước, chống xói mòn rửa trôi, các tầng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
*************
ĐỖ HỒNG LAM
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
TRONG TẦNG CÂY BỤI TẠI TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
*************
ĐỖ HỒNG LAM
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
TRONG TẦNG CÂY BỤI TẠI
TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học
1 TH.S DƯƠNG THỊ THANH THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NÔI 2
2 T.S LÊ ĐỒNG TẤN – TRUNG TÂM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO -
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất đến ThS Dương Thị Thanh Thảo và TS Lê Đồng
Tấn là những người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trạm Đa dạng Sinh học
Mê Linh - Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên
cứu, thu thập số liệu
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới anh Trịnh Xuân Thành
(trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc) đã nhiêt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân và bạn bè
đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Hồng Lam
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi thực hiện cùng với sự
hướng dẫn của ThS Dương Thị Thanh Thảo và TS Lê Đồng Tấn Các
số liệu nêu trong đề tài là trung thực, được thu thập từ thực nghiệm và qua
xử lí thống kê Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Hồng Lam
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây bụi trên thế giới 4
1.2 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây bụi ở Việt Nam 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Phạm vi nghiên cứu 8
2.3 Thời gian nghiên cứu 8
2.4 Phương pháp nghiên cứu 8
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Thành phần loài trong khu vực nghiên cứu 12
3.2 Hệ số tổ thành loài 17
3.3 Đa dạng về dạng sống 19
3.4 Đa dạng về giá trị sử dụng 21
3.5 Đề xuất giải pháp quản lý thảm cây bụi phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại trạm ĐDSH Mê Linh 22
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PHỤ LỤC
Trang 6là tầng cỏ quyết hay thảm tươi Cho đến nay các nghiên cứu thường tập trung đánh giá vai trò của tầng cây gỗ nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh rừng và bảo vệ môi trường (giữ nước, chống xói mòn rửa trôi), các tầng dưới (tầng cây bụi và thảm tươi) có vai trò như là động lực cho sự phát triển vì nó chứa đựng những yếu tố quan trọng như bảo vệ đất, bảo vệ nguồn hạt giống được phát tán đến, đảm bảo sự sinh trưởng phát triển của lớp cây tái sinh… Tuy nhiên, đối tượng này thường được xem xét như là một nội dung thứ yếu, nên trong nhiều trường hợp chưa đánh giá hết được tiềm năng của thảm thực vật, nhất là đối với rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên
Vì vậy, cần nghiên cứu đa dạng và sự bảo tồn các loài cây bụi nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, tạo điều kiện tốt nhất
cho đời sống sinh vật Chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn đề tài “ Nghiên
cứu thành phần loài trong tầng cây bụi tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc.”
Trang 7Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài trong tầng cây bụi tại trạm Đa dạng sinh học (ĐDSH) Mê Linh để đưa ra các giải pháp quản lý thảm cây bụi phục vụ cho công tác bảo tồn ĐDSH tại trạm ĐDSH Mê Linh
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài trong tầng cây bụi tại trạm ĐDSH Mê Linh
Nghiên cứu dạng sống của thực vật trong tầng cây bụi tại trạm ĐDSH
Ý nghĩa khoa học - thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Bổ sung các dẫn liệu về tính đa dạng loài và cấu trúc
của tầng cây bụi dưới tán rừng thứ sinh tại khu vực nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu là cơ sở để đánh giá hiện
trạng phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển đa dạng thực vật tại
trạm
Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 26 trang, 2 bảng, được chia thành các phần chính như sau:
Mở đầu (2 trang), chương 1 Tổng quan tài liệu (5 trang), chương 2 Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu (4 trang), chương 3 Kết quả nghiên cứu (12 trang), kết luận và đề nghị (1 trang), tài liệu tham
khảo (2 trang), ngoài ra còn phần phụ luc (không đánh số trang)
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Khái niệm và định nghĩa về đa dạng sinh học
ĐDSH học đã được nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên phải đến những năm
1990 của thế kỷ 20 vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia
Tuy có khác nhau nhưng đa số các tác giả đều thống nhất cho rằng ĐDSH là
sự khác biệt hay tính muôn hình muôn vẻ của thế giới sinh vật trên toàn trái đất và được thể hiện ở 3 mức độ như sau [19]:
- Đa dạng ở mức độ di truyền: Mỗi loài sinh vật và thậm chí trong một cá
thể của loài đều có phân tử AND đặc trưng cho loài Tính đặc trưng này được thể hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, qua hàm lượng trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazơ A+T/G+X Trật tự các nucleotit trong các gen có liên quan đến quy định các tính trạng và các đặc tính
cơ thể Trong quá trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND trong các tế bào cũng được tăng lên Đó là sự biểu hiện của đa dạng gen
- Đa dạng mức độ loài:Là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng
các loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên trái đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định
- Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong loài và giữa các loài với nhau Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng sinh quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu Các thành phần này liên hệ với nhau thông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hóa)
Trang 91.1 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây bụi trên thế giới
Tài nguyên thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng đối với con người, trong đó có cây bụi, vì vậy đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu liên quan tới cây bụi
Cây bụi là những cây thân gỗ, song chiều cao không quá 4 m, phân cành sớm, là thành phần quan trọng trong hệ sinh thái rừng
Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng thế kỷ, nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này mới được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ XX trở lại đây
P.W Richards (1952) đưa ra nhận xét rằng ở rừng nhiệt đới có sự phân
bố số lượng cây trong các tầng rất khác nhau Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít thậm chí vắng mặt ở những tầng thấp hay cấp thể tích nhỏ Ngược lại, ở những rừng đơn ưu như rừng Mora gongifi ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon ở Borneo lại có đầy đủ đại diện ở các lớp kích thước Theo tác giả thì sự phân bố này là do đặc tính di truyền của các loài cây, được thể hiện
ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển Ông cũng cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng trong rừng mưa nhiệt đới ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của mầm non thường không rõ [18]
H Lamprecht (1989) căn cứ vào nhu cầu sử dụng ánh sáng trong suốt đời sống của các loài cây, ông đã phân chia rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây nửa chịu bóng và nhóm cây chịu bóng [20]
Từ những năm giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của ngành công nghiệp hoá giấy, cho phép sử dụng một cách tổng hợp các sản phẩm gỗ tự nhiên nên nhiều diện tích rừng đã bị khai thác trắng để làm nguyên liệu Để phục hồi lại thảm thực vật và đáp ứng nhu cầu về gỗ đang ngày càng gia tăng, trong Lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng nhân
Trang 10tạo cho năng suất cao Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức và một số nước ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu: “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên” Nguyễn Văn Thêm (1992) [15].
1.2 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây bụi ở Việt Nam
Tại trạm ĐDSH đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới cây bụi như:
Vũ Xuân Phương và cộng sự (2001) nghiên cứu về hệ thực vật tại trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc đã công bố 1165 loài thuộc 611 chi, 147 họ và điểm nổi bật là nhiều loài cây bụi trong đó được tác giả chỉ ra cả đặc điểm phân bố, sinh thái,…[12]
Ma Thị Ngọc Mai (2007), nghiên cứu quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở trạm ĐDSH Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụ cận đã kết luận từ
độ cao 700m trở xuống, thảm thực vật bị suy thoái nghiêm trọng Rừng nguyên sinh đã bị phá hủy hoàn toàn, thay thế vào đó là thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên Theo khung phân loại UNESCO (1973), thảm thực vật tại trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc và vùng phụ cận
có 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cỏ Thảm thực vật tại đây đang trong quá trình diễn thế
đi lên, quá trình diễn thế qua 4 giai đoạn: thảm cỏ - thảm cây bụi - rừng thứ sinh - rừng thành thục [10]
Ma Thị Ngọc Mai và Lê Đồng Tấn (2009) đã nghiên cứu về thành phần
và phân bố cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh tại trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc Trong đó thảm cây bụi với số lượng loài tái sinh là khá lớn, thường là những cây tiên phong [11]
Ngoài ra thì thảm cây bụi còn được nghiên cứu tại nhiều vùng khác như Quảng Ninh, Thái Nguyên, Sơn La hay một số rừng ngập mặn…
Trang 11Năm 1960, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã áp dụng bảng phân loại rừng của Louschau để phục vụ cho công tác quy hoạch rừng (1960) [5] Bảng phân loại gồm có 4 loại hình sau:
Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa
bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Phan Nguyên Hồng (1991), khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật ở rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
kí sinh (K), bì sinh (B) [8]
Lê Đồng Tấn (2000) nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lượng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ cây giảm dần từ chân đồi lên sườn và đỉnh đồi Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng
Tổ hợp loài cây ưu thế trên cả 3 vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau,
sự khác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ hợp đó, tính chất này càng thể hiện rõ trên cùng một địa điểm (một khu đồi) Độ cao có ảnh hưởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật Thoái hoá đất có ảnh hưởng đến: mật độ cây, số lượng loài cây và tổ thành loài
cây [13]
Nguyễn Thế Hưng (2003), khi nghiên cứu thảm cây bụi ở huyện Hoành
Bồ, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cũng dựa trên nguyên tắc phân loại theo UNESCO (1973) đã xây dựng được 4 trạng thái thảm cây bụi khác nhau:
