1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên xã hội lớp 2 (KL03756)

70 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 441,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Luật Giáo dục Việt Nam, chương 2, mục 2, điều 28.2 đã viết: “ Phương pháp phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,

Trang 1

- 1 -

Lời cảm ơn

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi gặp rất nhiều khó khăn và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự chỉ bảo tận tình của Thạc sĩ Phạm Quang Tiệp, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài:

“ Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2”

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy!

Hà Nội, tháng 04 năm 2011

Sinh viên:

Nguyễn Thị Thủy

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Trang 4

Mục Lục

Mở đầu

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4 5 Giả thuyết khoa học 4

6 Các phương pháp nghiên cứu 5 7 Cấu trúc của khóa luận 5 Nội Dung Chương 1 : Cơ sở của việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tnxh lớp 2 6 1 Một số khái niệm công cụ 6

1.1 Phương pháp dạy học 6 1.2 Biện pháp dạy học 6

1.3 Quan điểm dạy học 8 1.4 Sư phạm tương tác 10

2 Quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học 10

2.1 Khái niệm quan điểm sư phạm tương tác 10

2.2 Những căn cứ khoa học của quan điểm sư phạm tương tác 12

2.3 Nội dung của quan điểm sư phạm tương tác 18

2.3.1 Các tác nhân chính của hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 18

2.3.2 Mối quan hệ tương tác giữa các tác nhân 22

3 Một số vấn đề về môn TNXH lớp 2 27

3.1 Mục tiêu môn TNXH lớp 2 27

Trang 6

Mở Đầu

1 Lí do chọn đề tài

Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng việc phát triển con người, coi con người là nguồn lực hàng đầu của đất nước Con người được giáo dục và tự giáo

dục luôn được coi là nhân tố quan trọng nhất “vừa là động lực, vừa là mục tiêu”

cho sự phát triển bền vững của xã hội Điều 35 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ “Giáo dục _ Đào tạo là quốc sách hàng đầu”

Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học _ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau Giáo dục Việt Nam đang tập trung đổi mới và hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới ủy ban giáo dục của UNESCO đã đề ra bốn trụ cột của giáo dục trong thế

kỷ XXI là: Học để biết ( Learning to know), học để làm ( Learning to do ), học

để cùng chung sống ( Learning to live together ), học để tự khẳng định mình (

Learning to be ) Tương ứng với bốn trụ cột này, chủ trương quan tâm đầu tư phát

triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta cũng được thể hiện rõ nét trên các mục tiêu, cụ thể:

Về mục tiêu giáo dục, Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII ( năm 1993 ) đã nêu rõ: “ Mục

tiêu Giáo dục _ Đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động, tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”

Về nội dung giáo dục, chương 2, mục 2, điều 28.1 của Luật Giáo dục đã

khẳng định: “ Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản,

Trang 7

- 7 -

toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm lí lứa tuổi của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.”

Về phương pháp giáo dục đào tạo, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban

Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII ( năm 1977 ) đã chỉ

rõ : “ Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một

chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Trong Luật Giáo dục

Việt Nam, chương 2, mục 2, điều 28.2 đã viết: “ Phương pháp phải phát huy tính

tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Dạy học là con đường quan trọng để nâng cao trình độ hiểu biết và phát triển nhân cách ở mỗi cá nhân Mặc dù người thầy giữ vai trò hết sức quan trọng trong định hướng dạy học và chuyển giao tri thức, kĩ năng cho người học nhưng phải làm sao cho mỗi tiết học HS được suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn Hơn nữa, đổi mới phương pháp giáo dục phải nhấn mạnh tương tác, hỗ trợ, cùng nhau hợp tác đi vào con đường tiếp thu, lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, thái độ thành vốn sống, ăn nhập vào vốn kinh nghiệm của bản thân, tạo nên một tiềm năng và tiếp đó thành nhân cách, thành năng lực hoạt động của từng người _ thành người, làm người và ở đời Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay là nhiệm vụ cần thiết Trong khi

đó, ở nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ

động, độc lập, sáng tạo của người học vẫn đang được quan tâm và đầu tư, nhưng nói chung hiệu quả còn chưa rõ nét Sự lúng túng này bộc lộ sự hẫng hụt ở cơ sở

lí luận Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ

động, sáng tạo, độc lập của người học đòi hỏi phải có sự xác lập cơ sở lý luận theo hướng khoa học sư phạm hiện đại Quan điểm sư phạm tương tác là một hướng đáp ứng được yêu cầu này Đó là một hướng dạy học đề cao vai trò

Trang 8

tương tác giữa người học với người học, người học với người dạy, người học và môi trường Bộ ba người học, người dạy, môi trường tập hợp các tác nhân chính tham gia vào quá trình học tập Các nét chính của phương pháp này đã được nhóm tác giả Jean _ Marc Denommé và Madelenie Roy dùng làm chủ đề cho 5 khóa học tăng cường về đào tạo sư phạm ở Châu Phi, đặc biệt là ở Ruanda Vấn

đề vận dụng quan điểm sư phạm tương tác ở nước ta vẫn còn ít được quan tâm và khá mới mẻ với đa số giáo viên, đặc biệt, cơ sở lí luận của nó vẫn còn tiềm ẩn và

ít tài liệu đề cập đến vấn đề này

Trong đó môn Tự nhiên Xã hội là một môn khoa học có tính tích hợp cao,

là tổng hợp của nhiều ngành khoa học như: Toán học, Hóa học, Vật lí học, Sinh học, Học Tự nhiên Xã hội học sinh có những hiểu biết cơ bản về thế giới tự nhiên, xã hội và con người Đồng thời hình thành và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng thực hành cần thiết cho cuộc sống của các em trong mối quan hệ cộng đồng xã hội Vì vậy việc dạy môn Tự nhiên Xã hội cũng quan trọng như dạy môn Toán và Tiếng Việt Chính vì vậy làm thế nào để thực hiện tốt mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng và yêu cầu người giáo viên khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh phải làm thế nào

để vừa phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học có tác dụng phát huy năng lực, phát huy sự tích cực chủ động phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức mà vừa kích thích được hứng thú học tập của học sinh Điều này qua thực tế giảng dạy của

GV và học tập của HS thì vấn đề này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và đa số GV chưa xác định phương pháp dạy học hiệu quả cho môn này Việc vận dụng quan

điểm sư phạm tương tác hợp lí vào dạy học môn học này sẽ khắc phục được những khó khăn trên và đáp ứng được mục tiêu dạy học

Vì vậy, trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nêu, tôi chọn đề tài là : “ Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

- 9 -

Đề tài này nhằm nghiên cứu những lí luận dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác, đồng thời tìm ra những biện pháp hợp lí để vận dụng quan điểm này trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2 Qua đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học và nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1: Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của quan điểm sư phạm tương tác

- Tìm hiểu đặc điểm của môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

- Đề xuất một số biện pháp để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

5 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng quan điểm sư phạm tương tác để dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2 sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2 nói riêng, môn Tự nhiên Xã hội Tiểu học nói chung

