TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VŨ THỊ NGUYÊN VẬN DỤNG MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA LÝ THUYẾT KIẾN TẠO ĐỂ DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI TR
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
VŨ THỊ NGUYÊN
VẬN DỤNG MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA LÝ THUYẾT KIẾN TẠO ĐỂ DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 5
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội
HÀ NỘI, 2011
Trang 2Phần 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỉ XXI, thế kỉ của những tiến bộ vượt bậc về văn hoá và công nghệ, có trình độ chuyên môn cao Vì thế đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là việc mỗi quốc gia đều quan tâm chú ý Đất nước ta đang trong quá trình đi đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn nhân lực con người và vai trò lớn của giáo dục đã được ghi rõ trong Nghị quyết TW 2 khoá VIII: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn nhân lực con người”
Giáo dục là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là giáo dục Tiểu học, vì đây là bậc học nền tảng, hình thành ở học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, tri thức, thẩm mĩ và kĩ năng, đặt nền móng vững chắc cho các bậc học trên Muốn làm được điều này người ta tiến hành đồng bộ những vấn đề của bậc tiểu học đòi hỏi phải
có nội dung và phương pháp thích hợp trong đó đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập phát huy sự tự chủ sáng tạo của học sinh là chủ đạo
Thực tiễn trong thời gian qua bên cạnh những kết quả đạt được, nền giáo dục vẫn tồn tại những hạn chế nhất định Thực trạng dạy học hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục của nước nhà, dẫn đến chất lượng dạy học còn thấp nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là chất lượng việc sử dụng phương pháp chưa tốt, chưa thực sự hiệu quả Vì thế việc sử dụng các phương pháp dạy học như thế nào để phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của học sinh là một vấn đề đáng quan tâm
Trang 3Ở Tiểu học để giúp các em hiểu về các vấn đề tồn tại xung quanh thì môn Khoa học cung cấp cho các em kiến thức đó Đó là môn học tích hợp những kiến thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đức của con người Đáp ứng mục tiêu của hệ thống giáo dục và giáo dục Tiểu học, chương trình môn Khoa học đề ra mục tiêu phải khơi dạy tính tích cực trong hoạt động của học sinh.Đặc biệt dạy môn Khoa học với nhiều chủ đề đa dạng đòi hỏi tính đầy
đủ và chính xác của những tri thức khoa học và người giáo viên phải làm thế nào để xây dựng cho học sinh niềm tin, kiến thức khoa học bằng các biện pháp và phương pháp dạy học khác nhau…… dạy học kiến tạo là phù hợp nội dung khoa học lớp 5 Trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học, nội dung
về quá trình phát triển của cơ thể con người là nội dung khá mới với học sinh Tiểu học Và hiện nay, trước thực tại xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống vật chất và tinh thần của con người được đáp ứng ngày càng cao, học sinh Tiểu học ngày càng được chăm lo và phát triển đủ cả về mặt vật chất và tinh thần thì việc cung cấp cho các em những kiến thức khởi đầu về quá trình phát triển của cơ thể con người là một việc làm thiết thực và quan trọng, là bước ngoặc giúp học sinh bước vào cấp học cao hơn với môn Sinh
học.Vì vậy tôi chọn đề tài : “Vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến tạo để dạy học các bài về quá trình phát triển của cơ thể con người trong môn Khoa học lớp 5”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến tạo để dạy học các bài
về quá trình phát triển của cơ thể người trong môn Khoa học lớp 5, để tổ
chức quá trình dạy học lớp 5 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Khoa
học ở Tiểu học
3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Quá trình dạy học được tổ chức trên cơ sở vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến tạo trong dạy học về nội dung quá trình phát triển của cơ
thể người trong chủ đề “Con người và sức khoẻ” của môn Khoa học lớp 5
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc dạy học theo một số quan điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo và vận dụng để tổ chức quá trình dạy học các bài về quá trình
phát triển của cơ thể người
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
Để làm sáng tỏ những quan điểm của lý thuyết kiến tạo và vận dụng một số quan điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo vào dạy các bài về quá trình
phát triển của cơ thể người
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức các bài về quá trình phát triển của cơ thể người môn Khoa học lớp 5 theo một số quan điểm của lý thuyết kiến tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Khoa học lớp 5
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
Trang 5- Phương pháp trò chuyện
Trang 6Phần 2: NỘI DUNG Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Phương pháp dạy học ở Tiểu học
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Hêghen quan niệm: “Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thể, cách thức này phụ thuộc vào nội dung vì phương pháp là vận động bên ngoài của nôi dung”
Thuật ngữ phương pháp dạy học bắt nguồn từ tếng Hy Lạp METHOR
có nghĩa là con đường để đạt được mục đích dạy học Theo đó phương pháp
dạy học là con đường để đạt được mục đích dạy học
Phương pháp dạy học là hình thức, cách thức hoạt động của giáo viên
và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục đích
dạy học
Phương pháp dạy học đặc trưng bởi tính chất hai mặt gồm hoạt động của thầy và trò Hai hoạt động này tồn tại tiến hành trong mối quan hệ biện chứng, trong đó hoạt động của thầy giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của trò
giữ vai trò chủ động (tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động)
1.1.1.2 Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Đảng và Nhà nước ta đã xác định “Đầu tư cho giáo dục là Quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng đào tạo nhân lực chất lượng cao, là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Giáo dục góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh đặc biệt là giáo dục Tiểu học Đây là bậc học nền tảng
để các em học tiếp bậc cao hơn Do vậy, Đảng và Nhà nước ta đã nêu rõ ở Nghị quyết Trung Ương II là: Nâng cao chất lượng toàn diện ở Tiểu học Bộ
Trang 7Giáo dục đã đề ra yêu cầu của việc dạy học hiện đại là tăng cường hoạt động tích cực sáng tạo của học sinh Đổi mới về phương pháp dạy học ở tất cả các môn học thông qua việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 Đó là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường trong tình trạng hiện nay
