Là một bộ phận của văn học Ngữ văn, là phương tiện công cụ để người giáo viên giáo dục học sinh một cách toàn diện về cái hay, cái đẹp, cái xấu nên tránh ở đời… Tác phẩm văn học là bằng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn chương vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, là lĩnh vực để con
người hóa thân và thăng hoa, vì thế nó vô cùng tinh vi và phức tạp “ Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người ” và tư tưởng văn hóa Nó đem lại cho con người sự hiểu biết, sự
thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, giúp người đọc thanh lọc tâm hồn, góp phần hoàn
thiện nhân cách con người, hướng con người đến cái Chân - Thiện - Mĩ
1.2 Việc giảng dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường có ý nghĩa thời sự nóng hổi luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới trong
xã hội Là một bộ phận của văn học Ngữ văn, là phương tiện công cụ để người giáo viên giáo dục học sinh một cách toàn diện về cái hay, cái đẹp, cái xấu nên tránh ở đời… Tác phẩm văn học là bằng chứng cụ thể, sinh động về cuộc sống và con người, thời đại từ đó giúp học sinh hiểu biết và lĩnh hội tri
thức, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo
1.3 Giáo sư Trần Đình Sử trong bài viết “Con đường đổi mới con đường căn bản phương pháp dạy - học văn” (Văn nghệ số 10 ra ngày 7 tháng
3 năm 2009) đã khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được các văn bản, thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói
gì tới tình yêu văn học” Thực tiễn dạy học trong nhiều năm nay nhất là việc dạy học môn Ngữ văn có tình trạng “thế bản” lấn át thay thế văn bản của nhà
văn Văn bản mà học sinh phải học không phải là văn bản văn học mà là bài giảng của thầy cô, bài phân tích định giảng về tác phẩm đó…Điều đó dẫn tới việc học sinh coi nhẹ việc đọc văn bản tác phẩm từ đó làm hạn chế khả năng
Trang 2cảm thụ và sáng tạo của học sinh Điều đó dẫn đến việc học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, mất dần kĩ năng đọc- hiểu văn bản, hay nói một cách khác là thiếu đi năng lực đọc sáng tạo, đồng thời làm cho học sinh mệt mỏi và chán nản trong mỗi giờ học của môn Ngữ văn Bởi vậy vấn đề được đặt ra là: Trở về với văn bản văn học nghệ thuật và xem đây như là con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay: Dạy Ngữ văn theo con
đường đọc - hiểu
1.4 Hơn nữa, sách giáo khoa Ngữ văn đã được sắp xếp theo trục thể loại là chính Cho nên dạy văn còn là dạy cho học sinh đọc hiểu văn bản Ngữ văn theo đặc trưng thể loại vừa giúp học sinh có những kiến thức cụ thể ở từng bài, vừa có những kiến thức để đọc - hiểu các tác phẩm khác cùng thể
loại
1.5 Nguyễn Tuân là một trong những tác gia lớn của nền văn học Việt Nam và là một trong chín tác gia được chọn để giảng dạy trong nhà trường phổ thông Ông là nhà văn có vị trí vững chắc trong lịch sử văn học dân tộc, người đã tìm được cho mình tiếng nói riêng nhờ một phong cách văn học đặc sắc Ngòi bút của ông đi vào nhiều vấn đề, nhiều vẻ của những hình tượng
Và ở hai thời kì trước và sau cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nguyễn Tuân có những khác biệt khá rõ nét Đi vào văn chương Nguyễn Tuân trước
cách mạng tháng Tám có thể thấy cái đẹp ở “Chữ người tử tù” trong tập truyện ngắn đầu tay “Vang bóng một thời” viết về những con người trong quá khứ, từng “vang bóng”: những anh hùng hảo hán thất thế Nguyễn Tuân đã
cố ý níu kéo những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa của dân tộc còn ẩn sau hoặc lấp ló thú chơi chữ của các nhân vật trong tác phẩm này Đề cao vẻ đẹp thiên lương của những con người biết trân trong cái đẹp; biết ngông trên cái
tài năng của mình Vì vậy, dạy “Chữ người tử tù” trong trường phổ thông sẽ
Trang 3góp phần đưa những giá trị về vẻ đẹp của một thời đã qua đến với học sinh, và
giúp các em tiếp cận với “người chiến sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa
đến một độ cao hiếm thấy trong văn học Việt Nam” (Hoài Anh)
1.6 Là một sinh viên sư phạm, một giáo viên tương lai thông qua thực hiện đề tài này, người viết muốn tích lũy được những kiến thức quí báu, bước đầu tiếp cận phương pháp dạy học đổi mới và phương pháp nghiên cứu khoa
học
Tất cả những cơ sở thực tiễn trên là lí do để em lựa chọn và nghiên cứu
đề tài “Đọc - hiểu Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) ở trường trung học phổ
thông theo đặc trưng thể loại”
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về thể loại, về đọc - hiểu tác phẩm trong nhà trường là vấn
đề không hoàn toàn mới mẻ Đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt được những thành tựu, có tác dụng làm nền tảng mở ra nhiều con đường tiếp nhận
và giảng dạy
2.1 Các công trình nghiên cứu giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại:
Từ xa xưa người phương Tây đã chia toàn bộ tác phẩm văn học ra làm
ba loại xuất phát từ phương thức phản ánh của chúng Arixtốt (384-322 TCN)
là người sớm nhất đề xuất sự phân biệt này trong công trình “Nghệ thuật thi ca”
Ở nước ta vấn đề nghiên cứu văn học theo loại thể cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
- GS Nguyễn Thanh Hùng trong “Hiểu văn, dạy văn” đã đưa ra
phương pháp giảng dạy theo đặc trưng thể loại
Trang 4- GS Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể” (1970) đã chia văn học thành ba loại: Tự sự, trữ tình và kịch Sau đó tác
giả gợi ý phân tích các thể loại nhỏ hơn như: Thơ, biền văn (hịch, cáo, phú, văn tế…), truyện, kí,…và đưa ra các phương pháp giảng dạy theo đặc trưng từng thể loại…
-“Thi pháp hiện đại” của Đỗ Đức Hiểu tập trung vào nội dung thi pháp
truyện và giảng dạy truyện Tuy nhiên công trình này cũng mới thành công trên lĩnh vực nghiên cứu phê bình, chưa đề cập đến nhiều phương pháp giảng dạy
- “Mấy vấn đề thi pháp truyện” (Nguyễn Thái Hòa) cũng đề cập đến
một thể loại của tự sự là truyện ngắn, song vẫn dừng lại ở mục đích khái quát
- Giáo trình “Lí luận văn học” do Hà Minh Đức (chủ biên) cũng tán
đồng ý kiến chia văn học thành ba loại: Tự sự, trữ tình và kịch Cũng trong giáo trình này, tác giả chủ trương tìm hiểu kĩ hơn một số thể loại nhỏ của từng loại trên Cụ thể: Loại tác phẩm tự sự sẽ nghiên cứu tiểu thuyết và các các thể
kí văn học; trong loại tác phẩm trữ tình tìm hiểu thơ trữ tình và ở loại kịch sẽ tìm hiểu chính kịch
-Giáo trình “Lí luận văn học” do Phương Lựu (chủ biên) đã đưa ra sự
phân chia văn học thành năm loại chính: Tự sự - trữ tình - kịch - chính luận -
kí Ở đây, chính luận và kí được tách ra thành những loại nhỏ Vì theo tác giả
đó chính là những “lĩnh vực văn học đặc thù”
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu văn học theo thể loại đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra những kiến giải khác nhau
Trang 52.2 Các công trình nghiên cứu về đọc - hiểu
Lịch sử đọc - hiểu xuất hiện từ thời loài người sáng tạo ra chữ viết để ghi lại các hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư tưởng, tình cảm…Từ trước đến nay
đã có không ít những công trình nghiên cứu bàn về vấn đề đọc - hiểu, trong
đó có nhiều nhà nghiên cứu khá tên tuổi
Trước đây người ta coi “đọc” là một hoạt động nhằm tiếp nhận xử lí thông tin, góp phần hoàn thiện tri thức con người, còn “hiểu” là đích của
“đọc” Đến năm 2002, khi đổi mới phương pháp dạy học, đọc - hiểu chính
thức được coi là một phương pháp
Thuật ngữ “đọc - hiểu” và việc dạy học Ngữ văn theo hướng dạy đọc -
hiểu được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm
- V.A Nhicônxki trong “Phương pháp giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông” đã chú ý đến hoạt động đọc, vị trí của người học sinh trong
trường phổ thông, đặc biệt tác giả chú ý đến đọc diễn cảm
- Z.Ia.Rez trong “Phương pháp luận dạy học” đã trình bày một cách có
hệ thống các phương pháp, biện pháp dạy học và đặc biệt chú ý đến đọc sáng tạo
Ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều cuốn sách viết về các phương diện của đọc - hiểu
- GS.TS Nguyễn Thanh Hùng (Đại học sư phạm Hà Nội) trong bài viết
