Thời gian này, những người tham gia phong trào cải cách tôn giáo khi thất bại cũng đã chạy sang Tân Thế giới làm việc trong các đồn điền trồng mía, bông… Tuy nhiên, việc sử dụng lao động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********
NGUYỄN ĐỨC KHÁ
HOẠT ĐỘNG BUÔN BÁN NÔ LỆ
CỦA NGƯỜI ANH TRÊN ĐẠT TÂY DƯƠNG
(1660 - 1807)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN VĂN VINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Th.s Nguyễn Văn Vinh Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Nguyễn Đức Khá
Trang 3Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn gái Trần Thị Loan đã giúp đỡ tôi cả về mặt vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận này
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng nhƣ kiến thức của bản thân, nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, em kính mong nhận đƣợc sự đóng góp của các thầy cô và các bạn để giúp khóa luận của em hoàn thiện hơn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Nguyễn Đức Khá
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Bố cục đề tài. 3
CHƯƠNG 1 BUÔN BÁN NÔ LỆ CỦA CÁC NƯỚC CHÂU ÂU TRÊN ĐẠI TÂY DƯƠNG TỪ THẾ KỈ XV- XIX 4
1.1 NGUỒN GỐC BUÔN BÁN NÔ LỆ DA ĐEN 4
1.2 BUÔN BÁN NÔ LỆ CỦA CÁC NƯỚC CHÂU ÂU Ở ĐẠI TÂY DƯƠNG THẾ KỈ XV - XIX 11
1.2.1 Buôn Bán nô lệ của người Bồ Đào Nha 11
1.2.2 Buôn Bán nô lệ của người Tây Ban Nha 18
1.2.3 Buôn bán nô lệ của người Hà Lan 25
CHƯƠNG 2 BUÔN BÁN NÔ LỆ CỦA ANH TRÊN ĐẠI TÂY DƯƠNG
(1660 - 1807) 37
2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ 37
2.2 BUÔN BÁN NÔ LỆ CỦA ANH Ở ĐẠI TÂY DƯƠNG (1660 - 1807) 40
2.2.1 Buôn bán nô lệ của Anh từ 1660 - 1807 40
2.2.2 Lợi nhuận của việc buôn bán nô lệ đối với thu nhập quốc gia 51
2.2.3 Hệ thống tam giác mậu dịch đối với nền kinh tế nước Anh 54
2.2.4 Đấu tranh đi đến xóa bỏ buôn bán nô lệ 58
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năm 1492, sau khi Columbus “khám phá” ra châu Mĩ và tuyến đường mới
tới Ấn Độ vào năm 1497 bởi Vasco de Gama thì quá trình buôn bán Đông - Tây diễn ra tấp lập hơn trước rất nhiều Trên Đại Tây Dương đã dần hình thành nên Tam giác mậu dịch buôn bán nô lệ giữa châu Phi - châu Mĩ - châu Âu Điều này đã làm sống lại việc buôn bán nô lệ đã bị thủ tiêu từ lâu
Với tuyến đường thương mại trên Đại Tây Dương đời sống của người châu
Âu nâng lên một cách đáng kể, theo ghi chép thì trước năm 1650 các mặt hàng như đường, cà phê, thuốc lá… là những mặt hàng xa xỉ chỉ người giàu mới có cơ hội sử dụng thì đến những năm 1700 những người dân với mức thu nhập trung bình cũng
có thể được biết đến Thêm vào đó, người châu Âu cũng đưa một số lượng lớn khoảng 10 - 15 triệu người châu Phi sang Tân Thế giới làm nô lệ trong các đồn điền Theo nhiều ý kiến việc buôn bán nô lệ thu lại nhiều lợi nhuận khổng lồ cho các nước châu Âu, các nhà tư tưởng Marxit cho rằng lợi nhuận đó là một trong những nguồn tích lũy nguyên thủy tư bản để đưa tới cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước tư bản - mà sẽ diễn ra sớm nhất ở nước Anh Cùng với đó việc buôn bán
nô lệ cũng có ảnh hưởng to lớn tới châu Phi, chính vì vậy châu Phi ngày nay vẫn là lục địa đói nghèo với biết bao bệnh dịch, tệ nạn… hay vẫn còn được gọi với một cái tên là lục địa đen
Nhằm tìm hiểu về một trong những trang sử đen tối trong lịch sử nhân loại,
tôi đã quyết định chọn vấn đề: “Hoạt động buôn bán nô lệ của Anh ở Đại Tây Dương (1660 - 1807)” làm đề tài khóa luận của mình
Đầu tiên, khi nghiên cứu buôn bán nô lệ ta không thể không kể đến tác
phẩm: “Capitalism & Slavery” của Eric Williams do The University of North
Trang 6Carolina Press ấn hành Đây là công trình nghiên cứu tỷ mỉ về những đánh giá về lợi nhuận trong hệ thống tam giác mậu dịch đối với nước Anh Qua đây ta có thể hiểu thêm về nguồn lợi mà các nước châu Âu thu được từ các đồn điền ở châu Mỹ
Tiếp theo là công trình: “Slavery, Atlantic Trade and the British Economy,
1660-1800” của Kenneth Morgan, Cambridge University Press, xuất bản năm 2000
đã nghiên cứu về việc buôn bán nô lệ của người Anh trên Đại Tây Dương từ 1660 -
1800, qua nghiên cứu của mình tác giả đã có cái nhìn đối chiếu việc buôn bán nô lệ đem lại lợi nhuận có vai trò như thế nào đối với nền kinh tế nước Anh thời kì tiền công nghiệp
Hay sử gia Jonh Henrikn Clarke với tác phẩm “Chistopher Columbus and the
Afrikan Holocaust Slavery and the rise of European Capitalism” do Publishers
Groud xuất bản năm 2001 đã đề cập đến một số vấn đề như châu Phi trước khi tham gia vào hệ thống thương mại tam giác, đồng thời tác giả còn có đánh giá hậu quả của việc buôn bán nô lệ đối với châu Phi và tác giả cho rằng việc mang nô lệ đến châu Mỹ là một trong những nhân tố dẫn đến cuộc Cách mạng công nghiệp ở Anh Thêm vào đó, nếu chúng ta muốn tìm hiểu nguyên nhân của việc buôn bán nô
lệ có thể đọc tác phẩm “Súng, Vi Trùng Và Thép” của Jared Diamond được Nxb
Tri Thức mua bản quyền, để có một lời giải về nguyên nhân của những cái chết của người bản địa khi những người châu Âu đặt chân tới đây
Nhìn chung, ở mỗi công trình nghiên cứu đều có những phát hiện, khám phá mới Đây chính là những nguồn tư liệu rất mới mẻ để ta có thể có cái nhìn bao quát hơn về vấn đề buôn buôn bán nô lệ ở Đại Tây Dương
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Trang 7Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 1660 –
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính khi viết bài nghiên cứu này chủ yếu là miêu tả quả trình buôn bán nô lệ của thực dân Anh trên Đại Tây Dương dựa trên tri thức lịch sử, địa
lý, văn hóa Đồng thời, tôi còn kết hợp nhiều phương pháp: tổng hợp, so sánh, chứng minh, phân tích đánh giá Trong quá trình viết bài nghiên cứu, các phương pháp trên không dược tôi sử dụng một cách tách bạch mà có sự kết hợp tổng hợp để
rút ra kết luận cuối cùng
5 Đóng góp của đề tài
Chọn đề tài này, tôi mong muốn sẽ mang đến một số đóng góp cho việc nghiên cứu tình hình buôn bán nô lệ ở Đại Tây Dương, đồng thời góp một chút tài
liệu tham khảo cho độc giả Đi sâu tìm hiểu “Hoạt động buôn bán nô lệ của Anh
ở Đại Tây Dương (1600 -1807)”, tôi mong muốn có một góc nhìn về việc buôn bán
nô lệ của các nước châu Âu trên Đại Tây Dương từ thế kỉ XVI - XIX Đồng thời tìm hiểu tác động của việc buôn bán nô lệ với nền kinh tế nước Anh
Trang 8CHƯƠNG 1 BUÔN BÁN NÔ LỆ CỦA CÁC NƯỚC CHÂU ÂU TRÊN ĐẠI TÂY
DƯƠNG TỪ THẾ KỈ XV- XIX
1.1 NGUỒN GỐC BUÔN BÁN NÔ LỆ DA ĐEN
Trong khoảng thời gian từ 1400 - 1900, theo ước tính của các sử gia thì có khoảng 10 - 15 triệu người da đen ở châu Phi được mang tới châu Mỹ biến thành nô
lệ làm các công việc trong các hầm mỏ, đồn điền [26; 13] Tuy nhiên, chế độ nô lệ
và việc buôn bán nô lệ không phải lúc đó mới hình thành và cũng không phải do người châu Âu tạo ra Chế độ nô lệ tồn tại từ trước đó rất lâu, thậm chí nó tồn tại trước khi người ta viết về nó Ở nhiều xã hội cổ đại, nô lệ thường là tội phạm, tù binh, hoặc những người nghèo không trả được nợ nên đã bị biến thành nô lệ Nô lệ tồn tại ở nhiều khu vực, chẳng hạn ở Trung Đông thời kỳ cổ đại đã tồn tại một bộ luật do vua Hammurabi đặt ra đó là tử hình bất cứ kẻ nào giúp đỡ nô lệ chạy thoát cũng như việc che giấu nô lệ bỏ trốn Ở Ai Cập thời cổ đại thì các Pharaon đã sử dụng nô lệ để xây dụng các công trình Kim Tự Tháp… Nô lệ cũng từng tồn tại ở một số nước châu Á như Trung Hoa, Ấn Độ Nô lệ tồn tại trong xã hội Trung Hoa trong một thời gian dài từ thời nhà Hán (206.TCN - 25.SCN) đến năm 1911 sau cuộc Cách mạng Tân Hợi thì chế độ nô lệ mới chấm dứt Theo ước tính, nô lệ chiếm khoảng 5% dân số Trung Hoa Ở Ấn Độ nô lệ tồn tại dai dẳng cùng với chế độ phân biệt đẳng cấp, đến năm 1800, Ấn Độ vẫn còn 5 triệu người bị biến thành nô lệ
Ở châu Phi, nô lệ cũng tồn tại phổ biến trước khi người châu Âu đến đây bắt