6 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

Trang 10

- Phương pháp trò chuyện

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo nội

dung chính của khóa luận gồm:

Chương 1: Cở sở của việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong

dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

Chương 2: Biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy

học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

Nội Dung

Chương 1: Cơ sở của việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2

Trang 11

- 11 -

1 Một số khái niệm công cụ

1.1 Phương pháp dạy học

Thuật ngữ PPDH bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ( methodos ) có nghĩa là con

đường để đạt mục đích Theo đó PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học

Ta có thể hiểu PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học

Theo định nghĩa trên cho thấy PPDH được đặc trưng bởi hai hoạt động: hoạt động của thầy và hoạt động của trò Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng: hoạt động của thầy đóng vai trò chỉ đạo ( tổ chức, điều khiển ) và hoạt động của trò đóng vai trò tích cực , chủ động ( tự tổ chức, tự điều khiển)

Như vậy, PPDH là tổ hợp những cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong quá trình dạy học, được hình thành dưới vai trò chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

1.2 Biện pháp dạy học

BPDH là 1 hệ thống các cách thức tác động cụ thể của người dạy và người học vào đối tượng dạy học, qua đó thực hiện được nhiệm vụ dạy học Xung quanh vấn đề BPDH có vài điểm cần chú ý:

 Thứ nhất:

BPDH là những cách thức tác động thực tiễn của người dạy và người học lên đối tượng dạy và học Vì vậy biện pháp là sự hiện thực hóa sức mạnh của phương pháp, là cơ cấu kĩ thuật của phương pháp để thực hiện mục đích dạy học Nếu biện pháp tốt, hiệu quả của phương pháp sẽ cao và ngược lại Tính chất và cường độ của các BPDH thể hiện tính tích cực của quá trình dạy học

 Thứ hai:

Có hệ thống biện pháp của người dạy và biện pháp của người học Đối tượng tác động, tính chất và cường độ các biện pháp của người dạy và người học

Trang 12

bị quy định bởi mục đích dạy học, nội dung dạy học, vị thế của người dạy và người học trong mối quan hệ giữa người dạy và người học Chẳng hạn nếu mục

đích hướng đến nội dung tri thức khoa học thì các biện pháp của người dạy chủ

yếu tác động vào nội dung tri thức và cách truyền thụ chúng

Nếu mục đích là hình thành các kĩ năng hành động cho người học, thì biện pháp dạy học phải là giới thiệu và hướng dẫn người học thực hành các kĩ năng

đó

 Thứ ba:

Công cụ dạy học quy định trình độ dạy học Nói cách khác, cơ chế triển khai và trình độ các biện pháp quy định trình độ PPDH và hiệu quả dạy học Đến lượt nó, cơ chế và trình độ các biện pháp bị quy định bởi công cụ dạy học Các công cụ dạy học rất đa dạng bao gồm:

Các công cụ tâm lí: Là các tri thức, các khái niệm khoa học, các công cụ

nhận thức như trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ Trong đó các khái niệm khoa học là công cụ quan trọng nhất Khái niệm khoa học trong môn học là thước đo trình độ dạy học

Các công cụ kĩ thuật: Các công cụ kĩ thuật có phổ rất rộng, bao gồm các

biểu đồ, các bảng tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, mô hình, máy tính, máy dạy học và các phương tiện kĩ thuật kĩ thuật khác

phải thiết lập được quy trình các thao tác trong từng bình diện đó

Trang 13

- 13 -

1.3 Quan điểm dạy học

Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng,

cở sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện hình thức dạy học, những

định hướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học

Quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng việc lựa chọn các phương pháp dạy học cụ thể

Quan điểm dạy học khám phá ( khám phá dựa trên học tập ) hướng vào học sinh và đặt niềm tin vào học sinh

Quan điểm dạy học xưa và nay :

+ Quan điểm dạy học trước đây ( dạy theo giáo án ) là quan điểm dạy học truyền thống xoay quanh vai trò chủ đạo của giáo viên trong tổ chức học tập cho học sinh Giáo án của GV chính là bản kế hoạch trung tâm cho các hoạt động dạy học diễn ra Giả định ban đầu là GV cần soạn giáo án, lập kế hoạch giảng dạy chi tiết và tiến hành giảng dạy theo giáo án Với sự phổ cập giáo dục, với nhiều GV tham gia giảng dạy, điều e ngại chính là nếu không có giáo án chi tiết GV sẽ không dạy được hiệu quả Và giáo án cần được soạn tuân theo cái đã được những người có kinh nghiệm giảng dạy thiết lập ra Do đó dần dần dạy theo giáo án trở thành một yêu cầu bắt buộc với các GV

Tuy nhiên những người phê bình “dạy theo giáo án” lo ngại việc dạy của

GV và việc học của HS bị suy giảm khi GV coi vai trò của mình chủ yếu là tuân thủ chặt chẽ giáo án Bản chất vấn đề dạy học không phải chỉ là hình thành những

kế hoạch được vạch sẵn mà không tính tới những kiến tạo và canh tân

+ Quan điểm dạy học ngày nay “ lấy người học làm trung tâm” Xu hướng chung của đổi mới PPDH là đổi mới theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm Quan điểm này có cơ sở lí luận từ việc nhận thức quá trình dạy học luôn luôn vận động và phát triển không ngừng chịu sự chi phối của nhiều quy luật trong đó quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học, giữa thầy và

Trang 14

trò trong quá trình dạy học là quy luật cơ bản Thầy và trò _ cả hai chủ thể này

đều chủ động, tích cực bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức Thầy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của trò Trò thì hoạt động tích cực chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hành động nhận thức và hành động thực tiễn

Thực chất của quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, đó là hệ phương pháp dạy _ học tích cực lấy người học làm trung tâm còn gọi là hệ phương pháp dạy _ tự học, được xem như là một hệ thống PPDH có thể đáp ứng

được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục trong thời kì đổi mới hiện nay

Hệ thống các PPDH tích cực lấy người học làm trung tâm là kết quả của sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn, thực nghiệm ở nhà trường Việt Nam từ nhiều năm Đó là sự tổng hợp, tích hợp nhiều phương pháp gần gũi như: phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, phương pháp tình huống, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề và một phần nào đó có sự kết hợp với các PPDH truyền thống được cải tiến, vận dụng theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học Trải qua quá trình nghiên cứu và vận dụng các phương pháp này có thể nêu

4 đặc trưng cơ bản sau:

- Người học _ chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình

- Người dạy tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn.`

- Người dạy là thầy học _ chuyên gia về học và tự học, là người tổ chức và hướng dẫn quá trình dạy _ tự học, quá trình kết hợp cá nhân hóa với xã hội hóa việc học của người học

- Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức Như vậy, điều hay của các phương pháp này là không chỉ để người học dễ hiểu,

