1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm

20 1,4K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lực lượng lao động xã hội(LLLĐXH): là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15-55 tuổi với nữ, 15-60 tuổi với nam) có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi nhưng trên thực tế có tham gia lao động

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thập niên đầu của thế kỷ 21 là một thập niên đầy biến động về kinh

tế, chính trị, xã hội Bắt đầu là vụ khủng bố ngày 19/9/2001, rồi chiến tranh tại I- rắc, vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên, dịch cúm gà H5N1, và đỉnh cao là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2007 kéo dài cho đến tận bây giờ Cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu ở Mỹ rồi lan rộng ra toàn thế giới khiến nền kinh tế thế giới phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: tốc độ tăng trưởng giảm, lạm phát, và đặc biệt là tình trạng thất nghiệp tăng cao Nhưng ở Việt Nam, tỉ lệ thất nghiệp hằng năm giảm hoặc tăng rất chậm Nguyên nhân do đâu? Một phần là do nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế nhỏ, còn non trẻ nên chưa bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng, nhưng phần lớn là do Chính phủ Việt Nam đã kịp thời ban hành những chính sách đúng đắn nhằm hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, kìm hãm sự gia tăng của lạm phát và giảm tình trạng thất nghiệp,… Những chính sách đó

là gì? Tác động của nó như thế nào? Để tìm hiểu rõ hơn, nhóm tôi đã thực

hiện đề tài: “ Phân tích tác động của một số chính sách cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong vài năm trở lại đây để giải quyết vấn đề việc làm”.

Trang 2

NỘI DUNG

I Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp

1 Thất nghiệp

- Là khái niệm chỉ những người trong lực lượng lao động xã hội không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm

- Lực lượng lao động xã hội(LLLĐXH): là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15-55 tuổi với nữ, 15-60 tuổi với nam) có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi nhưng trên thực tế có tham gia lao động

- Tỷ lệ thất nghiệp:

Số người thất nghiệp U% = x 100%

LLLĐXH

2 Các dạng thất nghiệp

a) Theo lý do thất nghiệp

- Mất việc, người lao động không có việc làm do các đơn vị sản xuất kinh doanh cho thôi việc vì một lý do nào đó

- Bỏ việc, là những người tự ý xin thôi việc vì những lý do chủ quan của người lao động

- Nhập mới, là những người lần đầu tiên bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm

- Tái nhập, là những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay trở lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm

b) Theo nguồn gốc thất nghiệp

- Thất nghiệp tạm thời, xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm việc làm hoặc công việc làm khác tốt hơn, phù hợp với nhu cầu riêng của mình

Trang 3

- Thất nghiệp cơ cấu, xảy ra khi có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, có sự chuyển đổi động thái sản xuất, chỉ xảy ra ở một bộ phận thị trường lao động

- Thất nghiệp chu kỳ (thiếu cầu), xảy ra bởi sự suy giảm tổng cầu trong nền kinh tế, thất nghiệp này xảy ra trên toàn bộ thị trường lao động

c) Theo lý thuyết về cung cầu lao động

- Thất nghiệp tự nguyện: chỉ những người không muốn đi làm ở mức lương hiện hành, muốn đi làm ở mức lương cao hơn

- Thất nghiệp không tự nguyện: chỉ những người muốn đi làm ở mức lương hiện hành nhưng không được thuê

- Thất nghiệp tự nhiên: là thất nghiệp ở mức sản lượng tiềm năng Về bản chất thất nghiệp tự nhiên chính là thất nghiệp tự nguyện khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng

- Thất nghiệp trá hình (vô hình): chỉ những người đi làm thực sự nhưng thu nhập quá ít

II Vấn đề thất việc làm ở Việt Nam trong những năm trở lại đây (2005-2009)

1 Thực trạng vấn đề việc làm của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây

a) Vấn đề thất nghiệp

Thất nghiệp luôn là mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu Trong những năm 2005 – 2007, nền kinh tế thế giới ổn định, nền kinh tế ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vấn đề thất nghiệp cũng dịu đi Nhưng đến cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế đã khiến vấn đề này lại trở nên nhức nhối Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm sút; tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể cả các vật tư quan trọng, lương thực và nhiều nông sản xuất khẩu có khối lượng lớn; số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65% Tức