nô lệ sang thuộc địa ở châu Mỹ Nô lệ châu Phi thường là những tù binh chiến tranh, những người nghèo không trả được nợ… có một số gia đình thì bán con để đổi lấy chút lương thực Nô lệ tồn tại phổ biến ở các nước Tây Phi, việc sở hữu nhiều nô lệ thể hiện sự giàu có của các cá nhân Không chỉ có vậy, từ thế kỉ VII, vương quốc của những người theo Hồi giáo được thành lập thì với việc người Hồi giáo tiếp xúc với người châu Phi Đen từ rất sớm bằng các nước giữa sông Niger và Darfour - những điểm buôn bán ở Đông Phi, họ là những người thực hiện với quy
mô lớn việc buôn bán người da đen
Trang 9Đặc biệt, Hy Lạp thời kỳ cổ đại nổi tiếng là quốc gia sáng tạo ra nền dân chủ Tuy nhiên, nô lệ ở đây không thể thiếu đối với nền dân chủ Hy Lạp, thành bang Athen của Hy Lạp không thể tồn tại được nếu không có những nô lệ tham gia việc đồng áng, lao động thủ công… Năm 450 TCN, thành bang Athen có khoảng 300.000 người thì nô lệ chiếm khoảng 1/3 - 1/4 dân số Aristotle, một triết gia nổi
tiếng của Hy Lạp cũng biện minh về sự tồn tại của chế độ nô lệ này: “Không có nô
lệ để sản xuất và phụ nữ làm công việc nhà thì đàn ông Hy Lạp không thể làm được những công việc cao xa” [29] Theo đó Aristotle cho rằng có 2 loại nô lệ: “Những
kẻ sinh ra đã làm nô lệ và những kẻ buộc làm nô lệ Những kẻ mà trời sinh ra kém thông minh, không làm gì khác hơn chỉ làm những công việc tay chân, thì những kẻ
ấy sinh ra đã làm nô lệ Đó là những kẻ không đủ trí phán đoán khôn ngoan Những
kẻ như vậy có được chủ nhân là điều tốt cho họ” [29] Ngoài ra những kẻ bị bắt
trong các cuộc chiến tranh cũng bị buộc trở thành nô lệ Người Hy Lạp cũng như
Aristotle đều cho rằng: “Những kẻ chiến bại chắc chắn kém hơn người chiến thắng
chứ không làm sao thua được? Như vậy, bị bắt làm nô lệ cũng phải thôi”.[29]
Vào thời kỳ La Mã cổ đại, chế độ nô lệ ngày càng phổ biến trong xã hội Theo
tính toán thì thời kì vua Julius Caear (40TCN), La Mã có khoảng “2 triệu nô lệ phục
vụ” [26; 19] Hầu hết những người La Mã cũng như người Hy Lạp đều cho rằng sự
tồn tại của nô lệ trong xã hội như một phần thiết yếu của xã hội
Đến năm 476TCN, Đế chế La Mã sụp đổ, nhưng chế độ nô lệ vẫn còn tồn tại trong đời sống châu Âu cũng như các nền văn hóa khác Nó tồn tại ở các nước theo Thiên Chúa giáo qua suốt thời Trung cổ, tuy nhiên dần dần bị vượt qua bởi định chế nông nô Nó thông thường được những người Thiên Chúa giáo chấp nhận cho đến bao giờ mà những người nô lệ không phải là người của Thiên Chúa giáo Nó cũng tồn tại khá phổ biến tại Italya Trong thời kì thực dân thì các cường quốc châu Âu chỉ chấp nhận chế độ này tại các thuộc địa ở hải ngoại, nơi tồn tại qua việc cải đạo người nô lệ sang Thiên Chúa giáo
Tuy nhiên, đến năm 1492, Columbus đại diện cho nền quân chủ Tây Ban Nha
“khám phá” ra châu Mỹ Với vệc khám phá ra một châu lục mới này đã thúc đẩy
Trang 10quá trình thương mại và cạnh tranh quốc tế Thời kì này được các học giả phương Tây gọi là toàn cầu hóa 1.0 Toàn cầu hóa này là đề cao các quốc gia và sức mạnh cơ bắp Trong giai đoạn này các quốc gia và chính phủ đi đầu trong việc xóa bỏ các bức tường và kết nối thế giới lại với nhau Chính toàn cầu hóa 1.0 này làm cho thế giới co lại từ kích thước lớn thành kích thước trung bình [10; 25] Cuối thế kỉ XV-XVI, hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đi đầu trong công cuộc phát kiến địa lý, để tránh việc cạnh tranh nhau, hai nước đã nhờ đến sự phân
xử của Đức giáo hoàng về phạm vi ảnh hưởng của hai nước Năm 1493, với việc Đức giáo hoàng là Alexandre VI đứng ra làm trọng tài thì hai nước đã kí kết Hiệp ước Tordesillas qua đó phân định người Bồ Đào Nha được độc quyền buôn bán, truyền giáo ở phía Đông, Tây Ban Nha ở phía Tây (sau này điều chỉnh cho phép người Bồ Đào Nha có quyền sở hữu Brazil) Khi Hiệp ước này được kí kết thì gặp phải sự phản đối từ các nước châu Âu Năm 1497, với chuyến thám hiểm của Cabot đại diện cho chính quyền Anh đến Bắc Mỹ là câu trả lời cho Hiệp ước Tordesillas
Vua nước Pháp là Francis I cũng đã nên tiếng phản đối: “Mặt trời chiếu sáng cho
tôi cũng như cho người khác Tôi rất muốn nhìn thấy di chúc của Adam về việc loại
bỏ tôi ra khỏi một phần thế giới” [16; 4] Vua Đan Mạch từ chối chấp nhận phán
quyết của Đức giáo hoàng Alexandre VI về vùng Đông Ấn mà Đan Mạch quan tâm Một chính khách nổi tiếng dưới thời Elizabeth là William Cecil cũng phủ nhận đường ranh giới mà Đức giáo hoàng Alexandre VI đã phân chia Năm 1580, chính
quyền Anh cho rằng không có “hòa bình dưới đường kẻ”[16; 4] Chính những sự
phản đối của các quốc gia châu Âu làm cho người Tây Ban Nha khó có thể độc quyền chiếm giữ các thuộc địa trong thời gian dài Anh, Pháp, Hà Lan thậm chí còn thách thức bản Hiệp ước giữa hai nước trên bán đảo Iberia, đồng thời đòi vị trí của mình trong ánh mặt trời Người da đen cũng có vị trí của mình trong đó, mặc dù họ không yêu cầu nó “Ánh mặt trời” họ nhận đó chính là ánh mặt trời trong các đồn điền trồng mía, đường, bông ở Tân Thế giới
Theo Adam Smith, thì sự thịnh vượng của thuộc địa phụ thuộc vào một yếu tố
đó chính là có “nhiều đất tốt” Năm 1776, thuộc địa của Anh được chia làm hai loại:
Trang 11thuộc địa với nền kinh tế tự cung tự cấp - là những thuộc địa với nền kinh tế đa dạng của những nông trại nhỏ, loại này phổ biến ở khu vực Bắc Mỹ Loại thứ hai, đó là những đồn điền chuyên canh các cây công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu như đồn điền thuốc lá ở lục địa và các đồn điền trồng mía ở vùng biển Caribbean Đất đai và vốn đầu tư của các thuộc địa tuy nhiều song còn cần một yếu tố nữa đó chính là lực lượng lao động thì các thuộc địa mới có thể mang lại lợi nhuận cho chính quốc
Khi Colombo “khám phá” ra châu Mĩ thì dân số của Châu Mĩ có khoảng 75
triệu người, có lẽ dân số châu Mĩ tương đương với dân số châu Âu cùng thời [6; 8] Còn Noble David Cook cho rằng đến năm 1492 dân số Anh điêng có khảng 35-
40 triệu [14;48] Với ưu thế về vũ khí, ngựa, các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan đã nhanh chóng chiếm đóng những vùng đất mới vừa tìm được và thành lập các đồn điền trồng cà phê, mía, cao su ở châu Mĩ Với việc thành lập các đồn điền như vậy người châu Âu cần nhiều lao động để làm việc ở các đồn điền của mình Vì thế việc buôn bán và sử dụng nô lệ ở Tân Thế giới là rất phức tạp
Những nô lệ đầu tiên ở Tân Thế giới không phải là người da đen mà là người châuMỹ bản địa Tuy nhiên, người châu Mỹ bản địa đã không chịu nổi các yêu cầu của chủ các đồn điền Họ không có khả năng thích nghi với cuộc sống mới, họ quen với cuộc sống tự do mà không thể quen sự khắc nghiệt với việc bị biến thành nô lệ trong các đồn điền Đồng thời, người châu Mỹ bản địa không có hệ miễn dịch chống lại các căn bệnh mà người châu Âu mang tới Chính bệnh dịch đã làm cho
dân số châu Mỹ ở Tân Thế giới giảm sút nghiêm trọng Có một thực tế là“Số người
châu Mỹ bản địa chết trên giường vì các vi trùng của Âu -Á nhiều hơn số người chết trên chiến trường vì súng và gươm của người châu Âu” [ 7; 252]
Những bệnh từ các dân tộc đi xâm lược vốn đã mang kháng thể đáng kể lây nhiễm sang các dân tộc không có kháng thể Bệnh đậu mùa, bệnh sởi, cúm, sốt phát ban, dịch hạch và những bệnh truyền nhiễm khác ở châu Âu đã đóng vai trò quyết định trong việc giết chết nhiều dân tộc châu Mỹ bản địa Chẳng hạn, một trận đậu mùa đã giết chết gần một nửa dân số Aztec sau khi diễn ra cuộc tấn
Trang 12công đầu tiên của người Tây Ban Nha vào năm 1520 thất bại Khắp nơi ở châu
Mỹ, những căn bệnh đã giết chết rất nhiều người bản địa: “Dân số Mêxicô ban
đầu có khoảng 20 triệu người nhưng đến năm 1618 chỉ vỏn vẹn còn có 1,6 triệu người” [7; 252]
Sau này, những nhà truyền giáo, linh mục dòng Tên và tín đồ dòng Menno, các thương nhân từ Montreeal, Charleston tất cả bọn họ đều kể những câu chuyện
kinh khủng về bệnh đậu mùa và người bản xứ: “Năm 1738, bệnh đậu mùa tiêu diệt
