1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc - hiểu các văn bản báo cáo, chiếu theo đặc trưng thể loại (KL03742)

81 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 606,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, cần dạy một cách thật kĩ lưỡng để học sinh thấy được vẻ đẹp cụ thể của văn bản ấy, nhưng đồng thời cũng giúp học sinh biết cách đọc, cách phân tích một bài ca dao, một bài thơ, m

Trang 1

ĐỌC HIỂU CÁC VĂN BẢN CÁO, CHIẾU THEO ĐẶC

TRƯNG THỂ LOẠI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, của các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ Văn, đặc biệt là của thầy giáo,

Th.S - GVC Vũ Ngọc Doanh Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các

thầy giáo, cô giáo đã giúp tôi hoàn thành khóa luận một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2011 Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Hoa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan việc lựa chọn đề tài của khóa luận và kết quả điều tra nghiên cứu là kết quả của cá nhân tôi dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Vì thế, khóa luận của tôi không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Hoa

Trang 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Đóng góp của khóa luận

8 Cấu trúc của khóa luận

1.1.3 Đọc – hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học 12

2.1.4 Văn bản nghị luận trung đại

2.2 Đặc trưng của các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu

2.2.1 Các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu thường được viết bởi những người có trọng trách lớn, có địa vị trong xã hội và đối tượng tiếp nhận

được xác định rõ ràng Mỗi một văn bản thường đánh dấu một sự kiện

trong đại nào đó trong lịch sử dân tộc

22

23

23 2.2.2 Các văn bản hành chính xưa nói chung và các văn bản thuộc thể

Trang 5

cáo, thể chiếu nói riêng mang tính quy phạm rất rõ Mỗi một loại đều

2.2.3 Các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu còn mang tính nghệ thuật

Nó được thể hiện ở việc sử dụng các điển tích, điển cố; các hình ảnh ước lệ, tượng trưng để tác động mạnh mẽ vào xúc cảm của người đọc 25 2.2.4 Lời của các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu thường được cấu tạo theo lối biền ngẫu, mỗi câu có hai vế cân đối nhau về số từ, giống nhau

về kết cấu ngữ pháp, đối nhau về ý và thanh điệu Do đó làm cho lời văn giàu nhạc tính, đem lại giá trị nghệ thuật cao 27 2.3 Những khó khăn trong việc dạy các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu trong nhà trường phổ thông hiện nay

2.3.1 Khoảng cách thời gian

27

28 2.3.2 Khoảng cách về không gian

2.4.4 Đọc phân tích, cắt nghĩa đánh giá hệ thống luận điểm, cách lập

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sau cách mạng tháng Tám, bộ môn Văn học được nhìn nhận như một

bộ môn có sức mạnh to lớn, có nhiệm vụ giáo dục một cách có hiệu quả cho thanh, thiếu niên lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng, tinh thần dân tộc và ý thức dân chủ, tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản Hòa bình lập lại năm 1954, lại được bổ sung, nhấn mạnh thêm về khía cạnh nghệ thuật, khía cạnh thẩm mĩ bộ môn Văn đã phát huy tác dụng được một thời gian khá dài Cho đến nay, bộ môn Văn luôn giữ vị trí là một môn học chính trong nhà trường phổ thông Những nhà nghiên cứu hiện nay luôn coi trọng việc dạy học Văn sao cho đạt hiệu quả cao nhất Khi đi sâu vào nghiên cứu, vấn đề này đã gặp không ít những khó khăn

Chương trình Ngữ Văn mới hiện nay được biên soạn dựa trên một hệ thống các nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc thể loại Các tác phẩm, văn bản lựa chọn sắp xếp theo thể loại và thông qua việc đọc – hiểu có thể cung cấp những kiến thức, kĩ năng, năng lực tự đọc, giáo dục nhân cách cho học sinh Vì vậy, cần dạy một cách thật kĩ lưỡng để học sinh thấy được vẻ đẹp cụ thể của văn bản ấy, nhưng đồng thời cũng giúp học sinh biết cách đọc, cách phân tích một bài ca dao, một bài thơ, một truyện ngắn, hay một bài văn chính luận nào đó…Vì vậy, vấn đề thể loại trong thực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà còn là một vấn đề phương pháp

Các văn bản văn học trung đại nói chung và các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam Đã có rất nhiều áng văn trở thành mẫu mực, bất hủ của dân tộc

và trên toàn thế giới Những thể loại này thường gắn trực tiếp với đời sống của quốc gia trong những thời điểm đặc biệt Do thấy được tính nhật dụng của các văn bản này, cho nên chương trình phân ban THPT hiện nay đã đưa chúng vào việc dạy học Ngữ Văn

Trang 7

Tuy nhiên, việc dạy và học các văn bản văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn bởi những khoảng cách về ngôn ngữ, về thời gian, về không gian một phần cũng do người dạy chưa nắm được những đặc trưng thể loại Hiểu được những văn bản đó chẳng phải là chuyện dễ dàng gì; truyền thụ cái hay, cái đẹp của nó cho người học hiểu được lại càng khó khăn hơn Vấn đề có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là rào cản về ngôn ngữ, bởi những tác phẩm ấy đều được viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm có phần xa lạ với ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại hôm nay Thêm vào đó, người tiếp nhận văn bản ấy dù muốn hay không là phải có một nền kiến thức khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điển cố điển tích, thể loại văn học

Do vậy, việc dạy các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu hiện nay vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn Thường thì người ta cứ dạy nó như những văn bản thông thường mà không bám sát vào đặc trưng của từng thể loại cụ thể Từ đó, dẫn đến một hệ quả tất yếu là: gây ra cảm giác khô khan, nhàm chán cho học sinh phổ thông Trong phạm vi bài viết này, với những vấn đề lí luận và thực tiễn đã được nghiên cứu, rất mong sẽ đóng góp một phần vào việc đem lại hiệu quả cho một giờ dạy các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về thể loại, về đọc – hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường là vấn đề không hoàn toàn mới mẻ Đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt được những thành tựu, có tác dụng làm nền tảng mở ra nhiều con đường tiếp nhận và giảng dạy khác nhau như:

* Các công trình nghiên cứu về giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể:

- Người đầu tiên đề cập đến là tác giả Trần Thanh Đạm trong công

trình nghiên cứu “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể” đã đi sâu

vào nghiên cứu vấn đề thể loại và đưa ra các phương pháp giảng dạy theo đặc trưng từng thể loại

Trang 8

- Tiếp đó là tác giả Trần Đình Chung trong “Dạy học các văn bản

theo đặc trưng thể loại”

- Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong “Hiểu văn, dạy văn” đã đưa ra

phương pháp dạy theo đặc trưng thể loại

- Cuốn “Thi pháp hiện đại” của Đỗ Đức Hiểu có nội dung quan trọng

là thi pháp truyện và giảng dạy truyện Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ là mới thành công trên lĩnh vực nghiên cứu phê bình, chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy

- Giáo trình “Lí luận văn học” của trường Đại học Sư phạm do giáo sư

Phương Lựu (chủ biên)

- Giáo trình “Lí luận văn học” của trường Đại học Sư phạm do giáo sư

Hà Minh Đức (chủ biên)

* Các công trình nghiên cứu về đọc – hiểu:

- “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa

lớp 10 THPT môn Ngữ Văn”

- “Đọc và tiếp nhận văn chương”_GS.TS Nguyễn Thanh Hùng

- “Tiếp cận văn học”_Nguyễn Trọng Hoàn Ở cuốn này, tác giả đã

trình bày lí thuyết tiếp nhận, sự tối ưu của phương pháp đọc – hiểu song mới chỉ là khái quát

- Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn “Rèn tư duy sáng tạo cho học sinh

trong dạy học tác phẩm văn chương” cũng đề cập đọc – hiểu là một phương

thức tiếp cận tác phẩm

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể loại, nghiên cứu về đọc – hiểu Điều đó cho thấy vấn đề thể loại là không hoàn toàn mới mẻ Các nhà nghiên cứu đã đạt được những thành tựu rực rỡ làm cơ sở cho việc giảng dạy Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng các công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu chung về thể loại, về đọc – hiểu một thể loại, một tác gia cụ thể Với

tư cách một người giáo viên dạy văn tương lai, chúng ta có tinh thần tiếp thu, học tập, kế thừa và vận dụng những thành tựu đó vào giảng dạy các tác phẩm

Trang 9

thuộc thể cáo, thể chiếu trong nhà trường Để từ đó rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết để đọc – hiểu một tác phẩm chính luận nói chung