“Đọc-hiểu văn chương” trên Tạp chí giáo dục số 92, tháng 7-2004 cũng đưa
ra những kiến giải về khái niệm đọc hiểu Theo ông “Đọc hiểu văn chương là đọc cái chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình trong trang sách”, nghĩa là một quá trình đồng sáng tạo Tác giả bài viết cũng chia “đọc” làm ba dạng: Đọc kĩ, đọc sâu, đọc sáng tạo
- GS Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” đã xem
đọc diễn cảm là một trong ba phương pháp thường dùng trong quá trình thâm
Trang 6nhập tác phẩm Trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”,
tác giả đã phân tích rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc
- Trần Thanh Đạm trong bài viết “Dạy văn: Dạy đọc và viết” (Báo
“Văn nghệ”, số 30 ra ngày 23-7-2005) đã xác định trung tâm của việc dạy
văn, học văn là dạy đọc văn và viết văn “từ đọc thông viết thạo chữ Việt Nam đến đọc thông viết thạo văn Việt Nam” Từ đó đặt ra yêu cầu mỗi thầy cô giáo
dạy văn phải là những nhà sư phạm của sự đọc văn và viết văn
- Trong bài viết “Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc - hiểu” trên Tạp chí
Thông tin khoa học sư phạm số 5, tháng 4-2004, PGS.TS Nguyễn Thái Hòa
đã nghiên cứu vấn đề đọc hiểu trên các phương diện: Chiến lược đọc - hiểu, Các hình thức đọc - hiểu, Các cấp độ đọc-hiểu, Kĩ năng đọc - hiểu Theo đây, đọc-hiểu có hai cấp độ: Cấp thấp nhất là đọc để ghi nhớ kí tự và cấp cao nhất
là đọc để tiếp nhận thông tin, phân tích, giải mã, nhận xét bình giá…
- TS Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn ở trung học cơ sở” cho rằng đọc là “một phương thức tiếp nhận”; thông qua
“ngôn ngữ nghĩ” mà người đọc có thể chuyển hóa kí hiệu thành những đơn vị
thông tin thẩm mĩ Ông cũng nhấn mạnh việc đọc kĩ văn bản, đọc những chú thích để vượt qua rào ngôn ngữ
- GS.TS Trần Đình Sử trong bài viết “Dạy học văn là dạy học sinh đọc
- hiểu văn bản” đã bàn luận về vấn đề thế nào là đọc hiểu văn bản thông qua
cắt nghĩa đọc là gì và hiểu là gì Ông cho rằng đọc - hiểu văn bản có hai bước: Hiểu thông báo và hiểu ý nghĩa
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào nhiều khía cạnh, phương tiện cơ bản của thể loại, của đọc - hiểu… Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của lí thuyết đã có và vận dụng vào một tác giả cụ thể - Tác giả Nguyễn Tuân, một tác giả có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam, người viết hi vọng có thể tìm ra một hướng tiếp cận tích
Trang 7cực, góp phần nhỏ vào việc hình thành các thao tác, các bước đọc - hiểu trong
giảng dạy văn chương nói chung và cụ thể trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lí luận liên quan tới đề tài
- Khảo sát, thống kê các công trình nghiên cưu đọc - hiểu và các công
trinh nghiên cứu thể loại văn học
- Xử lí và phát triển vấn đề đã khảo sát, vận dụng vào văn bản “Chữ
người tử tù”
3.2 Mục địch nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm:
- Củng cố và nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học Ngữ văn theo
hướng đổi mới
- Đưa văn bản “Chữ người tử tù” đến với học sinh theo đúng hướng
đúng phương pháp
- Bồi dưỡng năng lực đọc - hiểu, cảm thụ tác phẩm, làm cơ sở cần thiết
cho việc giảng dạy Ngữ văn sau này ở trường phổ thông
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm của thể loại truyện ngắn qua “Chữ người tử tù” (Nguyễn
Tuân)
- Đọc hiểu “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ở trường trung học
phổ thông theo đặc trưng thể loại
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Trang 8- Đặc điểm loại hình tự sự qua truyện ngắn “Chữ người tử tù” của
Nguyễn Tuân ở trường trung học phổ thông
6 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dung các phương pháp:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thực nghiệm
7 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp một phần nhỏ vào việc hình thành các thao tác, các bước đọc hiểu trong giảng dạy văn chương ở trường THPT Mặt khác khóa luận cũng góp một phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong giai đoạn hiện nay
8 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận gồm có:
Mở đầu
Nội dung:
Bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Đọc - hiểu truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) ở
trường THPT theo đặc trưng thể loại
Chương 3: Thực nghiệm
Kết luận
Trang 9NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1.Cơ sở tâm lí và lí luận dạy học hiện đại
1.1.1.1.Cơ sở tâm lí
Học để biết; Học để làm; Học để cùng chung sống với mọi người Học tập là một hoạt động giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống và trong sự phát triển của học sinh Cấp “Trung học phổ thông” là thuật ngữ dùng để chỉ nhóm học sinh đầu tuổi thanh niên (từ 15 đến 18 tuổi) - Theo tâm lí học lứa tuổi, đây là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi mới lớn
Có thể nói đây là lứa tuổi có những biến đổi tâm lí hết sức phức tạp Ở lứa tuổi này, hoạt động của các em hết sức phong phú nên những hứng thú của lứa tuổi này không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi
cả về chất lượng Với học sinh THPT ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và các em thực hiện những vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn Tất cả các em đều đứng trước suy nghĩ về việc chọn ngành nghề định hướng cho tương lai, cuộc sống của mình Nói cách khác đây là giai đoạn người thanh niên trẻ đang hình thành, tìm kiếm cái bản sắc riêng có mục đích xã hội của mình Cũng chính vì vậy, thái độ có ý thức của các em với học tập ngày càng phát triển Thêm vào đó, tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Các em biết ghi nhớ lôgic có trừu tượng, ghi nhớ
ý nghĩa Các em cũng có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học trong nhà trường Học sinh hoàn toàn có khả năng chủ động trong việc tiếp nhận đối tượng văn học; Các em có thể phát hiện ra một lớp nội
Trang 10dung, các “tầng vỉa” tư tưởng ẩn sau lớp ngôn từ Việc áp đặt các cách hiểu của giáo viên về tác phẩm có thể sẽ gây ra sự chán nản, thậm chí là sự phản ứng chống đối
Bởi thế, người giáo viên phải biết thiết kế tổ chức học sinh thực hiện các hoạt động học tập Ngữ văn nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn luyện kĩ năng nghe-nói-đọc-viết, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương, Hay nói một cách khác là giáo viên biết lựa chọn những phương pháp phù hợp nhằm phát huy hết tính chủ động, sáng tạo của học sinh, đồng thời phải tạo được hứng thú học tập cho các em Giáo viên phải tinh tế trong việc nắm bắt những đặc điểm tâm lí của học sinh để đưa ra biện pháp, phương pháp nhằm thu hút, tạo sự say mê với môn học từ phía học sinh
1.1.1.2 Lí luận dạy học hiện đại
Cách đây hơn 2500 năm, đức Khổng Tử đã đề cập đến vấn đề dạy và học, ông cho rằng có dạy mà không có học thì dẫu sự dạy có hay thế nào thì cũng không sao thành công được Chính vì vậy Khổng Tử luôn lấy cả sự dạy
và sự học làm điều trọng yếu - “Học để sau đó biết là không bao giờ đủ, dạy
để sau đó biết là còn nhiều khó khăn Biết không đủ để sau đó tự mình cố gắng Biết khó khăn để sau đó tự mình kiên cường lên ”
Trong thời đại ngày nay, việc dạy học và học trong trường phổ thông cần có một cách nhìn, một hướng đi phù hợp với thực tế Người Việt Nam có
câu: “Không thầy đố mày làm nên” gắn bó chặt chẽ với phương pháp dạy học
truyền thống vốn tồn tại từ bao đời Về cơ bản phương pháp này hướng trọng tâm hoạt động của người thầy Thầy giáo bằng tất cả tài năng, tâm huyết tiếp cận với kho tàng tri thức nhân loại, lĩnh hội chúng và chuyển tải tới học sinh
Quá trình dạy học ở đây “Là quá trình thông tin được chuyển tải từ thầy sang trò và phụ thuộc căn bản vào tài năng sư phạm của thầy: Thầy thuyết trình, diễn giải; Trò nghe ghi theo, nghĩ theo”
Trang 11Dạy học theo lối truyền thống tồn tại cả hai mặt Trước hết, dạy học theo lối truyền thống tiết kiệm thời gian, đồng thời lượng kiến thức mà thầy truyền đạt cho trò là rất đầy đủ, liền mạch, có hệ thống Song mặt hạn chế của phương pháp dạy học này là khiến cho học sinh chán nản, ức chế, không hứng thú và không phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh
Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn luôn là vấn đề
được quan tâm hàng đầu Đáp ứng yêu cầu bức xúc của xã hội, trong “Chiến lược phát triển giáo dục từ 2001-2010” của Đảng đặt vấn đề: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi chép sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động và tính tự chủ cho học sinh” Rõ ràng, đổi mới phương pháp dạy học làm cho người học được
nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn Giờ đây giáo viên không phải là trung tâm mà chỉ là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, gợi suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh, từ đó hệ thống hóa vấn đề, rút ra kết luận, hình thành bài học và khắc sâu những tri thức cần nắm vững
Người học trong phương pháp dạy học mới trở thành trung tâm của giờ học, dưới sự gợi ý, cố vấn của giáo viên, người học tự chiếm lĩnh tri thức
Đổi mới Phương pháp dạy học Ngữ văn là một tất yếu khách quan Trước đây, quan niệm về dạy Văn chủ yếu là giảng Văn thì nay dạy học Văn
là dạy học sinh đọc - hiểu văn bản Đứng trước một văn bản văn học, không còn con đường nào khác là đọc Đọc được coi là phương thức đặc thù trong tiếp nhận văn học Mặt khác không ai có đặc quyền nào khi tiếp nhận một văn bản văn học Đọc-hiểu vì thế vừa là một hoạt động đặc thù, có ảnh hưởng xuyên thấm đến các phương diện khác của qui trình tích hợp và liên thông
Trang 12kiến thức, vừa được xem là chiến lược trong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay
Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương” lại quan niệm: “Tiếp nhận tác phẩm văn học là đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào người đọc để củng cố và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống”
Về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc với nhà văn thông qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc phải tham gia bằng tất cả trái tim, khối óc, hứng thú, nhân cách và tri thức của
mình Có thể nói nó được xem như một quá trình “ đối tượng hóa sức mạnh bản chất người” của cá thể trong xã hội Để thực hiện quá trình đó, chủ thể
tiếp nhận không chỉ dựa vào những phân tích văn bản ngôn từ một cách máy móc rồi khái quát giá trị ý nghĩa của tác phẩm Nói tới tiếp nhận chính là đề cập hai phương diện thống nhất bản chất của một vấn đề: về phía đối tượng-tức tác phẩm văn học, khi được tiếp nhận nó không còn là những “kí hiệu tĩnh” không còn là hình thức tồn tại khách quan của những con chữ khô khan,
mà trở nên một thế giới có hồn, có đời sống, có số phận, hoàn cảnh sự việc và tâm lí Có được điều đó hay không và có đến mức độ nào-nhân tố có vai trò
Trang 13quyết định lại do khả năng chuyển kí hiệu thẩm mĩ sang hoạt động thẩm mĩ của chủ thể tiếp nhận: người đọc
Tiếp nhận văn học là quá trình sáng tạo hay còn gọi là quá trình “đồng sáng tạo” Và bạn đọc ở mỗi thời đại sẽ bồi đắp cho nó những lớp ý nghĩa sinh động khác nhau Bởi thế, tiếp nhận văn học có tác dụng thúc đẩy ảnh hưởng văn học, làm cho tác phẩm không đứng yên mà luôn vận động, phong phú thêm trong quá trình phát triển văn học
Việc dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường thực chất là dạy cho học sinh cách tiếp nhận văn học Nhưng tiếp nhận văn học với học sinh là tiếp nhận dưới sự giúp đỡ, gợi ý, dẫn dắt của giáo viên Giáo viên cần phải lưu ý: Mỗi tác phẩm văn học đều được người nghệ sĩ sáng tạo bằng những phương thức riêng, vì vậy giáo viên cần phải nắm được những phương thức đặc trưng
ấy để giúp học sinh có cách tiếp nhận cho phù hợp và đạt hiệu quả cao
1.1.2.2.Cơ sở tiếp nhận văn học
Mọi sự vật, sự việc đều có nguồn gốc, lịch sử; và để hiểu rõ bản chất sự vật, sự việc thì phải hiểu rõ nguồn gốc, lịch sử của những đối tượng đó Cũng như muốn tiếp nhận tác phẩm trước hết phải hiểu con đường mà nhà văn sáng tạo ra nó, từ đó tạo tiền đề cơ sở cho việc tiếp nhận văn học một cách đúng hướng
*Con đường nhà văn sáng tạo tác phẩm
Tác phẩm sinh ra từ tâm hồn và trí tuệ nhà văn trong một quá trình hoạt động tâm lí tư duy và ngôn ngữ, kết thúc thành một văn bản ngôn ngữ Có thể nói khi trí tuệ và cảm xúc đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt nhà văn đến những mục tiêu nghệ thuật bằng con đường gần như trực giác bản năng Platôn gọi đó là “thần hứng”
Còn như Lecmôntôp lại nói: “có những đêm không ngủ, mắt rực cháy và thổn thức, lòng tràn ngập nhớ nhung…khi tôi viết” hay Nêkratxốp cũng khẳng
Trang 14định: “Nếu những đau khổ từ lâu bị kiềm chế, nay sôi sục dâng lên trong lòng thì tôi viết” Khi cảm hứng xuất hiện, người nghệ sĩ có nhu cầu giãi bày, biểu
hiện và cũng khi đó nhà văn sáng tạo ra tác phẩm văn chương
Song con đường nhà văn sáng tạo ra các tác phẩm văn chương không thẳng tắp, không giản đơn và không phải nhà văn, nhà nhà thơ nào cũng tạo ra các tác phẩm mang giá trị sâu sắc một cách dễ dàng Nhà thơ Tản Đà đã từng nói:
“Bao nhiêu củi nước mới thành văn Được bán văn ra chết mấy lần…”
Đường văn, đời văn bao gập ghềnh, có những nhà văn, nhà thơ đã sáng tác, đang sáng tác nhưng đến một thời điểm nào đó cũng phải nhức nhối vì không thể viết, không thể phơi bày ý tứ trong tác phẩm của mình
Nhà văn đứng trước cuộc sống ăm ắp, bằng óc quan sát cảm thụ, bằng
sự hồi tưởng và trí ttưởng tượng phong phú…đã tạo ra tác phẩm văn học-“đứa con tinh thần” của mình
Nhà văn hòa mình vào cuộc sống, hòa mình vào cuộc đời của muôn nghìn con người, vạn vật…Nhà văn nhận thức, tích lũy, ghi nhớ…đó là một giai đoạn tích lũy lâu dài Và thật khó xác định giai đoạn tích lũy của nhà văn bắt đầu từ khi nào, bởi nó được cất giấu trong lòng Cùng với sự rung động của đời sống chạm tới khối óc nhanh nhạy của nhà văn và nhanh chóng được nhà văn nhận diện Sự gặp gỡ, va chạm của hai yếu tố khách quan và chủ quan đã khiến rung động nghệ thuật, khát vọng biểu đạt bắt đầu…Nhà văn gửi tất cả những điều đó vào tác phẩm Tuy nhiên văn chương là địa hạt của
sự sáng tạo, nó không “dung nạp” những “người thợ khéo tay chỉ biết làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho” (Nam Cao) Đứng trước trang giấy với một
nghệ sĩ chân chính giống như đứng trước “pháp trường trắng” (Nguyễn
Trang 15Tuân), đòi hỏi trách nhiệm và tài năng nghề nghiệp Bởi thế tác phẩm văn chương đích thực sẽ vượt qua sự “băng hoại của thời gian và sống với loài người cho đến ngày tận thế”
*Con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học
“Chiếm lĩnh tác phẩm văn học” hay còn là “quá trình tiếp nhận văn học”; Nguyễn Thanh Hùng trong “Đọc và tiếp nhận văn chương”, khẳng định “tiếp nhận văn học là một quá trình Đọc văn là một quá trình tiếp nhận Tác phẩm văn học là một “đề án tiếp nhận” và “đọc văn chương - một con người mới ra đời”, đọc văn chương còn là một “lao động khoa học”, là một
quá trình sáng tạo
Quá trình tiếp nhận văn học bắt đầu từ việc đọc, phân tích, cắt nghĩa và cuối cùng là bình giá Đây là một hệ thống thao tác có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trật tự của hệ thống này không thể đảo ngược Tiếp cận là một hoạt động định hướng cho sự phân tích
kí gửi Bởi vậy bước đầu tiên để chiếm lĩnh tác phẩm văn học là “đọc” để giải
mã hệ thống kí hiệu ngôn ngữ đó
Đọc văn là lao động khoa học, người đọc phải phát huy trực cảm và khả năng hoạt động ngôn ngữ trong một môi trường văn hóa thẩm mĩ Đọc văn là để hiểu tác phẩm, để tiếp nhận nội sinh và ngoại sinh từ tác phẩm Với mỗi tác phẩm khác nhau sẽ có cách đọc khác nhau
Trang 16Hoạt động phân tích
Trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương”, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng chỉ rõ: “Phân tích là hoạt động chia nhỏ đối tượng để có cái nhìn cụ thể những yếu tố làm nên chỉnh thể sâu hơn…” Tác phẩm văn học là một
chỉnh thể thống nhất Phân tích tác phẩm văn học là thao tác tháo gỡ tất cả những tương quan vốn không thể tách rời nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật, để rồi ghép hợp lại, người tiếp nhận sẽ có một cái nhìn phong phú và sâu sắc đối với tác phẩm văn học Không nên phân tích tất cả các yếu tố trong
