1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường mầm non khu vực Thành phố Vĩnh Yên - vĩnh Phúc

58 2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 480,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi 5 1.2.. Văn học thiếu nhi đối với việc gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THANH MAI

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC DÀNH CHO THIẾU NHI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC TP

VĨNH YÊN- VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học

HÀ NỘI- 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo trường ĐHSP Hà Nội

2, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo-

ThS.GVC.Đỗ Xuân Đức- người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho em trong

quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường mầm non Hoa Sen, trường Mầm non Tích Sơn và trường Mầm non Ngô Quyền thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc cùng các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học lời cảm ơn chân thành nhất

Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc chắn đề tài của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài của em thực sự

có chất lượng và hữu ích

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thanh Mai

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thanh Mai

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận một số vấn đề về giáo dục đạo

đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn

học dành cho thiếu nhi

5

1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức

cho trẻ mẫu giáo lớn:

5

1.2.2 Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo 6 1.2.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo 8

1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn: 13

Trang 5

1.3.2 Đặc điểm tâm lí 14 1.4 Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành

cho thiếu nhi:

16

1.5 Văn học thiếu nhi đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ

mẫu giáo lớn

23

Chương 2: Thùc tr¹ng việc giáo dục đạo đức cho trẻ em

mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho

thiếu nhi ở các trường Mầm non khu vực Vĩnh Yên

29

2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của các

tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ

31

2.3 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ

mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho

thiếu nhi

32

2.4 Thực trạng việc khai thác các tác phẩm văn học dành

cho thiếu nhi để giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn

33

2.5 Thực trạng về kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu

giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi

35

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác

phẩm văn học dành cho thiếu nhi

Trang 6

PHẦN A- MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

“ Tiên học lễ, hậu học văn”

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở tầng lớp học sinh, sinh viên cũng như những người làm công tác giáo dục về nhiệm vụ của mình: đến trường điều đầu tiên cần học, cần dạy là lễ nghi, phép tắc, là đạo đức sau

đó mới đến kiến thức khoa học Cần phải học những điều bình thường trước sau đó mới mong làm được những điều phi thường Người cũng đã từng nói “

Kẻ có tài mà không có đức là kẻ vô dụng, kẻ có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”

Thật vậy, đức và tài phải luôn đi liền nhau song cái đức lại là cái cần phải có trước và được hình thành trước Muốn có một thế hệ tương lai tài đức vẹn toàn thì phải giáo dục ngay từ khi thế hệ đó còn là những mầm non vì trẻ

ở lứa tuổi mầm non nhân cách bắt đầu hình thành Tuy chưa hoàn toàn định hình nhưng nó đã có cơ sở tương đối ổn định trong việc tiếp tục và hoàn thiện nhân cách Các công trình nghiên cứu về tâm lý học cho thấy những nét tính chất cơ bản của trẻ đã được hình thành trong thời kì này và ảnh hưởng tới đạo đức về sau của trẻ Giáo dục đạo đức là nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường mầm non là rất cần thiết

Hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo có thể theo nhiều con đường, nhiều hoạt động khác nhau Song con đường giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi mang lại hiệu quả cao và góp phần to lớn vào việc hình thành nên nhân cách tốt cho trẻ và giúp trẻ có một phẩm chất đạo đức trong sáng Việc đưa những câu chuyện, những bài thơ vào nội dung chương trình giảng dạy cho trẻ mẫu giáo với mục đích giáo dục đạo đức cho trẻ đã được tiến hành ngay từ khi có trường mầm non ra đời

Trang 7

bởi khả năng giáo dục mà nó mang lại là rất lớn, nó để lại những ấn tượng không thể nào phai mờ trong tâm trí trẻ Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có trí tưởng tượng vô cùng phong phú, bay bổng nhất là trẻ mẫu giáo lớn Ở độ tuổi này,

tư duy trẻ đã khá phát triển, trẻ có thể hiểu được khá đầy đủ nội dung và ý nghĩa của những câu chuyện, bài thơ trẻ có thể tự rút ra bài học cho bản thân và ý thức được hành vi của mình Chính vì thế việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn là rất quan trọng

Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ em mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường Mầm non khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu khóa luận cho bản thân

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài:

Bàn về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo có nhiều tác giả đề cập : Đào Thị Mi “Văn học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ tuổi mầm non”, Đại học Sư phạm Hà Nội 2000

Nguyễn Văn Tuân “ Sự hình thành các giá trị đạo đức ở trẻ mẫu giáo

5-6 tuổi” Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1997

Muôn Thị Xuyến “ Nghiên cứu mức độ lĩnh hội một số kinh nghiệm đạo đức quy tắc hành vi qua hình ảnh của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi” Đại Học Sư Phạm Hà Nội năm 1998

Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “ Giáo dục mầm non những vấn đề lí luận và thực tiễn” cũng đưa ra vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của trẻ thơ

Còn rất nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này nhưng chưa có tác giả nào

đề cập cụ thể đến thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường mầm non khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

Trang 8

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Phát hiện ra thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường Mầm non khu vực Vĩnh Yên và nguyên nhân dẫn đến thực trạng Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục thực trạng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn

4 Khách thể nghiên cứu của đề tài:

Vấn đề giáo dục đạo đức

5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Thực trạng giáo dục đạo đức

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

- Thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi

- Các trường Mầm non khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

7 Giả thuyết khoa học:

Việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi tại các trường Mầm non Vĩnh Yên còn nhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chưa khai thác hết khả năng giáo dục đạo đức của các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi

và hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi là chưa hợp lý

8 Kế hoạch triển khai:

Tháng 11-12: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương

Tháng 12-2/2011: Tìm hiểu cơ sở lí luận

Tháng 2-4/2011: Tìm hiểu thực trạng

Tháng 5/2011: Hoàn thành đề tài nghiên cứu và bảo vệ

9 Nội dung của đề tài:

Trang 9

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Nội dung khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi

1.1 Một số vấn đề về đạo đức

1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn:

1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn:

1.4 Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi: 1.5 Văn học thiếu nhi đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn

Chương 2: Thùc tr¹ng việc giáo dục đạo đức cho trẻ em mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường Mầm non khu vực Vĩnh Yên

2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên

2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của các tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ:

2.3 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi:

2.4 Thực trạng việc khai thác các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi để giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn

2.5 Thực trạng về kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi:

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi

3.2 Nguyên nhân của thực trạng:

3.2 Biện pháp:

Trang 10

B- PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC

DÀNH CHO THIẾU NHI 1.1 Một số vấn đề về đạo đức

Đạo đức là tổ hợp những nguyên tắc hay là những quy tắc, những tiêu chuẩn sinh hoạt chung trong xã hội nhằm điều chỉnh sự ứng xử của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, đảm bảo cho xã hội một trật tự nhất định cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nó

Đạo đức được nảy sinh từ nhu cầu của xã hội, điều hoà và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng Để giải quyết các mâu thuẫn đó, xã hội đề ra các yêu cầu dưới dạng chuẩn mực giá trị, được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận, lương tâm,

1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn:

1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của giáo dục đạo đức:

Đức dục là một hoạt động chuyên biệt, có mục đích của nhà giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ em những nét tính cách, những phẩm chất đạo đức và bồi dưỡng cho các em những tiêu chuẩn và quy tắc hành vi quy định thái độ của chúng đối với nhau, đối với gia đình, đối với người khác, đối với nhà nước và Tổ quốc

Giáo dục đạo đức có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người mới

Việc hình thành cơ sở về phẩm chất đạo đức của con người bắt đầu ngay ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo Giáo dục mẫu giáo là khâu đầu tiên của

Trang 11

việc đào tạo nhân cách con người mới có nhiệm vụ hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người tạo tiền đề cho sự phát triển về sau

Những khác biệt bẩm sinh trong các kiểu hoạt động thần kinh cấp cao không quyết định trước sự phát triển của những phẩm chất đạo đức Bởi vậy, trong điều kiện xã hội- XHCN, nếu có phương pháp giáo dục đúng đắn và bằng sự tác động sư phạm tích cực có thể đảm bảo hình thành những phẩm chất đạo đức phù hợp với những mục đích và nhiệm vụ giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho con người