 Các công trình nghiên cứu về thể cáo, thể chiếu:

- Lê Trí Viễn trong cuốn “Cơ sở Ngữ Văn Hán – Nôm” (tập 3) đã

nghiên cứu khá rõ về các thể như: cáo, biểu, hịch, chiếu…

- Giáo sư Trần Đình Sử với công trình “Mấy vấn đề thi pháp văn học

trung đại Việt Nam”

- Lại Nguyên Ân trong bài viết “Các thể tài chức năng trong văn học

trung đại Việt Nam” (Tạp chí văn học số 1/1997) cũng đã nghiên cứu về chức

năng của các thể tài trong văn học trung đại

Các thể loại: cáo, chiếu đều có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc cổ đại Cho đến nay, cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các thể tài

này tuy nhiên vẫn chưa có tài liệu cụ thể nào nghiên cứu về việc “Đọc – hiểu

các văn bản cáo, chiếu theo đặc trưng thể loại” Điều này dễ dẫn đến tình

trạng người dạy chưa nắm rõ được đặc trưng thể loại và việc vận dụng phương pháp dạy học các văn bản Ngữ Văn vẫn còn gặp nhiều khó khăn

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu muốn góp phần nâng cao chất

lượng và hiệu quả của việc dạy học các thể loại cáo, chiếu ở nhà trường phổ

thông, trong đó có: “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi và “Chiếu cầu

hiền” của Ngô Thì Nhậm

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn dạy đọc – hiểu văn bản Ngữ Văn nói chung, các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu nói riêng

Từ việc xác định được đặc trưng thể loại, kiểu văn bản và nhiệm vụ dạy

học Văn theo hướng đổi mới để hướng dẫn học sinh “Đọc – hiểu các văn

bản cáo, chiếu theo đặc trưng thể loại” ở bậc THPT

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy đọc – hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu ở THPT và thực nghiệm thiết kế bài soạn

Phạm vi nghiên cứu: Văn bản “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi và

“Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát Phương pháp so sánh Phương pháp phân tích Phương pháp tổng hợp – khái quát Phương pháp thực nghiệm

7 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận này hi vọng trên cơ sở những đặc điểm về thể loại, về đọc – hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu sẽ góp phần nào vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn hiện nay

8 Cấu trúc của khóa luận

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.1.1 Vấn đề thể loại

* Thể loại là gì?

Theo Từ điển tiếng Việt 2008, thể loại là “hình thức sáng tác văn học,

nghệ thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn ngữ” [15; tr1159]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại là “dạng thức của tác phẩm

văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của các mối quan hệ của nhà văn đối với các loại hiện tượng đời sống ấy” [3; tr299]

Thực chất, thể loại là một khái niệm kép bao gồm: khái niệm về thể và khái niệm về loại

Loại (loại hình, chủng loại): Chỉ hình thức tồn tại chỉnh thể duy nhất của tác phẩm văn học Nó cho người ta biết phương thức nhà văn sử dụng chiếm lĩnh, tái hiện đời sống và thể hiện tư tưởng Đồng thời, nó quy định cách thức giao tiếp với tác giả thông qua tác phẩm

Thể (thể tài, kiểu, dạng): là hình thức tổ chức ngôn ngữ và quy mô tác phẩm

Nếu loại hình văn học mang tính ổn định, bền vững, số lượng hữu hạn thì thể thường xuyên vận động, biến đổi và có số lượng phong phú hơn

Tóm lại, loại thể là hệ thống chỉnh thể của tác phẩm Nó chỉ quy luật loại

hình của tác phẩm trong đó một nội dung tương ứng với một hình thức nhất

Trang 12

định Trong một loại thể bao giờ cũng có sự thống nhất về đề tài, chủ đề, cảm hứng, hệ thống nhân vật, hệ thống kết cấu lời văn

* Phân loại

Dựa vào phương thức phản ánh hiện thực, Arixtot trong cuốn “Nghệ thuật thi ca” đã chia tác phẩm văn học làm ba loại: Tự sự, trữ tình, kịch Trong mỗi loại bao gồm một số thể loại như thể loại tự sự có các thể truyện, kí…Loại trữ tình có các thể như thơ ca, ngâm khúc…Loại kịch có các thể: Chính kịch, bi kịch, hài kịch…Và trong mỗi thể lại có các thể nhỏ hơn như trong thể kí có các thể: Phóng sự, kí sự, hồi bút, bút kí…

* Mối quan hệ và tác động qua lại giữa các thể loại

Sự phân chia thể loại mang tính chất tương đối Trong quá trình phát triển văn học, các thể loại văn học luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Đó không phải là những tác động loại trừ mà là tác động hỗ trợ, bổ sung cho nhau Trong thể loại này có chứa yếu tố của thể loại kia Ví dụ, chúng ta có thể tìm thấy yếu tố tự sự trong tác phẩm trữ tình như thơ trữ tình chính trị của

Tố Hữu hay yếu tố trữ tình trong một số tác phẩm tự sự như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

* Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học

Hoạt động tiếp nhận như là cơ sở lí thuyết của phương pháp dạy học, thuộc về khoa học giáo dục Vấn đề thể loại thuộc phạm trù lí luận văn học, khoa học cơ bản của khoa văn học Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi loại văn mang trong mình một hình thức đặc thù và một nội dung,

nó quy định cách thức giao tiếp của bạn đọc với tác giả

Lí thuyết về thể loại được sử dụng như công cụ quan trọng trong tiếp nhận tác phẩm văn học Thể loại là phương thức nhà văn sáng tạo tác phẩm

Tiếp nhận tác phẩm không chỉ biết tác phẩm viết gì mà còn phải biết tác phẩm sáng tạo bằng cách nào Tức người đọc phải đi lại con đường tác giả sáng tạo tác phẩm Mỗi loại văn quy định cách tiếp nhận khác nhau Chọn con

Trang 13

đường tiếp cận theo kiểu đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại tức người giáo viên chỉ đạo học sinh cắt nghĩa, lí giải các khía cạnh của tác phẩm theo các đặc trưng thể loại Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi tập trung vào thể loại cáo và chiếu Đây chính là các thể văn chính luận có từ thời trung đại

1.1.1.2 Thể cáo, chiếu

Các văn bản thuộc thể cáo, chiếu trước hết là những văn bản chính luận (hành chính quan phương)

* Văn chính luận

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: văn chính luận là “thể văn nghị luận

viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa….” [3; tr400]

Văn chính luận là một thể loại có vị trí quan trọng trong đời sống nhân loại Đã có rất nhiều áng văn trở thành mẫu mực, bất hủ của từng dân tộc và trên toàn thế giới Là thể loại gắn trực tiếp với đời sống của từng quốc gia trong những thời điểm đặc biệt

Văn chính luận trung đại bao gồm nhiều thể như: Cáo, chiếu, điếu trần, hịch, tựa, tiểu luận, tuyên ngôn, lời kêu gọi…Những tác phẩm dù khác nhau

về thời điểm ra đời, khác nhau về loại hình văn hóa nhưng chúng đều có sức hấp dẫn đặc biệt bởi tính trí tuệ uyên bác và tình cảm sâu sắc của người chấp bút

* Cáo, chiếu

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, cáo “Là một thể văn thư có cội nguồn

từ Trung Quốc, nhà vua dùng để ban bố cho thần dân nhằm trình bày chủ trương, công bố kết quả một sự nghiệp” [3; tr45] Cáo có thể được viết bằng văn xuôi (tản văn) nhưng phần nhiều được viết theo thể văn biền ngẫu”

“Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được viết bằng văn biền ngẫu

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Chiếu “Là một thể văn thư có cội

nguồn từ Trung Quốc, nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân” [3;

Trang 14

tr60] Thể văn này có khi còn gọi là chiếu thư, chiếu chỉ Chiếu có thể được

viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu” “Chiếu cầu hiền” của Ngô

Thì Nhậm được viết bằng văn xuôi

1.1.2 Hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.2.1 Vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học

Theo Từ điển tiếng Việt 2008 tiếp nhận là “đón nhận cái từ người khác,

nơi khác chuyển giao cho”.[15; tr1225]

Theo giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong “Đọc và tiếp nhận tác phẩm

văn chương” cho rằng “tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố

và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trong đời sống”

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học là “hoạt động

chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu,

ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể….” [3; tr325]

Về thực chất, tiếp nhận tác phẩm văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo Trong tiếp nhận văn học, người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt, vừa quên mình, nhập thân vừa sống

và thể nghiệm nội dung của tác phẩm vừa phân thân, duy trì khoảng cách thẩm mĩ để nhìn nhận tác phẩm từ bên ngoài, để thưởng thức tài nghệ hoặc nhận ra điều bất cập, hoặc cắt nghĩa khác với tác giả