½ dân số Cherokee, năm 1759 ½ dân số Catawbas, trong những năm đầu thế kỉ XIX khoảng 2/3 dân số Omahas và có lẽ toàn bộ dân số ở giữa sông Missouri và New Mexico Năm 1837 - 1838 dân số ở Mandans và có lẽ ½ người da đỏ ở đồng bằng
bị tiêu diệt” [14; 25]
Nói đến những xã hội đông dân nhất ở Tân Thế giới vào năm 1492, chúng
ta thường nghĩ tới người Aztec và người Inca Chúng ta quên mất rằng ở Bắc Mỹ cũng từng là nơi có xã hội Anh-điêng định cư đông đúc nhất ở thung lũng sông Misissippi, một trong những vùng nông nghiệp trù phú nhất của Hoa Kỳ ngày nay Tuy nhiên, trong trường hợp Bắc Mỹ, người châu Âu không trực tiếp hủy diệt xã hội đó mà chính vi trùng Âu - Á đã lan đến trước con người đã làm điều
đó Theo các khai quật khảo cổ và cùng với việc nghiên cứu kỹ lưỡng những mô
tả của chính các nhà thám hiểm đặt chân lên bờ biển Hoa Kỳ cho thấy, thật ra Bắc Mỹ từng có đến khoảng 20 triệu người Anh-điêng Nếu tính chung toàn bộ Tân Thế giới thì trong vòng một, hai thế kỉ sau khi Columbus đặt chân tới đây,
dân số Anh-điêng đã sụt giảm 95%
Tác nhân gây chết người chính là các vi trùng của Cựu Thế giới mà người Anh - điêng chưa bao giờ tiếp xúc nên chưa hề được miễn dịch cũng không hề có kháng thể di truyền Đậu mùa, sởi, cúm và sốt phát ban tranh nhau dẫn đầu trong tác nhân gây chết người này Nhưng ngần ấy vẫn chưa đủ, vẫn cần kể đến các căn bệnh: bệnh bạch hầu, sốt rét, quai bị, ho, dịch hạch, lao và sốt hoàng nhiệt Với dịch bệnh như vậy làm dân số người bản địa giảm sút không có khả năng đáp ứng được đầy đủ nguồn lao động mà người châu Âu cần trong các đồn điền
Trang 13Do việc không thể sử dụng lao động bản địa nên tình trạng thiếu nô lệ ở Tân Thế giới ngày một nghiêm trọng Chính vì vậy, người châu Âu đã nghĩ ra nhiều cách
để cung ứng đủ số nô lệ cần thiết cho Tân Thế giới
Với việc biến người châu Mỹ bản địa thành nô lệ là rất khó thì người châu
Âu đã biết cách bù đắp sự thiếu hụt nô lệ đó bằng việc bắt người da đen đến lao động trên những mảnh đất mà người da trắng đã cướp của người bản địa Thậm
chí “người Tây Ban Nha phát hiện ra sức khỏe của một người da đen bằng bốn
lần người Idian” [16; 9] Mặt khác, những người da đen còn có khả năng đề
kháng các loại bệnh của vùng nhiệt đới như bệnh sốt rét, bệnh sốt da vàng mà ngay cả người châu Âu cũng không thể chịu được và tử vong cao Vì thế, vào thế
kỉ XIX có một tuyên bố về nghiên cứu của quân đội Anh cho biết “sức chịu đựng
của 1 người châu Phi gấp 3.2 lần người châu Âu” [11;101-4] Chính những điều
đó mà vào năm 1518 chính quyền Hispanio đã cho phép đưa người da đen vào lao động thay thế cho người châu Mỹ bản địa Vì người Anh điêng quá yếu nên
họ chỉ được đưa làm những công việc trong một thời gian ngắn như tham gia vào các trang trại trồng ngô… Trong tương lai, các mặt hàng chủ yếu của Tân Thế giới là đường, bông Những công việc này cần những lao động khỏe mạnh nên với thể lực yếu thì người Anh-điêng không thể làm được do vậy việc sử dụng nô
lệ da đen là rất phổ biến Theo Lauber cho rằng: khi so sánh số tiền phải trả cho người da đen cùng với thời gian trả cho người Anh-điêng thì lương của người
Anh-điêng là thấp hơn rất nhiều
Ngoài việc, bắt người da đen làm việc trên các đồn điền ở Tân Thế giới thì còn
có người da trắng nghèo làm những công việc khác nhau Nguồn gốc của lao động
da trắng khác nhau đó có thể là những người di cư, tù nhân… được đưa sang Tân Thế giới lao động nhưng có một điểm khác của lao động da trắng và da đen đó là người da trắng họ được chính quyền ở chính quốc bảo lãnh bằng việc ký các bản giao kèo lao động Trong đó có một điều khoản quy định việc họ phải làm việc một thời gian nhất định sau đó sẽ được tự do Ở Anh trong khoảng thời gian từ 1654 -
1685 có khoảng 10.000 chuyến tàu từ Bristol đến Tây Ấn và Virginia Năm 1683,
Trang 14những người di cư da trắng chiếm 1/6 dân số ở Virginia, chiếm 2/3 dân nhập cư ở Pennsyvania trong thế kỉ XVIII
Việc bắt cóc người da trắng sang Tân Thế giới diễn ra thường xuyên ở London
và Bristol Có những đứa trẻ ở đây bị dụ dỗ bằng kẹo ngọt rồi đưa lên tàu cùng với những người đàn ông, phụ nữ đưa sang bên kia Đại Tây Dương
Có những tội phạm bị đưa sang Tân Thế giới lao động dù chỉ ăn cắp 1 bảng Anh Năm 1664, ở Anh đề ra đạo luật đưa người sang Tân Thế giới đó là những người ăn không ngồi rồi, kẻ trộm cắt vặt… Năm 1667, đề ra luật đưa tất cả vợ kẻ cắp nào ăn trộm hàng hóa từ 3-4 bảng Anh phải sang lao động ở Tân Thế giới Đặc biệt với sự bất ổn chính trị từ 1640 – 1740, số lượng lao động da trắng sang Tân Thế giới ngày một nhiều Thời gian này, những người tham gia phong trào cải cách tôn giáo khi thất bại cũng đã chạy sang Tân Thế giới làm việc trong các đồn điền trồng mía, bông…
Tuy nhiên, việc sử dụng lao động da trắng thay cho người bản địa cũng gặp nhiều điều phức tạp như việc kí bản giao kèo với việc người da trắng chỉ cần phục
vụ trong các đồn điền trong một thời gian nhất định là có thể được tự do hoặc lao động da trắng ở các đồn điền dễ dàng bỏ trốn khỏi các đồn điền Còn nô lệ da đen khó có cơ hội bỏ trốn vì dù họ có bỏ trốn thì họ vẫn bị bắt vào các đồn điền khác
làm nô lệ Ngoài ra, ở một số hòn đảo Caribben với khí hậu nhiệt đới“với những
căn bệnh như sốt rét, nhiệt hoàng đã bắt đầu lan tràn sang châu Mỹ theo tàu buôn châu Âu, chúng lại trở thành trở ngại chính cho việc thực dân hóa vùng nhiệt đới ở Tân Thế giới Một ví dụ quen thuộc cho vai trò của hai căn bệnh này là người Pháp
đã từ bỏ ý định xây kênh đào Panama còn người Mỹ suýt nữa cũng từ bỏ ý định dù
họ đã xây thành công con kênh đào” [7; 257] Đồng thời, chủ đồn điền ở Tân Thế
giới muốn sử dụng nô lệ da đen vì nguyên do chính đó là lợi nhuận từ việc nô lệ da
đen với giá rẻ hơn lao động da trắng Chính quyền ở Barbados cho rằng: “giá thuê
một lao động da trắng có giá đắt gấp 3 lần thuê một nô lệ da đen”[16; 19], đó cũng
chính là nguồn gốc của việc mang người da đen sang Tân Thế giới làm việc Nó không phải là sự phân biệt chủng tộc, không phải màu da của nô lệ mà chính là
Trang 15nguồn lợi nhuận của việc sử dụng nô lệ nào là đem lại hiệu quả cao nhất Với sự so sánh giữa người Anh-điêng, lao động da trắng thì nô lệ da đen là lựa chọn tốt nhất
Với cuộc thảo luận tại North Carolina thì Busett cho rằng: “Độ bền, sức chịu đựng,
sự nghe lời của nô lệ da đen vượt trội hơn so với người Anh-điêng hay người da trắng” Việc buôn bán nô lệ da đen chỉ là một giải pháp trong những hoàn cảnh lịch
sử khác nhau Nô lệ ở Tân Thế giới ở từng thời điểm khác nhau thì cũng sử dụng khác nhau: người Anh-điêng, lao động da trắng, nô lệ da đen… Có thể nói từ 1650 -
1850 nếu không có những nô lệ da đen sẽ không có những đồn điền trồng mía, bông… ở vùng biển Caribben Và người dân châu Âu, từ đầu năm 1700 với mức thu nhập trung bình sẽ không thể dùng các mặt hàng xa xỉ như đường, cà phê, thuốc lá… mà trước năm 1650 chỉ phục vụ cho những tầng lớp giàu có
1.2 BUÔN BÁN NÔ LỆ CỦA CÁC NƯỚC CHÂU ÂU Ở ĐẠI TÂY DƯƠNG THẾ KỈ XV - XIX
1.2.1 Buôn bán nô lệ của người Bồ Đào Nha
Trong suốt thế kỷ XV - XVI, nhờ thám hiểm hàng hải, Bồ Đào Nha đã thành lập một đế quốc toàn cầu bao gồm những thuộc địa ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, trở thành một trong những nền kinh tế, chính trị và quân sự mạnh nhất thế giới Đồng thời, Bồ Đào Nha cũng là nước đi đầu trong việc buôn bán nô lệ trên Đại Tây Dương Những thành công của người Bồ Đào Nha có thể đạt được là do một số yếu
tố sau:
Thứ nhất, người Bồ Đào Nha là một nước thống nhất sớm ở châu Âu Với điều kiện thống nhất và ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho họ phát triển thương mại,
nó khác xa với những xung đột ở các thành bang Ý hoặc những bất ổn ở Anh-Pháp
Ở Bồ Đào Nha đã hình thành một nền quân chủ mạnh mẽ cùng với việc giới quý tộc