tác phẩm văn học “Phải lựa chọn những yếu tố có bản sắc của tác phẩm, biết
đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt, trung thực nhất trong thế giới nội tâm, vượt qua sự đầy đủ vốn quen thuộc và sáo mòn, kiếm tìm sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật”
Hoạt động cắt nghĩa
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn chương Cắt nghĩa để làm rõ nghĩa tác phẩm ấy, không chỉ làm tường minh nghĩa ngôn ngữ của tác phẩm mà còn phải cắt nghĩa hình tượng của tác phẩm để từ cái được phản ánh, người đọc nhận thức cái được biểu hiện trong tác phẩm Cắt nghĩa đem lại nhận thức chắc chắn, có cơ sở về tác phẩm văn học Có hiểu tác phẩm văn chương thì mới có thể cắt nghĩa được Cắt nghĩa được một cách thuyết phục nội dung phân tích là bằng chứng về sức cảm, hiểu thấu đáo giá trị nội dung trong hình thức tác phẩm
Hoạt động bình giá
Đọc - tiếp cận, phân tích và cắt nghĩa là ba giai đoạn chủ quan hóa khách thể thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học Nó mở ra giai đoạn khách quan hóa chủ thể thẩm mĩ của cá nhân người đọc Điều đó phản ánh qui luật trong
cơ chế tiếp nhận văn chương bao giờ cũng kèm theo sự đánh giá, bình phẩm
về tác phẩm với những quan điểm, tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm mĩ đậm màu
Trang 17sắc cá nhân chủ quan Bình giá trong tiếp nhận văn chương là hoạt động hoàn tất cơ chế tiếp nhận lĩnh hội tác phẩm văn học
Khi bình giá, người đọc phải đề cao nội dung, lí tưởng về cuộc sống và con người trên cơ sở khái quát hóa, điển hình hóa lí tưởng ấy trong hình tượng văn học Đồng thời trong hoạt động bình giá cũng cần lưu ý đến cái được nhận thức và đánh giá như thế nào, bởi vì bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn chương là cái đẹp của tư tưởng và quan niệm của nhà văn về cuộc sống, cái đẹp của hình thức thể hiện…Trọng tâm của hoạt động bình giá là cái mới về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Cần tránh sự bình giá phiến diện, chủ quan, bảo thủ và càng nên tránh sự “nhại lại” ý kiến của người đi trước một cách thiếu bản sắc
Như vậy, tiếp cận tác phẩm văn học bao gồm một hệ thống hoạt động
có quan hệ chặt chẽ với nhau: đọc - tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và bình giá
Và như đã nói thì trình tự hệ thống này không thể đảo ngược Đọc là yêu cầu bắt buộc để tiếp cận tác phẩm văn học và định hướng cho sự phân tích Hoạt động cắt nghĩa xác định tính chính xác của nội dung phân tích Hoạt động bình giá mở rộng, đi sâu hơn vào giá trị tác phẩm bằng sự phong phú và đầy
cá tính của người tiếp nhận
1.1.2.3.Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học
Có thể nói, mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc là mối quan hệ tương tác giữa người lập mã và người giải mã Trong sự tương tác này, văn bản là sự
mã hóa thông tin thẩm mĩ của nhà văn;còn người đọc thực hiện một qui trình ngược lại: giải mã văn bản để tiếp nhận thông điệp thẩm mĩ
Bạn đọc đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học Mỗi tác giả khi sáng tạo ra tác phẩm đã gửi gắm vào đó bao hoài bão, ước mơ, lí tưởng lớn lao…nhưng nó vẫn chỉ ở trên trang giấy tĩnh Khi bạn đọc giải mã văn bản đó thì tác phẩm văn học mới thực hiện được những chức năng xã hội
Trang 18của mình P.Valery nói: “Ý nghĩa trong thơ tôi là do bạn đọc cho nó” Hay Giôn Điwây phân biệt “sản phẩm nghệ thuật" do người nghệ sĩ sáng tạo ra
khi nào được công chúng thưởng thức tiếp nhận thì mới trở thành “tác phẩm nghệ thuật” Vai trò của bạn đọc đối với sinh mệnh, sự sống còn của tác phẩm nghệ thuật là vô cùng quan trọng
Trong lời nói đầu góp phần phê phán chính trị và kinh tế học, Các Mác
nói: “Với tư cách là một đòi hỏi, một nhu cầu bản thân sự tiêu dùng là một yếu tố nội tại của hoạt động sản xuất” Tiếp nhận văn học của bạn đọc cũng
là một hoạt động tiêu thụ, bạn đọc cũng là một người tiêu thụ Nhưng người tiêu dùng thông thường chỉ sử dụng sản phẩm với những giá trị vốn có của nó,
do đó giá trị sử dụng nói chung là ngang nhau giữa tất cả mọi người Trái lại, người đọc văn học làm phong phú thêm cho tác phẩm bằng những cảm thụ và
đánh giá riêng của mình Bởi thế “Sêchxpia chỉ viết một Hamlet nhưng có hàng triệu Hamlet trong lòng bạn đọc”
Nói tới vấn đề bạn đọc với tiếp nhận văn học không thể không nhắc tới
khái niệm tầm tiếp nhận (hay tầm đón nhận): “Với tư cách là chủ thể tiếp nhận với bất cứ tác phẩm văn học nào người đọc không bao giờ là một tờ giấy trắng thụ động mà vốn có một “tầm đón nhận” được hình thành một cách tổng hợp bởi nhiều yếu tố” Mỗi bạn đọc tùy vào điều kiện sống, lứa
tuổi, tâm lí, trình độ, học vấn, nghề nghiệp, thời đại…lại cón những kiến giải khác nhau về một tác phẩm Đó là một điều bình thường làm phong phú cho đời sống văn học
Như vậy, mối quan hệ giữa gắn bó, biện chứng giữa người đọc và tiếp nhận văn học sẽ đưa ra những kết luận cho sự tồn tại và phát triển của tác phẩm văn học đó Bạn đọc, công chúng chính là nhân tố chuyển hóa những giá trị tinh thần trong tác phẩm trở thành những động lực tình cảm trong tiến trình lịch sử
Trang 191.1.3 Vấn đề thể loại
1.1.3.1 Khái niệm và phân loại
Khái niệm thể loại
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Thể loại là dạng thức của tác phẩm văn học được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ nhà văn với các hiện tượng đời sống ấy”
Từ “Genres” (Thể loại) là nguyên bản tiếng Pháp, và nghĩa đơn giản là
“loại” hoặc “kiểu” Khái niệm thể loại là kết quả của sự trừu tượng hóa, khái
quát hóa thực tế cụ thể, sinh động của sáng tác Nền văn học của mỗi dân tộc cũng như toàn bộ nền văn học của thế giới xưa nay là một kho tàng bao gồm rất nhiều tác phẩm văn học cụ thể, con đẻ tinh thần của các nhà văn, nhà thơ thuộc các giai cấp, các dân tộc, các thời đại khác nhau Mỗi tác phẩm văn học
là một công trình sáng tạo độc đáo về nội dung và nghệ thuật Việc nghiên cứu văn học đòi hỏi nhiều cách phân loại khác nhau: Phân loại theo thời kì, trường phái, trào lưu, phương pháp, phong cách… và phân loại theo thể loại
Vấn đề phân loại
Từ xa xưa, Aristốt (384-322 TCN) đã chia văn chương thành ba loại tương ứng với ba phương thức phản ánh đặc trưng Nếu hình tượng thiên nhiều về mặt biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả ta sẽ có tác phẩm trữ tình Nếu hình tượng thiên nhiều về mặt phản ánh con người, sự việc trong cuộc sống, ta sẽ có tác phẩm tự sự Tác phẩm tự sự tập trung cô đọng đến mức
độ bản thân nhân vật, sự việc, câu chuyện có thể tự mình bộc lộ một cách độc lập trên trang sách hoặc trên sân khấu không cần sự dẫn chuyện của tác giả, như thế ta có tác phẩm kịch
Trang 20Từ ba loại trên ta có thể chia nhỏ như sau:
Tự sự: - Tự sự dân gian gồm: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười…
- Tự sự trung đại và hiện đại
Trữ tình: - Trữ tình dân gian: Ca dao, câu đố…
- Trữ tình trung đại và hiện đại: Thơ cổ thể truyền thống và
tự do
Kịch: - Kịch dân gian: Chèo, tuồng, múa rối…
- Kịch hiện đại: Bi kịch, hài kịch…
1.1.3.2 Thể loại tự sự
Khái niệm
Tự sự là “phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ khách quan của
nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người”
Theo “Từ điển tiếng Việt 2005”: “Tự sự là loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh”
Như vậy, tư tưởng, tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện
và hành động của con người, nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là một thế giới tạo hình xác định đang tự tồn tại, phát triển, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của người viết Cũng có thể nói tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt ở bên ngoài đối với tác giả thành một câu chuyện có sự diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh, có sự phát triển tâm trạng, tính cách, hành động của con người
Trang 21Xét về phương diện kết cấu, qui mô nội dung có thể chia cốt truyện thành hai loại: Cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến
Trong cốt truyện đơn tuyến, hệ thống sự kiện gọn gàng, đơn giản về số lượng, tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của một vài nhân vật chính, có khi là một giai đoạn trong cuộc đời nhân vật chính
Cốt truyện đa tuyến là cốt truyện trình bày một hệ thống sự kiện phức tạp nhằm tái hiện nhiều bình diện của đời sống trong một thời kì lịch sử, tái hiện những con đường diễn biến phức tạp của nhiều nhân vật Do đó có dung lượng lớn
Trang 22Dựa vào cấu trúc nhân vật chia thành: Nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng…
Thứ ba: Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một phương tiện để phản ánh cuộc sống thành hình tượng trong truyện, mặt khác cũng là phương tiện để biểu hiện thái độ tư tưởng, tình cảm, sự đánh giá của tác giả đối với cuộc sống
Ngôn ngữ tự sự phân thành: Ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người kể chuyện
Ngôn ngữ nhân vật là lời nói của nhân vật trong tác phẩm Ngôn ngữ nhân vật có ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại
Ngôn ngữ nhân vật được nhà văn sử dụng như một phương tiện để miêu tả đời sống tâm lí và khắc họa tính cách nhân vật Nhờ việc khảo sát ngôn ngữ nhân vật có thể biết được tính cách nhân vật, nhận diện nhân vật Qua đó nhà văn thể hiện tư tưởng tác phẩm
Ngôn ngữ người kể chuyện đứng ngoài tác phẩm với tư cách là người trần thuật Ngôn ngữ người kể chuyện chẳng những có vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính tác giả
1.1.3.3 Thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn, một thể loại văn học được coi là “xung kích” của đời sống văn học, một thể loại có tính chất “thuốc thử” đối với hầu hết nhà văn trên con đường sáng tạo nghệ thuật đầy cam go…
Theo quan điểm hiện nay, “Truyện ngắn” được định nghĩa là tác phẩm
tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: Đời tư, thế sự và sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn Bởi truyện được viết ra là để đọc liền một mạch Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyện ngắn với các tác
Trang 23phẩm tự sự loại khác (các loại truyện kể dân gian cũng có độ dài tương đương với truyện ngắn) Truyện ngắn hiện đại hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật,
ít sự kiện phức tạp Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì
đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết
Ở truyện ngắn, mỗi câu chữ, mỗi dấu chấm phảy đều phải được chọn lọc tới mức tinh xảo, hoàn mỹ Ngôn ngữ của truyện ngắn phải là thứ ngôn
ngữ kim cương tuân theo những "Quy luật vàng” khắc nghiệt! "Trong các thể loại văn chương, truyện ngắn đóng vai trò hổ báo trong đại gia đình các loài vật Ở loài thú dữ này, không được có chút mỡ thừa dính vào mọi cơ bắp, nếu
Trang 24không chúng không thể săn mồi được Ngắn gọn là qui luật của việc cấu tạo truyện ngắn Nhờ có khả năng phản ánh hành động một cách ngắn gọn, truyện ngắn có khi còn có thể đạt tới trình độ anh hùng ca và đó là cả một bí mật của nó” (Hoan Bốtsơ - nhà văn Đức); "Truyện ngắn là một thứ giọt nước
mà không có nó không thể có đại dương Theo tôi hiểu toàn bộ truyện ngắn
là một tấm thảm lớn lao về cả thời đại Với những mảnh tưởng như rất nhỏ
bé, nó góp phần tạo nên cả tấm chân dung hoàn chỉnh Truyện ngắn giống như tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đọng, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác Đây
là một công việc vô cùng tinh tế Xoay xỏa trên một mảnh đất chật hẹp, chính
đó là chỗ làm cho truyện ngắn phân biệt với các thể loại khác” (Ts
Aitmatốp), v.v…
1.1.3.4 Mối quan hệ giữa thể loại và tiếp nhận văn học
Giữa thể loại của tác phẩm và vấn đề tiếp nhận văn học có một mối
quan hệ gắn bó Cụ thể: “Nhà văn sáng tác theo thể loại nào thì người đọc cũng cảm thụ theo thể loại và người dạy cũng dạy theo thể loại” Nói một
cách khác, phương thức cấu tạo hình tượng mà tác giả sử dụng khi sáng tác qui định phương thức cảm thụ hình tượng đó của người đọc và cũng từ đó qui định phương thức giảng dạy của giáo viên
Như vậy với mỗi thể loại ta có cách tiếp nhận khác nhau Vẫn biết “tất
cả mọi tác phẩm dù được sáng tác theo thi pháp tất yếu nào cũng mở theo các kiểu đọc, mỗi kiểu đọc mang đến cho đời sống tác phẩm một đời sống mới từ một triển vọng nào đó theo thị hiếu cá nhân của người đọc” (Umberto Eco)
thì việc đọc-hiểu không thể tách rời những tri thức về thể loại
SGK Ngữ văn hiện nay sắp xếp các văn bản Ngữ văn theo đặc trưng thể loại Đây được coi là giải pháp để rút ngắn những “khoảng cách tiếp nhận”
Trang 251.1.4 Vấn đề đọc-hiểu
“Đọc” là một hoạt động sáng tạo của con người Đọc không chỉ là một
hoạt động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động trực quan mang tính cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người Đọc còn là một hoạt động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh thần của độc giả, bộc lộ năng lực văn hóa của con người
1.1.4.1 Quan niệm về đọc - hiểu
Theo “Từ điển tiếng Việt” thì “đọc là phát minh thành lời những điều
đã được viết ra, theo đúng trình tự, là cách tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu” Như vậy theo nghĩa đó ta có thể
hiểu đọc văn là cách tiếp cận nội dung của tác phẩm văn học bằng cách nhìn vào hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ miêu tả, kết cấu thời gian, không gian nghệ thuật của tác phẩm đó
Xưa nay người ta cho rằng “đọc” là một vấn đề quen thuộc, là một
hoạt động rất quen thuộc đối với chúng ta Như ở Anh, việc hướng dẫn cách đọc được đặc biệt chú trọng ngay từ bài dạy học tác phẩm thơ ở bậc tiểu học,
nhằm tạo ra “những viễn cảnh cho thế hệ mới” “Đọc” ở đây được coi như điểm khởi đầu cho những năng lực khác Hoạt động “đọc” trở thành vấn đề
quan tâm của nhiều người Đọc văn từ rất lâu đã gắn liền với nhu cầu khám
phá thế giới nghệ thuật của nhà văn, và “đọc” còn gắn liền với khát vọng đổi
thay xã hội Muốn đọc được, trước hết, phải có năng lực cảm thụ ngôn suy rộng ra đó là năng lực cảm thụ văn hóa Với người nghèo vốn sống thì việc hiểu ngôn ngữ sẽ bị hạn chế; người không có khả năng giải mã tín hiệu ngôn ngữ thì một kiệt tác có ở trước mặt cũng trở thành vô nghĩa Bởi suy cho
ngữ-cùng, mục đích của “đọc” là để “hiểu” trực tiếp “Đọc” chính là hoạt động trả lời câu hỏi “làm gì ?” Vì vậy, “ đọc” và “hiểu” có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau
Trang 26“Hiểu” là nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì, bằng sự vận dụng trí tuệ Hiểu là biết được ý nghĩa, tình cảm, quan điểm của người khác “Đọc” trong một số lĩnh vực mục đích rõ ràng, nhưng ở một số lĩnh vực khác, “đọc”
là hoạt động mang tính tự phát, không phải là không có mục đích mà là mục
đích ban đầu chưa rõ ràng, sau khi “đọc” mới rõ đó là hoạt động có mục đích
1.1.4.2 Đọc - hiểu là phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học
“Đọc” là một dạng khám phá sáng tạo “Đọc” cũng là chối bỏ sự trì trệ của lối mòn và hướng tới thiết lập những quan hệ tư duy mới Nói “đọc - hiểu” hay “đọc để hiểu” không chỉ là phát ngôn mang tính “thói quen” mà đó
là vấn đề có tính nguyên lí Có lúc, ngỡ mới chỉ lướt qua xem văn bản bằng mắt thôi thì trong trí não của chủ thể đã nảy sinh những xung đột tâm lí nhất định, bằng chứng là đã ghi nhận một thông tin nào đó (dù mờ nhạt).Có vẻ như
chưa là đọc, nhưng thực ra đó cũng là một dạng thức của “đọc” Và trong cái
hình thái dù chỉ như mới sơ khai ấy của đọc, đã bao hàm một dấu hiệu trao
đổi với văn bản Như thế cũng có nghĩa “đọc” trước hết gắn với nhu cầu giao
tiếp (hoặc ít nhiều mang đặc tính tác động qua lại của hoạt động giao tiếp) giữa chủ thể, người đọc với đối tượng (văn bản - thế giới nghệ thuật - nhà
văn) Giữa “đọc” và “hiểu” vừa có mối quan hệ nhân quả (đọc để hiểu), đồng thời chúng có mối quan hệ biện chứng (hiểu để đọc tốt hơn) “Đọc” vì thế có
thể hiểu là cách thức, con đường, tức là một phương pháp; Viện sĩ Roman
Ingaden (Ba Lan) cũng quan niệm: “Đọc - hiểu là phương pháp tối ưu để tiếp cận tác phẩm văn chương Đây là phương thức không thể thay thế” Chính vì