để rồi học bài mau thuộc mà còn giúp cho người học đào sâu suy nghĩ, tìm tòi phát huy khả năng của họ Tất nhiên là họ nhớ sâu, nhớ cái mà họ hỏi, nhớ cái

mà họ đã tranh luận với bạn và cái đã được thực hành Điều hay thứ hai là giúp

Trang 15

- 15 -

cho người học tự trang bị phương pháp tự học và có thể tiếp tục tự học mãi Để làm được điều này người thầy phải đủ trình độ nắm vững đối tượng biết cách tổ chức và điều khiển, khơi gợi, phát triển tư duy cho người học

1.4 Sư phạm tương tác

Sư phạm tương tác là một quan điểm dạy học mới, quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm Quan điểm dạy học này thể hiện rõ đây là cách tiếp cận cơ bản, năng động, hệ thống, khoa học về hoạt động sư phạm Trục chính của cách tiếp cận này là về mối tương tác giữa người học, người dạy và môi trường Mối quan hệ tương tác này là căn nguyên, động lực cho sự vận động và phát triển

của quá trình dạy học mà quan trọng nhất là phát triển người học

2 Quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học

2.1 Khái niệm quan điểm sư phạm tương tác

Xét ở bình diện vĩ mô, sư phạm tương tác được xem như một quan điểm dạy học, quan điểm dạy học này dựa trên sự tác động qua lại ( tương tác ) giữa ba thành tố: người dạy, người học và môi trường Sự tương tác giữa bộ ba Người dạy

_ Người học _ Môi trường là mục đích nguyên nhân của mọi sự phát triển; trong

đó, trước tiên và quan trọng nhất là phát triển người học Quan điểm dạy học này

thuộc lĩnh vực của “ hiểu biết ứng xử ”, thuộc hệ tư tưởng của lĩnh vực sư phạm

chứ không đơn thuần chỉ là những cách thức cụ thể tác động của GV trong quá trình dạy học nhằm vào người học và quá trình học tập để gây ảnh hưởng thuận lợi cho việc học theo mục đích hay nguyên tắc đã định Vì vậy, đứng trên bình diện vĩ mô thì tính chất tương tác giữa ba thành tố Người dạy _ Người học _ Môi trường phải được quán triệt trong toàn bộ quá trình dạy học, từ việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp cụ thể đến cách thức kiểm tra, đánh giá

Người học

Trang 16

Hình 1.1: Các tương tác và các tương hỗ của bộ ba Người dạy_ Người học

và Môi trường

Trong sơ đồ trên, hình tam giác biểu thị sự năng động giữa ba tác nhân trong mối tương tác, những đường thẳng chỉ các mối quan hệ giữa mỗi tác nhân, trong khi đó các đỉnh có mũi tên minh họa cho sự qua lại giữa các tác nhân

Xét ở bình diện trung gian, sư phạm tương tác là một PPDH cụ thể, về mặt hình thức nó cũng giống như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đàm thoại Mỗi PPDH luôn bao hàm ba yếu tố cấu trúc: 1/ Các nguyên tắc hay triết lí cốt lõi, xác định PPDH đó là cái gì xét về bản chất 2/ Hệ thống kĩ năng hoặc các mẫu hành động cấu tạo nên PPDH, xác định phương pháp đó được tiến hành như thế nào 3/ Những phương tiện, công cụ, công nghệ, vật liệu mang ảnh hưởng của phương pháp đến người học và quá trình học tập, xác định phương pháp đó có hình thức vật chất cụ thể là gì, có cấu trúc thực thể như thế nào trong hiện thực dạy học, trong tay của nhà giáo trực tiếp giảng dạy Như vậy, phương pháp sư phạm tương tác được xác định cụ thể như sau:

1/ Nguyên tắc then chốt trong sư phạm tương tác đó là sự tác động qua lại giữa ba thành tố người dạy, người học và môi trường trong quá trình dạy học, qua

đó người học và các thành tố khác cùng vận động và phát triển

2/ Hệ thống kĩ năng trong sư phạm tương tác bao gồm kĩ năng của người học và kĩ năng của người dạy Các kĩ năng của người học bao gồm, kĩ năng sử dụng các giác quan để khám phá tri thức, kĩ năng tạo động cơ và duy trì cảm xúc trong quá trình học tập, kĩ năng huy động nội lực ( kiến thức, kinh nghiệm sẵn có ) để đồng hóa trí thức, kĩ năng tương tác với thầy, với bạn trong học tập, kĩ năng thích ứng hoặc cải tạo môi trường học tập Đối với người dạy bao gồm các kĩ

Trang 17

- 17 -

năng: kĩ năng xác lập quá trình dạy học ( xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp ) theo quan điểm sư phạm tương tác, kĩ năng trợ giúp người học, kĩ năng khuyến khích người học, kĩ năng hoạt náo, kĩ năng giao tiếp

3/ Những phương tiện, công nghệ, vật liệu mang ảnh hưởng của phương pháp bao gồm toàn bộ môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động dạy học, trong đó bao gồm cả môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của người học và người dạy

2.2 Căn cứ khoa học của quan điểm sư phạm tương tác

2.2.1 Căn cứ trên cơ sở sinh lí học thần kinh

Về mặt sinh học, người ta cho rằng quá trình dạy học về bản chất là quá trình hình thành phản xạ có điều kiện Giống như những động vật khác, con người sinh ra đã có sẵn một vốn kiến thức làm cơ sở cho hành động, được điều khiển bởi những phản xạ không điều kiện ( bẩm sinh, di truyền )

Quá trình học là quá trình hình thành các hành vi, các tác động phản xạ có

điều kiện, tác nhân kích thích là những hệ quả của các hành vi đó Cơ chế học là cơ chế hình thành các hành vi tác động phản xạ có điều kiện trong môi trường sống của chủ thể Trên cơ sở sinh học, QĐSPTT đặc biệt quan tâm tới bộ máy học _ cơ sở sinh học của hoạt động học, đó cũng là cơ sở cho những tác động sư phạm của người dạy khi điều khiển hoạt động học của người học Bộ máy học

Não nguyên thủy: chức năng tồn tại

Não cổ: khứu não

Bán cầu đại não: Não người _ Bán cầu phải

_ Bán cầu trái

Trang 18

Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy học

Hệ thống thần kinh, nơi đối tượng tri thức được thiết lập, bao gồm hai bộ phận: hệ thống thần kinh trung ương, hệ thống thần kinh ngoại biên Hệ thống thần kinh ngoại biên được cấu thành từ hai bộ phận: 5 giác quan và các nơron thần kinh Chính hệ thống thần kinh thiết lập sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài Các giác quan lấy thông tin ngoài chủ thể và truyền vào não qua các nơron trung gian Hệ thống thần kinh trung ương được hình thành từ ba chồng đặt lên nhau, biểu thị ba thời kì phát triển của nó: thời kì cổ nhất được gọi là vỏ não nguyên thủy ( archicoritex ), thời kì thứ hai gọi là vỏ não cổ ( paléocortex ) và thời kì mới nhất gọi là não người ( néocortex ) Như vậy, hệ thống thần kinh trung ương trải qua quá trình tiến hóa của các thời kỳ khác nhau từ bò sát, thời kì động vật có vú