Như vậy mục đích của phương pháp dạy học Tiểu học là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện kỹ năng và thói quen tự học tinh thần hợp tác, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo hứng thú học tập cho học sinh Qua đây học sinh chủ động tìm tòi, khám phá hiểu biết, năng lực, phẩm chất để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, tương lai
Cốt lõi của đổi mới dạy và học hướng tới hoạt động học tập chủ động chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy cần áp dụng phương pháp dạy học tích cực Tuy nhiên phương pháp dạy học tích cực không có nghĩa
là gạt bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà kế thừa phát triển mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học truyền thống đồng thời học hỏi, vận dụng một số phương pháp mới hiện đại Bởi vì không phải mọi loại kiến thức học sinh có thể chiếm lĩnh bằng các hoạt động tự lực mặc dù có đủ phương tiện học tập và phương pháp dạy học tích cực không phải dễ dàng được vận dụng ở mọi lúc, mọi nơi, cũng không phải mọi học sinh đều tự nguyện, tự giác tham gia những hoạt động tích cực Phương pháp nào cũng
có ưu điểm và nhược điểm của nó vì thế phải phối hợp các phương pháp
Đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy và học tích cực cần phải
sử dụng các phương pháp dạy học hợp lý nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Các cách lý luận chỉ rõ về mặt hoạt động nhận thức thì phương pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời nói Trong
Trang 8nhóm các phương pháp dùng lời nói thì lời của thầy trò, lời của sách đóng vai trò là nguồn tri thức chủ yếu, đặc biệt quan trọng là lời của thầy Phương pháp dùng lời có sử dụng các phương tiện trực quan nhưng phương tiện này chỉ đóng vai trò minh hoạ cho lời thầy.Trong các phương pháp dùng lời thì phương pháp vấn đáp học sinh, làm việc với sách, báo cáo nhỏ của học sinh
có nhiều thuận lợi để phát huy tính tích cực của học sinh
Trong nhóm các phương pháp trực quan thì các phương tiện trực quan
là “nguồn” chủ yếu dẫn đến kiến thức mới Trong các phương pháp trực quan học sinh dùng tri giác tài liệu do thầy biểu diễn và dùng tư duy rút kiến thức mới
Đổi mới phương pháp dạy học lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, tăng cường hoạt động hoạt động cá nhân, thông qua hoạt động cá nhân kích thích động cơ bên trong của người học, làm họ tăng cường tính chủ động, tự tin phát triển năng lực suy lý tự phát hiện kiến thức Do vậy cần tổ chức hoạt động tự học của học sinh Rèn luyện phương pháp tự học không ngừng nâng cao hiệu quả học tập mà còn là mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy và học Giáo viên cần giao nhiệm vụ cho học sinh Nhiệm vụ học tập cụ thể, rõ ràng, đúng mực phù hợp với năng lực và điều kiện nhận thức của các em Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tự học bằng cách đọc tài liệu tham khảo hay sách giáo khoa và sau khi nghe giảng như thế nào, cách giải quyết các bài tập ra sao… Giáo viên có thể sử dụng phương pháp vấn đáp nhưng cần lấy học sinh làm trung tâm Như vậy vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống vẫn phải rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh
Khi sử dụng phương pháp truyền thống giáo viên cần khai thác chức năng khêu gợi vốn có của mỗi phương pháp để kích thích và phát huy vai trò chủ động nhận thức của người học Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, động viên khích lệ học sinh Giáo viên cần tìm tòi phuơng pháp truyền đạt hiệu
Trang 9quả để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh Điều đó đòi hỏi giáo viên không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tự học, tự nghiên cứu để đáp ứng việc dạy học trong thời hiện đại Giáo viên thường xuyên ttheo dõi cập nhập thông tin, số liệu, tự liệu, sự kiện, có tư liệu giảng dạy gây hứng thú với học sinh
Như vậy, biết vận dụng những phương pháp dạy học truyền thống một cách tích cực phù hợp từng môn, từng bài sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiểu học hiện nay Đồng thời với việc khai thác mặt tích cực của phương pháp dạy học phải kết hợp với những phương pháp hiện đại để đạt đựơc những mục tiêu dạy và học Đây là quan niệm đổi mới đúng đắn phù hợp thực tế
1.1.2 Một số quan điểm về dạy học kiến tạo
Theo từ điển Tiếng Việt, “Kiến tạo” có nghĩa là “xây dựng nên” Kiến
tạo là hoạt động của con người tác động nên một đối tượng nhằm tạo nên
một đối tuợng mới theo nhu cầu của bản thân
Theo Brandt (1997): “lý thuyết kiến tạo (constructivion) là một lý
thuyết học dựa trên cơ sở nghiên cứu quá trình học tập của con người và dựa trên quan điểm cho rằng mỗi cá nhân tự xây dựng nên tri thức của riêng mình, không chỉ đơn thuần là tiếp nhận tri thức từ người khác”
Theo Brooks: “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng
học sinh cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có từ trước đó Học sinh thiết lập nên các quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng”
Theo Birner: “Người học tạo nên kiến thức của bản thân mình bằng
cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào tình huống mới, hợp thành tổng thể
Trang 10thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong óc”
Bàn về kiến tạo, Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Bá Kim viết “Học
tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân bằng”
Theo Phạm Gia Đức: “Kiến tạo là lý thuyết DH mà nền tảng của nó là
dựa trên kiến thức đã có của người học để xây dựng kiến thức mới sao cho
kiến thức mới phải phù hợp trong tổng thể cái đã có”
Lương Việt Thái lại phân tích quan điểm về lý thuyết kiến tạo như sau:
“Trong quá trình học tập, những ý tưởng, quan điểm của học sinh được bộc
lộ, sử dụng, đánh giá và thách thức Nếu những thông tin mới mâu thuẫn với quan điểm hiện đại của học sinh thì họ phải điều chỉnh thay đổỉ cho phù hợp Ngoài ra, để ý tưởng mới trở thành bộ phận gắn bó hữu cơ với kiến thức cũ của người học cần tích cực xây dựng tạo lập những mối quan hệ giữa chúng
Còn Đào Thị Việt Anh bàn về một số quan điểm kiến tạo như:
- Quan điểm kiến tạo ngoại sinh: Môi trường làm việc bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức Việc lĩnh hội kiến thức là kết quả của sự tương tác tích cực giữa cá nhân với đối tượng nhận thức trong mối quan hệ giữa các thành viên xung quanh
- Quan điểm kiến tạo nội sinh: Yếu tố con người đóng vai trò quyết định, việc lĩnh hội kiến thức xảy ra bên trong cá nhân theo quy luật nhận thức