vậy, “hiểu” là mục đích cần đạt được khi đọc một văn bản, một tài liệu Trong dạy - học Ngữ văn, hiểu văn bản ấy không phải là mục đích mà là đích cuối cùng, là thực hiện các nhiệm vụ của môn Ngữ văn
Nhằm tiếp cận và xử lí thông tin, hoạt động đọc - hiểu xảy ra theo cơ chế tác động hữu cơ giữa hai thành tố chính: Chủ thể (người đọc) và đối
Trang 27tượng (tác phẩm) Người đọc tác động vào văn bản bằng xúc cảm và khả năng tri giác, thông qua quá trình chuyển hóa kí hiệu ngôn ngữ thành những đơn vị thông tin thẩm mỹ Qúa trình này được thực hiện bởi hình thái tiếp nhận trung gian là “ngôn ngữ nghĩ” Như vậy, để “tường minh” ý tưởng có được từ hoạt động tri giác văn bản, người đọc phải cảm thụ được sự khơi gợi của âm thanh, nhạc điệu, sắc thái biểu cảm và phải có khả năng chuyển mã từ hệ thống ký hiệu ngôn từ sang những đường nét hình dung và kinh nghiệm mà dạng thức biểu hiện đầy đủ nhất của nó là tính sinh động của hình tượng nghệ thuật
“Đọc” bao giờ cũng gắn liền với việc xác định “hệ qui chiếu”, ý nghĩa
của những dấu hiệu nghệ thuật, xác định “độ dôi” có tính khác biệt trước hết
về mặt hình thức so với những qui ước thông thường của đời sống được thể hiện trong tác phẩm Người đọc phát hiện ra những “mâu thuẫn” ấy, biến chúng thành những đối tượng có tính chất “đầu mối” để tiếp cận và cắt nghĩa nghệ thuật Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc thể hiện chính mình, đồng thời, tìm tòi, phát hiện năng lượng của sự có mặt của nhà văn biểu hiện vừa hữu hình, vừa tồn tại ở dạng “tiềm năng” trong văn bản Bởi vì nói như
viện sĩ Roman Ingaden (Ba Lan) thì “mọi tác phẩm văn học đều dang dở, luôn đòi hỏi sự bổ xung mà không bao giờ ta đạt tới giới hạn cuối cùng bằng văn bản” Mỗi cách đọc, theo đó được xem như một phương án, phản ánh
những mức độ khác nhau của khả năng tiếp nhận Hiệu quả của việc đọc văn học bao giờ cũng gắn với từng phương thức thể hiện nó Đọc thầm khác với đọc diễn cảm, đọc ngẫu nhiên khác với đọc có chủ định, đọc cá nhân khác với đọc trong môi trường cụ thể…
“Đọc” như trên đã trình bày, đó là quá trình xác định một kiểu quan hệ giao tiếp “Đọc” là phương thức tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ, qua đó người
đọc biểu hiện nhu cầu giao cảm, hưởng thụ văn hóa và phát triển nhân cách, đồng thời bộc lộ chính mình
Trang 28Có thể nói rằng đọc-hiểu là một phương pháp tiếp cận tác phẩm văn
chương “Đọc - hiểu” được hiểu một cách toàn diện, là một quá trình bao
gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn, cũng như thấy được vai trò tiếp nhận của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết
và cả các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật “Đọc - hiểu” là hoạt động
duy nhất, con đường duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học
1.1.4.3 Các cấp độ đọc - hiểu
Đọc thông - Đọc thuộc
Đọc thông
“Đọc thông” là đọc không vấp (giống đọc thơ) Mục đích là để giúp
người đọc có thể tri giác toàn bộ văn bản, có được cảm nhận đầu tiên vể toàn
bộ văn bản Nó là bước chuẩn bị về mặt ý thức và tâm thế khởi đầu cho quá trình làm việc với văn bản Đây được xem là yêu cầu thấp nhất của quá trình đọc văn bản nhưng lại là bước khởi đầu quan trọng không thể bỏ qua Không đọc văn bản sẽ không thể tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo một cách có hiệu quả
Đọc thuộc
“Đọc thuộc” là nhớ văn bản có thể đọc lại mà không cần có văn bản in
hoặc văn bản viết, nhưng đọc thuộc phải được xác định ở các mức độ khác nhau ở các văn bản thuộc thể loại khác nhau
Đối với thơ: “Đọc thuộc” có nghĩa là đọc thuộc lòng, xong không thể
đọc thuộc lòng tất cả các văn bản thơ trong chương trình, bởi lẽ có những văn bản có dung lượng và qui mô tương đối lớn Với những tác phẩm đó thì đọc thuộc có nghĩa là nắm nội dung của toàn văn bản, thuộc một số trích đoạn, một số câu tiêu biểu tương ứng với những nội dung chủ yếu trong toàn bộ văn bản đó
Trang 29Đối với văn xuôi: “Đọc thuộc” có nghĩa là nhớ được những nội dung
chủ yếu, những tình tiết, chi tiết tiêu biểu, có khả năng tóm tắt văn bản đó một cách ngắn ngọn nhưng đầy đủ những nội dung cơ bản Đây là yêu cầu bắt buộc khi dạy tác phẩm văn xuôi ngay cả trong khi dạy đọc-hiểu văn bản văn xuôi thì trên lớp cũng không có đủ thời gian để đọc toàn bộ văn bản ấy, vì vậy
mà bắt buộc cả người dạy và người học phải đọc trước, thuộc văn bản đó ở mức độ tóm tắt được Ngoài ra, do đặc thù của văn xuôi thì người dạy phải thuộc được một số đoạn tiêu biểu trong tác phẩm, từ đó hướng dẫn để học sinh làm theo
Đọc kĩ - Đọc sâu
Đọc kĩ: “Đọc kĩ” có thể là đọc nhiều lần, nhưng không phải cứ đọc nhiều lần là đọc kĩ “Đọc kĩ” có nghĩa là tự phát hiện được bố cục, kết cấu
của văn bản ấy (tức chỉ ra hình thức tổ chức sắp xếp văn bản ấy)
“Đọc kĩ” là phát hiện được (ý thức được) nội dung đề cập trong văn
bản để có được cái nhìn bao quát văn bản trên cả hai phương diện: Nội dung
và hình thức
Đọc sâu
“Đọc sâu” sau khi có những cảm nhận khái quát về toàn bộ văn bản ấy
“Đọc sâu” là đọc tập trung, chi tiết, hình ảnh vào một số đoạn, một số nhân
vật có vai trò quan trọng trong văn bản, một số yếu tố có vai trò đưa đẩy
“Đọc sâu” là hiểu được cấu trúc (logic bên trong), sự vận động tất yếu
của sự kiện, của cảm xúc, của hình tượng
“Đọc sâu” buộc phải huy động kinh nghiệm, những hiểu biết của
người đọc về những lĩnh vực có liên quan về văn bản để có thể lí giải được cấu trúc nội tại của hình tượng nghệ thuật hoặc ý tưởng mà tác giả thể hiện trong văn bản
Trang 30Đọc hiểu - Đọc sáng tạo
Đọc - hiểu: “Đọc” là một động để tiếp cận và khám phá văn bản
“Hiểu” là mục đích Ở đây nói “đọc - hiểu” với ý nghĩa là một yêu cầu - một
yêu cầu trong tiếp cận, khám phá văn bản bắt buộc chủ thể phải huy động kiến thức của nhiều lĩnh vực đã được tích lũy có liên quan đến văn bản và tác phẩm cần tìm hiểu (kiến thức văn học, ngôn ngữ, lịch sử) đồng thời phải sử dụng một số phương pháp dạy học để tìm hiểu nội dung và ý nghĩa văn bản
Như vậy: “Đọc - hiểu” vừa là mục đích yêu cầu, vừa là mục tiêu chứ
không đơn thuần là một bước trong phương pháp dạy học
Đọc sáng tạo: “Đọc sáng tạo” được áp dụng chủ yếu khi đọc văn bản
nghệ thuật vì tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm của tưởng tượng, hư cấu, người làm ra nó không chỉ dựa vào sự hiểu biết mà còn dựa vào năng lực tưởng tượng, liên tưởng; do vậy, bất kì văn bản nghệ thuật nào, hay nói khác đi- bất kì một tác phẩm nghệ thuật văn chương nào cũng luôn luôn tồn tại những khoảng trống Để hiểu văn bản, tác phẩm ấy người đọc bắt buộc phải tưởng tượng, liên tưởng lấp đầy những khoảng trống
Trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, gọi đây là quá trình “đồng sáng tạo” nghĩa là người đọc cũng là người sáng tạo và nhờ sự sáng tạo ấy, người đọc mới có thể hiểu và cảm tác phẩm, đó là lí do để văn học trường tồn Đây cũng là lí do để cắt nghĩa những tác phẩm ngoài ý nghĩa tự nó còn tồn tại một lớp nghĩa “cộng sinh” do tác động của môi trường, thời đại và công
chúng độc giả thêm vào Nói như Khrapchenko đây là hiện tượng “ẩn dụ thi vị”
Theo N.I Kuriđasep, với nhà trường Xô viết trước đây - “Đọc sáng tạo được xem là một trong bốn phương pháp chính trong hệ thống các phương
Trang 31pháp và biện pháp dạy học văn” (Trong quá trình nhận thức tác phẩm) Có ý kiến cho rằng: Đọc tác phẩm là cơ sở của việc nghiên cứu tác phẩm Không chỉ thế, đọc văn cũng là một hình thức, một kiểu tiếp nhận, bắt đầu bằng việc vận động những năng lực chủ quan qua hình dung và tưởng tượng để đến với hình tượng văn học
Đọc văn sở dĩ biểu hiện năng lực sáng tạo của người đọc, bởi hoạt động đọc bao giờ cũng gắn với nhu cầu của nhận thức, đồng thời thể hiện một mức
độ nào đó của khả năng vận dụng kinh nghiệm cá nhân Đọc sáng tạo là phát hiện bề sâu cấu trúc, sự ngân rung và sức lan tỏa của nhịp điệu theo ý của riêng mình Điều đó sẽ giúp “sự cản trở” của hàng rào ngôn ngữ có khả năng
gỡ bỏ “khoảng cách thời đại, khoảng cách tâm lí xã hội giữa nhà văn và bạn đọc mới có cơ hội rút ngắn và hứa hẹn những khả năng đồng điệu” Tác phẩm
sẽ có cách hiểu mới thêm phong phú và đa dạng