đến não người

Những thông tin trong quá trình học của người học được 5 giác quan của

bộ máy học tiếp nhận, các thông tin này được các nơron ẩn đi và cảm ứng năng lượng Nơron chuyển năng lượng theo hai hướng: ngoại vi vào trong não và ngược lại Những thông tin nhận được thông qua việc truyền vào não sẽ được phân tích thành các thành phần khác nhau của cảm giác và của các sợi nhánh của nơron ( hiện tượng dị biệt ) Nơron thần kinh cũng thông qua các khớp nối các sợi nhánh của hai nơron gặp nhau, không để cho mọi thông tin đều được đi qua nó sàng lọc chỉ cho những thông tin ( dưới dạng năng lượng ) có ích vào não ( hiện tượng tương đồng ) Nhờ chức năng mang đến và mang đi, dị biệt và tương đồng, các nơron thần kinh đã giúp cá thể làm chủ được các kích thích và tạo thành những phản ứng cùng với những kích thích cần phản ứng

Trang 19

- 19 -

Khoa học thần kinh xác định có sự phân hóa chức năng bán cầu não phải

và bán cầu não trái về việc học và trí nhớ Bán cầu não phải chú ý đến cái tổng thể, tích hợp các yếu tố lại trong cấu trúc hay trong quan hệ, xử lí thông tin một cách đồng thời bằng phép loại suy và biểu hiện thông tin bằng hình ảnh trong không gian Bán cầu não trái thiên về phân tích, chú ý đến yếu tố, xử lí thông tin theo từng chuỗi thời gian và quy về các yếu tố bằng lời

Tính năng động của não người trong việc học không thể thu hẹp lại duy nhất ở những chức năng đồng nhất và chức năng không đồng nhất, được phân một cách riêng rẽ cho bán cầu phải và bán cầu trái Nhưng nếu các chức năng này hoạt động một cách hoàn toàn độc lập với nhau thì không có trí thức, kiến thức mới nào có thể ra đời được Nhất là hai bán cầu phải bổ sung lẫn nhau và tạo nên một sự cân đối giữa chúng, chỉ có sự tương hỗ này mới có thể nảy nở một đối

tượng tri thức mới Qua đó có thể rút ra ý nghĩa trong thực hành sư phạm: trong

quá trình dạy học cần kích thích cả hai bán cầu não trái và phải của người học,

đặc biệt là kích thích một trong hai bán cầu để người học phát triển tốt khả năng hoạt động trí tuệ nào đó

Bán cầu phải Bán cầu trái

Không đồng chất Trạng thái “T” Đồng chất

Hình 1.3: Trạng thái thứ 3

Bộ máy học dựa trên hệ thần kinh nhưng quá trình học diễn ra qua môi

giới của một cảnh được minh họa ở hình 1.3 Quá trình được khởi động bởi các

kích thích, các kích thích này kích thích các giác quan; các tri giác qua môi giới

Trang 20

tiềm năng hành động đạt tới thể vành ( Limbique ); thể vành này đánh giá sự cần thiết tiếp tục học và nếu đánh giá là tích cực, có hứng thú; bán cầu phải của não nhận các thông tin; trạng thái thứ ba xuất hiện khi đạt tới ngưỡng các dữ liệu; và trong giai đoạn cuối cùng bán cầu trái thừa nhận giải pháp được đưa ra

Trang 21

- 21 -

Hình 1.4: Sơ đồ tính năng động của bộ máy học

Bộ máy học có vai trò rất lớn đối với quá trình học tập và tiếp nhận những kiến thức mới Để nâng cao hơn nữa hiệu quả trong dạy học, các nhà giáo dục đã vận dụng sáng tạo bộ máy học vào quá trình dạy học, đó là ưu điểm vượt trội của QĐSPTT

Vai trò của các giác quan đối với người học: Vì rằng bất cứ người học đã

biết, đã tích lũy được một số kinh nghiệm từ các giác quan và chúng được kết hợp vào trong phương pháp học của mình Nhờ vào các giác quan mà người học thu lượm, tiếp nhận những thông tin cho kiến thức mới và cần sử dụng thường xuyên các giác quan của mình để sử dụng tốt hơn tiềm năng đã thu giữ được Không có một giác quan nào là không quan trọng tới việc học Tuy nhiên, mỗi

Trang 22

một giác quan trong số chúng tạo nên các hình ảnh khác nhau mà những hình ảnh này trở lại giác quan này hoặc khác của người học trong vốn sống cá nhân của mình Các giác quan kích thích bộ nhớ và làm xuất hiện ở bộ nhớ một loạt các dữ liệu tạo nên mối liên hệ với việc học mới; không có những mối liên hệ này việc học mới khó thực hiện được Định đề nổi tiếng của Lavoisier vẫn luôn luôn đúng:

“Không có gì tự nhiên mất đi, tất cả chỉ biến từ dạng này sang dạng khác” Phương pháp tiến hành học vì vậy được bắt đầu bởi một quá trình kết hợp những nhận thức cảm tính mới với những nhận thức cảm tính đã có trong bộ nhớ Cần phải ghi nhận rằng không có ranh giới giữa cái cũ và cái mới: tất cả hòa nhập vào nhau, xếp kề nhau

Người học càng cần đến các giác quan thì càng có may mắn phát triển các sợi nhánh của nơron Kết quả là người học càng luyện các giác quan thì càng tạo

ra nhiều khả năng nhớ Và việc sử dụng gia tăng các giác quan vừa làm thuận lợi cho việc tiếp nhận vào bộ nhớ vừa giúp cho phát triển bộ nhớ

Vai trò của các giác quan đối với người dạy: Người dạy điều chỉnh phương

pháp tiến hành sư phạm của mình theo đường đi bình thường mà người học chọn trong quá trình học của mình Trước hết người học cần sử dụng các giác quan Và người dạy cần hướng dẫn chu đáo người học; giúp đỡ người học trong thao tác này Chính vì vậy người dạy sẽ cố gắng “đập” vào các giác quan của người học hoặc gợi ý hoặc khơi dậy ở anh ta nhớ về kinh nghiệm đã qua Mặt khác cũng có rất nhiều cách hòa vào hoặc kích hoạt cái đã biết của người học để khắc sâu vào những khái niệm mới cần học Và để cho người dạy có khả năng có những phát minh rất là ngạc nhiên nếu họ được tự do tưởng tượng và sáng tạo Người dạy không thể đánh giá thấp một giác quan nào: tất cả đều đánh thức trí nhớ Theo quan điểm này sẽ rất có lợi nếu làm phong phú, các kinh nghiệm, các dấu ấn sao cho kích thích được nhiều giác quan Hiển nhiên việc thiếu các dữ liệu giác quan

sẽ gây thiệt thòi cho người học trong đường đi của mình đến với tri thức; Điều đó

có nghĩa là người dạy phải có trách nhiệm sửa khiếm khuyết này nếu có Một

Trang 23

- 23 -

tình huống có vấn đề như vậy đòi hỏi tương tác người học người dạy bằng phương pháp sư phạm tương tác