có sự hòa giải và tầng lớp trung lưu được tham gia vào Nghị viện Chính những thành công về mặt chính trị là điều cần thiết cho một tương lai tươi sáng của Bồ Đào Nha
Thứ hai, không chỉ có sự ổn định về chính trị trong nước, Bồ Đào Nha nằm ở phía Tây Nam châu Âu gần với trung tâm buôn bán Địa Trung Hải và lục địa châu
Trang 16Phi chính điều này cũng là một lợi thế cho Bồ Đào Nha phát triển buôn bán Đặc biệt, do sự tiếp xúc với các thương nhân người Ý, các thương nhân Bồ Đào Nha đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm trong việc hoạt động mậu dịch buôn bán Đầu thế kỉ XV, cụ thể vào năm 1415, Bồ Đào Nha đã có một thành trì quan trọng ở Ceuta, châu Phi, một cảng biển quan trọng trong việc đưa người Bồ Đào Nha đến đây tìm kiếm vàng và nô lệ da đen
Thứ ba, tầng lớp thương nhân ở đây tuy không lớn nhưng nó hình thành và phát triển trong một thời gian dài và có tầm ảnh hưởng lớn đến hai thành phố là Lisbon với số dân là 4000 người, và Oporto với 8000 dân Ở đây họ trao đổi nhộn nhịp với các thương nhân Hà Lan, Bỉ, Pháp, Anh, phần lớn các tàu buôn thuộc quyền sở hữu của họ
Đặc biệt với sự tiến bộ của kĩ thuật hàng hải như việc đóng được tàu Caravel với thiết kế nhỏ gọn, tốc độ nhanh nên nó là một phương tiện phù hợp với việc
khám phá dọc bờ biển châu Phi Ngoài ra, như Abbé Raynal cho rằng “Sở dĩ người
Bồ Đào Nha đi đầu trong việc phát kiến địa lý và buôn bán trên Đại Tây dương thế
kỉ XV là do sự cuồng tín tôn giáo cùng với niềm đam mê sự giàu có của châu Phi - châu Á”[19; 18]
Hoàng tử Henry là một trong những người hết lòng ủng hộ các cuộc phát kiến địa lý Tuy nhiên, ông không phải là người đầu tiên quan tâm đến việc buôn bán nô lệ
da đen “Chỉ đến năm 1444 thuyền của Lancarote và Gil Eannes mang 235 nô lệ da
đên từ Lagos về, điều này đã làm hoàng tử Henry bắt đầu quan tâm tới việc buôn bán
nô lệ Chính nó đã đã đánh dấu việc buôn bán nô lệ trên Đại Tây Dương” [19; 19]
Năm 1434, một số chiếc thuyền nhỏ đã đến bờ biển châu Phi và buôn bán tại một số cảng ở đó Năm 1441, người Bồ Đào Nha đã mua một số tù binh chiến tranh
để làm nô lệ Năm 1482, người Bồ Đào Nha đã cho xây dựng thành trì Elemma, sau
đó là các pháo đài ở dọc bờ biển châu Phi để bảo vệ họ khỏi người châu Phi - đánh dấu mở đầu việc buôn bán nô lệ [22; 60]
Lúc đầu, nô lệ da đen bị người Bồ Đào Nha trực tiếp bắt giữ bằng những cuộc tấn công bất ngờ như việc tấn công vào Congo và Angola làm cho chế độ quân chủ
Trang 17Congo sụp đổ năm 1665 Tuy nhiên, do dân số châu Phi sống không tập trung như các nước châu Âu nên những cuộc tấn công vào người da đen tỏ ra không thu được nhiều hiệu quả Vì thế người Bồ Đào Nha đã nghĩ ra một cách khác để bắt người da đen đó là tiến hành mang nhiều hàng hóa sang đổi lấy nô lệ Năm 1448, người Bồ Đào Nha đã cho đặt thương điếm ở trên đảo Arguim, với việc đặt thương điếm này đánh dấu cho sự chuyển đổi từ việc dùng vũ lực sang buôn bán với người châu Phi
Từ Arguim, người Bồ Đào Nha đã giải quyết được vấn đề buôn bán với người Tây Phi, Arập để thu mua nô lệ và vàng bạc và bán những mặt hàng như len, khăn vải… Sau khi hoàng tử Henry qua đời thì các thủy thủ Bồ Đào Nha đã khám phá ra các cửa sông Senegal và Gambia Với những khám phá này đã đưa người Bồ Đào Nha có thể buôn bán dọc phía Nam Sierra Leone
Bên cạnh, với việc thăm dò dọc bờ biển châu Phi thì Bồ Đào Nha cũng khám phá được một số hòn đảo ở Đại Tây Dương Năm 1419, Maderia đã phát hiện ra hòn đảo Arores, trong khoảng thời gian từ 1456 - 1460 việc khám phá ra Cape Verdes - những hòn đảo không có người ở nhưng vô cùng quan trọng đối với việc trung chuyển - buôn bán nô lệ trên Đại Tây Dương đến Tân Thế giới
Cuối thế kỉ XV, người Bồ Đào Nha đã thiết lập được hệ thống các thương điếm ở Guinea và dọc bờ biển Congo, Angola, Tây Phi và Trung Phi là thị trường cung cấp nô lệ cho người Bồ Đào Nha buôn bán trên Đại Tây Dương Năm 1482, người Bồ Đào Nha đã cho xây dựng các thương điếm ở bờ biển vàng /Gold Coast Bốn năm sau tại bờ sông Benin đã cho xây dựng hải cảng Ughoton để trao đổi với Benin, một nhà nước hùng mạnh ở châu Phi lúc bấy giờ
Các thương điếm phải lập ở gần bờ biển là vì các nhà lãnh đạo châu Phi luôn ngăn cản việc người châu Âu bằng cách che giấu các thông tin liên quan đến nô lệ, cùng với đó là người da trắng không thể chịu được căn bệnh nhiệt đới
ở Tây Phi, lục địa châu Phi thì đầy rẫy những nguy hiểm Đã có những ghi chép
về việc những thủy thủ người Bồ Đào Nha bị giết bởi thổ dân châu Phi khi đi vào trong đất liền Chính vì vậy, năm 1494 vua Bồ Đào Nha đã có những thỏa thuận với những người lãnh đạo bản địa cho phép mình được đặt các thương điếm ở dọc bờ biển để trao đổi với họ mà không đi vào sâu trong đất liền
Trang 18Tàu thuyền của người Bồ Đào Nha thường xuyên tới các bờ biển Ngà, bờ biển vàng/Gold Coast để trao đổi Năm 1482, với việc khám phá ra cửa sông Congo, đến cuối thế kỉ XV, Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm bờ biển Vương quốc Congo Đặc biệt với việc khám phá ra các vùng đất São Tomé và Principe (1470) thì người Bồ Đào Nha đã đánh dấu việc đi đầu trong buôn bán - khai thác hơn 4000 dặm dọc bờ biển châu Phi Đồng thời mở ra con đường buôn bán nô lệ trên Đại Tây Dương
Ở châu Phi các thương nhân Bồ Đào Nha đã đặt một số thương điếm để thu mua nô lệ Thời gian đầu người Bồ Đào Nha hướng tới Gold Coast để thu mua nô lệ
từ Benin song ở đây họ chỉ có thể lấy được vàng còn thu mua nô lệ không khả quan Chính vì vậy, đầu thế kỉ XVI, người Bồ Đào Nha đã chuyển các thương điếm về vùng Congo và một số vùng phía Bắc và Phía Nam châu Phi để thu mua nô lệ Người Bồ Đào Nha đã từng tăng cường sức mạnh cho các đội thương thuyền để buôn bán ở châu Phi Trong thời gian hoàng tử Henry trị vì ông không chỉ cấp phép cho công ty Hoàng gia buôn bán mà còn cho các thương nhân đến buôn bán tại châu Phi Nhưng sau khi ông qua đời thì công ty Hoàng gia đã độc quyền buôn bán tại El Mina Đồng thời cho thiết lập Casa Dos Escraras để quản lý việc buôn bán vàng, hạt tiêu, ngà voi của châu Phi để đổi lấy những mặt hàng của châu Âu như hàng dệt may, đồng hồ, thủy tinh… Theo tính toán mới nhất của Elbl thì người Bồ Đào Nha trong thế kỉ XV vận chuyển khoảng 81.000 nô lệ Philip Curtin cho rằng, với sự phân phối nô lệ của Bồ Đào Nha trong khoảng thời gian 1451 -1499, có khoảng 60.000 nô lệ được đưa vào khắp châu Âu, 17.5000 nô lệ được vận chuyển ra các hòn đảo trên Đại Tây Dương Còn khoảng 3.500 nô lệ được mang ra đảo São Tomé
và Principe [13;116]
Cùng với sự lớn mạnh của Bồ Đào Nha thì một nước nằm cùng trên đảo Iberian là Tây Ban Nha cũng lớn mạnh Người Bồ Đào Nha sợ mất vị trí buôn bán ở châu Phi, châu Á nên đã kiến nghị với Đức giáo hoàng về việc phân chia ảnh hưởng của hai nước Với Hiệp ước Tordesllas (1493) người Bồ Đào Nha được độc quyền buôn bán ở châu Phi, châu Á, sau này có cả Brazil Còn Tây Ban Nha được độc quyền buôn bán tại Tân Thế giới Hiệp ước này ra đời, đã gặp phải sự phản đối
Trang 19quyết liệt của các nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan Đồng thời chống lại việc
Bồ Đào Nha thành lập các thương điếm buôn bán nô lệ ở châu Phi
Việc buôn bán nô lệ da đen có trước khi người Tây Ban Nha tìm ra châu Mỹ Người Bồ Đào Nha đã buôn bán nô lệ với số lượng lớn từ trước khi các thủy thủ của
họ tìm thấy Brazil Trong thế kỉ XVI, ở Tân Thế giới hình thành hàng loạt các trung tâm mua bán nô lệ Theo tính toán của Philip Curtin trong khoảng thời gian 1451-
1866, người Bồ Đào Nha đưa khoảng 4.298.830 người da đen ra khỏi châu Phi
Giai Đoạn Số lượng (nghìn người)
để trao đổi với châu Phi Trong giai đoạn cuối, nổi lên hai vùng hạ Guinea và Angola trong việc cung cấp nô lệ cho các thuộc điạ của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới
Ở dọc các bờ biển là các trại tập trung nô lệ chật ních người đang chờ các thuyền buôn đến mang đi và số lượng chết trong trại cũng rất lớn theo ước tính có khoảng 4,5% chết trong qua trình trao đổi dọc các bờ biển, 12% chết trên các chuyến thuyền vượt qua Đại Tây Dương, 33% chết khi làm trong các đồn điền ở Mĩ
Số nô lệ được người Bồ Đào Nha mang khỏi châu Phi được phân bố chủ yếu ở các vùng sau: Euro, các đảo trên Đại Tây Dương, São Tomé, thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới, Brazil
Trang 20Nửa đầu thế kỉ XV, một phần nô lệ được mang sang châu Âu để phục vụ các công việc phục vụ trong các gia đình, thợ thủ công, tá điền… theo ước tính số người
da đen tại châu Âu khoảng 50.000 người
Điều đáng ngạc nhiên là hòn đảo São Tomé với diện tích là 372 Km2
song ở đây
đã nhập rất nhiều nô lệ làm việc trong các đồn điền trồng mía Vào cuối thế kỉ XV có những đồn điền sử dụng đến 300 nô lệ Đến cuối thế kỉ XV, những hòn đảo trên Đại Tây Dương nhập khẩu khoảng 76.000 nô lệ, sau đó có những dấu hiệu giảm bớt
Đặc biệt với việc khám phá ra Brazil đã đánh dấu bước nhảy vọt của người Bồ Đào Nha trong việc vận chuyển nô lệ da đen sang Tân Thế giới Lúc đầu, với việc khám phá ra vùng đất Brazil rộng lớn người Bồ Đao Nha cũng giống người Tây Ban Nha đã có gắng bắt người dân bản địa làm việc trong các đồn điền nhưng điều này đã thất bại vì người bản địa không có sức đề kháng cần thiết để chống lại những căn bệnh mà người châu Âu mang sang như bệnh sởi, dịch hạch… Chính điều này
đã thúc đẩy việc mang người da đen sang Tân Thế giới để thay người châu Mỹ bản địa làm việc trong các đồn điền Kể từ năm 1570, Brazil trở thành nơi nhập khẩu nô
lệ lớn nhất ở Tân Thế giới
Cùng với đó là việc người Bồ Đào Nha đã lấy được các giấy phép asiento của Tây Ban Nha Với các giấy phép này, người Bồ trong khoảng thời gian 1595 - 1640
đã mang khoảng 143.998 nô lệ đến các thuộc địa của Tây Ban Nha Đây là số lượng
nô lệ được người Tây Ban Nha cấp phép được mang đến các thuộc địa của mình ở Tân Thế giới
Trang 21Mặc dù, Bồ Đào Nha đã độc quyền buôn bán nô lệ trong gần 1,5 thế kỉ song sang thế kỉ XVII, họ bắt đầu gặp phải sự cạnh tranh của các nước châu Âu khác như
Hà Lan, Anh, Pháp, Đan Mạch…Nhất là sự lớn mạnh của Hà Lan sau khi giành độc lập, đã đe dọa nghiêm trọng sự độc quyền thương mại của Bồ Đào Nha Với sức mạnh hải quân, Hà Lan đã chiếm đóng một số thuộc địa thuộc sở hữu của người Bồ Đào Nha như vùng Đông Bắc Brazil, Angola, thương điếm El Mina, Curacao Tuy nhiên đến thế kỉ XVII người Bồ Đào Nha vẫn chiếm ưu thế trong việc buôn bán nô
lệ vì người Hà Lan chỉ chiếm đóng các thuộc địa của Bồ Đào Nha trong thời gian ngắn Ở Brazil trong một vài năm còn Angola gần một thập kỉ
Đến đầu thế kỉ XVII, ngành sản xuất đường ở Brazil ngày một phát triển nên việc
nhập nô lệ da đen là điều rất cần thiết cho các đồn điền, nhà máy… Sản lượng đường
của Brazil năm 1600 là 16.300 tấn đến năm 1650 đã tăng lên 28.500 tấn [ 19; 29]
Từ năm 1610 - 1640 người Bồ Đào Nha mở rộng mạng lưới buôn bán của mình
từ phía Bắc Luanda đến bờ biển Loango, từ phía Đông và phía Nam Benguela đến bờ bên kia sông Kwanza Năm 1659, thương mại của người Bồ Đào Nha có những thay đổi lớn đó chính là việc Luanda thay thế cho thương mại của Congo Thống đốc và các thương nhân Luanda lấn át và thay thế São Tomé về việc buôn bán của Bồ Đào Nha Brazil thì trở thành nơi nhập khẩu lớn nhất thay cho São Tomé
Đến thế kỉ XVII, Brazil chiếm 42% trong tổng số nô lệ được mang vào Tân thế giới Theo tính toán thì có khoảng 5.5 triệu nô lệ đến Brazil nhưng chỉ có 4.8 triệu nô lệ đến được các đồn điền ở Brazil [17; 151], số nô lệ được mang sang Brazil chủ yếu được lấy từ các vùng của Tây Phi, vịnh Benin khoảng 560.000 nô
lệ, trong đó Angola là nơi có đóng góp lớn về số nô lệ được mang sang Ước tính xuất khẩu của Angola năm 1612 là 10.000 nô lệ, năm 1620 là 13.000 nô lệ, năm
1641 là 16.000 nô lệ Nó được duy trì trong một thời gian dài và chiếm phần lớn trong việc xuất khẩu và Brazil
Trang 22Số lượng nô lệ từ các vùng được mang đến Brazil từ 1561 - 1850 [17; 151]
Đến cuối thế kỉ XVIII, việc buôn bán nô lệ của Bồ Đào Nha có những quy định về việc buôn bán nô lệ như truyền bá tôn giáo và làm lễ rửa tội trước khi đưa
họ lên thuyền Cùng với đó, luật pháp cũng quy định số nô lệ được chở trên thuyền, việc chăm sóc y tế… Sau cuộc chiến tranh Napoleonic, Anh đã thành công trong việc thỏa thuận cùng người Bồ Đào Nha kí Hiệp ước Anglo-Portuguese (28/07/1817) qua đó sẽ cấm việc buôn bán nô lệ [19; 35], nhưng ở Brazil việc buôn bán vẫn tiếp tục đến 1888 mới chấm dứt
1.2.2 Buôn Bán nô lệ của người Tây Ban Nha
Sau cuộc phát kiến địa lý, người Tây Ban Nha làm chủ cả một vùng đất rộng lớn, thậm chí độc quyền buôn bán, khai thác ở Tân Thế giới sau khi Hiệp ước Tordesllas (1493) được kí kết với người Bồ Đào Nha Với Hiệp ước này, người Tây Ban Nha làm chủ Tây Bán cầu nhưng không có quyền đến các vùng đất ở châu Phi Chính vì vậy, việc sử dụng nô lệ da đen của người Tây Ban Nha chủ yếu thông qua việc buôn bán với người Bồ Đào Nha sau này là các nước Hà Lan, Anh, Pháp Đến năm 1778, mặc dù, Fernando Po và Annabon đã mua được một số vùng đất ở Tây Phi song việc cung cấp nô lệ ở đây cũng không mấy khả quan
Cùng với sự yếu kém trong việc ký Hiệp ước với người Bồ Đào Nha thì bản chất của Tây Ban Nha là thực dân không quan tâm đầu tư mở rộng thuộc địa như các nước khác mà họ chỉ quan tâm tới việc cướp vàng từ Tân Thế giới về Châu Âu
Bờ biển Windward 0.1%
0.1%
Sierra Leone(0.2%)
Bờ biển Vàng (1.3%) Senegambia(2.2%)
2.2%
Vịnh Biafra (2.4%) Mozambique (5.7%)
5.7%
Vịnh Benin (18%)
Tây – Trung châu Phi (70.1%)
Trang 23Chỉ đến năm 1759, vua Charles mới khuyến khích các thương nhân Tây Ban Nha tham gia buôn bán bằng đạo luật tự do thương mại Người Tây Ban Nha tham gia buôn bán nô lệ chỉ trong thời gian khoảng 1,5 thế kỉ nhưng cách thức buôn bán của
họ không giống với Bồ Đào Nha Với việc kí Hiệp ước Tordesllas (1493) và bản chất thực dân của mình, người Tây Ban Nha đã thực hiện một chính sách cấp giấy phép cho các tàu thuyền của người Bồ Đào Nha mang nô lệ da đen đến các thuộc địa của người Tây Ban Nha ở Tân Thế giới
Đồng thời, người Tây Ban Nha đã đưa ra các Hiệp ước asiento để khuyến khích các nước mang nô lệ đến các thuộc địa của mình ở Tân Thế giới Với các Hiệp ước asiento này các nước châu Âu (chủ yếu là Bồ Đào Nha) đã mang đến các thuộc địa của Tây Ban Nha với số lượng lớn nô lệ da đen Theo các ghi chép của người Tây Ban Nha
về việc cấp phép cho các nước đem nô lệ đến châu Mỹ trong giai đoạn 1510 - 1599, số
nô lệ được mang đến khoảng 119.377 nô lệ.[15; 74]
Trang 24châu Mỹ theo như Vila Vilae tính toán thì có khoảng 132.000 nô lệ Như vậy, trung bình trong khoảng thời gian 1595 -1640 mỗi năm có khoảng 6000 nô lệ được mang sang thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới [15; 79] Nô lệ đầu tiên được gửi
tới các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Châu Mỹ chủ yếu được lấy từ châu Phi
Từ thế kỉ XVI - XVII, nô lệ được nhập khẩu vào các thuộc địa của Tây Ban Nha chủ yếu được lấy từ vùng thượng Guinea Sau đó được dịch chuyển đến vùng Tây - Trung Phi Từ năm 1640, Angola trở thành nơi cung cấp nguồn nô lệ chính, việc nhập khẩu nô lệ của Tây Ban Nha phụ thuộc rất lớn vào các nước Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Anh, Pháp Đế chế Tây Ban Nha tồn tại ở Tân Thế giới trong một thời gian dài Chính vì vậy nó luôn bị các nước châu Âu nhòm ngó các thuộc địa Đặc biệt với sự nổi lên của chủ nghĩa Tư bản và phong trào cải cách tôn giáo đã chống lại sắc lệnh của Giáo hoàng về việc cho phép người Tây Ban Nha được độc quyền buôn bán ở Tân Thế giới
Năm Senegambia Vịnh
Benin
São Tomé Tây Phi
Đông Nam châu Phi
Tổng
1526 - 75 1.2
0.4 (22.2%)
1.4 (2.0%)
57.2 (81.7.6%)
0.1 (0.2%) 70.0
1626 - 50 3.3
(8.6%)
0.3 (0.8%) _
1.3 (10.9%)
2.2 (37.8%)
6.4 (4.6%
4.3 (3.1%)
106.9 (76.4%) (0.1%) 139.8