- Quan điểm kiến tạo biện chứng: Đứng ở vị trí trung gian, quan điểm biện chứng trung gian cho rằng môi trường bên ngoài cũng như yếu tố con người đều ánh hưởng đến việc kiến tạo tri thức
Trang 11Xuất phát từ bản chất của kiến tạo trong dạy học nhiều nhà nghiên cứu trong đó có Paul Ernest đã phân chia kiến tạo trong DH thành hai loại:
+ Kiến tạo cơ bản (Radical Constructivism): Kiến tạo cơ bản là một quan điểm nhận thức, nhấn mạnh tới cách thức các cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập
+ Kiến tạo xã hội (Social constructivism) các tri thức khách quan được cá nhân kiến tạo thông qua mối quan hệ tương tác của học sinh với giáo viên và với bạn học, tạo thành tri thức chủ quan mang tính cá nhân
Bàn về hai loại kiến thức này có rất nhiều tác giả, trong đó Nerida Ellerton và M.A Clementes đề cập tới kiến tạo cơ bản như sau: “Tri thức được kiến tạo một cách cá nhân thông qua cách thức hoạt động của mỗi cá nhân Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Ernst Von Glaserfeld là:
“Kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức, không phải là thứ sản phẩm mà bằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức, có thể được truyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần
cù nhận thức hoặc giao tiếp”
Kiến tạo cơ bản có điểm mạnh là khẳng định vai trò chủ đạo của người học trong quá trình nhận thức Người học tự xây dựng nên tri thức của mình trong quá trình học tập, do vậy họ trở thành chủ sở hữu tri thức những tri thức đó Elleston và Clement đã khẳng định: “…Điểm mạnh quan trọng nhất của kiến tạo cơ bản trong giáo dục là con đường tự tìm kiếm tri thức để tạo nên quyền sở hữu hoàn toàn xác đáng cho người học” Tuy nhiên nếu đề cao quá vai trò của kiến tạo cơ bản sẽ dẫn đến việc người học bị đặt trong tình trạng cô lập vầ kiến thức được xây dựng sẽ thiếu tính xã hội
Ngược lại, kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội Theo Johameddeen Mohd Nor, kiến tạo xã hội là
Trang 12quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hoá và các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức
Trong cuốn lí luận dạy học đại học, Đặng Thành Hưng viết: “Tư tưởng cốt lõi của lý thuyến kiến tạo là: Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, tri thức mang tính chủ quan” Từ đó tác giả nếu nên các nguyên tắc của lý thuyết kiến tạo là:
- Không có kiến thức khách quan tuyệt đối Kiến thức là một quá trình
và sản phẩm được kiến tạo theo từng cá nhân (tương tác giữa đối tượng học tập và người học)
- Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp được khảo sát một cách tổng thể
- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong một quá trình tích cực,
vì chỉ có từ những kinh nghiệm và kiến thức và khả năng đã có
Học tập trong nhóm có ý nghĩa rất quan trọng góp phần cho người học
tự điều chỉnh sự học tập của bản thân mình
1.1.3 Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
1.1.3.1 Đặc trưng của dạy học theo lối kiến tạo
1.1.3.1.1 Quá trình kiến tạo tri thức
Theo J.piaget, quá trình kiến tạo tri thức xảy ra theo hai hướng đồng
hoá và điếu ứng Đồng hoá là quá trình nếu gặp tri thức mới, nhưng tương tự như tri thức đã biết thì tri thức mới này có thể kết hợp trực tiếp vào so đồ nhận thức đang tồn tại, hay nói cách khác học sinh có thể dựa vào kiến thức
cũ để giải quyết tình huống mới Điếu ứng là quá trình khi gặp một tri thức mới có thể hoàn toàn khác biệt với những sơ đồ nhận thức đang có được thay đổi để phù hợp với tri thức mới
Trang 13Xuất phát từ quan điểm của J.Piaget về bản chất của quá trình nhận
thức Von Glaserfeld đưa ra một số luận điểm như sau:
- Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài
- Nhận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức chủ thể
- Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân thu nhận phải tương xứng với yêu cầu mà tự nhiên và xã hội đặt ra
- Học sinh đạt được tri thức mới theo chu trình : Dự báo - Kiểm nghiệm - Thất bại - Thích nghi - Kiến thức mới
Cùng với Von Glaserfild, khi bàn về các vấn đề về giáo dục toán học,
Douglas H.Clementes và Michacl T.Battista đã đưa ra một số triết lý về cuộc
sống toán học theo quan điểm kiến tạo như sau:
- Kiến thức phải được trẻ em chủ động sáng tạo và phát hiện chứ không phải thụ động tiếp nhận từ môi trường
- Trẻ em tạo dựng nên kiến thức mới bằng việc phản ánh thông qua các hoạt động trí tuệ và thể chất Các ý tưởng khoa học được kiến tạo hoặc làm cho có ý nghĩa khi trẻ tự gắn mình vào cấu trúc hiện có
Còn Vưgôtxki: Khi nghiên cứu về sự phát triển các khái niệm khoa
học ở lứa tuổi trẻ em đã nhận thấy: Sự chuyển tiếp bên trong một trình độ ở giai đoạn cấp cao quan hệ gần gũi với đối tượng vẫn còn được bảo toàn đối với các giai đoạn trước đó Có nghĩa là tri thức, khái niệm mới không phải được học sinh tiếp nhận bằng cách huỷ bỏ cái cũ và thay thế nó Sự phát triển tri thức, khái niệm mới của học sinh theo con đường: Lúc đầu trẻ tạo ra một cấu trúc mới đối với một số ít khái niệm, khi đã làm chủ được cấu trúc mới này, trẻ bắt đầu cải tổ, biến đổi cấu trúc của tất cả các khái niệm sẵn có
Trang 14Cấu trúc khái quát mới mà trẻ tiếp cận được trong quá trình học tập, đã tạo điều kiện cho ý nghĩ của trẻ chuyển sang bình diện mới cao hơn Các khái niệm cũ cũng có sự thay đổi cấu trúc khi tham gia vào các thao tác tư duy cấp cao hơn so với trước
Như vậy, giữa Piaget và Vưgôtxki đều thống nhất trong quan điểm về
sự phát triển các khái niệm hay chính là các tri thức mới mà trẻ tiếp cận khi đến trường Quá trình hình thành tri thức theo con đường cải tổ tri thức trước
đó làm cho tri thức ngày càng được mở rộng và nâng cao về chất, hữu ích hơn về giá trị sử dụng
Theo công trình nghiên cứu của Vưgôtxki về vấn đề dạy học và phát triển mỗi cá nhân đều có một vùng phát triển gần nhất của riêng mình, thể hiện tiềm năng phát triển của cá nhân đó Nếu các hoạt động cuộc sống được
tổ chức trong vùng phát triển gần nhất thì sẽ đạt hiệu quả cao Văn hoá, ngôn ngữ tương tác lên việc kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân Mỗi trẻ em đều bắt đầu sự học tập của mình từ rất lâu trước khi đến trường, việc học ở nhà trường không phải bắt đầu từ chỗ trống rỗng mà bắt đầu từ một trình độ phát triển hiện đại của trẻ Như vậy, cũng có thể thấy trẻ bắt đầu việc học không phải từ con số không mà bắt đầu từ một số “vốn” kinh nghiệm, tri thức nhất định Tri thức của trẻ không ở trạng thái tĩnh, mà luôn ở trong quá trình hình thành, chín muồi và phát triển Dạy học trong vùng phát triển nhất là việc dạy học tính đến trạng thái phát triển này, tức là khêu gợi sức sống của các tri thức đã hình thành trong trẻ