Vai trò của môi trường đối với các giác quan: Môi trường đóng vai trò

quan trọng trong việc phát triển các giác quan Chính môi trường cung cấp các kích thích cho các giác quan và tạo điều kiện gia tăng các sợi nhánh của nơron Cũng chính môi trường đánh thức trí nhớ trong suốt quá trình học Rất nhiều khả năng do môi trường đưa đến để làm cho việc giảng dạy được cụ thể Thay cho các

ví dụ ít ỏi từ các sách giáo khoa Tại sao lại không khám phá môi trường trực tiếp? Thí dụ người học sẽ nắm được lợi ích của việc giữ gìn trường lớp sạch sẽ khi cho HS quan sát việc giữ gìn sạch sẽ ngay tại lớp mình và nêu cảm nhận của bản thân

Như vậy, QĐSPTT có cơ sở vững chắc là dựa trên sự phát triển của ngành

khoa học thần kinh và được ứng dụng vào dạy học

2.3 Nội dung của quan điểm sư phạm tương tác

2.3.1 Các tác nhân chính của hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác

Từ “ sư phạm” có nguồn gốc xuất từ một danh từ và một động từ trong tiếng Hy Lạp và có nghĩa là “hướng dẫn một đứa trẻ” Nguồn gốc của từ chỉ ra rằng có sự tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và người được hướng dẫn Ngày nay, người ta đồng hóa chung một cách hoàn toàn ngẫu nhiên vào người dạy và người học Vì rằng người dạy và người học phát triển với những tính cách cá nhân trong một môi trường rất cụ thể ảnh hưởng đến hoạt động của họ, nên môi trường trở thành một tác nhân tham gia tất yếu Đó chính là vì sao phương pháp sư phạm tương tác quan tâm tới 3 tác nhân sau: người học, người dạy, môi trường

Người học

Trang 24

Tên “người học” mà nguồn gốc ( studium ) của nó có nghĩa là “cố gắng và học tập”, còn có nghĩa rộng là cam kết và trách nhiệm Đó chính là lí do ta đã chọn từ “người học” hơn là từ “học sinh”; từ “học sinh” nhấn mạnh hơn tới mối quan hệ giữa người thầy và một cơ sở trường học Từ “người học” được dùng trong phương pháp sư phạm tương tác bao hàm tất cả các đối tượng đi học

Người học là tác nhân chính của quá trình học tập Người học sử dụng bộ máy học của mình ( các giác quan, hệ thống nơ ron, não ) để tìm kiếm, khám phá tri thức Trong quá trình học tập, người học luôn tìm kiếm phương thức học phù hợp với phong cách học của bản thân để việc đồng hóa một tri thức diễn ra thuận lợi nhất

Để đảm bảo cho việc học của người học thành công, trước tiên người học phải có động cơ học tập đúng đắn Nghĩa là người học cảm nhận được sự cần thiết và tính ưu việt của kiến thức cho hiện tại và tương lai, đặc biệt đối với môn

đang học Bên cạnh đó người học phải có niềm tin vào bản thân, tin vào năng lực,

ý tưởng và phương pháp làm việc của chình mình Người học cần có cảm giác sâu sắc là có khả năng thực hiện thành công phương pháp học, phải tin vào khả năg

và phương pháp làm việc của mình Tham vọng vượt qua chính mình cũng có thể trở thành một nguồn hứng thú có giá trị đối với người học, làm như vậy người học

đảm nhận việc làm hết mình để đóng vai trò người thợ chính của tất cả các công việc của anh ta Thứ hai là sự tham gia của người học Người học phải thể hiện sự tham gia tích cực và bền vững trong suốt quá trình học Người học phải tự mình thực hiện những trải nghiệm bằng cách đóng góp toàn bộ năng lực, các kiến thức

đã biết, cũng như các kinh nghiệm đã có của mình để tìm kiếm và tạo dựng kiến thức cho bản thân Trước tiên, người học phải ý thức rằng bản thân người học có khả năng để tiến hành dự án này xong và anh ta có cơ hội dùng đến tất cả các phương tiện này Người học phải mong muốn tham gia tích cực vào phương pháp học của mình, một thử thách của chính mình, thử thách dựa trên sự muốn học, dựa trên sự sở thích thu lượm kiến thức và nhu cầu thỏa mãn một lợi ích nào đó

Trang 25

- 25 -

Quá trình học đòi hỏi người học một sự vận dụng liên tục và rất nhiều cố gắng Con đường trải qua đôi khi được gieo đầy trắc trở khó khăn và nhiều ẩn số; khi người học cảm thấy bất lực, người học cần người dạy, người biết mang sự giúp đỡ mong muốn Thứ ba là trách nhiệm của người học Ngoài động cơ và sự tham gia, người học cần tỏ rõ trách nhiệm của mình trong suốt quá trình học tập Trước tiên, người học phải thể hiện khả năng chủ động, tự chủ chứ không phải một cách máy móc theo yêu cầu của giáo viên cũng không dựa vào sự giúp đỡ của các HS khác Chịu trách nhiệm cũng muốn nói với người học là phải tham gia bền bỉ Thực tế, tính bền bỉ trở thành một hàn thử biểu tin cậy đánh giá cấp độ trách nhiệm của người học với dự án học cá nhân của mình Trước những bế tắc có thể xuất hiện vào lúc này, lúc khác, người học có trách nhiệm thường tỏ ra sáng tạo; người học cố gắng tự tìm các cách thoát ra khỏi bế tắc một mình, bằng cách sử dụng các tri thức đã có và các kinh nghiệm đã trải qua; sáng kiến của người học thậm chí đưa người học đến phiêu lưu, nhưng trước mắt người học có nhiều hứa hẹn Vì vậy, người học phải có dịp giải thích các quan điểm cá nhân của mình, những lí do đã dẫn anh ta tới mạo hiểm như vậy và đi những con đường như vậy;

ý thức trách nhiệm sẽ dẫn người học đến việc đánh giá các dự án học của mình và làm cho dự án tốt hơn

Tóm lại, phương pháp sư phạm tương tác đòi hỏi ở người học: hứng thú, tham gia và trách nhiệm

Người dạy

Theo J.M.Denomé và M.Roy trong “sư phạm tương tác _ một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” người dạy với tư cách là nhà sư phạm phải lưu tâm trợ giúp người học sử dụng được một cách hiệu quả nhất hệ thần kinh của anh ta nhằm tiếp thu kiến thức Đối với người dạy đó chính là phương pháp truyền đạt kiến thức của mình cho người học Trên quan điểm hệ thần kinh của người học, người dạy phải có cách hành động như một người hướng dẫn có nhiệm

vụ xác định mục tiêu học tập và tiến hành đánh giá sự phát triển của người học

Trang 26

trong quá trình học tập của anh ta, người dạy phải hành động như người dẫn dắt giúp người học ở mỗi chặng đường của cả quá trình học tập, người dạy phải hành