Đọc ứng dụng và Đọc đánh giá
Yêu cầu của xã hội hiện đại và cũng là mục tiêu của việc học tập là học
để làm việc, học để sống, học để chung sống với mọi người Bởi thế, yêu cầu đối với các môn học là khả năng ứng dụng
Trong dạy đọc-hiểu văn bản, đọc ứng dụng bao gồm ba yêu cầu: Yêu cầu đầu tiên là yêu cầu ở mức thấp nhất - người đọc có khả năng tạo lập văn bản tương ứng Yêu cầu thứ hai, tất cả các tác phẩm văn học đều chứa đựng trong đó những ý nghĩa tư tưởng, những bài học nhân sinh, hiểu và cảm nhận tác phẩm văn học để cho mỗi người hiểu đúng bản thân mình, biết cách hoàn thiện nhân cách để cho cuộc sống tốt đẹp hơn Mặt khác, văn bản không phải chỉ là những văn bản ở các sách Ngữ văn, bao giờ cũng chứa trong đó những thông tin liên quan chặt chẽ đời sống, những thông tin ấy khi được tiếp nhận
Trang 32sẽ được phong phú thêm hiểu biết của mỗi người, giúp mỗi người làm việc tốt hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
Môn Ngữ văn là một môn học chủ đạo của chương trình giáo dục phổ
thông Bởi đúng như M.Gorki nói: “Văn học là nhân học” - dạy văn là dạy
người, dạy cái hay cái đẹp cho con người Bởi vậy, học sinh học văn không chỉ học những kiến thức của văn học mà còn phải nhận ra được chất nhân văn của bộ môn Tuy nhiên, xã hội ngày nay phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa…sự bùng nổ của thời đại bên cạnh những mặt thành tựu xuất sắc vẫn tồn tại những điểm hạn chế, và trong dạy học Văn cũng đã chịu ảnh hưởng rõ nét Học sinh xem nhẹ việc học Văn, sự đam mê, thích thú của các em đối với môn Ngữ văn đã giảm Các em học Ngữ văn một cách uể oải, học để đối phó…điều đó đòi hỏi PPDH Ngữ văn đưa ra những phương thức giảng dạy mới, những phương thức phù hợp với xu hướng của thời đại Từ đó nhằm đem lại những hiệu quả tốt nhất cho quá trình giảng dạy và đặc biệt là trau dồi tâm hồn thế hệ trẻ
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là điều tất yếu Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, học sinh phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo…Nhưng thực tế, việc giảng dạy Ngữ văn vẫn còn nhiều bất cập; quá trình giảng dạy vẫn theo lối cũ - thầy giáo đọc, học sinh ghi chép Với cách học như vậy, học sinh trở nên thụ động trong kiến thức, trở nên lười nhác, lười vận động trí não…điều đó đã khiến tư duy của các em kém nhạy bén, linh hoạt Môn Ngữ văn cũng do đó mà trở nên tẻ nhạt, nặng nề
Xét đến cùng, nguyên nhân của hiện tượng trên một phần do nếp nghĩ
“cũ kĩ” đã in sâu vào trong tâm thức giáo viên và học sinh, rất khó xóa bỏ nhưng một phần cũng do khách quan… Việc giảng văn hiện nay chủ yếu là ghi ý - giáo viên đọc, trò ghi bài mà xa rời vẻ đẹp của hình tượng Việc giảng
Trang 33văn hiện nay giáo viên chưa xác định rõ “tính chất của loại trong thể” của tác phẩm văn học Do đó việc khai thác tác phẩm còn hạn chế
Như vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải đổi mới cách dạy học, giáo viên và học sinh có mối quan hệ qua lại trong đó học sinh đóng vai trò chủ thể Người giáo viên không những giỏi chuyên môn mà còn phải nhạy bén với các phương pháp dạy học mới, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay
Trong thực tế giảng dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” ngày nay, phần nhiều giáo viên chỉ đi vào phân tích hình tượng nhân vật Nhưng “Chữ người
tử tù” đâu chỉ có thế Cái gì làm nền cho Huấn Cao và viên quản ngục bộc lộ
phẩm chất của mình nếu không phải là bức tranh không gian thời gian, là hệ thống ngôn ngữ giàu tính tạo hình của tác phẩm Lâu nay, nhiều giáo viên phân tích “cảnh cho chữ” như là “cảnh tượng hiếm có” với những tương phản gay gắt giữa không gian nhà tù với “tấm lụa bạch”, giữa người cho chữ và người xin chữ, giữa cái đẹp và cái tầm thường nhưng dường như họ chưa xác định được tính kịch của đoạn văn này Vì vậy học sinh có thể hiểu được những hình ảnh đối lập nhưng đỉnh cao của nó là chất kịch - đó là sự thăng hoa của cái đẹp trong một hoàn cảnh không dễ để cái đẹp tồn tại, là sự chiến thắng của thiên lương khi thiên lương không dễ gì có được ở chốn ngục tù
Điều đáng lưu ý là bấy lâu nay, giáo viên dạy cho học sinh là dạy
“chữ” chứ không phải dạy cho học sinh thấy cái tư tưởng của nhà văn Nguyễn Tuân, cái tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc: “Chữ người tử tù” không chỉ là “chữ”, không chỉ là Mĩ, mà “là những hoài bão
tung hoành của một đời người” Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối Đấy là sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng, đối với sự phàm tục nhơ bẩn, cũng là sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ Sự hòa hợp giữa Mĩ và Dũng trong hình tượng Huấn Cao là đỉnh
Trang 34cao nhân cách theo lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, theo triết lí “duy mĩ” của Nguyễn Tuân
Như vậy, không thể tiếp nhận “Chữ người tử tù” như một truyện ngắn
tự sự cần khai thác nó trên những cơ sở lãng mạn trữ tình giàu kịch tính Và đưa tư tưởng của Nguyễn Tuân tới bạn đọc nói chung, cũng như đến với học sinh một cách trọn vẹn
Với khóa luận này, người viết hi vọng sẽ phần nào làm thay đổi được
quan niệm chưa đúng về vai trò, vị trí của truyện ngắn “Chữ người tử tù” và
đề xuất được những giải pháp để khắc phục được khó khăn trong giảng dạy
“Chữ người tử tù”
Trang 35Chương 2 ĐỌC – HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN
TUÂN) Ở TRƯỜNG THPT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 2.1 Vị trí của Nguyễn Tuân trong đời sống văn học và trong nhà trường
2.1.1.Vị trí của Nguyễn Tuân trong đời sống văn học
Xuất hiện trên văn đàn vào cuối thập niên 30 của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân đã khẳng định tên tuổi của mình trong những tác phẩm “kết tinh mọi tinh hoa làm nên sự hoàn thiện và hoàn mỹ của một phong cách viết” Có thể nói, trên mỗi trang sách, Nguyễn Tuân đã sống thật với từng câu, từng chữ của mình
Đọc mỗi chữ, mỗi câu của Nguyễn Tuân khiến ta thêm yêu những nét
cổ truyền, phong tục của dân tộc như: tuồng, chèo, hát ả đào, hội họa cổ điển, tranh lụa Nguyễn Phan Chánh…và đặc biệt là dòng văn học cổ điển của dân tộc Có thể nói, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân thật xứng đáng ở tầm cỡ nhà văn lớn Nói đến ông, người ta nghĩ ngay đến một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, rất mực tài hoa và độc đáo
Tinh thần tự nguyện dấn thân, bám trụ ở thành trì cái Ðẹp là biểu hiện sinh động của một nhân cách văn hóa lớn Nhà văn Nguyễn Tuân "đặc Việt Nam" (chữ dùng của Vũ Ngọc Phan) từ quan niệm cho tới thực tế sáng tác Chất văn hóa như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là cái phần cơ bản nhất làm nên giá trị vĩnh hằng cho văn nghiệp của ông Do đó, vẻ đẹp của trang viết Nguyễn Tuân là kết quả tất yếu từ một cách viết mang chiều sâu, bề rộng và tầm cao văn hóa Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đặc biệt biểu hiện ở thái độ thành kính trân trọng tiếng mẹ đẻ và các giá trị truyền thống chính là động lực bên trong, thôi thúc nhà văn không ngừng tìm tòi, khơi nguồn vốn cũ và sáng
tạo nên giá trị mới Ông xứng đáng được mệnh danh là "chuyên viên cao cấp tiếng Việt", là "người thợ kim hoàn của chữ" (Ý của Tố Hữu) Trong lâu đài
Trang 36văn chương nghệ thuật dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 rất dễ nhận ra phần chạm trổ tinh xảo của người nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Tuân
Với lối viết và đề tài mới lạ, ý tưởng và hành văn cầu kỳ nhưng độc đáo, Nguyễn Tuân đã một thời được nhiều người ngưỡng mộ và ngày nay những tác phẩm giá trị của ông như Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn, Phu Nhân Họ Bồ, Ngọn Đèn Dầu Lạc đã có địa vị xứng đáng trong văn học sử nước nhà Một điều không ai phủ nhận được là Nguyễn Tuân người đi tiên phong trong thể tùy bút, người đã mang lại cho nền văn chương Việt nam một lối sáng tác phong phú mới mẻ cho tới nay vẫn được bao người ưa chuộng
2.1.2 Vị trí của Nguyễn Tuân đối với nhà trường