Như vậy, học là quan tâm đến quá trình học bằng cách tìm hiểu những
gì xảy ra trong óc người học, trong hộp đen Tức là cách tiếp cận về trí tuệ theo bước chân của Piaget với cơ chế đồng hoá, điếu ứng, cân bằng… hay Vưgôtxki với vùng phát triển gần: “học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường”, “học là tích hợp đồng hoá,
Trang 15điều ứng, “nhập nội” những dữ liệu mới làm biến đổi cấu trúc nhận thức nội tại hiện có”
Polia: “Việc học tập bắt đầu hành động và sự cảm thụ, rồi từ đó đi đến
các từ và các khái niệm và phải kết thúc bằng sự rèn luyện những đặc điểm mới mẻ nào đó của tư chất trí tuệ…”
“Để quá trình học tập có hiệu quả giai đoạn nghiện cứu cần phải tiến hành trước giai đoạn sắp đặt lời và sự hình thành các khái niệm, cuối cùng tài liệu học tập cần phải đi vào tiềm lực chung của tri thức học sinh, tạo khả năng nâng cao trình độ tri thức của họ”
Carl Rogers: “ Sự học hữu dụng nhất về phương diện xã hội trong thế
giới hiện đại là học về tiến trình học tập, là liên tục mở rộng kinh nghiệm và kết hợp chính mình vào thay đổi” Trong nghiên cứu về lý luận nhận thức linh hoạt tiến sĩ Bùi Văn Quân viết:
1.Theo lý luận nhận thức linh hoạt, nhận thức của người học có tính linh hoạt Tính linh hoạt nhận thức là khả năng người học cấu trúc lại một các tự nhiên và tự do những tri thức của mình bằng nhiều cách khác nhau nhằm đáp ứng nhanh chóng những nhu cầu của tình huống đang thay đổi một cách căn bản Tính linh hoạt của nhận thức không chỉ thể hiện trong cách trình bày hay mô tả tri thức mà còn thể hiện cả trên hành động xử lý diễn ra trên nền tảng những biểu tượng và giá trị tinh thần mà người học đã có Để phát huy tính linh hoạt nhận thức của người học cần coi trọng vai trò tri thức kiến tạo (người học kiến tạo tri thức dựa vào hoàn cảnh) Đây là loại tri thức sống động, bắt nguồn từ chính những yếu tố cấu thành hoàn cảnh cụ thể của học tập có thể là các sự kiện tình huống, các sự kiện phát sinh từ thực nghiệm, từ
sự quan sát trực tiếp, từ những liên hệ của bài học với thực tiễn cuộc sống…Và phải tạo được cơ hội để người học phát triển các kỹ năng trình bày, áp dụng thông tin của mình nhằm học tập đúng đắn
Trang 162 NDHT là cái mà người học phải chiếm lĩnh và biến nó thành kinh nghiệm của bản thân NDHT tồn tại khách quan với người học và là cái nhờ
đó mà người học có thể đạt được MTHT MTHT do người dạy thiết kế Tuy nhiên đó không phải là tất cả, MTHT đều là mục tiêu bên trong của người học khiến người học khao khát đạt đến Chỉ những yếu tố nào của mục tiêu
do người dạy thiết kế trở thành đối tượng hoạt động học tập thì mới thực sự trở thành mục tiêu bên trong của người học Vì lẽ đó, để gia tăng khả năng của người học trong việc chiếm lĩnh NDHT cần phải làm cho NDHT trở thành đối tượng của hoạt đọng học tập, phải thực sự coi NDHT là hình thái đối tượng hóa của MTHT Do học tập là tổ hợp những hoạt động khác nhau được người học thực hiện nhằm chiếm lĩnh đối tượng nên NDHT là MTHT được diễn đạt dưới hình thức các đối tượng của những hoạt động của con người trong quá trình học tập như hoạt động nhận thức, hoạt động gia tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động quản lý tri thức…
Như vậy quá trình kiến tạo tri thức cũng gần như quá trình nhận thức linh hoạt độc đáo Quá trình này đòi hỏi sự linh hoạt, tích cực, sáng tạo của người học
1.1.3.1.2 Tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học kiến tạo
Từ điển Tiếng Việt cho rằng: Tích cực là hăng hái, nhiệt tình với công
việc Tính tích cực có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển và trái với tiêu cực Khi nói đến tính tích cực là nói đến tính chủ động và những hoạt
động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển
Theo tác giả IF.Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của
học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình nắm vững tri thức”
Trang 17Nhà vật lý người Đức, Lictenbe có câu châm ngôn nổi tiếng: “Những
cái gì mà bản thân anh buộc phải khám phá, để lại trong tiềm thức của anh
con đường nhỏ mà anh lại có thể sử dụng khi cần thiết”
Trong dạy học kiến tạo, mọi tri thức mới đều được cài đặt vào trong các tình huống mà nếu không chủ động khám phá, tìm tòi học sinh không thể xây dựng được tri thức của riêng mình Như vậy tính linh hoạt của nhận thức của học sinh được phát huy một cách tối đa Nhận thức luôn bị kích hoạt do sự thay đổi căn bản của môi trường học tập, tri thức của học sinh là loại tri thức sống động bắt nguồn từ chính những yếu tố cấu thành hoàn cảnh
cụ thể của học tập và sự phát triển của cá nhân học sinh
1.1.3.2 Môi trường học tập mang tính kiến tạo
1.1.3.2.1 Môi trường học tập
Môi trường: là tất cả các yếu tố bên trong cũng như yếu tố bên ngoài
tạo thành môi trường của người dạy, người học
Môi trường bên trong: chỉ mối quan hệ nội tại bên trong của người dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, xúc cảm, có giá trị, vốn sống, sức khoẻ, phong cách…
Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu ttố bên ngoài của người học, người dạy như hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống của người dạy
và người học
1.1.3.2.2 Môi trường học tập kiến tạo
Môi trường học tập mang tính kiến tạo là môi trường thân thiện giữa giáo viên và học sinh Môi trường học tập mang tính kiến tạo có sự tương tác cao giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với tài liệu học tập Giáo viên là người bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn học sinh học Chức năng chính của giáo
Trang 18viên là giúp đỡ học sinh học và hiểu, làm nảy sinh tri thức ở học sinh theo
cách của một người hướng dẫn
Môi trường học tâp mang tính kiến tạo còn là môi trường chứa đựng những mâu thuẫn, thách thức đối với học sinh Môi trường mang tính kiến tạo luôn tạo ra những vấn đề thách thức kiến tạo của học sinh buộc học sinh
phải điều chỉnh hoặc thay đổi quan điểm của mình
Như vậy, đặc trưng của môi trường mang tính kiến tạo là sự tương tác
và tính mâu thuẫn Trong đó tương tác là đặc trưng của môi trường bên ngoài, tính mâu thuẫn là đặc trưng của môi trường bên trong Hai đặc trưng này không tách rời nhau mà có sự liên kết chặt chẽ Nhờ có tính mâu thuẫn
mà học sinh tích cực chủ động tìm tòi sáng tạo, nhờ có tương tác mà quá trình giải quyết vấn đề thành công hơn, nhanh chóng hơn Nếu môi trường
có mâu thuẫn mà không có sự tương tác thì quá trình giải quyết mâu thuẫn diễn ra phức tạp hơn, kết quả thu được ít giá trị hơn thậm chí không có kết quả Nếu môi trường có tương tác mà không có mâu thuẫn thì sẽ không diễn
ra quá trình kiến tạo tri thức