động như người tạo điều kiện thuận lợi kích thích người học học tập để đi tới thành công, như một người giao tiếp lưu tâm đến việc chuyển tải thành công một thông điệp Chính người dạy đã hành động và người học thì phản ứng Như vậy người dạy là người có nhiệm vụ dẫn dắt người học bằng cả kinh nghiệm và hiểu biết của mình: chỉ cho người học mục đích cần đạt được, hỗ trợ, gây hứng thú và dẫn dắt người học đến bến bờ thành công Chức năng cơ bản của người dạy là giúp người học học tập và hiểu biết Có thể nói người dạy là người phục vụ người học Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức các tương tác nhằm thúc đẩy hoạt động học tập của người học hay nói khác đi nhằm phát triển người học thì người dạy và cả môi trường cũng nhờ thế mà vận động và phát triển theo hướng tích cực Thông qua sự phản hồi của người học, sự điều chỉnh bản thân để phù hợp với môi trường, người dạy cũng thu lượm được những thông tin, kiến thức bổ ích và nhờ thế trong quá trình tương tác với người học, với môi trường mà người dạy được nâng lên một tầm cao mới chín chắn hơn, hoàn thiện hơn

Môi trường

Theo quan điểm sư phạm tương tác, khái niệm môi trường được hiểu là hỗn hợp của nhiều yếu tố khác nhau ( vật lí, hóa học, gia đình, xã hội, bối cảnh, nhà trường, nghề nghiệp ) và của một số giá trị tri thức, tình cảm, nghệ thuật, xã hội, văn hóa, đạo đức, tinh thần và tôn giáo, những yếu tố này tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động dạy và học Môi trường có thể được xem là bối cảnh phát triển của hoạt động sư phạm, nó bao gồm: các hoàn cảnh, các cá nhân, các tư tưởng, hệ thống, sự kiện, phong tục, địa dư

Cũng theo quan điểm này, hoạt động của môi trường gồm một loạt các yếu

tố vừa tương đối rộng và đa dạng tác động lên hệ thần kinh và gây ra những phản ứng của các giác quan, các nơ ron thần kinh và của vùng limbic Các yếu tố môi trường đến từ hai phía khác nhau: một số xuất phát từ vùng ngoại biên, ngoài chủ

Trang 27

được gọi là yếu tố nội diên

2.3.2 Mối quan hệ tương tác giữa các tác nhân

Phương pháp sư phạm tương tác cơ bản dựa trên mối quan hệ tương hỗ tồn tại giữa ba tác nhân Ba tác nhân này luôn luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia Ta có thể khái quát theo sơ đồ dưới đây:

Người học

Tổ chức Liên hệ

Hình 1.5: Mối liên hệ giữa ba yếu tố trong dạy học

tương tác

Trang 28

cách cung cấp thêm cho người học những thông tin cần thiết, trả lời các câu hỏi thắc mắc hoặc động viên người học tiếp tục quá trình học tập đã được tiến triển hơn nữa là đối thoại với người học để làm sáng tỏ thêm các thông tin, điều đó giúp người dạy có thể gợi ý thêm một số điều chỉnh hoặc một số hướng nghiên cứu mới Người học đi theo con đường mà người dạy vạch ra Nếu người học cảm thấy sung sướng và thoả mãn, người học dễ dàng có cảm tình với người dạy, ngược lại, thì người học sẽ cảm thấy nản lòng hoặc thiếu hứng thú Lúc này, chính người dạy đã hành động còn người học thì phản ứng Sự tác động qua lại khá tinh tế giữa hai tác nhân này đã góp phần tạo nên mối quan hệ rất đáng chú ý của phương pháp sư phạm tương tác Đây chính là hình thức tương tác cần được

ưu tiên phát triển

Bằng phương pháp sư phạm của mình, người dạy luôn ở bên cạnh người học hướng dẫn giúp đỡ, khuyến khích người học học và đi đến thành công Nhiệm vụ quan trọng nhất của người dạy là giúp cho người học sử dụng hợp lí và hiệu quả nhất bộ máy học của mình trong quá trình tìm tòi và khám phá tri thức

Để hiện thực hóa nhiệm vụ trọng đại này, người dạy phải làm tốt công tác của

một người hướng dẫn, người đồng hành, người tạo điều kiện thuận lợi, người hoạt

náo và người giao tiếp

Tương tác trò - trò

Phương pháp sư phạm tương tác khẳng định dứt khoát người học là người thợ chính trong phương pháp học Người học đảm nhiệm vai trò mấu chốt này bằng cách thể hiện ngay từ khi bắt đầu học một sự hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học một sự tham gia tích cực liên tục, có trách nhiệm

Người học, khi tham gia vào quá trình học, phải tỏ ra có hứng thú rõ rệt với lợi ích của tri thức phải thu lượm Sự hứng thú, trong một khả năng rộng, dựa vào lòng tự tin Người học cần có cảm giác sâu sắc là có khả năng thực hiện thành công phương pháp học, phải tin vào khả năng và phương pháp làm việc của mình Tham vọng vượt qua chính mình cũng có thể trở thành một nguồn hứng thú có

Trang 29

- 29 -

giá trị đối với người học, làm như vậy, anh ta đảm nhận việc làm hết mình để

đóng vai trò người thợ chính của tất cả các công việc của anh ta

Phương pháp sư phạm tương tác không chỉ tin cậy vào sự hứng thú của người học mà còn vào sự tham gia tích cực trong suốt quá trình học Người học phải tham gia một cách cá nhân để thực hiện nhiệm vụ này bằng tất cả các khả năng, tất cả các tri thức đã thu lượm được cũng như tất cả kinh nghiệm sống của mình Quá trình học đòi hỏi người học sử dụng tất cả tiềm năng này phục vụ cho phương pháp học của mình Trong phương pháp sư phạm tương tác, người học phải kéo dài sự tham dự của mình vượt trên dự án cá nhân của mình; anh ta cần ý thức rằng anh ta phối hợp tham gia dự án tập thể lớp Thật vậy, người học mong muốn thực hiện cùng một việc học ở trong một nhóm dưới sự hướng dẫn của cùng một người dạy Vì vậy, tất cả cùng chia sẻ dự án và cùng cố gắng chung để thực hiện dự án cá nhân và dự án tập thể Sự tham gia tích cực vào dự án tập thể này đưa người học thiết lập được quan hệ chặt chẽ với người dạy và với những HS khác của lớp mình và tăng cường giao tiếp giữa họ, điều này sản sinh ra tính năng

động mạnh mẽ hơn trong các mối quan hệ qua lại giữa người học và người dạy; người học do vậy theo đuổi dự án cá nhân của mình trong lòng dự án tập thể của lớp

Ngoài tiềm năng và sáng kiến của người học, phương pháp học phải dựa trên ý thức trách nhiệm của người học Thật vậy, người học phải đảm nhiệm đầy

đủ trách nhiệm người thợ chính của mình bằng cách tham gia tích cực và thoải mái trong quá trình học “của mình” Thậm chí, anh ta phải có ý thức về những trách nhiệm tham gia, nó khơi dậy ở anh ta tính năng động và những cố gắng cần thiết để đi tới kết thúc công việc Và người học có nhiều khả năng làm điều này!