Trang 12thảm cây bụi cao sau khai thác, thảm cây bụi cao sau nương rẫy, thảm cây bụi thấp sau khai thác và thảm cây bụi thấp sau nương rẫy Ngoài ra còn một số kiểu thảm khác như: rừng phục hồi sau khai thác, rừng thứ sinh, rừng non phục hồi sau nương rẫy đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch: Ngành Hạt trần (Gymnospermae), ngành Thực vật khuyết (Pteridophyta), và ngành Hạt kín (Angiospermae) Đồng thời khi so sánh với trạng thái rừng, khẳng định thảm cây bụi có thành phần chủ yếu bao gồm các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Hoà thảo (Poaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Na (Annonaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Cà phê (Rubiaceae) [9]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật tại Thái Nguyên đã phân chia thảm thực vật thành các nhóm dạng sống: cây gỗ, cây bụi, cây cỏ và dây leo [6]
Tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, khi nghiên cứu
về đa dạng thực vật, Chu Văn Bằng (2010) đã phân chia thảm thực vật tại đây gồm: Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, thảm cây bụi và thảm cỏ Đặc biệt trong thảm cây bụi tác giả đã cho thấy thảm cây bụi nhiệt đới chủ yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới [1]
Trang 13Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quần xã cây bụi tại trạm ĐDSH Mê Linh – Vĩnh Phúc
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Tại trạm ĐDSH Mê Linh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2012 tới tháng 4/2014
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa các kết quả về thông tin, số liệu và những tư liệu, kết quả liên quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đã báo cáo tổng kết công khai, công bố, đăng tải trên các phương tiện thông tin chính thức Đặc biệt là những
số liệu của trạm ĐDSH Mê Linh và các đề tài khác do Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập trong những năm gần đây
Phương pháp điều tra
Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập các dữ liệu
về phân loại (thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi,… và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về đa dạng sinh học (số lượng, chất lượng, diễn biến về số lượng và chất lượng), tình trạng suy thoái trong những vùng tiểu sinh thái cụ thể về các loài ở nơi nghiên cứu Để làm tốt công tác điều tra thực địa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1978) [17] và Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [16] để điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC)
Trang 14Lập tuyến điều tra: Điều tra theo tuyến để xác định sự phân bố của các
đối tượng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí ô tiêu chuẩn Tuyến điều tra (TĐT) được thiết lập dựa trên các thông tin về thảm thực vật (bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ qui hoạch các khu vực), các thông tin từ ban quản lý và cán bộ chuyên môn của khu vực nghiên cứu, TĐT được xác định theo 2 hướng song song và vuông góc với đường đồng mức, chiều rộng tuyến là 10
m, chiều dài tuyến tùy thuộc vào địa hình cho phép nhưng ít nhất là 500 m, số lượng tuyến điều tra cho mỗi đối tượng ít nhất là 3 tuyến, khoảng cách giữa các tuyến là 50-100 m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã
Lập ô tiêu chuẩn: Dọc theo TĐT bố trí các ô tiêu chuẩn và ô dạng bản để
thu thập số liệu Số liệu cần phải được thu thập trên một diện tích đủ lớn gọi
là ô tiêu chuẩn (OTC) Tại mỗi trạng thái thảm thực vật (TTV) đặt ngẫu nhiên
10 OTC; mỗi OTC có diện tích 400 m2 (20 x 20 m) được áp dụng để xác định
sự phân bố cây theo chiều cao và theo đường kính; trong mỗi OTC chúng tôi thiết lập các ô dạng bản có diện tích 25 m2 (5 m x 5 m) Để thu thập số liệu chính xác và đầy đủ, trong ô dạng bản lại phân chia thành các ô cấp 2 có diện tích 1m2 (1x1m) Các ô dạng bản được bố trí ở 4 góc, trên đường chéo
Hình 1 Ô tiêu chuẩn, ô dạng bản và sơ đồ thu mẫu
Trang 15Phương pháp thu thập số liệu:
Các chỉ tiêu đo đếm gồm: Số lượng tất cả các cá thể cây bụi
Trên tuyến điều tra, chúng tôi thống kê tất cả cây bụi trong phạm vi 2 m dọc theo hai bên tuyến Số liệu được ghi chép theo mẫu sau (Biểu 1)
Biểu 1 Điều tra thực vật theo tuyến
Số hiệu tuyến……… Người điều tra………
Bắt đầu từ……… đến……… Ngày điều tra………
Chiều dài tuyến………
Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và nhận
biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [14]
Để xác định tên khoa học các loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt
Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2001)[7]
Để chỉnh lý tên khoa học, chúng tôi căn cứ vào Danh lục các loài thực vật
Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân và công sự [2],[3],[4], Cây cỏ Việt Nam của
Trang 16Trong đó: P là hệ số tổ thành loài (%)
n là số cá thể của loài
N là số cá thể của tất cả các loài
Theo Daniel Marmillod, chỉ những loài cây có P> 5% mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần (Nếu P >5% thì loài đó đƣợc tham gia vào công thức tổ thành, nếu P < 5% thì loài đó không đƣợc tham gia vào công thức tổ thành loài)
Trang 17Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.Thành phần loài trong khu vực nghiên cứu
Bảng 3.1 Danh lục các loài thực vật trong tầng cây bụi dưới tán rừng
thứ sinh phục hồi tự nhiên tại trạm ĐDSH Mê Linh
STT Tên Khoa học Tên Việt Nam Dạng sống Công dụng Số lượng cá thể
1 Anacardiaceae Lindl - Họ Xoài
3 Aquifoliaceae Bartl - Họ Trâm bùi
5 Ilex rotunda Thunb Nhựa ruồi, Bùi
5 Euphorbiaceae Juss - Họ Thầu dầu
9 Breynia fruticosa (L.) Bồ cu vẽ Bụi T 10