Số nô lệ được mang từ các vùng đến thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới trước năm 1685 (nghìn người)[15; 85]
Trang 25Tuy nhiên, với chính sách này nó vẫn không cung cấp đủ số nô lệ mà các thuộc địa của Tây Ban Nha cần Cuối thế kỉ XVI với sự hợp nhất giữa Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha thì hàng loạt các Hiệp ước cho phép các thuyền buôn của Tây Ban Nha có thể trực tiếp đến một số địa điểm ở châu Phi để mua nô lệ Đến đầu thế kỉ
XVIII các Hiệp ước asiento của Tây Ban Nha được coi là những phần thưởng trong
quan hệ quốc tế giữa các nước châu Âu Tuy nhiên, đến năm 1789 người Tây Ban Nha đã bãi bỏ việc cung cấp các giấy phép về việc buôn bán nô lệ của các nước châu Âu đến các thuộc địa của họ ở Tân Thế giới Bởi vì với các giấy phép đó cũng không mang đủ số nô lệ mà các thuộc địa cần, đồng thời cùng năm này người Tây Ban Nha thực hiện chính sách tự do thương mại trên Đại Tây Dương, với chính
sách này đã làm cho “số lượng nô lệ ở Cuba tăng vọt từ 2.534 nô lệ năm 1790 đến
năm 1823 là 300.211 nô lệ Cùng với việc tăng vọt số lượng nô lệ trong các đồn điền trồng mía làm cho sản lương đường ở Cuba tăng vọt từ 63.274 thùng năm1786 đến năm 1823 là 300.211 thùng” [16; 214] Với việc tự do thương mại từ 1789 -
1820 Tây Ban Nha đã trở thành nhà cung cấp chính nô lệ cho Cuba, điều này trái ngược với lịch sử về sự phục thuộc việc nhập khẩu nô lệ của Tây Ban Nha Những tàu thuyền của Tây Ban Nha chiếm ½ số nô lệ được mang vào Cuba theo sau đó là Anh, Pháp, Đan Mạch… Với việc tham gia buôn bán tại Cuba, theo tính toán (1815
- 1819) có khoảng 241 - 248 thuyền của Tây Ban Nha cập cảng Havana Những chiếc thuyền vận chuyển của Tây Ban Nha cũng giống như của người Anh nó rất lớn chở được từ 142 -145 nô lệ lớn Còn các thuyền của Mỹ tính trung bình chở được 42 nô lệ
Người Tây Ban Nha buôn bán cùng thời với người Bồ Đào Nha, theo ước tính
số nô lệ được đưa vào các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới trong năm
1600 là 75.000 nô lệ Nếu so sánh số nô lệ này với nô lệ được nhập vào São Tomé của Bồ Đào Nha thì nó vượt rất nhiều Nhưng cũng trong thời gian này việc nhập khẩu nô lệ của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới đã giảm và đứng vị trí thứ 2 sau Brazil
Từ đầu thế kỉ XVIII -1810, Tây Ban Nha buôn bán chiếm 3/5 tàu thuyền đi lại trên Đại Tây Dương nhập khẩu số lượng nô lệ rất lớn từ 300.000 - 580.000 người và là
Trang 26một trong những nơi quan trọng của việc tiếp nhận nô lệ từ châu Phi sang Cùng với buôn bán hợp pháp thì từ 1811 - 1866 có những chuyến buôn lậu cũng góp phần đáng kể cho việc bổ sung nô lệ cho các đồn điền ở Tân thế giới Số lượng nhập khẩu bất hợp pháp vào Tân Thế giới là khoảng 700.000 người, trong khoảng 60 năm cuối các thuộc địa của Tây Ban Nha như Cuba, Puerto Rico đã nhập khoảng 40% số lượng nô lệ của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới [19; 46].
Mặc dù có thuộc địa rộng lớn ở Tân Thế giới song người Tây Ban Nha chỉ nhập khẩu được gần 1,7 triệu nô lệ châu Phi chiến khoảng 1/6 số nô lệ được nhập vào Tân Thế giới Trong 1,7 triệu nô lệ được xuất khẩu vào các thuộc địa của Tây Ban Nha được phân bố như sau: Cuba chiếm ½ trong số đó, tiếp đến là Mexico từ đầu thế kỉ XVII đến năm 1817 với việc bãi bỏ chế độ nô lệ đã nhập khoảng 200.000
nô lệ Trái ngược với việc nhập khẩu của Cuba thì số lượng rất nhỏ được đưa vào các nước Colombia, Panama, Ecuador 200.000 nô lệ Venezuela nhập 120.000 nô
lệ Các nước Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia nhập khẩu khoảng 100.000 nô
lệ Peru nhập khoảng 95.000 nô lệ Số lượng giảm dần ở Santo Domingo, Central America, Chile [18; 61] Số nô lệ này chủ yếu làm việc trong các hầm mỏ, đồn điền trồng mía và sản xuất nông nghiệp
Các nơi nhập nô lệ da đen Số lượng
Trang 27Tổng 1.687.000
Số lượng nô lệ da đen được nhập vào thuộc địa của Tây Ban Nha [19; 61]
Thuộc địa của người Tây Ban Nha ở Tân Thế giới gồm có các vùng đất ở Tây
Ấn, Mexico, Trung Mỹ, phía Bắc của Nam Mỹ và một số hòn đảo ở vùng biển Caribben Ngay từ đầu khi người Tây Ban Nha khám phá và thiết lập thuộc địa ở Tân Thế giới thì số người da trắng đã không đủ để làm việc trong các đồn điền Chính vì vậy, chính quyền Tây Ban Nha đã cho phép dùng người bản địa để lao động trong các đồn điền
Cuối thế kỉ XV người da đen được đưa sang Tân Thế giới ngày một nhiều Đặc biệt sau Hiệp ước năm 1479 về việc người Bồ Đào Nha được độc quyền mang nô lệ
da đen đến các thuộc đại của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới Và từ đó Seville và Lisbon trở thành các trung tâm mua bán nô lệ da đen Seville có đóng góp to lớn với việc buôn bán nô lệ của Tây Ban Nha Họ thường mua giấy phép cho việc buôn bán ở các thuộc địa Tây Ban Nha Đồng thời, họ đầu tư cho các chuyến buôn bán nô lệ đến Tân Thế giới Ở Tân Thế giới họ trao đổi nô lệ lấy các mặt hàng của Tân Thế giới như đường, bông, coffee… để mang trao đổi ở Cựu Thế giới Với việc buôn bán này, người Genova ở Seville từ một nước thuộc địa đã làm chủ các đội tàu buôn nô lệ Với sự phát triển của việc sản xuất đường nên cần rất nhiều lao động để sản xuất Năm 1510 vua Ferdinand đã gửi 250 nô lệ châu Phi mua từ Lisbon đến Tân thế giới Sự kiện này đánh dấu việc buôn bán nô lệ từ Cựu Thế giới với Tân Thế giới Sản xuất đường của người Tây Ban Nha được thử nghiệm đầu tiên ở vùng biển Caribbean và nó thu hút được sự quan tâm của Hoàng gia Tây Ban Nha và Giáo hội chính điều này đã khiến họ đầu tư vốn và nhân lực có tay nghề đến đây phát triển các đồn điền Năm 1522 với việc thành lập các đồn điền trồng mía tại Hispaniola thì sau một thời gian ngắn nó đã mở rộng ra các khu vực Jamaica, Puerto Rico, bờ biển Mexico Chưa đầy ½ thế kỉ sản lượng đường của Hispaniola ở đây đã vượt sản lượng của các đảo São Tomé Các đồn điền ở đây thường sử dụng từ 100 - 200 nô
lệ Tại thủ đô Melchoir de Tores có 2 nhà máy sử dụng tới 900 người Người Tây Ban Nha còn sử dụng nô lệ để khai thác các kim loại quý ở dọc các bờ biển Nam
Trang 28Mỹ và các cao nguyên (Bạc ở Peru - Mexico) Trong thời kì đó, việc lao động trong các hầm mỏ đồn điền, việc vận chuyển… đều sử dụng bằng tay chân nên cần rất nhiều người Chính vì thế họ đã thử sử dụng rất nhiều người Idian, da đen, người da trắng tự do và các tội phạm…Nhưng chính quyền Tây Ban Nha và Giáo hội đã phản đối việc dùng người Idian vì họ chết quá nhiều vì bệnh dịch Chính bệnh dịch đã giết chết rất nhiều người châu Mỹ bản địa Theo ghi chép trong tác phẩm Guns,
Sails, and Empires tác giả Carlo M Cipolla cho rằng: “số người da đỏ ở Mexico
trong giai đoạn 1514 -1605 dịch bệnh đã làm suy giảm dân số một cách nghiêm trọng từ 25 triệu người xuống còn 1 triệu người Dân số Hispanipla trong thời gian
1492 -1570 do các bệnh dịch như sởi đậu mùa đã giảm từ 100.000 người xuống còn vài trăm người” [12; 45 -52] Tuy nhiên, những nô lệ da đen lại miễn dịch với
những căn bệnh đó theo như nghiên cứu của người Tây Ban Nha thì “sức khỏe của
nô lệ da đen gấp 4 lần người châu Mỹ bản địa”[16; 9] Chính vì vậy nô lệ da đen có
đóng góp rất lớn với đối với sự thay đổi lịch sử Tây Ban Nha Họ đã đem lại nguồn của cải lớn cho Đế chế Tây Ban Nha đặc biệt là các kim loại vàng và bạc Đặc biệt vào năm 1545 Potosí phát hiện ra Peru, với phát hiện này đã đưa về cho Tây Ban Nha rất nhiều vàng bạc, chính những con thuyền chở kho báu từ Tân Thế giới về làm cho châu Âu có một cuộc cách mạng giá cả
Đến năm 1640, việc nhập khẩu nô lệ của Tây Ban Nha gặp nhiều khó khăn vì