Tương tác thầy, trò - môi trường :

Trong quá trình hoạt động sư phạm, một loạt các yếu tố phức hợp của môi trường tác động trực tiếp ít nhiều đến người học và người dạy Những nhân tố ấy

có sức mạnh và tạo ra áp lực đối với người học và người dạy trong những ứng xử bên trong hay bên ngoài của họ Như vậy môi trường tác động đến quá trình dạy học và phương pháp dạy

Trang 30

Sự ảnh hưởng của môi trường có thể tích cực hoặc tiêu cực đến người dạy, người học và hoạt động của họ Sự ảnh hưởng của môi trường đến người học, người dạy và hoạt động của họ từ nhiều phía, có khi ảnh hưởng từ một yếu tố, có khi ảnh hưởng cộng hưởng của nhiều yếu tố cùng một lúc làm cho tác động của môi trường được gia tăng và phức tạp hơn đến người học và tác động sư phạm của người dạy Theo phương pháp sư phạm tương tác môi trường can thiệp vào tất cả các hoạt động dạy và học, vì vậy ảnh hưởng đến người học và người dạy; ảnh hưởng này không phải bao giờ cũng bộc lộ rõ nét, nhưng nó tồn tại và người ta không thể bỏ qua trong mối quan hệ qua lại giữa người dạy và người học ảnh hưởng của môi trường xảy ra theo những cách thức khác nhau, khi thì một trong những yếu tố của môi trường có thể góp phần làm dễ dàng hơn giai đoạn này hoặc giai đoạn khác của quá trình học hoặc của phương pháp tiến hành giảng dạy, khi thì một yếu tố khác gây nên những khó khăn làm chậm lại hoặc ngăn cản sự diễn ra bình thường của chúng Một đêm ngủ ngon làm dễ dàng công việc vất vả của người học và của người dạy, trong khi một chứng đau thần kinh có thể cản trở năng suất của họ

Những đòi hỏi của môi trường buộc người học phải thích nghi, qua đó làm phát triển chính họ ( như sắp xếp lại hệ thống giá trị, kinh nghiệm, vốn sống được nâng lên ) Theo phương pháp sư phạm tương tác vấn đề căn bản là có ý thức về

ảnh hưởng của môi trường, chú ý đến môi trường thấm vào bên trong quá trình dạy và quá trình học Sự thích nghi của môi trường mang dáng dấp của sự tăng cường, hay biến đổi Ví dụ khi người học vào lớp tràn đầy hưng phấn bởi một ngày trời nắng đẹp, người dạy cần tỏ ra cũng phấn khởi để đưa người học vào chương trình học; khi người học tỏ ra ương ngạnh đối với lợi ích của môn học người dạy có thể điều chỉnh ý kiến đó Những quan hệ qua lại rất có lợi được thiết lập giữa các tác nhân của phương pháp sư phạm tương tác: môi trường gây nên một sức ép thuận lợi hoặc không thuận lợi đến người học và người dạy; những người học và người dạy này phản ứng bằng cách tìm ra cái lợi của những

ảnh hưởng tốt của môi trường hoặc bằng cách điều chỉnh hoặc biến đổi các ảnh hưởng tiêu cực, ít nhất là người học và người dạy chấp nhận thích nghi ứng xử

Trang 31

- 31 -

của mình Rõ ràng môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học và phương pháp sư phạm, và giữa chúng có sự tác động tương hỗ Phương pháp sư phạm tương tác bằng việc coi môi trường có một vị trí trong những nguyên lí cơ bản, rõ ràng có ý

định nhấn mạnh tầm quan trọng của tác nhân này trên phương diện sư phạm

Phương pháp sư phạm tương tác, đặc biệt làm tăng giá trị các mối quan hệ tác động qua lại tồn tại giữa người dạy, người học và môi trường Sự tham gia đa dạng của ba tác nhân là nguồn của các quan hệ năng động giữa chúng, yếu tố đặc trưng nhất của phương pháp sư phạm tương tác

Người học Người dạy

Môi trường

Hình 1.6: Hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác

Để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào thực tiễn dạy học cần làm

rõ tương tác của người dạy đến môi trường hướng vào người học Theo sơ đồ trên

chúng ta dễ dàng nhận thấy cơ chế tương tác của môi trường đến người học có

thể diễn ra theo hai hướng sau:

- Hướng thứ nhất, môi trường tương tác trực tiếp đến người học

- Hướng thứ hai, môi trường tương tác đến người học thông qua người dạy Trong thực tế dạy học, hướng tương tác thứ nhất mang tính tự phát và thường diễn ra ở tầm vĩ mô nên khó kiểm soát, còn hướng tương tác thứ hai lại ít

được người dạy quan tâm khai thác, do đó trở nên mờ nhạt Vì vậy, trước đây,

Trang 32

môi trường chưa được phát huy đúng chức năng trong quan hệ với các yếu tố khác của hệ dạy học, đặc biệt là với yếu tố học

Thực tiễn dạy học ở trường tiểu học, khó có thể cùng một lúc xem xét và khai thác tất cả các tác động có lợi của môi trường đến người học và phương pháp học của họ Vì vậy trong phương pháp sư phạm của mình, người dạy phải xác

định một số yếu tố của môi trường để tác động vào ( những yếu tố bên trong người học ) nhằm phát huy các tác động tích cực và hạn chế các tác động không

có lợi của môi trường đến hoạt động dạy và học

3 Một số vấn đề về môn TNXH lớp 2

3.1 Mục tiêu môn TNXH lớp 2

Môn Tự nhiên _ Xã hội cung cấp một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về cơ thể người Học sinh biết cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránh một số bệng thông thường; biết một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội xung quanh

- Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh những kĩ năng như: tự chăm sóc sức khỏe bản thân, biết ứng xử và đưa ra quyết định hợp lí trong đời sống để phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn

- Giúp học sinh biết quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội

- Giúp học sinh hình thành và phát triển thái độ và hành vi như: có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng, biết yêu thiên nhiên gia đình, yêu nhà trường, yêu quê hương đất nước

- Học xong môn Tự nhiên _ Xã hội, học sinh biết sơ lược về các họat động cơ quan vận động và cơ quan tiêu hóa ở cơ thể người, phòng chống cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống, cách phòng chống bệng giun

Trang 33

- 33 -

- Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số nghề nghiệp trong xã hôi, ở địa phương, biết giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi đường

- Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp mọi nơi; trên cạn, dưới nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu biết sơ lược về hình dạng và đặc điểm của Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao

Bài 5: Cơ quan tiêu hóa

Bài 6: Tiêu hóa thức ăn

Bài 7: Ăn uống đầy đủ

Bài 12: Đồ dùng trong gia đình

Bài 13: Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở

Bài 14: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà

Bài 15: Trường học

Bài 16: Các thành viên trong nhà trường

Trang 34

Bài 17: Phòng tránh ngã khi ở trường

Bài 18: Thực hành: Giữ trường học sạch, đẹp

Bài 19: Đường giao thông

Bài 20: An toàn khi đi các phương tiện giao thông

Bài 21: Cuộc sống xung quanh

Bài 22: Cuộc sống xung quanh ( tiếp theo )

Bài 23: Ôn tập: Xã hội

 Tự nhiên

Bài 24: Cây sống ở đâu ?