Nếu trong đời sống việc tiếp nhận tác phẩm văn học thường do tính tự phát bởi nhu cầu, thị hiếu của mỗi cá nhân cũng như mục đích tiếp nhận của mỗi cá nhân là không giống nhau thì tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhà

Trang 15

trường trung học phổ thông là hoạt động mang tính tự giác và có mục đích rõ ràng Việc giảng dạy tác phẩm văn học thực chất là tổ chức cho người học cách đọc các tác phẩm, do vậy mục đích của dạy học là giúp học sinh hiểu và cảm nhận tác phẩm từ đó các em tự hoàn thiện nhân cách của mình

1.1.2.2 Phương thức sáng tạo của nhà văn

Thời đại, tác phẩm, nhà văn, bạn đọc là bốn yếu tố tạo nên quá trình sáng tác và thưởng thức văn học Trong đó, nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo giữ vai trò quan trọng nhất

Phương thức sáng tạo của nhà văn bắt nguồn từ sự quan sát đối tượng thẩm mĩ khách quan trong thời đại và quan sát nhu cầu thị hiếu của người đọc Mục đích của hoạt động sáng tạo là biến đối tượng thẩm mĩ khách quan thành nhu cầu thẩm mĩ xã hội Quá trình biến đổi ấy là quá trình sáng tác Nhưng trong quá trình sáng tác, nhà văn đã sử dụng phương thức nào để sáng tạo tác phẩm?

Thể loại chính là phương thức nhà văn sáng tạo tác phẩm Theo sự phân chia thông thường, tác phẩm văn học gồm: tự sự, trữ tình, kịch

Nếu tác phẩm trữ tình lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người làm đối tượng thể hiện chủ yếu, tác phẩm kịch thông qua lời thoại và hành động của các nhân vật để thể hiện những xung đột xã hội thì tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực cuộc sống bằng các hình ảnh khách quan

Về phương diện triết học, khách quan ở đây phải được hiểu là khách quan 2 Khách quan 1 chính là đời sống Nhà văn nhận thức khách quan 1 phản ánh vào trong tác phẩm thông qua lăng kính chủ quan của mình trở thành khách quan 2 chính là nội dung tác phẩm Như vậy, trong tác phẩm văn học có nội dung khách quan và nội dung chủ quan Nói cách khác, khách quan được phản ánh thông qua nhận thức, đánh gía của nhà văn Như vậy, quá trình sáng tác của nhà văn là khách quan 1  nhận thức  đánh giá  biểu tượng khách quan 2 (tác phẩm tự sự)

Trang 16

Việc tìm hiểu phương thức sáng tạo của nhà văn là điều kiện, tiền đề cho việc tiếp nhận văn học đúng hướng

1.1.2.3 Cơ chế hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học

Cơ chế hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học gồm bốn bước: Đọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá Các tác phẩm cáo, chiếu cũng dựa trên cơ chế ấy

* Hoạt động đọc

Đó là sự khởi đầu việc tiếp nhận văn bản, đây là hoạt động sáng tạo và mang tính trực cảm Văn bản tồn tại khách quan, là hình thức ngôn ngữ được

tổ chức theo một kiểu, loại nào đó tùy thuộc vào chức năng nó thực hiện hoặc

bị quy định bởi phương thức sáng tạo mà nhà văn lựa chọn Mục đích của đọc

là hiểu văn bản Mỗi loại văn bản khác nhau có cách đọc khác nhau Đặc biệt khi đọc các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu lại khác so với các văn bản thuộc thể loại tự sự hay trữ tình khác

* Hoạt động phân tích

Là bước người đọc đi khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuy nhiên, cũng không thể đi phân tích tất cả các yếu tố cấu thành tác phẩm mà chỉ có thể tiến hành với một số yếu tố Điều này buộc sau khi phân tích chia nhỏ đối tượng thành các phần nhỏ cần thực hiện thao tác lựa chọn Khi lựa chọn phải xây dựng hệ thống tiêu chí phù hợp Tiêu chí ấy được xác định bởi các căn cứ như chất lượng của cái được lựa chọn, đặc trưng của mỗi thể loại

Trang 17

chương bao giờ cũng kèm theo đánh giá, bình giá tác phẩm với những quan điểm tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm mĩ đậm màu sắc cá nhân

* Hoạt động bình giá

Hoạt động bình giá là hoạt động cuối cùng của quá trình tiếp nhận tác phẩm Bình giá là hoạt động dựa trên các căn cứ của hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa Nó đòi hỏi tri thức sâu sắc, có hiểu biết phong phú về văn học nghệ thuật, tấm lòng chính trực Hoạt động bình giá giúp người đọc tiếp nhận tác phẩm sâu sắc và trọn vẹn

Tóm lại, tiếp nhận tác phẩm văn học bao gồm một hệ thống các hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và trình tự hệ thống này không thể đảo ngược Đọc là hoạt động định hướng cho

sự phân tích, hoạt động cắt nghĩa xác định tính chính xác của nội dung phân tích, hoạt động bình giá mở rộng, đi sâu hơn vào giá trị tác phẩm bằng sự phong phú và đầy cá tính của tiếp nhận tác phẩm

Trên đây là cơ chế tiếp nhận tác phẩm văn học Có nhiều con đường để người học đến với tác phẩm văn học, con đường đặc thù và có hiệu quả nhất vẫn là thông qua hoạt động đọc Hoạt động này không thể được thay thế bằng bất kì một hoạt động nào khác như hoạt động nghe hoặc nhìn Nhưng thực chất, khi đọc văn, học văn, người học còn bắt gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết đặc biệt là khó khăn về khoảng cách

1.1.3 Đọc – hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.3.1 Quan niệm về đọc – hiểu

Đọc là hoạt động văn hóa đặc trưng của con người nhằm tiếp nhận thông tin, hướng tới thỏa mãn một nhu cầu nào đó của cuộc sống Muốn đọc thì phải học, phải biết chữ để nhìn vào kí hiệu ngôn ngữ, cách phát âm để chuyển các kí hiệu thành tín hiệu âm thanh

Đọc là hoạt động văn hóa vì đọc không chỉ chuyển các kí hiệu thành tín hiệu âm thanh mà mục đích của đọc là tiếp nhận thông tin, hiểu được nội dung thông tin từ văn bản Do vậy, cần phải học để có một vốn văn hóa, vốn

Trang 18

hiểu biết nhất định ở mức phổ thông sau đó chuyên sâu vào lĩnh vực nào đó

có liên quan đến công việc, mục đích của mình

Hiểu là mục đích trực tiếp của người học Hiểu nghĩa là người học nắm được thông tin chứa đựng trong văn bản, nhận ra bản chất thông tin đó, hiểu

ra ý đồ người cung cấp thông tin Hiểu cần được xem xét trên một nghĩa rộng,

nó bao gồm nhiều cấp độ: nắm được thông tin, nhận ra các tầng ý nghĩa có trong văn bản Hiểu cũng có nghĩa là đặt các nội dung thông tin của các văn bản ấy trong các mối quan hệ khác nhau: quan hệ với bản thân người đọc, môi trường văn hóa lúc hoạt động đọc diễn ra, môi trường lịch sử để hiểu đúng nội dung thông tin trong văn bản

Hiểu là mục đích trực tiếp của việc đọc văn bản nhưng hiểu không phải mục đích cuối cùng của việc dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ Văn Hiểu chỉ là điều kiện thực hiện mục tiêu của môn Văn Tất cả những hiểu biết có được thông qua đọc hiểu như tri thức, phương pháp, kĩ năng sẽ trở thành công cụ, phương tiện để người học tiếp thu học tập, làm việc, sống một cách bình thường

Tóm lại, đọc – hiểu là một hình thức tổ chức dạy học các văn bản Ngữ

Văn hay một kiểu dạy học Để thực hiện được kiểu dạy này người ta bắt buộc phải sử dụng các phương pháp đọc, diễn giải, thuyết trình, vấn đáp… để đạt được mục tiêu chiếm lĩnh đối tượng, chuyển các đối tượng vốn tồn tại khách quan bên ngoài mỗi cá nhân thành vốn hiểu biết mỗi cá nhân