Học sinh có thể kiến tạo theo nhiều nguồn khác nhau, môi trường kiến tạo có tính chất hợp tác và chia sẻ Học sinh có thể kiến tạo tri thức thông qua tương tác với bạn bè học tập, kinh nghiệm sẽ hữu ích và luôn được thử
thách sẽ vững chắc
1.1.3.2.3 Vai trò của giáo viên trong dạy học theo lối kiến tạo
Vai trò của giáo viên trong dạy học theo lối kiến tạo là tổ chức môi trường học tập mang tính kiến tạo, thay vì cố gắng làm cho học sinh nắm nội dung bằng giải thích mình họa hay truyền đạt kiến thức
Với quan điểm dạy học kiến tạo giáo viên sẽ lựa chọn các phương thức dạy học tích cực, giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề, xây
Trang 19dựng và thử nghiệm các ý tưởng và giải pháp, kiểm tra các ý tưởng và giải pháp đó trong một môi trường hợp tác và chia sẻ
Dạy học theo lối kiến tạo không những không hạ thấp vai trò của giáo viên mà trái lại đòi hỏi giáo viên phải có trình độ cao hơn nhiều về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp
Giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn, trọng tài luôn đi bên cạnh hỗ trợ học sinh kiến tạo tri thức mới, cố vấn khi học sinh gặp khó khăn và là trọng tài trong các cuộc tranh luận của học sinh Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức vững chắc, thông thạo các con đường tìm kiếm tri thức Không chỉ có thế, giáo viên còn là người dẫn dắt học sinh, động viên học sinh khi gặp khó khăn, trợ giúp khi học sinh cần đến Giáo
viên là người thầy, người bạn của học sinh
1.1.4 Ưu, nhược điểm của dạy học theo lối kiến tạo
Không có một phương pháp dạy học nào là tối ưu, là tốt nhất, phương pháp nào cũng bộc lộ những ưu điểm và hạn chế Giáo viên luôn linh hoạt và sáng tạo trong vận dung các phương pháp dạy học sao cho có kết quả tốt nhất cho học sinh của mình Dạy học theo lý thuyết kiến tạo có một số ưu
với hành kiến thức luôn vận động trong một quá trình hoạt động của chủ thể
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo tạo ra sản phẩm kép Học sinh không
chỉ nắm tri thức một cách vững chắc mà còn biết cách tìm ra tri thức đó
Trang 20Học sinh được học tập thông qua các sai lầm do đó các sai lầm của học sinh trở nên có ý nghĩa
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo là cách dạy học đón trước vùng phát triển gần nhất, dạy học gắn liền với phát triển
Trong dạy học theo lối kiến tạo học sinh được phát triển các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tìm kiếm và chia sẻ thông tin, kỹ năng hợp tác nhóm học tập theo lý thuyết kiến tạo tạo cơ hội cho học sinh phát triển các kỹ năng học tập trình bày các giả pháp, áp dụng thông tin của mình nhằm phát triển độ nhận thức của mình
1.1.4.2 Hạn chế
Quan điểm cực đoan trong lý thuyết kiến tạo phủ nhận sự tồn tại của tri thức khách quan là không thuyết phục
Một số tác giả nhấn mạnh quá đơn phương rằng chỉ có thể học tập có
ý nghĩa những gì mà người ta quan tâm tuy nhiên cuộc sống ảnh hưởng cả những điều mà khi còn đi học người ta không quan tâm
Việc đưa ra các kỹ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có
luyện tập cơ bản có thể hạn chế hiệu quả trong học tập
Việc nhấn mạnh đơn phương việc học trong nhóm cần được xem xét Năng lực học tập cá nhân vẫn luôn đóng vai trò quan trọng
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo đòi hỏi phải có thời gian lớn
1.1.5 Mô hình của dạy học kiến tạo
Căn cứ vào quan điểm, các thành tố đặc trưng của dạy học theo lối kiến tạo nhiều tác giả cho rằng mô hình của dạy học theo lối kiến tạo phải trải qua các bước sau:
Trang 21Vốn
tri
thức
Dự đoán
Kiểm nghiệm
Điều chỉnh
Tri thức mới
1.1.5.1 Các bước tiến hành trong dạy học kiến tạo
+ Ôn tập, tái hiện
Trang 22Bằng việc kiểm tra bài cũ, hỏi những kiến thức của bài học trước đó hoặc những kiến thức liên quan trong cùng chủ đề
+ Nêu vấn đề của kiến thức mới (có thể từ giáo viên hoặc từ phía học sinh)
Từ kiến thức bài cũ liên quan dẫn dắt đến kiến thức mới hoặc dẫn dắt trực tiếp đến kiến thức mới
Ví dụ: Khi học bài: “Từ tuổi vị thành liên đến tuổi già”, từ kiến thức của bài “từ lúc mới sinh đến tuổi dậy thì”, giáo viên dẫn dắt trực tiếp như sau: Cuộc đời mỗi con người chia thành những giai đoạn khác nhau Bài trước các em đã biết được đặc điểm chung nổi bật của lứa tuổi từ lúc sinh ra đến lúc dậy thì Bài học hôm nay sẽ giúp các em có kiến thức từ tuổi vị thành liên đến tuổi già
+ Tập hợp các ý tưởng của học sinh
Bằng việc tranh luận, trao đổi để tập hợp các ý tưởng của học sinh, so sánh các ý tưởng từ đó đưa ra ý tưởng chung
Ví dụ: Khi giáo viên đặt câu hỏi: Quá trình trứng kết hợp với tinh trùng gọi là quá trình gì? Thì thu được các câu trả lời: Quá trình tạo thai, quá trình sinh sản, quá trình trứng gặp tinh trùng Từ việc thảo luận đã đưa ra tên gọi đó là quá trình thụ tinh
+ Dự đoán
Bằng việc đặt câu hỏi, giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ về vấn đề
đó dự kiến câu trả lời mà cho là đúng nhất
Ví dụ: Giáo viên đưa ra bức tranh minh họa hình ảnh các tinh trùng gặp trứng yêu cầu học sinh quan sát và hỏi em nhìn thấy gì? Giáo viên dự kiến các ý kiến của học sinh:
1 Thấy trứng và xung quanh trứng có các tinh trùng
Trang 232 Có rất nhiều các tinh trùng vây quanh trứng nhưng chỉ có một tinh trùng chui được vào trong trứng
+ Học sinh kiểm tra giả thiết
Bằng việc tranh luận giúp học sinh kiểm tra giả thiết xem những câu trả lời mình đưa ra là đúng hay là sai
Từ ví dụ ở trên bằng việc tranh luận giúp học sinh rút ra được ý kiến thứ 2 là đúng
+ Học sinh phân tích, trình bày cho cả nhóm hoặc học sinh: Bằng việc báo cáo kết quả thảo luận, đặt ra những câu hỏi tại sao lại như vậy
+ Rút ra kết luận chung (tri thức mới)
Như vậy, khi tiếp cận nghiên cứu lý thuyết kiến tạo trong dạy học, các nhà nghiên cứu đưa ra những tiến trình dạy học như trên Tuy việc nghiên cứu , xây dựng các tiến trình dạy học các nhà nghiên cứu còn có những sự khác biệt trong từng chi tiết, song nhìn chung, tất cả đều quan tâm và chú trọng đến việc tìm hiểu các quan niệm, hiểu biết sẵn có của học sinh “ Sự chú trọng đặc biệt tới những hiểu biết sẵn có của học sinh cũng là điểm khác biệt của dạy học theo lối kiến tạo với các phương pháp, các quan điểm dạy học khác Tóm lại dạy học theo lối kiến tạo gồm những bước chính sau:
+ Bước 1: Thăm dò các quan niệm có sẵn của học sinh (quan niệm đúng, quan niệm sai)
+ Bước 2: Khuyến khích học sinh bộc lộ các quan niệm có sẵn và đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề mà trong đó việc sử dụng những quan niệm có sẵn sẽ đưa đến những tiên đoán cần kiểm chứng (tạo được mâu thuẫn nhận thức giữa kinh nghiệm vốn có với thực tiễn quan sát)