là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm

Trang 4

Bên cạnh vấn đề thất nghiệp gia tăng do khủng hoảng kinh tế còn có một vấn đề khác đã tồn tại từ rất nhiều năm nay Đó là vấn đề thất nghiệp mùa vụ ở nông thôn Hầu như người lao động nông thôn chỉ sử dụng hết 2/3 thời gian làm việc của mình (40 giờ/tuần), 1/3 số thời gian còn lại họ không có việc làm Việc sản xuất ở nông thôn Việt Nam hiện nay mang tính mùa vụ, đặc biệt là ở miên Bắc Khi vào mùa vụ, ví dụ như vào mùa gặt, các gia đình nông thôn huy động hết lao động của gia đình tham gia làm việc Thời gian làm việc có thể kéo dài từ 10 – 13 tiếng/ngày Nhưng khi mùa vụ qua đi, hầu hết những người nông dân không có việc làm Ở một số nơi, khi bên cạnh việc nông thì còn một số nghề truyền thống Khi nông nhàn, người nông dân có thể tham gia sản xuất các mặt hàng truyền thống Tuy nhiên không phải ở vùng nào của Việt Nam cũng như vậy, bên cạnh đó, các làng nghề truyền thống đang bị mai một dần nên tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ ở nông thôn hiện nay là vô cùng phổ biến Tình trạng thất nghiệp mùa vụ kéo theo hiện tượng di chuyển lao động –một vấn

đề việc làm khá cấp thiết

Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam qua các bảng số liệu sau:

Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009

Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2005 -2009

4,20

4,40

4,60

4,80

5,00

5,20

5,40

2005 2006 2007 2008 2009

Năm

Trang 5

Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị phân theo

vùng giai đoạn 2005- 2008

A Phân theo vùng

Đồng bằng sông Cửu Long 4,87 4,52 4,03 4,12

Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động năm 2008

Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm Chung Thànhthị Nôngthôn Chung Thànhthị Nôngthôn

Đồng bằng sông

Trung du và miền

Bắc Trung Bộ và

duyên hải miền

Trung

Đồng bằng sông

Trang 6

b) Các vấn đề khác

Trong vấn đề việc làm ở Việt Nam, bên cạnh vấn đề thất nghiệp còn tồn tại rất nhiều vấn đề khác như vấn đề di chuyển việc làm, vấn đề thiếu lao động chất lượng cao, vấn đề chảy máu chất xám,…

Hiện tượng di chuyển lao động là biểu hiện tất yếu của quan hệ cung

và cầu lao động trên thị trường lao động Các dòng di chuyển lao động trong nước chủ yếu là di chuyển từ Bắc vào Nam, di chuyển lao động giữa các ngành hoặc khu vực kinh tế và từ nông thôn ra thành thị Tuy nhiên dòng di chuyển lao động mạnh nhất hiện nay vẫn là từ nông thôn ra các vùng đô thị Người lao động ở khắp moi nơi và làm mọi công việc, từ những công việc có kỹ thuật như thợ nề, thợ mộc đến những công việc đòi hỏi có vốn như xích lô, xe ôm và đặc biệt phần lớn người lao động nông thôn là người lao động giản đơn, không có vốn, không có kỹ thuật chủ yếu

là bốc xếp, vận chuyển hàng hóa, giúp việc cho các gia đình,…

Ở Việt Nam còn tồn tại một vấn đề việc làm là vấn đề thiếu lao động chất lượng cao Trong khi hàng triệu người không tìm được việc làm, thì ở một số ngành nghề và rất nhiều cơ sở kinh doanh đang thiếu lao động kỹ thuật, lao động có chuyên môn nghề nghiệp và trình độ phù hợp với yêu cầu sản xuất Theo thống kê, hiện nay tỷ lệ lao động được đào tạo của nước

ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực là 50%) Tỷ lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế

Chảy máu chất xám không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn là vấn

đề của rất nhiều nước đang phát triển khác Theo số liệu mới nhất của Sở Giáo dục - Đào tạo, hiện số lượng du học sinh của ta đã vào khoảng 60.000 người và ngày càng tăng Cho dù có học bổng hay tự túc, thậm chí du học bằng ngân sách nhà nước… số học xong quay trở về là rất ít Chất xám của

Trang 7

Việt Nam bị thất thoát đến giật mình Với 70% du học sinh “một đi không trở lại” như hiện nay, số chất xám thất thoát lên đến hơn 40.000 người

Từ năm 2000 đến 2006, Bộ GD-ĐT đã tổ chức cho 2.684 nghiên cứu sinh ra nước ngoài du học, trong đó có 871 tiến sĩ, 793 thạc sĩ và 814 cử nhân Chi phí bình quân cho mỗi du học sinh theo đề án 322 là khoảng 22.000 USD/năm, tức khoảng 100.000 USD/4 năm, tức trên 1,5 tỷ đồng Một vị giáo sư đã so sánh: Chỉ riêng tại Úc và Đức, mỗi năm nhà nước ta phải chi đến 5.000 tỷ đồng cho du học sinh Và, một khi nguồn chất xám khổng lồ này không được khai thác đúng, số tiền mấy ngàn tỷ đồng kia phải gọi tên chính xác là chảy máu ngoại tệ Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT trình Quốc hội năm 2004, trong số vài ngàn DHS du học bằng tiền nhà nước, chỉ có 120 trường hợp quay về