1.1.3.2 Đọc – hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là sản phẩm của sự sáng tạo và hư cấu tưởng tượng Vì vậy, để cảm được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học thì trước tiên ta phải hiểu được nội dung tác phẩm Do đó, đọc là con đường đặc thù của việc dạy học tác phẩm văn chương Chỉ thông qua đọc mới tiếp cận được văn bản, từ đó tiếp nhận tác phẩm Nên trong dạy học văn, giáo viên phải dạy học sinh học đọc để học văn, từ đó hình thành năng lực đọc, rèn luyện kĩ năng đọc, dần dần nâng cao thành văn hóa đọc cho học sinh

Trang 19

Mặt khác, đọc hiểu văn bản không chỉ giúp học sinh tìm hiểu thế giới nghệ thuật, nhận thức về đời sống mà còn tạo ra sự đồng điệu, đồng sáng tạo giữa tác giả và bạn đọc từ đó rút ngắn khoảng cách giữa người đọc và nhà văn

Như vậy, đọc hiểu chính là con đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học

1.2 Cơ sở thực tiễn

Phúc Nguyên trong báo văn nghệ số 36 (9/9/2006) đã nhận xét thực trạng dạy học văn hiện nay : “theo một lối mòn quá cũ giáo viên chỉ làm nhiệm vụ rót kiến thức vào bình chứa học sinh” mà không cần biết các em có

“tiêu hóa” được kiến thức đó không, còn học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động để rồi trả lời thầy nguyên si như thế và làm theo những ý tưởng của thầy học theo nhưng bài mẫu có sẵn Cách dạy học theo kiểu này đã thủ tiêu vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ văn, không khơi dậy những tiềm năng văn học của học sinh”

Lâu nay, việc dạy các tác phẩm văn học trong trường phổ thông nói chung thường theo chủ đề, nội dung mà chưa thực sự chú ý đến đặc trưng từng thể loại nên việc dạy tác phẩm vẫn theo lối xáo mòn, áp đặt, chưa có sự bao quát và thấy được sự phối hợp giữa nội dung và hình thức của tác phẩm

để tạo nên một chỉnh thể tác phẩm hoàn chỉnh

Mặt khác, tình trạng phổ biến của học sinh hiện nay là đọc văn bản không nghiêm túc nên khó nắm vững nội dung tác phẩm Bởi vậy, học sinh chưa hiểu kĩ, hiểu sâu về tác phẩm Do đó, cùng phương hướng đổi mới phương pháp dạy và học thì dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nói chung và các tác phẩm nghị luận trung đại trong trường trung học phổ thông theo đặc trưng thể loại nói riêng phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh trong việc tiếp nhận tác phẩm

Các văn bản nghị luận trung đại chiếm một vị trí quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam Nó cũng góp phần tạo nên dòng chảy liên tục trong toàn bộ nền văn học của dân tộc Chương trình phân ban hiện nay thấy được

Trang 20

tính nhật dụng của thể loại này nên đã đưa vào dạy học ở nhà trường phổ thông nhiều văn bản đặc sắc với nhiều thể như: Cáo, chiếu, điếu trần, hịch, tựa, tiểu luận, tuyên ngôn, lời kêu gọi…

Việc dạy và học các văn bản nghị luận trung đại đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn ở cả phía người dạy lẫn người học Hiểu được những tác phẩm đó chẳng phải là chuyện dễ dàng gì; truyền thụ cái hay, cái đẹp của nó cho người học hiểu được lại càng khó khăn gấp bội phần Vấn đề có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là rào cản ngôn ngữ, bởi những tác phẩm ấy đều được viết bằng ngôn ngữ Hán văn cổ hay chữ Nôm có phần xa

lạ với ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại hôm nay Thêm vào đó người tiếp nhận văn bản đó dù muốn hay không là phải có một nền kiến thức khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điển tích điển cố, thể loại văn học

Trang 21

CHƯƠNG 2 ĐỌC – HIỂU CÁC VĂN BẢN CÁO, CHIẾU

THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

2.1 Văn bản và văn bản nghị luận trung đại

2.1.1 Văn bản

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn bản:

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Bất cứ đối tượng nào được phân

tích hoặc giải thích đều là văn bản” [3; tr394] Nếu hiểu như vậy thì văn bản

là bất kì chuỗi kí hiệu nào có khả năng đọc ra nghĩa được, bất kể là có do kí hiệu ngôn ngữ tạo thành hay không: một nghi thức, một điệu múa, một nét mặt, một bài thơ…đều là văn bản

“Từ điển từ và ngữ Hán Việt” cho rằng: “văn bản là tờ giấy có chữ ghi nội dung một sự kiện” [7; tr768]

Theo “Từ điển tiếng Việt” thì: “Văn bản là một chuỗi kí hiệu ngôn ngữ

hay nói chung là những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó làm thành một chỉnh thể mang nội dung ý nghĩa trọn vẹn”[15; tr1360]

Các tác giả trong SGV Ngữ văn, lớp 10, tập 1 quan niệm: Văn bản “là

một chỉnh thể ngôn ngữ về mặt nội dung và hình thức Văn bản là sự nối tiếp của nhiều câu, nhiều đoạn, chương, phần…Tuy nhiên những thành tố này phải mang tính hệ thống nhất định và toàn văn bản phải có những đặc trưng thống nhất” Cụ thể là:

- Về mặt nội dung: Các câu, các đoạn gắn kết với nhau về nghĩa, cùng tập trung thể hiện một chủ đề

- Về mặt hình thức: Các câu trong văn bản có những mối quan hệ, liên

hệ nhất định Toàn bộ những mối liên hệ ấy tạo nên cấu trúc của văn bản

Văn bản phải có tính mạch lạc Nó thể hiện ở việc sử dụng các phương tiện liên kết câu, các phần với nhau để tạo thành văn bản

Trang 22

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về văn bản nhưng nhìn chung chúng ta có thể hiểu: Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, là một tập

hợp kí hiệu ngôn ngữ (nói – viết) được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ,

hoàn chỉnh về mặt hình thức và trọn vẹn về mặt nội dung

2.1.2 Văn bản văn học

Chúng ta biết rất nhiều loại văn bản: miêu tả, tự sự, thuyết minh…Trong đó có một số văn bản được gọi là văn bản văn học Vậy, văn bản văn học là gì? Mỗi thời đại, mỗi quốc gia có thể có những quan niệm khác nhau Ở đây người viết xin dẫn ra quan niệm về văn bản văn học của SGK Ngữ văn lớp 10, tập 2 Các tác giả đưa ra một số tiêu chí sau để nhận diện văn bản văn học:

Tiêu chí thứ nhất: Văn bản văn học (truyện cổ tích, bài thơ, cuốn tiểu

thuyết…) là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám

phá thế giới tư tưởng, tình cảm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Những chủ đề như: tình yêu, hạnh phúc, băn khoăn đau khổ, khát vọng vươn đến chân-thiện-mĩ…thường trở đi trở lại với những chiều sâu và sắc thái khác nhau trong văn bản văn học

Tiêu chí thứ 2: Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ

thuật, có hình tượng,có tính thẩm mĩ cao Sử dụng nhiều phép tu từ (ẩn dụ,

nhân hóa, so sánh, hoán dụ, tượng trưng…) Văn bản văn học thường hàm

súc, gợi lên nhiều liên tưởng, tưởng tượng Văn bản nào cũng phải có nghĩa Văn bản văn học cũng vậy Nhưng khi xác định một văn bản văn học phải chú

ý đến phẩm chất của ngôn từ diễn đạt

Có những văn bản lúc ra đời nhằm những mục đích thực tiễn, về sau lại được xem là văn bản văn học, khi ý nghĩa cao sâu đã hài hòa với cách diễn đạt hoàn hảo, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc

Tiêu chí thứ 3: Văn bản văn học được xây dựng theo một phương thức riêng Kịch bản có hồi, có ảnh, có lời đối thoại, độc thoại…Thơ thì có vần điệu, luật, có câu thơ, có khổ thơ…Truyện lại có những quy ước về xây dựng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, các loại lời văn…

Trang 23

Vậy, văn bản văn học trước hết là một văn bản mang đầy đủ các đặc điểm của một văn bản: hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung Tuy nhiên văn bản văn học cũng mang những đặc điểm riêng:

Về mặt nội dung: nó vừa phản ánh hiện thực khách quan, vừa phản ánh đời sống tâm tư, tình cảm của con người qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ

Về mặt hình thức: nó được xây dựng bằng ngôn ngữ riêng – ngôn ngữ nghệ thuật

Về mặt chức năng: Văn bản văn học ngoài chức năng giao tiếp, cung cấp các thông tin thông thường nó còn chứa đựng thông tin thẩm mĩ Đó là những tư tưởng, tình cảm, những trải nghiệm trường đời sâu sắc của các nhà văn Vì vậy, nếu không có tư tưởng, tình cảm đúng, không đồng cảm với niềm vui và nỗi đau của con người thì người đọc khó có thể hiểu được cái hay, cái đẹp của văn bản văn học

2.1.3 Văn bản nghị luận

2.1.3.1 Nghị luận là gì?

Theo “Từ điển từ và ngữ Hán Việt”: “Nghị luận là dùng lí luận phân

tích ý nghĩa phải trái” [7; tr415]

GS: Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Một số vấn đề về văn nghị luận

ở cấp 2” cho rằng “Nghị luận là bàn bạc, phân tích, đồng tình hay phản bác một vấn đề nào đó để tìm hiểu và thẩm định giá trị lý luận và thực tiễn của nó”.[4; tr10]

SGK Ngữ văn 11, tập 2 quan niệm: “Nghị luận là một thể loại văn học

đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức…) Vấn đề được nêu

ra như một câu hỏi cần giải đáp làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng hay sai, phải hay trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân

lý đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình” [14; tr110]

Trang 24

Tóm lại, nghị luận là dùng lý lẽ để bàn bạc về một vấn đề nào đó mà

người viết có thể đồng tình hay phản bác, nhằm thuyết phục người khác tin vào những điều mình nói, đồng tình với quan điểm của mình

2.1.3.2 Văn bản nghị luận là gì?

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về văn bản nghị luận:

Theo “Từ điển bách khoa toàn thư” của Mĩ: “Văn học là những sản

phẩm viết của xã hội bằng văn xuôi hoặc thơ Theo nghĩa rộng, văn học bao gồm tất cả các kiểu viết theo lối hư cấu hoặc không hư cấu” Theo định nghĩa

này thì văn nghị luận được xem là thể loại thuộc dạng thức không hư cấu

Như vậy nghĩa là: “Văn nghị luận không dùng đến một hoạt động cơ bản của

tư duy hình tượng mà dựa vào tư duy logic để trình bày tư tưởng, quan điểm nào đó của người viết”

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 92 – 96, cũng đưa ra quan

niệm: “Văn nghị luận là loại văn bản nhằm bàn bạc, thảo luận với người

khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề văn hóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học, nghệ thuật…Văn học nghị luận xem trọng năng lực lập luận dựa trên quy tắc logic và đặc điểm tư duy nhưng nó vẫn không loại trừ hình thức mĩ cảm của tư tưởng…Nét nổi bật trong văn bản nghị luận là lý lẽ và dẫn chứng đầy đủ, tiêu biểu để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm khêu gợi thuyết phục người đọc, người nghe hiểu rõ vấn đề, tin vào tính chất xác minh của sự lập luận và tán thành với quan điểm, tư tưởng của người viết để người đọc có thể vận dụng chúng vào cuộc sống xã hội và

cá nhân”.[4; tr5]

Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống: “Văn bản nghị luận là một thể loại

nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống…nhưng lại trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục” [16; tr189]

Trang 25

Văn nghị luận là thể loại đặc biệt của văn học (không dùng hư cấu tưởng tượng) Nó đề cập đến những vấn đề của đời sống: chính trị, văn hóa, triết học, đạo đức, lịch sử…nhằm trình bày quan điểm, thái độ của người viết bằng hệ thống lí lẽ và dẫn chứng tiêu biểu cùng những lập luận chặt chẽ thuyết phục Văn nghị luận không loại trừ những hình thức ngôn ngữ mĩ cảm nhưng đó chỉ là yếu tố phụ, minh họa, làm sáng tỏ cho lí lẽ mà người viết

muốn đưa ra

Văn nghị luận khác văn hư cấu, tưởng tượng Xét hai ví dụ sau:

Ví dụ 1: “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng

tiếng một vang ra để gọi buổi chiều Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời

Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào…”

(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

Ví dụ 2 : “Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục

mà không biết thẹn Làm tướng triều đình phải đầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm Hoặc lấy việc trọi

gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú ruộng vườn; hoặc quyến luyến vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát Nếu có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh ; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều; tấm thân quý ngàn vàng khôn chuộc vả lại vợ con bìu díu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của mua nhiều nhưng không mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe nhưng không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai Lúc bấy giờ ta cùng các người sẽ bị bắt đau xót biết chừng nào?”

(Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)

Trang 26

Đọc hai ví dụ trên người đọc có thể dễ dàng nhận ra ở ví dụ 1 là văn hư cấu còn ở ví dụ 2 là văn nghị luận Ở ví dụ 1 chỉ bằng một vài câu văn ngắn Thạch Lam đã tái hiện được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên phố huyện lúc chiều tà với đầy đủ âm thanh, đường nét, màu sắc Đó là âm thanh của tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve Đó là hình ảnh, màu sắc của ánh mặt trời đỏ rực như lửa cháy, đám mây ánh hồng, dãy tre làng đen lại Đó là đường nét của dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời Bằng ngôn ngữ giàu hình tượng , những câu văn êm dịu, có nhịp điệu chậm rãi, vừa giàu hình ảnh, vừa giàu nhạc điệu, lại vừa uyển chuyển tinh tế, Thạch Lam đã gợi được cái hồn của cảnh vật,cái thần thái của thiên nhiên,

làm hiện lên trước mắt người đọc “bức họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi và

gợi cảm Một bức tranh quê hương bình dị mà không kém phần thơ mộng, mang cốt cách Việt Nam

Ở ví dụ 2: Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề chính trị, liên quan đến vận mệnh của quốc gia dân tộc Đó là vai trò của tướng sĩ đối với triều đình và sự an nguy của đất nước Lời văn đanh thép, hùng hồn, lập luận chặt chẽ sắt đá, để thuyết phục tướng sĩ làm theo lời mình Tác giả lật đi lật lại vấn đề Ban đầu Trần Quốc Tuấn liệt kê tất cả các thú vui của tướng sĩ Sau đó để phủ định một điều: tất cả những thú vui ấy không thể đánh đuổi được quân giặc Và hệ quả tất yếu của lối sống thờ ơ, tiêu khiển là: các ngươi sẽ bị bắt Điều mà Trần Quốc Tuấn nói là điều mà tất

cả mọi người đều quan tâm Bằng những lí lẽ của mình, Trần Quốc Tuấn đã

dồn người nghe vào tình trạng “không thể chối cãi” tức là bị thuyết phục

hoàn toàn

Có thể khẳng định: Nếu như đích của văn miêu tả, kể chuyện là làm sống dậy trước mắt người đọc thần thái của sự vật, sự việc thì đích của văn bản nghị luận là để đưa thông tin và nói lí lẽ nhằm thuyết phục người đọc, người nghe Nếu văn miêu tả, kể chuyện tác động vào trí tưởng tượng của con

Trang 27

người, kích thích óc quan sát…thì văn nghị luận tác động mạnh mẽ vào nhận thức lý tính nâng cao khả năng lập luận, rèn luyện tư duy logic cho người viết

Tóm lại, văn nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt( không dùng hư

cấu tưởng tượng), thể hiện tư tưởng quan điểm, thái độ của người viết về các

vấn đề của đời sống văn hóa, nhân sinh…Những điều đó được trình bày bằng một hệ thống lí lẽ, dẫn chứng tiêu biểu với những lập luận chặt chẽ thuyết phục và một số ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, có màu sắc biểu cảm

2.1.3.3 Phân loại văn bản nghị luận

Văn nghị luận được sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội…Sự phân loại văn nghị luận có thể dựa trên hai tiêu chí:

- Căn cứ vào nội dung, đề tài, có 2 loại:

+ Nghị luận văn học là những bài luận về vấn đề văn học nào đó như chi tiết nghệ thuật, hình ảnh nghệ thuật, tác giả, tác phẩm, giai đoạn…

Ví dụ: “Tựa “Trích diễn thi tập”” của Hoàng Đức Lương, “Một thời

đại trong thi ca” của Hoài Thanh

+ Nghị luận xã hội là những bài nghị luận về một vấn đề chính trị, đạo đức, lối sống nào đó

Ví dụ: “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm, “Xin lập khoa luật” của Nguyễn Trường Tộ, “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn…

- Căn cứ vào loại hình văn học và giai đoạn văn học, có 3 loại:

+ Nghị luận dân gian Ví dụ: tục ngữ

+ Nghị luận trung đại Ví dụ: “Đại cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi,