Bài 25: Một số loài cây sống trên cạn

Bài 26: Một số loài cây sống dưới nước

Bài 27: Loài vật sống ở đâu ?

Bài 28: Một số loài vật sống trên cạn

Bài 29: Một số loài vật sống dưới nước

Bài 30: Nhận biết cây cối và các con vật

Trang 35

- 35 -

+ Học sinh lớp 2 là giai đoạn đầu của bậc Tiểu học ở giai đoạn này tri giác của các em mang tính tổng thể, thu nhận kiến thức thông qua trực giác, khả năng phân tích chưa cao, khó nhận ra các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng Vì vậy, chương trình có cấu trúc dưới dạng các chủ đề bao gồm 3 chủ đề: Con người

và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên

Do vậy GV khi vận dụng phương pháp sư phạm tương tác GV cần cho HS quan sát tranh hoặc bằng các phương tiện trực quan để HS có thể nhận thấy được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng và đặc biệt GV nên cho HS liên hệ với bản thân mình, thực tiễn cuộc sống và môi trường xung quanh để biết được mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, từ đó giúp HS có khả năng phân tích chính xác hơn

VD: Khi dạy bài “Tiêu hóa thức ăn” HS rất khó tưởng tượng được sự tiêu

hóa thức ăn ở miệng, dạ dày, ruột non, ruột già nếu có điều kiện GV có thể chuẩn

bị máy chiếu cho HS quan sát sự tiêu hóa thức ăn để HS có thể nhận thức, ghi nhớ kiến thức sâu hơn Nếu không có điều kiện GV yêu cầu HS ăn một mẩu bánh mì, yêu cầu HS nhai kĩ và sau đó sẽ tự nêu sự tiêu hóa thức ăn trong miệng như thế nào, còn các cơ quan khác GV có thể cho HS quan sát tranh làm như vậy HS

sẽ nhận biết được mối quan hệ của các cơ quan tiêu hóa đồng thời HS sẽ ghi nhớ bài học được lâu hơn

- Chương trình có cấu trúc đồng tâm và phát triển Các kiến thức trong các chương trình được trình bày đi từ cụ thể đến trừu tượng Các kiến thức được trình bày từ gần đến xa, từ dễ đến khó, tăng dần mức độ phức tạp và khái quát hóa, tạo

điều kiện để học sinh dễ thu nhận kiến thức

VD: Khi dạy về bài “Cơ quan tiêu hóa”, GV cho HS quan sát tranh để

biết được đường đi của thức ăn trong ống tiêu hóa thông qua đường chỉ của mũi tên vào từng bộ phận, sau đó HS nhìn vào hình vẽ nói tên các cơ quan tiêu hóa Sau khi đã biết được tên các cơ quan tiêu hóa HS sẽ được học kiến thức phức tạp hơn đó là sự tiêu hóa thức ăn ở miệng, dạ dày, ruột non, ruột già, HS phải nói

Ngày đăng: 17/07/2015, 07:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Tú Anh, Tiếp cận hoạt động dạy _ học từ góc độ Tâm lí học nhận thức, Tạp chí Giáo dục số 18 (12/2001),tr.12 – 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hoạt động dạy _ học từ góc độ Tâm lí học nhận thức
2. Ban nghiên cứu chiến lược – Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bối cảnh quốc tế, trong nước và các quan điểm phát triển giáo dục giai đoạn 2008 – 2020, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 32, tháng 5 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh quốc tế, trong nước và các quan điểm phát triển giáo dục giai đoạn 2008 – 2020
3. Ban nghiên cứu chiến lược _ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bối cảnh quốc tế, trong nước và các quan điểm phát triển giáo dục giai đoạn 2008 – 2020, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 32, tháng 5 - 2008, tr.1 – 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh quốc tế, trong nước và các quan điểm phát triển giáo dục giai đoạn 2008 – 2020
4. Nguyễn Thanh Bình ( Chủ biên ), Nguyễn Thị Kim Dung, Ngô Thu Dung, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thu Lạc, Nguyễn Thị Hằng, Lí luận Giáo dục học Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Giáo dục học Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
5. Nguyễn Đình Chắt ( 2001 ), Phương pháp sư phạm tương tác: bản chất và hướng ứng dụng, Tạp chí Giáo dục _ số 19 (12/2001), tr.19, 20, 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp sư phạm tương tác: bản chất và hướng ứng dụng
6. Nguyễn Hữu Châu, Chương trình dựa trên triết lí “ Giáo dục vì sự phát triển toàn diện của mỗi con người”, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 28, tháng 01 – 2008, tr.1 – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình dựa trên triết lí “ Giáo dục vì sự phát triển toàn diện của mỗi con người”
8. Phạm Minh Hạc ( 2002 ), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
9. Trần Bá Hoành, Bàn tiếp về dạy học lấy học sinh là trung tâm, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 49, tr 22 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn tiếp về dạy học lấy học sinh là trung tâm
10. Trần Bá Hoành, Những vấn đề cơ bản về dạy và học tích cực, Thế giới trong ta, PB4, tháng 9 – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về dạy và học tích cực, Thế giới trong ta
11. I.F. Kharlamôp (1979), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh ( tập II ),( Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang dịch), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Tác giả: I.F. Kharlamôp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1979
12. Bùi Phương Nga ( Chủ biên ), Sách giáo khoa Tự nhiên Xã hội lớp 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tự nhiên Xã hội lớp 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Nguyễn Thành Vinh, Sự hình thành quan điểm sư phạm tương tác, Tạp chí Giáo dục số 122 ( 9/ 2005 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành quan điểm sư phạm tương tác
14. Nguyễn Thành Vinh, Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác trong các trường ( khoa ) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học ( ĐHSP HN ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác trong các trường ( khoa ) cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo hiện nay
15. Jean – Marc DenommÐ et Madeleine Roy ( 2000 ), [ Pour une pÐdagogie interactive ] Tiến tới một Phương pháp Sư phạm tương tác ( Người dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một Phương pháp Sư phạm tương tác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Các tương tác và các tương hỗ của bộ ba Người dạy_ Người học - Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên xã hội lớp 2 (KL03756)
Hình 1.1 Các tương tác và các tương hỗ của bộ ba Người dạy_ Người học (Trang 16)
Hình 1.5:  Mối liên hệ giữa ba yếu tố trong dạy học - Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên xã hội lớp 2 (KL03756)
Hình 1.5 Mối liên hệ giữa ba yếu tố trong dạy học (Trang 27)
Hình 1.6: Hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác - Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên xã hội lớp 2 (KL03756)
Hình 1.6 Hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w