2 Nguyên nhân

Sự hạn chế khả năng giải quyết việc làm cho người lao động ở nước

ta những nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Dân số đông và gia tăng quá nhanh trong những năm gần đấy dẫn đến tình trạng thiếu việc làm

- Thất nghiệp gia tăng do suy giảm kinh tế toàn cầu: Nguyên nhân khiến người lao động bị mất việc chủ yếu do ảnh hưởng của suy thoái kinh

tế toàn cầu Nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, có doanh nghiệp phải đóng cửa hoàn toàn do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, nhất là những doanh nghiệp xuất khẩu Chính vì vậy, họ phải sa thải bớt lao động dẫn đến lao động mất việc làm

- Nếp nghĩ đề cao việc học để “làm thầy” của người Việt Nam đặc biệt là ở giới trẻ mặc dù nếu bản thân học “làm thợ” sẽ tốt hơn hay “thích làm Nhà nước, không thích làm cho tư nhân”; như vậy là thiếu thực tế bởi không dựa trên khả năng của bản thân và nhu cầu xã hội Một bộ phận LĐ trẻ có biểu hiện ngộ nhận khả năng bản thân; một bộ phận khác lại tự ti, không đánh giá hết năng lực thực sự của mình Chọn nghề theo “nếp nghĩ”

Trang 8

sẽ dễ mắc những sai lầm Rất nhiều lao động trẻ "nhảy việc" để tìm kiếm

thu nhập cao nên dẫn đến tình trạng dễ bị mất việc

- Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu mới, tính chuyên nghiệp chưa cao Việc kỹ năng không đáp ứng yêu cầu và sự thiếu phối hợp giữa hệ thống đào tạo và giáo dục, các nhu cầu thị trường LĐ và quan niệm lạc hậu về vai trò và trách nhiệm giới Tỷ

lệ lao động được đào tạo nghề rất thấp, chỉ khoảng 26% Lao động của chúng ta đúng là dồi dào thật nhưng vẫn không tìm được việc làm, hoặc có việc làm nhưng không ổn định một phần do trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu Do đó, lao động vẫn trong tình trạng bán chuyên nghiệp, công việc chắp vá, không ổn định

- Chính phủ thu hồi đất canh tác để xây dựng các khu công nghiệp nhưng chưa có chính sách đào tạo việc làm cho người dân dẫn đến tình trạng người dân mất đất không có công ăn việc làm, kéo nhau lên các thành phố lớn tìm việc

III Các chính sách của chính phủ và tác động của nó tới vấn đề việc làm ở nước ta năm 2005-2009

1 Chính sách về kinh tế

AD1

AD2 AS

LD1

LS

LD2

Trang 9

Trong biểu đồ trên chúng ta thấy sự gia tăng tổng cầu dẫn đến sự mở rộng tổng cung Bởi vì tăng tổng cầu về sản lượng, cầu về lao động ở mỗi mức lương sẽ phát triển dẫn tới sự gia tăng trong tổng số việc làm Chính vì vậy để giải quyết vấn đề việc làm, trên phương diện kinh tế, Chính phủ sử dụng các chính sách kinh tế để tăng tổng cầu Các chính sách này có thể liên quan đến việc tăng chi tiêu chính phủ, giãm lãi suất, thu hút vốn đầu tư trong nước, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế từ các công ty nước ngoài đa quốc gia…

Sau đây là một số chính sách kinh tế cụ thể và tác động của nó tới vấn đề việc làm

a) Gói kích cầu của Chính phủ

Từ năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp, chính sách quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng cường thực thi các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có việc triển khai gói kích thích kinh

tế 8 tỷ USD (khoảng 9% GDP)

Kết quả của việc thực hiện gói kích cầu lần thứ nhất của chính phủ

đã hỗ trợ cho 1.110 dự án, giúp ngăn chặn suy thoái kinh tế cho 76.000 doanh nghiệp mới thành lập, giải quyết việc làm cho 1,5 triệu lao động

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, diễn ra trong hai ngày

29 - 30/10, Chính phủ đã quyết định sẽ triển khai gói chính sách hỗ trợ thứ hai đối với doanh nghiệp Trong gói kích cầu này, Chính phủ đặt mục tiêu

là hỗ trợ để có thể giảm bớt gánh nặng về chi phí, giúp doanh nghiệp duy trì được công ăn việc làm