Bồ Đào Nha đã không còn phụ thuộc vào Tây Ban Nha, Hà Lan thì đang mâu thuẫn với Tây Ban Nha Chính những điều này đã làm số lượng nô lệ được nhập vào các thuộc địa giảm sút một cách nghiêm trọng Từ thế kỉ XVII - XVIII với sự suy yếu của chính quốc, cùng với sức mạnh đang lên của các nước Hà Lan, Pháp, Anh đã làm cho việc nhập khẩu nô lệ của các thuộc địa ở Tân Thế giới ngày một khó khăn Với việc những chiếc thuyền mang đầy vàng bạc từ Tân Thế giới về đã làm cho các nước khác ghen tỵ đồng thời cũng kích thích họ khám phá những vùng đất mới trên thế giới Đồng thời, với bản chất thực dân của người Tây Ban Nha là cướp bóc không chịu khai thác, đặt ách thống trị lên các vùng đất mới ở Tân Thế giới nên khi sức mạnh hải quân của mình suy yếu thì các nước Hà Lan, Anh, Pháp dễ dàng xâm chiếm các thuộc địa của Tây Ban Nha, như việc thuyền trưởng John Hawking đã
Trang 29thách thức sự độc quyền của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới Năm 1655 Oliver Cromwel đã chiếm Jamaica, Pháp chiếm các đảo ở Martinque và Guadeloupe Trong giai đoạn 1710 -1810 là thời kì thương mại cạnh tranh giữa các nước, Tây Ban Nha chỉ chiếm 10% thương mại trên Đại Tây Dương Mặc dù đứng thứ 4
về thuộc địa ở Tân Thế giới sau Brazil, các đảo của Anh, Pháp ở vùng biển Caribbean nhưng số lượng nô lệ Tây Ban Nha nhập trung bình mỗi năm là 4.500 nô
lệ chỉ bằng 1/3 số nô lệ được nhập vào Brazil Có thể nói việc cung cấp nô lệ cho các thuộc địa của mình ở Tân Thế giới của Tây Ban Nha hoàn toàn phụ thuộc vào các nước châu Âu Có hai nguyên nhân để giải thích cho việc phụ thuộc việc cung
cấp nô lệ cho thuộc địa của mình “ Thứ nhất có thể do người Tây Ban Nha bị ràng
buộc bởi Hiệp ước do Giáo hoàng kí giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1493 Nguyên nhân thứ hai có thể do người Tây Ban Nha thiếu vốn lên không thể đến châu Phi buôn bán.” [16; 32] Chỉ mãi đến năm1815 khi buôn bán nô lệ bị cấm thì
Tây Ban Nha mới buôn bán ồ ạt nhưng đến năm 1835 nhu cầu về nô lệ của các hòn đảo không còn cần thiết như trước
Việc buôn bán nô lệ của người Tây Ban Nha được các học giả hết sức quan tâm có thể thấy rằng người Tây Ban Nha đã được hưởng lợi rất nhiều từ việc buôn bán của người Bồ Đào Nha Phần tiếp theo ta sẽ xem xét việc buôn bán của người
Hà Lan trên Đại Tây Dương
1.2.3 Buôn bán nô lệ của người Hà Lan
Nếu người Tây Ban Nha đóng vai trò quan trọng trong việc thu mua nô lệ da đen, người Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan, Pháp cùng các thương nhân châu Âu đóng vai trò lớn trong việc vận chuyển nô lệ
Sau chiến tranh tám mươi năm (1568 -1648) cùng với việc giành độc lập, Hà Lan nhanh chóng vươn lên trở thành một cường quốc thương mại ở châu Âu Trong khi đó với sự xuống dốc của Bồ Đào Nha đã khuyến khích người Hà Lan chiếm các lãnh thổ buôn bán của người Bồ Đào Nha Từ năm 1640 đến gần hết thế kỉ, người
Hà Lan đã đứng ở vị trí thứ 2 trong việc buôn bán nô lệ trên Đại Tây Dương
Trang 30Trong những thập kỉ đầu, khi người Bồ Đào Nha đánh mất hàng loạt các thuộc địa của mình như Guinea, Brazil, Angola và các Hiệp ước asiento về việc độc quyền buôn bán nô lệ đến các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới Đó là khoảng thời gian thuận lợi nhất để người Hà Lan có thể vươn lên vị trí số 1 trong việc buôn bán
nô lệ Từ nửa cuối thế kỉ XVII, Hà Lan mới gặp sự cạnh tranh quyết liệt từ Anh, Pháp nhưng người họ vẫn duy trì được việc buôn bán đến những năm cuối của thế kỷ này Chúng ta đã biết, đến thế kỉ XVI, người Hà Lan đã có một hệ thống thương mại với đội tàu buôn lớn Thậm chí, đã có một sử gia viết về tình hình thương mại
và thuộc địa của Hà Lan vào lúc thời kì vua Louis XIV lên ngôi như sau:
“Hà Lan trở thành Phoenicia của thời hiện đại Nắm được Scheldt, các tỉnh hợp nhất chặn đứng cửa ngõ từ Antwerp đi ra biển và thừa hưởng được khả năng thương mại của thành phố giàu có này, một thành phố mà trong thế kỉ XV, vị đại sứ Venice đã so sánh với chính Vencie Ngoài ra, họ còn tiếp nhận người lao động chạy từ khu vực Netherlands do bị người Tây Ban Nha áp bức về mặt tôn giáo Việc sản xuất quần áo, vải lanh… cần đến 600.000 người, đã tạo ra nguồn thu nhập mới cho những người dân trước đó chỉ biết việc buôn bán pho mát và cá Chỉ riêng nghề
cá đã làm cho họ giàu rồi Nghề đánh cá trích đã nuôi được 1/5 dân số Hà Lan, nghề này sản xuất được 300 ngàn tấn cá muối và mỗi năm đem về cho đất nước hơn
8 triệu đồng bạc Pháp
Sức mạnh về hải quân và thương mại của nước cộng hòa gia tăng một cách nhanh chóng Chỉ riêng đội thương thuyền đã có 10.000 chiếc, 168.000 thủy thủ và nuôi sống được 260.000 người Hà Lan nắm được phần lớn ngành vận tải thương mại châu Âu, thêm nữa, từ ngày hòa bình lập lại nó còn đảm nhiệm việc vận tải toàn bộ hàng hóa giữa Mỹ và Tây Ban Nha, cũng như các cảng của Pháp, tổng giá trị ngành vận tải thương mại của nước này đạt tới con số 36 triệu đồng bạc Pháp Các nước phía Bắc như Bradenburg, Đan Mạch, Thụy Điển, Muscovy (miền Trung- tây của nước Nga), ba Lan - đường vào nước này đi qua biển Baltic - cung cấp cho Hà Lan thị trường trao đổi vô tận Người Hà Lan bán hàng ở đây và mua về những sản phẩm của phương Bắc như lúa mì, gỗ, sợi gai
Trang 31và lông thú Tổng giá trị hàng hóa được Hà Lan chuyên chở hàng năm, trên tất
cả các đại dương là hơn một tỉ đồng bạc Pháp Theo ngôn ngữ đương thời thì người Hà Lan đã trở thành “gã xà ích” trên tất cả các đại dương” [1; 144]
Có thể nói sau cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, Hà Lan được hưởng lợi rất lớn trong việc làm suy tàn cảng Antwerp Amsterdam đã thành công trong việc sự dụng cảng Antwerp hơn các nước châu Âu, đầu thế kỉ XVII Amsterdam trở thành trung tâm thương mại của châu Âu Trong khoảng thời gian từ 1585 -1622 dân số của thành phố này khoảng 30.000 - 105.000, dân số ở đây nói nhiều ngôn ngữ khác nhau đã tạo lên sự đa dạng về văn hóa, kinh nghiệm trong việc buôn bán Năm
1609, với việc thành lập ngân hàng Amsterdam, và phát hành đồng tiền vàng đã biến Amsterdam trở thành trung tâm tài chính ở châu Âu cho đến khi diễn ra cuộc Cách mạng Pháp (1789) [14; 176-93]
Sự giàu có của Amsterdam là nền tảng cho việc cung cấp tài chính cho việc buôn bán nô lệ trong thế kỉ XVII Sau năm 1664, với việc cung cấp tài chính cho Curacao, Hà Lan đã kiểm soát được Curacao - kho chứa nô lệ lớn nhất ở vùng biển Caribbean Với sự giàu có của mình, các nước như Bồ Đào Nha cùng hàng loạt các công ty Đông Ấn Đan Mạch, Thụy Điển, Brandenburg đã đến Amsterdam vay vốn
Như sử gia Violet Barbour tóm tắt: “Trong nửa cuối thế kỉ Amsterdam trở thành
trung tâm buôn bán, phân phối nô lệ [19; 70] Bên cạnh đó Amsterdam còn là trung
tâm vận chuyển cho các nước Tây Âu Nơi đây cung cấp nhiều loại mặt hàng như vải, đồng, sắt, thuốc lá để các nước châu Âu có thể đổi lấy nô lệ ở châu Phi Rất nhiều tàu buôn nô lệ của các nước - đặc biệt là Anh hay vào Amsterdam để đổi lấy hàng hóa vì ở đây hàng hóa được bán giá rẻ thích hợp với việc buôn bán ở châu Phi Cùng với thời gian nổi lên của Hà Lan là sự phụ thuộc của Bồ Đào Nha vào Tây Ban Nha đã khuyến khích người Hà Lan mở rộng việc buôn bán của mình sang phương Đông Sau khi chiếm được Mũi Hảo Vọng vào năm 1650, nơi dừng chân của thuyền bè, Công ty Đông Ấn liền chiếm Ceylon, vùng bờ biển Malabar và cả Coromandel nữa Công ty đã đặt tổng hành dinh ở Batavia và khuếch trương việc
Trang 32buôn bán đến Trung Quốc và Nhật Bản, Hà Lan cũng kiểm soát một phần buôn bán
nô lệ ở châu Phi đồng thời mở rộng việc buôn bán ở phương Đông
Năm 1621, công ty Tây Ấn được thành lập với mục đích buôn bán ở châu Phi
và châu Mỹ đồng thời cạnh tranh với người Tây Ban Nha Công ty này được trang bị