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của Thân Nhân Trung…

+ Nghị luận hiện đại Ví dụ: “ Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi, “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ của dân tộc”

Trang 28

đời trong thời kì trung đại hay nói cách khác là ra đời trong thời kì phong kiến

2.1.4.2 Phân loại các văn bản nghị luận trung đại

Văn bản nghị luận trung đại khá phong phú,gồm nhiều thể tài khác nhau như: cáo, chiếu, văn bia, lời bình lịch sử…Mỗi thể tài đều có những nét đặc trưng riêng Vì vậy mà việc đọc hiểu mỗi văn bản lại có sự khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của nó Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi xin nêu một vài đặc trưng cơ bản của các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu để làm cơ

sở cho việc dạy các văn bản này ở trường phổ thông

2.2 Đặc trưng của các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu

2.2.1 Các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu thường được viết bởi những người có trọng trách lớn, có địa vị trong xã hội và đối tượng tiếp nhận được xác định rõ ràng Mỗi một văn bản thường đánh dấu một sự kiện trong đại nào đó trong lịch sử dân tộc

Công văn hành chính xưa gồm hai loại:

Một loại do cấp dưới đệ trình lên nhà vua hay triều đình (tấu, chương,

có địa vị trong xã hội

Ví dụ: “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi được công bố vào ngày

17/12/1428 trong không khí hào hùng của ngày vui độc lập, sau khi quân ta đánh thắng giặc Minh Nhân sự kiện đó Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết

“Đại cáo bình Ngô” để bố cáo với thiên hạ về điều đó

“Chiếu cầu hiền” của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết thay

vào khoảng 1788-1789 nhằm thuyết phục những sĩ phu Bắc Hà, tức các trí thức của triều đại cũ (Lê-Trịnh) ra cộng tác với triều đại Tây Sơn

Trang 29

Chính vì vậy mà các văn bản này thường mang tính quan phương Có

nghĩa là mỗi văn bản có sự phân chia chức vụ, địa vị theo chức năng của văn bản đó

2.2.2 Các văn bản hành chính xưa nói chung và các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu nói riêng mang tính quy phạm rất rõ Mỗi một loại đều chịu

sự quy định của thể tài:

Thể cáo thì thường có kết cấu 4 phần:

- Phần mở đầu: Nêu luận đề chính nghĩa

- Phần thứ hai: Lên án tội ác của quân thù

- Phần thứ ba: Kể lại quá trình chiến đấu và chiến thắng

- Phần thứ tư: Khép lại bằng lời tuyên bố thắng lợi

Ví dụ: “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi, gồm có 4 phần như sau:

- Phần mở đầu: Nguyễn Trãi nêu tư tưởng nhân nghĩa và khẳng định nước Đại Việt là nước có chủ quyền, có nền văn hóa riêng

- Phần thứ hai: Tác giả nêu tội ác của giặc Minh

- Phần thứ ba: Nêu quá trình dấy binh khởi nghĩa của quân dân ta dưới

sự lãnh đạo của Lê Lợi

- Phần thứ tư: Tuyên bố nền thái bình vừa mới giành lại được

“Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm cũng có kết cấu chặt chẽ gồm ba

 Hay trong thể hịch cũng có kết cấu bao gồm bốn phần:

- Phần thứ nhất: Nêu vấn đề cần quan tâm

Trang 30

- Phần thứ hai: Dẫn truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây tin cậy

- Phần thứ ba: Nhận định tình hình để gợi lòng căm thù

- Phần thứ tư: Kêu gọi đấu tranh

Ví dụ: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn

2.2.3 Các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu còn mang tính nghệ thuật Nó được thể hiện ở việc sử dụng các điển tích, điển cố; các hình ảnh ước lệ, tượng trưng để tác động mạnh mẽ vào xúc cảm của người đọc

Trong văn bản “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm đã sử dụng rất nhiều các điển cố, điển tích với mật độ dày đặc Và các điển cố điển tích ấy thường được lấy từ thi liệu trong văn thơ cổ Trung Quốc

Ví dụ: Chỉ trong 2 câu ngắn mà tác giả đã sử dụng đến 7 điển tích:

“Trước đây thời thế suy vi, Trung Châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở

ẩn trong ngòi khe(1), trốn tránh việc đời(2), những bậc tinh anh trong triều đương phải kiêng dè không dám lên tiếng(3) Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa(4), cũng có kẻ ra biển vào sông(5), chết đuối trên cạn(6) mà không biết, dường như muốn lẩn tránh(7) suốt đời.”

(1) Ở ẩn trong ngòi khe: dịch thoát chữ “khảo bàn” “Khảo bàn” là tên bài thơ trong thiên “Vệ Phong” của tuyển tập Kinh Thi Đây là thiên nói về

những người ở ẩn nơi ngòi khe

(2) Trốn tránh việc đời: Dịch thoát câu: “dụng củng vu hoàng ngưu”

(gói kĩ trong tấm da bò) trong Kinh dịch, ý nói kẻ ẩn dật trốn tránh việc đời khác nào tấm da bò bọc lấy đồ vật một cách vững chắc

(3) Kiêng dè không dám lên tiếng: Dịch thoát câu: “giới minh vu trượng

mã” (Ngựa chầu phải kiêng dè tiếng hí) ở đây ý nói các quan trong triều đều

giữ mình không dám lên tiếng

(4) Gõ mõ canh cửa: Dịch thoát câu: “kích đạc bảo quan” xuất xứ ở sách Mạnh Tử “kích đạc” là những người đánh mõ canh đêm, “bảo quan” là

người canh cửa, đều là những chức vụ thấp kém

Trang 31

(5) Ra biển vào sông: Sách Luận ngữ, thiên “vi tử” có đoạn chép về

những người đi ở ẩn thời cổ: “Cổ phương Thúc nhập vu hà, kích thánh Tương nhập vu hải” (quan đánh trống phương Thúc vào miền sông Hà, người đánh khánh là Tương đi ra bể) ở đây chỉ các ẩn sĩ mỗi người đi một phương

(6) Chết đuối trên cạn: dịch chữ “lục trầm” xuất xứ ở sách Trang Tử,

nói kẻ đi ở ẩn như người bị chết đuối trên cạn

(7) Lẩn tránh: dịch chữ “phì độn” xuất xứ ở quẻ Độn trong Kinh dịch

nói kẻ đi ở ẩn

Việc sử dụng những hình ảnh ước lệ tượng trưng cũng đem lại giá trị nghệ thuật cao cho các văn bản chính luận Đằng sau những hình ảnh ấy đã bộc lộ những tư tưởng và xúc cảm đặc biệt của tác giả

Ví dụ: Hình ảnh:

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”

(“Đại cáo bình Ngô” _ Nguyễn Trãi)

Ngoài việc chứa đựng thông tin: Lấy điển cũ nói về Trần Thắng, Ngô Quảng do khởi nghĩa quá gấp không kịp may cờ, giơ cần trúc làm cờ Câu thơ còn đem đến cho người đọc cảm xúc thẩm mĩ: thấy được khí thế hào hùng, quyết tâm đánh giặc của nhân dân ta

Đây cũng chính là một đặc điểm quen thuộc trong văn học trung đại

Do đặc điểm của các văn bản này là khô khan, khó hiểu, người viết chủ yếu trình bày về một vấn đề có giá trị lịch sử nào đó Việc đưa vào các hình ảnh ước lệ, tượng trưng và các điển cố, điển tích đã làm cho câu văn, câu thơ mang tính khái quát sâu rộng, giàu hình ảnh và tác động mạnh mẽ vào xúc cảm của người đọc

Trang 32

2.2.4 Lời của các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu thường được cấu tạo theo lối biền ngẫu, mỗi câu có hai vế cân đối nhau về số từ, giống nhau về kết cấu ngữ pháp, đối nhau về ý và thanh điệu Do đó làm cho lời văn giàu nhạc tính, đem lại giá trị nghệ thuật cao

Ví dụ: Trong “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi có những câu như:

“Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá,

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau.”

“Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thực lòng,

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.”

“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một

phương.”