Chính sách kích cầu của chính Chính phủ tác động tới mọi mặt của

xã hội đặc biệt là tới vấn đề việc làm Nhưng trong bài này, chúng tôi sẽ phân tích tác động của chính sách kích cầu tới vấn đề việc làm ở khu vực nông thôn Việc chính phủ kích cầu nông thôn sẽ tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng việc làm ở khu vực này Gói kích cầu tập trung vào việc tạo thu

Trang 10

nhập cho dân cư nông thôn, tăng số công ăn việc làm, cải thiện các dịch vụ

y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, nước…)

và cung cấp các tiện nghi khác cho nông thôn Thực hiện gói kích cầu trong

đó có kích cầu vào khu vực nông thôn, một mặt sẽ tác động làm giảm cung lao động về lâu dài, mặt khác sẽ tăng cầu lao động tại chỗ, hạn chế di cư ồ

ạt từ nông thôn ra thành thị, dần nâng cao chất lượng nguồn lực nông thôn

Đặc biệt, việc dầu tư xây dựng các công trình trọng điểm kinh tế - xã hội của Nhà nước như Thủy điện Sơn La, Nhà máy lọc dầu Dung Quất và khu công nghiệp Dung Quất,…đã tạo việc làm cho hàng triệu lao động Bên cạnh đó, gói kích cầu cũng được sử dụng vào hoạt động mở rộng, phát triển làng nghề, xã nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tạo cơ hội việc làm đầy đủ cho một số lượng lớn lao động nông thôn, giải quyết được phần nào tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ

b) Chính sách thu hút vốn đầu tư

* Chính sách thu hút vốn đầu tư trong nước: thị trường chứng khoán

Năm 2001, thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời Một thập kỷ qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được những thành tựu và khẳng định bước phát triển hết sức quan trọng góp phần phát triển nền kinh

tế trong nước trong đó có giải quyết vấn đề việc làm

Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam là khá muộn so với các nước trên thế giới nhưng trong 10 năm hoạt động nó đã đạt được rất nhiều thành tựu Tính đến năm 2007 đã có 202 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán (GDCK) thành phố Hồ Chí Minh và trên Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội, với tổng mức vốn hoá thị trường đạt trên 300.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 31% GDP (tăng 25 lần so với cuối năm 2005)

Thị trường chứng khoán ra đời kéo theo sự ra đời của rất nhiều công

ty đầu tư, mô giới chứng khoán góp phần tạo việc làm cho một số lượng lớn lao động vào các ngành như: đầu tư chứng khoán, tư vấn chứng khoán,

Trang 11

mô giới chứng khoán,… Việc thu hút vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán chính là cách tận dụng vốn tồn đọng trong nhân dân Tiền mua chứng khoán sẽ được các doanh nghiệp sử dụng vào sản xuất, gia tăng sản lượng Việc gia tăng sản lượng sẽ kéo theo giải quyết được vấn đề việc làm

Tuy nhiên bên cạnh tác động tích cực, thị trường chứng khoán còn

có những tác động tiêu cực tới vấn đề việc làm Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp gặp vấn đề lớn về vốn, cần nguồn đầu tư, nhưng lúc này, thị trường chứng khoán mất ổn định, các nhà đầu tư tạm ngừng đầu tư Doanh nghiệp không có vốn để sản xuất dẫn tới giảm sản lượng, cắt giảm lao động Mặt khác, khi thị trường chứng khoán khủng hoảng, rất nhiều nhà đầu tư trắng tay rút khỏi thị trường chứng khoán, quay trở lại thị trường lao động sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp tái nhập gia tăng

* Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Thực hiện chính sách đối ngoại và thu hút đầu tư mở rộng, hiện nay Việt Nam đã giao lưu thương mại với hơn 180 nước và vùng lãnh thổ, đầu

tư trên 5.300 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 50 tỉ đôla vào Việt Nam Lợi thế lớn của Việt Nam là nằm ở vị trí trung tâm trong vùng kinh tế của Trung Quốc và các nước Châu Á, nên rất thuận lợi cho giao thương quốc

tế Việt Nam có một nền chính trị ổn định và một xã hội an toàn, thân thiện, đồng thời với số dân 80 triệu người, nguồn lao động có văn hóa, cần cù và cầu tiến, Việt Nam thực sự là một thị trường tiềm năng lớn trong khu vực Mặt khác Việt Nam là thành viên các nước Asean và Khu vực mậu dịch tự

do AFTA với tổng dân số là 500 triệu người, và đang tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Do vậy hàng hóa sản xuất tại Việt Nam dễ dàng thâm nhập vào các nước Asean, Trung Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu với nhiều ưu đãi về thuế quan dành cho quốc gia đang phát triển

Ngày đăng: 11/04/2013, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w