+ Bước 3: Học sinh trao đổi để xem xét lại những quan điểm sẵn có và xây dựng quan niệm mới
+ Bước 4: Củng cố vận dụng kiến thức mới
Trang 241.1.6 Học sinh tiểu học và việc học tập theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
1.1.6.1 Tổng quan đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học
Nhìn chung học sinh Tiểu học rất dễ nhạy cảm với các tác động bên ngoài, điều này phản ánh trong nhiều hoạt động nhận thức của học sinh
Về tri giác: Do khả năng phân tích chưa phát triển nên học sinh Tiểu
học tri giác mang tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không chủ động Các em khó phân biệt chính xác sự giống nhau hay khác nhau giữa các
sự vật Về tri giác độ lớn các em khó khăn khi phải quan sát các vật có kích
cỡ quá lớn hoặc quá nhỏ
Về trí nhớ: Ở học sinh Tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ
không chủ định đề đang phát triển Đến cuối bậc Tiểu học, ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnh Tuy vậy, ở lứa tuổi này ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng
Trí nhớ trực quan hình tượng và tri nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ logic, hiện tượng hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là các câu chữ hình tượng khô khan
Về tưởng tượng: Trí tưởng tượng của các em tuy có phát triển nhưng
còn tản mạn, ít có tổ chức và còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh nghiệm sống và các mẫu hình đã biết
Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, trí tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã bước đầu tích luỹ được những kinh nghiệm phong phú, đã lĩnh hội được những tri thức khoa học do nhà trường mang lại Về mặt cấu tạo hình tượng trong tưởng tượng, các em chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, hình dạng những hình tượng đã tri giác trước đó
Trang 25Về tư duy: Tư duy của trẻ em bậc Tiểu học chuyển dần từ tính cụ thể,
trực quan sang tính trừu tượng, khái quát Trong sự phát triển của học sinh Tiểu học, tính trực quan cụ thể được thể hiện rõ ở các lớp đầu cấp Dần dần,
tư duy của các em bắt đầu có những biến chuyển cơ bản; phạm vi các sự vật được nhận thức sâu sắc hơn Các hoạt động mang tính chất trực quan - cụ thể đang chuyển dần sang tính trừu tuợng
Tuy nhiên, các hoạt động trừu tượng hoá, khái quát hoá còn ở mức độ
sơ khai Các hoạt động trừu tượng hoá, khái quát hoá thường được diễn ra thông qua các thao tác trực quan, được thể hiện dưới những hình mẫu, ví dụ điển hình Về mặt suy luận, phán đoán các em thường phán đoán theo cảm nghĩ riêng của mình nên suy luận thường mang tính chất tuyệt đối, do trường chú ý hạn hẹp, nhất là lại thiếu khả năng tổng hợp nên các em khó nhận thức được về các mối quan hệ
1.1.6.2 Khả năng học tập theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Nhìn chung ở Tiểu học các hoạt động nhận thức đã và đang hình thành ở mức độ bước đầu Tư duy của học sinh Tiểu học chủ yếu là cụ thể,
do đó, những hình tượng và mô tả trực quan thường là cơ sở cho những phán đoán của học sinh về các dấu hiệu và những thuộc tính của các sự vật, hiện tượng Chính đặc điểm này chi phối rất lớn tới quá trình nhận thức của các
em Khi nhìn nhận một vấn đề, một hiện tượng nào đó, các em thường đánh giá chúng thông qua những biểu hiện bề ngoài, cụ thể, đặc biệt là những hình ảnh, kinh nghiệm mà các em đã tích luỹ được trong thực tế cuộc sống Tuy nhiên, vốn sống, vốn kinh nghiệm này của học sinh không phải lúc nào cũng chính xác, nó có thể là đúng đắn, nhưng cũng có thể là sai lầm Do đó, việc tìm hiểu, quan tâm đến vốn tri thức kinh nghiệm của học sinh trước khi dạy học một vấn đề nào đó giữ vai trò rất quan trọng Nó có thể giúp người giáo viên thấy được những nhận thức đúng đắn của học sinh để phát triển,
Trang 26đặc biệt còn có thể phát hiện ra những sai lầm, lệch lạc trong nhận thức của các em để kịp thời điều chỉnh và sửa chữa Hơn nữa, việc học sinh tự nhận ra những sai lầm rồi tự điều chỉnh sẽ giúp các em ghi nhớ kiến thức sâu hơn, hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn Điều này hoàn toàn thích hợp với việc quan tâm, chú ý tới những hiểu biết, vốn kinh nghiệm ban đầu của học sinh trong dạy học kiến tạo
Mặt khác, khả năng chú ý của học sinh Tiểu học thường thấp, các em khó có khả năng tập trung vào một vấn đề nào đó nếu như không thấy hấp dẫn Các em thích hoạt động, thích học tập trong một môi truờng thân thiện
và hợp tác Do đó, nếu tổ chức quá trình học tập có sự tương tác giữa cá nhân nguời học với môi trường xã hội người học sẽ có tác dụng rất lớn tới quá trình tư duy của học sinh Hơn nữa, việc sử dụng các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với trình độ, vốn kinh nghiệm của học sinh sẽ kích thích được hứng thú học tập của các em
Như vậy, đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh Tiểu học
có những yếu tố rất thuận lợi cho việc vận dụng những quan điểm của lý thuyết kiến tạo để tổ chức quá trình dạy học Điều này càng khẳng địng rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng các quan điểm của lý thuyết kiến tạo để tổ chức quá trình dạy học ở tiểu học
1.1.6.3 Tổng quan về mạch nội dung quá trình phát triển của cơ thể con người trong chủ đề “ con người và sức khoẻ” môn Khoa học lớp 5
1.1.6.3.1 Mục tiêu
- Về kiến thức: Nhìn chung, ở Tiểu học, nội dung về quá trình phát triển của cơ thể con người chỉ yêu cầu học sinh ở mức độ nhận biết Từ việc quan sát những sự việc, hiện tượng cụ thể để nhận biết các đặc điểm cơ bản của quá trình phát triển của cơ thể con người
Trang 27- Về kỹ năng: Ứng xử thích hợp trong những tình huống có liên quan đến sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng
- Về thái độ: Biết quí trọng bản thân, yêu quí gia đình Có thái độ đúng đắn và tích cực về giai đoạn phát triển của con người đặc biệt là tuổi dậy thì
Trên cơ sở mục tiêu đề ra, theo tôi dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo được sử dụng như:
Từ vốn hiểu biết của học sinh: Qua việc quan sát được những người
mẹ có em bé, học sinh nhận biết được cơ thể chúng ta là sự kết hợp giữa trứng của người mẹ và tinh trùng của người bố Từ đó hình thành cho học sinh những kỹ năng ứng xử trong gia đình quan tâm chăm sóc mẹ nếu mẹ có
em bé Qua đó hình thành cho các em biết quí trọng bản thân và yêu gia đình mình
1.1.6.3.2 Nội dung
Chủ đề “Con người và sức khỏe” trong môn Khoa học lớp 5 gồm 4 mạch nội dung: Quá trình phát triển của cơ thể con người; Sự sinh sản; Vệ sinh phòng bệnh và an toàn cuộc sống
Nội dung về quá trình phát triển của cơ thể con người gồm các bài sau:
- Cơ thể chúng ta được hình thành thế nào?