Mỗi câu thường có hai vế cân xứng nhau

Tóm lại, các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu không chỉ mang đăc

trưng chung của văn chính luận mà nó còn có những đặc điểm riêng tùy thuộc vào từng thể loại bởi nó ra đời và phát triển trong thời kì văn – sử - triết bất phân Chính vì vậy, khi đi tìm hiểu cụ thể các văn bản này thì cần phải nắm được đặc trưng thể loại của nó, để từ đó có thể hiểu một cách sâu sắc và toàn diện hơn những tư tưởng mà người viết muốn truyền lại Tuy nhiên, hiện nay việc dạy các văn bản này vẫn chưa đem lại hiệu quả cao, dẫn đến tình trạng học sinh không còn hứng thú với môn học như trước đây nữa Tình trạng đó bắt nguồn chủ yếu từ những khó khăn về khoảng cách

2.3 Những khó khăn trong việc dạy các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu trong nhà trường phổ thông hiện nay

Tiếp nhận tác phẩm văn học là một quá trình Có nhiều con đường để người đọc cảm thụ tác phẩm nhưng một con đường đăc trưng là đọc Đọc để

Trang 33

tiếp nhận tác phẩm văn chương tức là biến cái khách quan thành cái chủ quan của mình Khi đọc người đọc gặp phải những khó khăn gọi là khoảng cách

tiếp nhận mà Đặng Thanh Lê gọi là “sự chuyển biến của khoảng cách” Và

khi dạy các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu hiện nay cũng gặp phải những khó khăn như vậy Đó là:

2.3.1 Khoảng cách thời gian

Thời gian được miêu tả trong văn bản khác thời gian tác giả sáng tác văn bản và thời gian tiếp nhận văn bản Hơn nữa, các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu lại được viết cách đây khá lâu, có khi còn không xác định rõ ràng thời điểm sáng tác

Ví dụ: “Đại cáo bình Ngô”: Cuối năm 1427 (cũng có tài liệu cổ cho rằng đầu năm 1428) được lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết “Đại cáo bình

Ngô” và văn bản này được công bố vào tháng 4 năm 1428

“Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm thì lại được viết vào những năm

1788-1789

Như vậy, khoảng cách về mặt thời gian sáng tác văn bản và thời gian tiếp nhận văn bản quá xa đã gây trở ngại cho việc dạy, học các văn bản này

2.3.2 Khoảng cách về không gian

Mỗi tác phẩm văn học ra đời trong một không gian xác định nhưng khi tiếp nhận tác phẩm lại trong một không gian hoàn toàn khác Vì vậy, yếu tố về không gian đã trở thành yếu tố cơ bản của quá trình tiếp nhận

Các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu được viết trong những năm chiến tranh xảy ra liên miên Chính vì vậy, không gian chủ yếu của nó là không gian chiến trận Người đọc tiếp nhận với khí thế hào hùng, sôi sục chiến đấu Tuy nhiên, nếu đặt trong hoàn cảnh đất nước như hiện nay thì việc khơi dậy khí thế ấy là một việc làm không hề đơn giản đối với người giáo viên dạy Văn

2.3.3 Khoảng cách về mặt tâm lí

Tiếp theo, tâm lí người học cũng là một vấn đề đáng phải quan tâm Các tác phẩm trong văn học trung đại nói chung hầu hết đều chịu sự chi phối

Trang 34

của ý thức hệ tư tưởng nào đó Lúc bấy giờ các nhà thơ, nhà văn sáng tác văn chương để nhằm một mục đích cụ thể nào và thường chịu ảnh hưởng của các

tư tưởng: tôi trung không thờ hai chủ, trung quân ái quốc, tam cương ngũ thường…Còn đối tượng tiếp nhận lúc đó chủ yếu là quần chúng nhân dân, các trí thức yêu nước trong thiên hạ…Họ có niềm tin sâu sắc vào những người đứng đầu, lãnh đạo quần chúng trong các cuộc khởi nghĩa Vì vậy, muốn nhân dân đoàn kết, một lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm thì phải tạo được niềm tin vững chắc ở trong họ

Đối với đối tượng tiếp nhận hiện nay là học sinh thì phần lớn lại mang một tâm thế không trùng khít với người xưa Ngày nay nhân dân ta nói chung

đã ít nhiều mất niềm tin vào đội ngũ quản lý nhà nước bởi bệnh tham nhũng Đây là một trong những căn bệnh rất phổ biến hiện nay, nó phần nào đã ảnh hưởng đến tâm lí của người học

Cho nên, khi dạy các tác phẩm của văn học trung đại, đặc biệt là các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu phải đăc biệt chú ý vào tâm lí của đối tượng tiếp nhận Người giáo viên cần tạo niềm tin cho học sinh thấy rằng: đoàn kết luôn là sức mạnh to lớn để đi đến thắng lợi

2.3.4 Khoảng cách ngôn ngữ

Và, khó khăn lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy học các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu theo đặc trưng thể loại đó là khoảng cách về ngôn ngữ Mỗi thời đại, mỗi tác giả có thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau khi xây dựng các hình tượng nghệ thuật khác nhau Nó bao gồm khoảng cách:

Khoảng cách ngôn ngữ giữa độc giả và tác giả

Khoảng cách ngôn ngữ giữa các dân tộc: điều này xảy ra với các tác phẩm dịch

Khoảng cách ngôn ngữ giữa các thời đại: mỗi thời đại khác nhau, sử dụng ngôn ngữ khác nhau

Trang 35

Văn học trung đại Việt Nam tồn tại song song hai nền văn học: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Hơn nữa, văn học thời kì này chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn học Trung Quốc Các thể như: thể cáo, thể chiếu đều có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc cổ đại Chính vì vậy, trong các văn bản ấy thường

sử dụng rất nhiều các từ cổ, từ Hán-Nôm, những điển tích về thi liệu cổ…Trong quá trình dạy các văn bản này không thể tránh khỏi khó khăn về mặt ngôn ngữ giữa các thời đại Trên đây chỉ là một số những khó khăn thường hay gặp nhất trong quá trình dạy học các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu Tuy nhiên, áp dụng vào từng giờ dạy cụ thể thì người giáo viên còn có thể gặp phải những khó khăn khác Do vậy, người dạy cần phải linh hoạt trong việc giải quyết các khó khăn để từ đó hình thành phương pháp dạy học sao cho có hiệu quả nhất

Những khó khăn về khoảng cách trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Rút ngắn được khoảng cách này sẽ thu hẹp được khoảng cách kia Vấn đề đặt ra là biện pháp khắc phục những khoảng cách đó Trong khóa luận này, chúng tôi lựa chọn con đường giải quyết khó khăn trên bằng cách đọc và tiếp cận tác phẩm trên cơ sở đặc trưng thể loại

2.4 Đọc – hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu cần phải chú ý đến những vấn đề sau:

Xuất phát từ các đặc trưng của thể cáo, chiếu và những khó khăn trong quá trình dạy đọc hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu Trong bài viết

này, chúng tôi có thể đưa ra những điểm cần chú ý trong việc “Đọc – hiểu

các văn bản cáo, chiếu theo đặc trưng thể loại” như sau:

2.4.1 Đọc hiểu các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu cần phải chú ý đến bối cảnh lịch sử ra đời của văn bản đó

Khi dạy văn bản “Đại cáo bình Ngô”của Nguyễn Trãi thì cần chú ý

đến bối cảnh lịch sử: Ngày 29/12/1427 quân ta tiêu diệt và làm tan rã mười lăm vạn binh của giặc Vương Thông buộc phải giảng hòa, chấp nhận rút

Trang 36

quân về nước Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Đại cáo bình Ngô” để bố

cáo cho toàn dân biết được chiến thắng vĩ đại của quân ta trong mười năm chiến đấu gian khổ và tuyên bố độc lập của nước Đại Việt ta

Văn bản “Chiếu cầu hiền” được Ngô Thì Nhậm viết vào khoảng

những năm 1788-1789, trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt: Nước ta vừa trải qua một thời kì loạn lạc Nội chiến liên miên và sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài đã để lại trong dân Bắc Hà : Nam Hà thuộc thời đại khác Khi

chúa Trịnh ngày càng lấn át quyền vua Lê, Quang Trung đã ra Bắc “Phù Lê

diệt Trịnh” rồi sau đó là cuộc hành quân thần tốc đánh đuổi giăc Thanh xâm

lược, dẹp yên thù trong giặc ngoài, thống nhất đất nước, lập ra triều đại Tây Sơn Nhiều nhà Nho sáng suốt đã ủng hộ Tây Sơn, trong đó có tác giả của bài