về mặt quân sự để bảo vệ nền thương mại của mình ở châu Phi, Á và thương mại trên Đại Tây Dương Năm 1630, Hà Lan đã chiếm vùng Pernambuco của Brazil - nơi trù phú về việc sản xuất đường biến nơi này phụ thuộc vào Hà Lan Cùng với việc chiếm đóng đó là sự gia tăng về số lượng nô lệ được đưa vào đây Năm 1637, có 9 thuyền khởi hành từ Pernambuco đến El Mina thương điếm của người Bồ Đào Nha mặc dù người Bồ Đào Nha có 30 khẩu pháo nhưng thất bại trước sức mạnh của người Hà Lan Với chiến thắng này, đánh dấu việc phát triển buôn bán nô lệ của người Hà Lan đồng thời phá vỡ sự độc quyền buôn bán nô lệ của Bồ Đào Nha Tuy nhiên, với việc chiếm được El Mina việc buôn bán của người Hà Lan cũng không tốt hơn được bao nhiêu vì bờ biển vàng/Gold Coast cung cấp vàng là chủ yếu còn nô lệ thì không khả quan vì người da đen ở đây không được ưa chuộng ở Brazil Chính điều này đã thúc đẩy Hà Lan xâm chiếm Angola và Benguela Năm 1641, người Hà Lan đã kiểm soát được việc xuất khẩu đường của Brazil và một số vùng như Arguim, Gorée, Axim đã cung cấp số nô lệ cho thương mại của Hà Lan Năm 1645, giám đốc công ty Tây
Ấn/WIC cho rằng: “Buôn bán nô lệ là linh hồn của công ty” [19; 72]
Từ năm 1600 -1650, Hà Lan đã tiến hành buôn bán bất hợp pháp với các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới Cũng trong giai đoạn này xảy ra xung đột Bồ Đào Nha - Tây Ban Nha, chính điều này làm các thuộc địa ở Tân Thế giới phải đối mặt với tình trạng thiếu nô lệ, khủng hoảng về kinh tế Đối mặt với tình trạng khó khăn họ sẵn sàng mua nô lệ được nhập lậu bởi người Hà Lan Thuyền buôn nô lệ của
Hà Lan đến Curacao và người Tây Ban Nha đến đây nhận hàng Năm 1659, phó Thống đốc Curacao là Beck đã thông báo cho Peter Stuyvesant - Thống đốc Curacao
là việc Tây Ban Nha đã đến mua nô lệ: “Những người hàng xóm của chúng ta đã đến
mua nô lệ” [19; 71] Năm 1662, Amsterdam kí Hiệp ước thương mại với Curacao
thỏa thuận mang khoảng 2000 nô lệ mỗi năm Như vậy, với việc Hà Lan mở rộng
Trang 33hoạt động buôn bán ở vùng biển Caribbean thì Curacao trở thành một điểm trung chuyển nô lệ quan trọng nhất ở châu Mỹ và đây là điểm cuối trong các giao dịch Với việc kí các hiệp định, Curacao đã đồng ý để người Hà Lan xây dựng các kho chứa nô lệ được mang từ châu Phi sang Có những kho chứa được 3000 người
Từ năm 1675-1699, Curacao tiếp nhận khoảng 25.399 nô lệ của WIC mang tới, còn
từ 1700-1732 WIC vận chuyển tới Curacao 19.245 nô lệ [20; 45 - 48] Không chỉ có WIC mang nô lệ tới Curacao để bán cho các thuộc địa của người Tây Ban Nha, theo tính toán chỉ riêng việc từ khi chính quyền Hà Lan cho phép buôn bán tự do thì số nô
lệ mang tới Curacao trong khoảng thời gian 1731 - 1795 tiếp nhận khoảng 15.437 nô
lệ [21; 223] Không chỉ có Curacao, một số địa điểm như Sint Eustatius cũng nổi tiếng về việc vận chuyển nô lệ, theo ước tính từ 1732 - 1795 có khoảng 16.739 được đưa từ đây sang các thuộc địa [21; 224]
Đến giữa thế kỉ XVII, Hà Lan lợi dụng sự bất ổn chính trị ở Anh đã đưa tàu thuyền của mình đến Barbados, Virginia để mua đường và bán nô lệ cho những vùng này
Mặc dù người Hà Lan đã mở rộng hoạt động buôn bán nhưng vẫn không đáp ứng đủ số nô lệ mà thuộc địa của Tây Ban Nha cần Đến giữa thế kỉ XVII, Anh - Hà Lan cạnh tranh quyết liệt để tranh giành các Hiệp ước asiento của người Tây Ban Nha ở Tân thế giới
Tuy nhiên, trong giai đoạn 1674 -1734 thì WIC bắt đầu gặp sự cạnh tranh quyết liệt Đặc biệt là sự chống đối của người Anh ngày một mạnh mẽ, với hai đạo
luật nổi tiếng “Navigation - 1660 và Staple act -1663” ngăn chặn các thuộc địa của
Anh buôn bán với Hà Lan Đồng thời để thúc đẩy việc buôn bán với châu Phi người Anh đã thành lập Công ty thám hiểm Hoàng gia Với việc thành lập Công ty thám hiểm Hoàng gia của Anh đã gây rất nhiều khó khăn cho việc buôn bán của người Hà Lan Với sự cạnh tranh giữa Hà Lan - Anh đã dẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai nước
trong thời gian từ (1665 -1667) Nhà sử học GL Bia cho rằng: “nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến cuộc chiến tranh là việc xâm phạm độc quyền buôn bán nô lệ của người Hà Lan và chống lại người Anh thiết lập các thương điếm ở châu Phi”[14; 61], và cũng
Trang 34chính bởi sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước làm: “Công ty WIC trong 60 năm
(1674 - 1734 ) chỉ mang khoảng 161.000 nô lệ sang các thuộc địa ở Tân Thế giới”
[19; 81] Đến 1730, với việc cải tổ lại công ty WIC, số lượng nô lệ được WIC mang sang Tân Thế giới tăng một cách đáng kể nhưng đến năm 1734 thì hầu như không còn buôn bán nô lệ nữa Việc buôn bán nô lệ của Hà Lan được giao cho các thương nhân buôn bán tự do Trong giai đoạn 1730 -1794 Hà Lan thực hiện tự do thương mại nên thương nhân Hà Lan mang 285.000 vượt Đại Tây Dương Công ty WIC vẫn tồn tại mãi tới năm 1791 song ngay từ những năm 1735 nó đã không còn tổ chức buôn bán nô lệ nữa Zeeland trở thành trung tâm buôn bán nô lệ thay cho Amsterdam, Rotterdam
Ở Zeeland việc buôn bán nô lệ chủ yếu là do Công ty Middelburgsche Commercie Compagnir (MCC) phụ trách Toàn bộ dữ liệu buôn bán của Công ty được giữ gìn rất cẩn thận và được học giả W S Unger nghiên cứu cho chúng ta thấy trong khoảng thời gian từ 1733 -1802 MCC đã tổ chức 143 chuyến tàu đi bắt nô
lệ Trong đó với 108 chuyến tàu đã bắt được 31.095 nô lệ châu Phi Trong số 31.095
nô lệ được người Hà Lan mang vượt Đại Tây Dương tới châu Mỹ thì chỉ có 27.344 đến được châu Mỹ Số người chết chiếm 12% trong tổng số 31.095 nô lệ Số nô lệ đó chủ yếu lấy từ bờ biển Guinea (Guinea chiếm 3/5 trong 31.095 nô lệ) [19; 82] Những
nô lệ này sau khi được đưa đến châu Mỹ, được bán một cách công khai, sau đó những chuyến tàu mang nô lệ sang châu Mỹ sẽ nhập những mặt hàng như: đường,
cà phê, cao cao… Tuy nhiên, theo tính toán thì việc buôn bán nô lệ của MCC lợi nhuận không cao chỉ chiếm khoảng 20% trong việc buôn bán
Theo tính toán, người Hà Lan đưa khoảng 649 chuyến tàu sang châu Phi để đưa người da đen sang châu Mỹ Trong đó WIC cử 152 chuyến còn các thương nhân buôn bán tự do đã cử khoảng 497 chuyến tàu sang châu Phi [21; 159] Số lượng nô lệ được người Hà Lan mang sang Tân Thế giới trong khoảng thời gian từ
1621 -1803 được Johannes Menne Postma ước lượng khoảng 526,163 nô lệ
Trang 35Năm Công ty Tây
Bảng buôn bán nô lệ của người Hà Lan 1625-1803 (nghìn ngươi) [19; 82]
Theo tính toán thì trong giai đoạn từ 1621- 1674, công ty WIC đã mang khoảng 86.900 nô lệ Giai đoạn thứ hai của công ty WIC từ 1675 - 1794 đã vận chuyển 185.500 nô lệ, đến năm 1734 với việc Hà Lan đưa ra chính sách tự do thương mại việc buôn bán của tư nhân bắt đầu phát triển Chỉ trong khoảng thời gian từ 1730 -1739 số nô lệ được tư nhân mang sang châu Mỹ là 19.169 nô lệ trong khi đó WIC là gần 25.000 nô lệ Đến năm 1739 thì WIC đã chấm dứt việc buôn bán
nô lệ Trái ngược với WIC, thì thương nhân tự do buôn bán nô lệ trong khoảng mười năm từ 1741 - 1749 đã mang 48.000 nô lệ Các thương nhân buôn bán tự do trong thời gian 1730-1803 đã mang khoảng 260.368 nô lệ, chiếm ½ số lượng nô lệ trong thương mại Hà Lan Số nô lệ mà cá thương nhân buôn bán tự do chủ yếu được
Trang 36lấy từ các vùng như: Loango, Guinea, Gold Coast, Slave Coast… 1730-1803 có khoảng 166,180 nô lệ bị mang khỏi châu Phi vượt Đại Tây Dương tới các vùng của thuộc địa ở châu Mỹ [20; 121]
Thời kì Loango (%) Guinea Bờ biển Vàng Slave Coast Tổng
Các vùng cung cấp nô lệ cho việc buôn bán của người châu Âu từ 1730 - 1803 [20; 121]
Trong khoảng thời gian từ 1760 -1803, đây là thời gian hoạt động mạnh mẽ của người Hà Lan tại Bắc Mỹ, số lượng nô lệ người Hà Lan mang đến đây là 142.000 nô lệ đứng thứ 5 sau Anh, Bồ Đào Nha Pháp và Bắc Mỹ Số nô lệ mà người Hà Lan mang
từ châu Phi chủ yếu được phân bố ở một số vùng như: Brazil, thuộc địa của Hà Lan
ở vùng biển Caribbean, thuộc địa của Tây Ban Nha…
Trang 37Những vùng mà người Hà Lan vận chuyển nô lệ đến,
từ 1600 -1800 [14; 234]
Sau khi phá vỡ vị thế độc quyền buôn bán của người Bồ Đào Nha thì người
Hà Lan mở rộng việc buôn bán của mình sang phương Đông Còn việc buôn bán
nô lệ da đen do người Hà Lan mang sang các thuộc địa ở châu Mỹ chủ yếu lấy từ các vùng: Senegambia, Sierra Leone, Bờ biển Windward, Bờ biển Vàng, Vịnh Benin, Tây - Trung châu Phi
Leone
Bờ biển Windward
Bờ biển Vàng
Vịnh Benin
Vịnh Biafra