- Từ lúc mới sinh ra đến tuổi dậy thì
- Từ tuổi vị thành niên đến tuổi già
Nội dung của từng bài như sau:
Bài: “ Cơ thể chúng ta dược hình thành như thế nào?” có những nội
dung sau:
- Cơ thể của mỗi con người được hình thành từ sự kết hợp giữa trứng của người mẹ và tinh trùng của người bố
Trang 28- Một số đặc điểm cơ bản trong các giai đoạn phát triển chính của thai nhi
Bài: “ Từ lúc sinh ra tới lúc dậy thì” có nội dung:
- Một số đặc điểm chung của trẻ em ở từng giai đoạn: dưới 3 tuổi; từ
3 đến 6 tuổi; từ 6 đến 10 tuổi
- Đặc điểm và tầm quan trọng của tuổi dậy thì đối với cuộc đời mỗi người
Bài: “ Từ tuổi vị thành niên đến tuổi già” có nội dung như sau:
- Một số đặc điểm chung của tuổi vị thành niên, tuổi trưởng thành, tuổi già
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích
Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát thực tế ở trường Tiểu học để :
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Khoa học 5 ở 2 trường Tiểu học
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học
1.2.2 Nội dung
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế ở các trường Tiểu học:
- Trường Tiểu học Cẩm Hoàng ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
- Trường Tiểu học Cẩm Định ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Qua thực tiễn khảo sát ở 2 trường trên để điều tra:
- Hiểu biết của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
- Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học Khoa học lớp 5
- Thực trạng dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Khoa học lớp 5
1.2.3 Phương pháp điều tra
Trang 29Để đạt được mục đích chúng tôi tiến hành các phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu trên 30 giáo viên với 3 câu hỏi, phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với giáo viên và học sinh
1.2.4 Kết quả
Thực tiễn điều tra, khảo sát chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
1.2.4.1 Hiểu biết của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Để đánh giá chính xác, khách quan sự hiểu biết của giáo viên, chúng tôi đã tiến hành điều tra 30 giáo viên lớp 4, lớp 5 của 2 trường bằng phương pháp phỏng vấn, phiếu điều tra
Nội dung điều tra (câu 1 – Phiếu điều tra)
Kết quả thu được là:
Biểu đồ 1: Quan niệm của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Qua biểu đồ ta thấy, sự hiểu biết của giáo viên về bản chất của dạy học kiến tạo còn rất hạn chế Có tới 90% giáo viên được hỏi chưa có hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về dạy học kiến tạo Các giáo viên đều nhận định rằng: Dạy học theo lý thuyết kiến tạo là phương pháp dạy học mới, còn khá
lạ lẫm đối với họ và ít được sử dụng trong quá trình dạy học
1.2.4.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học môn Khoa học lớp 5
Kết quả điều tra được tổng kết bằng biểu đồ Nội dung điều tra (câu 2- Phiếu điều tra) Kết quả thu được:
Biểu đồ 2: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong môn Khoa học lớp 5
Trang 30Qua quá trình điều tra nhận thấy, hiện nay phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng trong dạy học môn Khoa học 5 vẫn là phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp chiếm ưu thế nhất là phương pháp đàm thoại (90%) và phương pháp quan sát (90%) Hầu hết giáo viên được hỏi cho rằng thường xuyên sử dụng phương pháp này Các phương pháp mới phát huy tính tích cực của học sinh đang bắt đầu được sử dụng tuy nhiên vẫn còn rất khiêm tốn (như phương pháp dạy học hợp tác, dạy học hợp đồng)
Thông qua phỏng vấn trực tiếp giáo viên chúng tôi nhận thấy các phương pháp mới tích cực còn xa lạ với giáo viên và ít được giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học Giáo viên chưa có hiểu biết sâu sắc về các phương pháp này có khi còn hiểu sai bản chất của phương pháp đó
1.2.4.3 Thực trạng sử dụng dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến
tạo trong dạy học khoa học lớp 5
Qua điều tra phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp đồng thời kết hợp với kết quả điều tra (câu 3- phiếu điều tra), chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 3: Mức độ sử dụng dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo trong môn Khoa học lớp 5
Qua biểu đồ 3 cho thấy dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo
ít khi sử dụng trong dạy học môn Khoa học lớp 5
Thông qua trò chuyện trực tiếp với giáo viên chúng tôi nhận thấy: Giáo viên chưa có hiểu biết sâu sắc về dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo Điều này thể hiện ở việc có 50% giáo viên chưa bao giờ vận dụng dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo Một số giáo viên áp dụng nhưng chưa phát huy hết tính tích cực của học sinh Giáo viên cho biết: Đây
là phương pháp mới nên khi áp dụng vẫn còn gặp những thiếu sót nhất định
Trang 31Trong tình hình phát triển của đất nước hiện nay, nhận thức của giáo viên ngày càng sâu sắc Hầu hết các giáo viên đều nhận thức sự cần thiết phải đổi mới các phương pháp dạy học để nền giáo dục của nước ta đuổi kịp với nền giáo dục tiến bộ của thế giới
Chương 2 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA LÍ THUYẾT KIẾN TẠO ĐỂ DẠY CÁC BÀI VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ CON
NGƯỜI 2.1 Khả năng vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến tạo để dạy học các bài về quá trình phát triển của cơ thể con người tron môn khoa học lớp 5