“Chiếu cầu hiền” Tuy vậy, không ít nhà thơ, nhà văn do quan điểm đạo đức

bảo thủ “tôi trung không thờ hai chủ” nên đã bất hợp tác, thậm chí chống lại

Tình hình đó đặt ra một yêu cầu chiến lược là: thuyết phục trí thức Bắc Hà hiểu đúng những nhiệm vụ xây dựng đất nước mà Tây Sơn đang tiến hành để

họ ra cộng tác, phục vụ triều đại mới

Để làm được việc này thì người giáo viên cần phải yêu cầu học sinh có

sự chuẩn bị bài ở nhà thông qua việc đọc phần Tiểu dẫn và đọc thêm một số

tài liệu có liên quan đến văn bản Đây có thể coi là bước đầu tiên để học sinh tìm hiểu tác phẩm được dễ dàng hơn Đối với những văn bản gắn chặt chẽ với hoàn cảnh lịch sử cụ thể như các văn bản hành chính quan phương thì lại là một việc làm hết sức cần thiết Sau khi đã nắm rõ được hoàn cảnh ra đời tác phẩm, người học tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu từ phương thức mà nhà văn sáng tạo ra tác phẩm đến từng chi tiết, hình ảnh

2.4.2 Tìm hiểu sơ lược về thể loại

Để hiểu được một tác phẩm văn học nào đó, người học cần phải biết được phương thức mà nhà văn làm ra sản phẩm nghệ thuật ấy (Hay nói theo cách khác là biết được tác phẩm ấy được sáng tác theo thể loại nào) Từ đó, đi vào tìm hiểu sơ lược về thể loại ấy trước khi phân tích cụ thể tác phẩm

Trang 37

Về thể Cáo:

Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết

Cáo có thể được viết bằng văn xuôi, văn vần nhưng phần nhiều đươc viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, có đối câu dài, ngắn khác nhau, lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc

Về thể Chiếu:

Chiếu là một thể văn nghị luận chính trị - xã hội thời trung đại do nhà vua ban xuống Xuống chiếu cầu hiền tài là một truyền thống văn hóa – chính trị phương Đông

Mặc dù chiếu thuộc loại công văn nhà nước, lệnh cho thần dân thực hiện, nhưng ở đây đối tượng của bài “Chiếu cầu hiền” là các bậc hiền tài, hơn nữa đây là cầu, tức là vua Quang Trung cầu chứ không phải là lệnh

2.4.3 Đọc – hiểu khái quát văn bản

Sau khi đã tìm hiểu xong hoàn cảnh ra đời của văn bản cũng như một vài nét sơ qua về thể loại, giáo viên yêu cầu học sinh đọc toàn bộ tác phẩm và phần chú thích Thông qua việc đọc khái quát văn bản học sinh có thể nắm được: giọng đọc văn bản, giải thích được những từ ngữ khó hiểu, xác định được bố cục và bước đầu thâm nhập vào văn bản

1- Đối với tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi:

- Giọng điệu: khỏe khoắn, sảng khoái, trang nghiêm, hùng hồn đanh thép

- Bố cục: bài cáo được chia làm 4 phần:

+ Phần một (Từ “Từng nghe…” đến “…chứng cứ còn ghi”): Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lâp của dân tộc Đại Việt

+ Phần hai: (Từ “Vừa rồi…” đến “…ai bảo thần dân chịu được.”): Tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh

Trang 38

+ Phần ba: (Từ “Ta đây…” đến “…cũng chưa thấy xưa nay.”): Kể lại diễn biến của cuộc kháng chiến từ lúc mở đầu đến lúc thắng lợi hoàn toàn

+ Phần bốn: (Từ “Xã tắc…” đến “…ai lấy đều hay.”): Tuyên bố độc lập, rút ra bài học lịch sử

2- Đối với tác phẩm “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm:

- Giọng điệu: Nhún nhường, mềm dẻo, tha thiết nhưng cũng mạnh mẽ, cương quyết phù hợp với không gian trung đại

- Bố cục: Bài chiếu được chia làm ba phần:

+ Phần một: (Từ đầu đến “…người hiền vậy”): Cơ sở lí luận của

“Chiếu cầu hiền”, Ngô Thì Nhậm đã nói về thiên chức của người hiền tài

+ Phần hai: (Từ “Trước đây thời thế suy vi…” đến “…buổi ban đầu của trẫm hay sao?”): Tình hình thực tiễn của đất nước và khát khao cầu hiền của nhà vua

+ Phần ba: (Từ “Chiếu này ban xuống…” đến “…để mọi người đều biết”): Hướng sử dụng người tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra giúp dân giúp nước

Như vậy, việc xác định được giọng điệu cũng như bố cục của một tác phẩm văn học nào đó là một việc làm rất cần thiết Nó như là một bước để thông qua đó người học có thể thâm nhập vào tác phẩm được thuận lợi hơn Việc làm này giúp ích cho việc định hướng cách phân tích tác phẩm văn học Hơn nữa, nó lại rất quan trọng đối với các văn bản thuộc thể cáo, thể chiếu bởi các văn bản này thường bị quy ước theo một khuôn mẫu nào đó Đây cũng chính là một đặc điểm thường thấy trong văn học trung đại nói chung

2.4.4 Đọc phân tích, cắt nghĩa đánh giá hệ thống luận điểm, cách lập luận của bài cáo, chiếu

Bước cuối cùng là: đi sâu vào phân tích, tìm hiểu cụ thể tác phẩm Các văn bản chính luận không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn có sức hấp dẫn bởi tính trí tuệ uyên bác và tình cảm sâu sắc của người chấp bút Giá trị của các

Trang 39

văn bản này được thể hiện ở cách lập luận chặt chẽ, các luận điểm được sắp xếp theo một trình tự nhất định

Ví dụ:

* Trong “Đại cáo bình Ngô”_Nguyễn Trãi:

Trước tiên, Nguyễn Trãi đã mở đầu bằng việc nêu luận đề chính nghĩa

Để làm rõ luận đề chính nghĩa tác giả đã đưa ra hai luận điểm:

+Luận điểm thứ nhất: Nêu cao tư tưởng nhân nghĩa yên dân trừ bạo

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

(Nhân nghĩa chi cử yếu an dân Điếu phạt chi sự mạc tiền khử bạo)

Một mệnh đề hết sức rõ ràng được Nguyễn Trãi phác họa ra là: Vì “an

dân” mà “khử bạo” và “khử bạo” bằng “nhân nghĩa” “Nhân nghĩa” là

đường lối chỉ đạo hành động “an dân”, là mục đích của hành động “khử

bạo”

 Hai câu mở đầu của bài cáo là lời tuyên ngôn, trình bày lí do chiến thắng quân thù của nhân dân ta trong lịch sử và trong cuộc kháng chiến bình Ngô Các từ ngữ: nhân nghĩa, an dân, khử bạo là những từ ngữ trung tâm, là

tư tưởng chỉ đạo chiến lược bình Ngô, chi phối toàn ý bài cáo, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở cửa cho tâm hồn chúng ta tiếp xúc với “khúc ca hùng tráng bất hủ” này của dân tộc Đây là một tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi Luận điểm này đã chuẩn bị những dòng tố cáo đanh thép và hùng hồn về sự tàn bạo của quân Minh xâm lược được trình bày trong đó

+ Luận điểm thứ hai: Đưa ra chân lí khách quan về độc lập chủ quyền của nước Đại Việt

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia,

Trang 40

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có”

Nước Đại Việt ta là một nước độc lập, có chủ quyền dân tộc Nền độc lập dân tộc được thể hiện trên tất cả các phương diện như: lãnh thổ, văn hiến, phong tục, con người…tất cả đều có thể sánh với quốc gia lớn mạnh lúc bấy giờ như Trung Quốc Đó là chân lí hiển nhiên vốn có từ lâu đời

Để chứng minh cho điều vừa nói, tác giả đã đưa ra một loạt những dẫn chứng cụ thể như:

Từ những dẫn chứng ấy để đi đến một kết luận:

“Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi.”

Trong đoạn mở đầu của bài cáo, Nguyễn Trãi đã sử dụng nghệ thuật lâp luận chặt chẽ, kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng thực tế Sử dụng từ ngữ chính xác, dùng nhiều từ mang sắc thái khẳng định tính chất hiển nhiên, vốn có từ lâu đời của nước Đaị Việt

Sau khi nêu luận đề chính nghĩa, tác giả của bài cáo đã dùng những từ ngữ đanh thép, sắc nhọn để vạch rõ tội ác của kẻ thù Đến đoạn tiếp theo của bài cáo như một bản cáo trạng hùng hồn về những việc mà giặc Minh đã gây

ra trên đất nước ta

- Trước hết, tác giả vạch trần âm mưu xâm lược, luận điệu bịp bợm xảo

trá của giặc Minh Chúng lợi dụng “Lúc họ Hồ chính sự phiền hà” để giương cao ngọn cờ “phù Trần diệt Hồ”

Ngày đăng: 17/07/2015, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w