Vị trí của tác giả Nguyễn Tuân một lần nữa lại được củng cố và trở thành niềm tin vững chãi trong lòng độc giả khi mà trải qua bao biến động đổi thay của thời cuộc, tác phẩm của ông vẫn được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT Điều đó khẳng định những tác phẩm của Nguyễn Tuân có sức sống, sức khơi gợi rung động thẩm mỹ, luôn đốt lên ngọn lửa mê say văn học trong tâm hồn rất nhiều thế hệ
Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nói: “Những đấng tài hoa sống bằng nghệ thuật tự do phải cần đến một quần chúng hiểu biết và săn sóc tới nghệ thuật” Nghĩ về công việc dạy học văn hiện nay, ta lại thấy nhà văn thật
thấu đáo, bởi một tác phẩm văn học ra đời có giá trị là một công trình nghệ
thuật và nó cũng đòi hỏi một lớp độc giả biết thưởng thức cái “bề sâu, bề sau,
bề xa” của nó Bởi vậy nhiệm vụ của mỗi học sinh là giải mã những bức
thông điệp nhà văn Nguyễn Tuân gửi gắm trong đó Từ đó, giúp học sinh-nhà văn tương đồng tư tưởng, giúp học sinh trau dồi kiến thức văn học cũng như khám phá những điều mới mẻ, sáng tạo trong văn Nguyễn Tuân, làm giàu vốn
từ, nét văn hóa…qua văn Nguyễn Tuân
Trang 372.2 Đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám
là các xoáy nước Nó chính là phần đậm nhất của cuộc sống, nơi thể hiện tập trung bản chất một xã hội, một thời đại
Theo “Từ điển tiếng Việt” thì “tình huống” chính là chỉ “toàn thể các
sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian hoặc một thời điểm nào đấy buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, chịu đựng…”
Như vậy: Tình huống là một sự kiện nào đó đã xảy ra và có sức tác động tạo ra một bước ngoặt lớn đối với mỗi con người chúng ta
Vai trò của tình huống trong truyện ngắn
Đối với thể loại truyện ngắn, tình huống giữ vai trò quan trọng Nhà
văn Nguyễn Kiên, một cây bút truyện ngắn khá tiêu biểu từng viết: “Truyện ngắn cũng có tính cách và số phận như truyện dài Nhưng vì khuôn khổ của truyện ngắn bị hạn chế nên không thể nói nhiều, nói đầy đủ như truyện dài
Do đó, điều quan trọng đối với truyện ngắn là phải lựa chọn cho được cái tình thế tự nó bộc lộ ra nét chủ yếu của tính cách và số phận, tự nó đặc trưng cho một hiện tượng xã hội Theo tôi hiểu thì mỗi truyện ngắn chỉ chứa đựng một tình thế như nào đó đã xẩy ra trong đời sống, nếu có hai tình thế trở lên,
Trang 38truyện ngắn sẽ bị phá vỡ” Nhà văn Nga A.Tolstoi cũng từng khẳng định tính chất cô đúc, chắt lọc của truyện ngắn: “Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể dọn cho độc giả no nê với những món ăn đại loại như miêu tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sắc…Còn trong truyện ngắn, tất cả như trong bàn tay anh Anh phải thông minh, như anh đã phải hiểu biết Bởi lẽ, hình thức nhỏ không
có nghĩa là nội dung lớn lao Anh phải biết nói một cách ngắn gọn, như nhà thơ chỉ được làm thơ tứ tuyệt” Như thế, tình huống đối với truyện ngắn cũng
giống như cái tứ đối với bài thơ Nó chính là cái cốt lõi của nội dung phản ánh, là cơ sở để tổ chức cốt truyện, xây dựng hình tượng Trong văn xuôi, xây dựng tình huống dường như thành nhiệm vụ tất yếu của nhà văn, trở thành nơi thử thách tài nghệ của nhà văn Truyện diễn biến theo hướng nào là do việc hình dung, xây dựng tình huống qui định Nói tóm lại: Tình huống tiêu biểu phải cùng một lúc thực hiện cả nhiệm vụ như gắn kết các nhân vật (vốn gần gũi hoặc xa lạ nhau) cùng tham gia vào sự kiện, biến cố có ý nghĩa nào đó đồng thời góp phần bộc lộ quan hệ và tính cách nhân vật cũng như thể hiện được chủ đề, tư tưởng nhà văn
Tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân là một nhà văn có quan điểm duy mĩ, chỉ cần trọng cái đẹp hình thức không trọng nội dung, chủ chương viết văn không theo khuynh hướng, nghĩa là muốn đặt nghệ thuật lên trên mọi thứ thiện ác ở đời Bởi vậy, nghệ thuật truyện của Nguyễn Tuân vô cùng đặc sắc Đặc biệt là cách sử dụng tình huống truyện của ông Tình huống truyện của ông mang tính kịch, kịch tính đó đã giúp cho tính cách các nhân vật được bộc lộ và giá trị tư tưởng của nhà văn được thể hiện một cách sâu sắc
Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tuân đã xây dựng hai
nhân vật chính, một là ông Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, một nữa là viên
Trang 39quản ngục say mê chữ đẹp của ông Huấn, quyết tìm mọi cách để “xin chữ” treo trong nhà Lão coi chữ của Huấn Cao như báu vật Họ đã gặp nhau trong tình huống oái ăm là nhà ngục Người có tài viết chữ đẹp lại là một tên “đại nghịch” cầm đầu khỏi nghĩa nông dân (triều đình gọi là nổi loạn, giặc) đang bị bắt giam chờ ngày thụ hình Còn người mê chữ đẹp của ông Huấn Cao lại là một quản ngục đại diện cho cái trật tự xã hội ấy Trên bình diện nghệ thuật họ
là tri âm tri kỉ, trên bình diện xã hội họ ở hai vị trí đối lập
2.2.1.2.Vai trò của tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Tuân
Tình huống truyện giúp truyện của Nguyễn Tuân thể hiện góc nhìn thế giới qua hành động Với tình huống truyện được xây dựng theo hướng kịch hoá thường lấy một hành động nhân vật làm nòng cốt Mọi vấn đề của tác phẩm thường xoay quanh việc phân tích hành động giàu xung đột, giàu kịch tính Từ đó yêu cầu cốt truyện gay cấn: sự kiện, hành động tập trung trong một tình huống điển hình và đòi hỏi kết thúc bất ngờ; lời trần thuật thường ngắn gọn, tính chất khẩu ngữ, tính chất cá thể hoá ngôn ngữ rất đậm nét
Qua tình huống truyện, nhà văn phản ánh được hoàn cảnh, hiện thực của xã hội nước ta trước Cách mạng tháng Tám, đó là những mâu thuẫn của
xã hội, suy đồi của xã hội đương thời
2.2.1.3 Tình huống trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân)
Xác định tình huống truyện
Sau khi lướt qua các tình tiết trong truyện ( Huấn Cao rỗ gông, Huấn Cao nhận cơm rượu, Huấn Cao xúc phạm Quản Ngục, Huấn Cao ân hận, Huấn Cao cho chữ…) ta thấy những tình tiết ấy đã họp lại để làm thành một
sự kiện lớn hơn, và trong đó mới chứa cái "tình thế nảy ra truyện" Sự kiện
lớn ấy là : cuộc gặp gỡ oái oăm giữa Huấn Cao và Quản ngục
Trang 40Phân tích tình huống
Diện mạo của tình huống Nó oái oăm vì ba lí do sau :
Lí do thứ nhất: Không gian và thời gian diễn ra cuộc gặp gỡ Không
gian là nhà tù Đây không phải là nơi dành cho những cuộc gặp gỡ Người ta vẫn nói : có hai nơi mà con người không nên gặp nhau là nhà tù và bệnh viện
Vì thế nhà tù chỉ là nơi gặp gỡ ngoài ý muốn, trái khoáy, bất đắc dĩ Thời gian
là những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường của Huấn Cao Không gian
và thời gian như thế đã góp phần tạo nên kịch tính cho tình huống
Thứ hai: Sự éo le trong thân phận hai nhân vật Trước hết, xét ở bình
diện xã hội, họ là hai kẻ đối địch : Huấn Cao là "giặc" của triều đình - Quản ngục lại là quan của triều đình Nói một cách khác : Một người dám cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình mục nát - Một người lại là viên quan đại diện cho bộ máy cai trị của chính triều đình mục nát ấy Sau nữa, xét ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri kỉ… Huấn Cao có tài hoa và khí phách còn Quản ngục lại ngưỡng mộ khí phách và tài hoa Huấn Cao chỉ cúi đầu trước “thiên lương” cao khiết của con người, trong khi đó Quản ngục lại là "một tấm lòng trong thiên hạ" Người nào cũng có những phẩm chất cao quí mà người kia khát khao ngưỡng mộ Sự éo le càng tăng gấp bội, bởi lẽ, Quản ngục bị đẩy đến trước một lựa chọn nghiệt ngã đầy tính xung đột Ông ta chỉ được chọn
một trong hai cách hành động, mà không thể dung hoà cả hai : Một là, muốn tròn chức phận quan lại thì chà đạp lên lòng tri kỉ Nếu hành động theo
hướng này, Quản ngục là kẻ tầm thường Vì ông ta không dám thuỷ chung với những gì mình cho là cao quí, sẵn sàng phản bội lại những gì mình tôn thờ
Và câu chuyện sẽ là khúc bi ca hoặc trang phẫn nộ về thực tại chỉ có chỗ cho
sự tầm thường Thực tại này chỉ có sự tầm thường ngự trị Hai là, nếu trọn đạo tri kỉ thì phải phớt lờ chức phận quan lại Nếu hành động theo hướng
này, Quản ngục là người cao quí Vì thuỷ chung với những giá trị cao quí mình tôn thờ, ông ta đã dám bất chấp sự thiệt thòi về quyền lợi lẫn sự an nguy