Trang 32Những kiến thức về quá trình phát triển của cơ thể con người được học ở lớp 5 phần lớn đều ở mức độ đơn giản và gần gũi với cuộc sống thực của các em Đối với học sinh lớp 5, bên cạnh những kiến thức đã được học ở những lớp trước thì phần lớn các em có một vốn hiểu biết khá phong phú từ cuộc sống xung quanh
Tuy nhiên, vốn sống đó có thể là đúng, có thể là sai hoặc chưa đầy đủ Chính vì vậy, việc chú ý đến những hiểu biết về quá trình phát triển về cơ thể con người để thiết kế kế hoạch bài học là hoàn toàn phù hợp với quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Tuy nhiên, không phải tất cả các nội dung về quá trình phát triển của
cơ thể con người đều có thể dạy theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo Trên
cơ sở tiến hành điều tra những hiểu biết ban đầu của học sinh, tôi đã lựa chọn những nội dung có một trong các đặc điểm sau để dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo:
- Những nội dung mà học sinh đã có một số hiểu biết ban đầu thuận lợi cho việc hình thành kiến thức mới
- Những nội dung mà học sinh thường có quan niệm sai, thiếu chính xác, cần được điều chỉnh, chính xác hóa kiến thức
“Vận dụng một số quan điểm của lý thuyết kiến để dạy học các bài về quá trình phát triển của cơ thể con người trong môn Khoa học lớp 5”, tôi
xin trình bày trình tự hình thành nội dung kiến thức, xác định quan niệm đúng, quan niệm sai, đề xuất qui trình dạy học và xây dựng các kế hoạch bài học
2.1.1 Xác định trình tự hình thành nội dung kiến thức
Trang 33Một số đặc điểm cơ bản ở
từng giai đoạn phát triển của
cơ thể con người
Cơ thể con ngưòi được hình
Trang 342.1.2 Xác định những quan niệm đúng, sai của học sinh liên quan tới bài học
- Học sinh chưa xác định được biểu hiện biến đổi của
cơ thể nào là quan trong nhất diễn ra ở nam và nữ khi bước vào tuỏi dậy thì
- Các em chưa có quan niệm
rõ rằng trong qui định về độ tuổi ở các giai đoạn khác nhau
- Chưa xác định mối quan hệ giữa tuổi dậy thì và tuổi vị thành niên, tuổi già
- Cơ thể chúng ta được hình thành từ bố và mẹ
- Cơ quan sinh dục nữ tạo ra trứng, cơ quan sinh dục nam có khả năng tạo ra tinh trùng, nếu trứng gặp tinh trùng ngưòi phụ nữ có thể có thai và sinh con
- Phân biệt được đặc điểm cơ bản ở các giai đoạn phát triển của trẻ các em xác đinh được
sự khác nhau về ngoại hình, hoạt động cơ thể của cấc em ở những độ tuổi khác nhau
- Các em xác định được những thay đổi và phát triển cơ bản của cơ thể con người về thể chất,
Trang 35sau:
Bước 1: Bộc lộ hiểu biết đã có
Trong bước này, giáo viên tổ chức tái hiện, làm bộc lộ những hiểu biết của học sinh liên quan tới nội dung bài mới bằng cách: Đưa học sinh vào những tình huống phải sử dụng những hiểu biết, quan niệm đã có để dự đoán, trả lời câu hỏi Còn học sinh dùng các hiểu biết, quan niệm đã có để nêu dự đoán, trả lời các câu hỏi
Chúng ta có thể khai thác tối đa bước này nhằm giúp học sinh khởi động và tái hiện lại các kiến thức có liên quan tới bài mới, làm nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức mới
Để triển khai có hiệu quả các bước này thì giáo viên có thể kết hợp sử dụng một số kỹ thuật và phương pháp dạy học như sau:
+ Động não: Sau khi đưa ra một vấn đề, một nội dung học tập, giáo viên tổ chức cho học sinh động não, để trong thời gian ngắn có thể khai thác tối đa những kiến thức cũ
+ Thảo luận nhóm: Với những vấn đề, những tình huống phức tạp, có thể tồn tại nhiều quan niệm, cách ứng xử khác nhau thì giáo viên nên kết hợp cho học sinh thảo luận Thảo luận nhóm sẽ tạo điều kiện cho học sinh được hợp tác, trao đổi với nhau, bộc lộ tất cả những suy nghĩ, từ đó đưa ra ý kiến
Trang 36tổng hợp, chung nhất về một vấn đề nào đó, giúp giáo viên có thể đánh giá
và có cái nhìn tổng quát hơn khi thu nhận những tín hiệu ngược từ phía học sinh
+ Nêu vấn đề : Trên cơ sở điều tra tìm hiểu đã có của học sinh, giáo viên xây dựng và đưa ra những tình huống có vấn đề Những tình huồng này vừa phải phù hợp với vốn tri thức của học sinh, vừa phải chứa đựng những mâu thuẫn sao cho việc tiếp xúc để giải quyết chúng sẽ giúp học sinh co thể huy động tối đa những hiểu biết vốn có để dự đoán, mô tả
Bước 2: Kết nối và xây dựng kiến thức mới
Sau khi những hiểu biết ban đầu của học sinh được bộc lộ, giáo viên giúp học sinh phát triển và xây dựng kiến thức mới của bài học từ vốn tri thức, kinh nghiệm đó bằng cách: Tổ chức cho học sinh kiểm tra, đánh giá các câu trả lời, dự đoán thông qua các lập luận logic hoặc việc giải quyết các tình huống học tập mới Từ đó lựa chọn quan niệm thích hợp hoặc nêu quan niệm mới Còn học sinh kiểm tra các câu trả lời, các dự đoán bằng lập luận logic, tham gia giải quyết tình huống học tập mới, hoặc cũng có thể bằng những quan sát, kinh nghiệm đã trải qua, từ đó rút ra những kết luận để điều chỉnh hoặc phát triển những hiểu biết, quan niệm đã có, tiến tới xây dựng kiến thức mới
Đây là bước kết nối nhằm giúp học sinh tự khẳng định hay phủ nhận những suy nghĩ của bản thân Trong bước này giáo viên có thể là người chủ động đưa ra các câu hỏi, các vấn đề học tập hoặc tổ chức cho học sinh chủ động thắc mắc, tranh luận với bạn để chính xác hoá kiến thức Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của lý thuyết kiến tạo tức là tăng cường sự phối hợp, tương tác cá nhân người học với nhau trong môi trường hợp tác và chia sẻ