Ở tuổi mẫu giáo, được sự hướng dẫn của người lớn, trẻ tiếp thu những kinh nghiệm đầu tiên về hành vi, về quan hệ với người thân, bạn bè, với các

đồ vật và thiên nhiên, lĩnh hội các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội mới, có khả năng to lớn trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua các hình thức hoạt động khác nhau, có thể hình thành tốt một số phương thức điều khiển các hành vi của mình, tính tích cực và tính độc lập, sự quan tâm đến các quan hệ xã hội

Những ấn tượng đầu tiên của thời thơ ấu để lại dấu vết trong suốt cả cuộc đời sau này So với việc giáo dục thì việc cải tạo (hay giáo dục lại) là một quá trình lâu dài và khó khăn hơn nhiều Giáo dục đúng đắn sẽ hạn chế

sự tích luỹ kinh nghiệm tiêu cực của trẻ, ngăn cản sự phát triển các kĩ xảo và thói quen hành vi xấu mà có ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành những phẩm chất đạo đức của trẻ

1.2.2 Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo:

Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo là hình thành ở trẻ tình cảm đạo đức, kĩ xảo và thói quen hành vi đạo đức trong sự thống nhất với những biểu tượng đạo đức và động cơ hành vi

Trong quá trình giáo dục đạo đức, việc hình thành những tình cảm đạo đức có vị trí quan trọng đầu tiên đối với trẻ từ những năm đầu Điều đó phù

Trang 12

hợp với sự xuất hiện những nhu cầu mang tính chất xã hội đầu tiên ở trẻ thể hiện trong nhu cầu giao tiếp Lòng tốt phải trở thành cơ sở để hình thành ở trẻ những tình cảm đạo đức khác

Cần nhấn mạnh đặc biệt đến sự chân thành trong tình cảm với hành động của trẻ, ở các độ tuổi khác nhau, tình cảm phải được phát triển ở một mức độ cao hơn

Việc hình thành các kĩ xảo và thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo có tầm quan trọng hàng đầu trong quá trình đức dục Đặc điểm ở trẻ mẫu giáo là khả năng bắt chước Trong khi đó, trẻ chưa thực sự phát triển tính tự giác của hành vi, chưa biết kiểm tra hành động của mình, chưa hiểu nội dung đạo đức của hành vi, điều đó có thể dẫn đến những hành động xấu Bởi vậy, phải hình thành ở trẻ những kĩ xảo và thói quen hành vi khác nhau thể hiện lòng kính trọng đối với người lớn( nghe lời, chào hỏi, cảm ơn) thái độ tốt với bạn bè (quan tâm, nhường nhịn) ý thức giữ gìn các đồ vật (bảo vệ, xếp dọn, giữ gìn các đồ chơi, sách vở) và ý thức hành vi văn hoá ở nơi công cộng (không nói

to, không làm ảnh hưởng đến người khác, quần áo lịch thiệp )

Ở các độ tuổi khác nhau, yêu cầu và kĩ xảo về thói quen đạo đức cần được nâng cao dần

Quá trình giáo dục đạo đức có nhiệm vụ hình thành ở trẻ những biểu tượng( khái niệm) có tiêu chuẩn đạo đức của xã hội XHCN khi giáo dục các

kĩ xảo và thói quen hành vi đạo đức, cô giáo phải tiến hành giải thích để trẻ hiểu rõ ích lợi, sự công bằng, tính chất đúng đắn của hành động mà cô yêu cầu các em làm Giáo viên có nhiệm vụ phát triển các khái niệm đạo đức sơ đẳng ở trẻ và trên cơ sở đó hình thành các động cơ hành vi Bằng các dẫn chứng cụ thể giáo viên giải thích cho các em nên hành động như thế nào

Trang 13

Các nhiệm vụ giáo dục tình cảm đạo đức, hình thành các khái niệm đạo đức, thói quen đạo đức và động cơ hành vi được thực hiện thống nhất trong quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo

1.2.3 Nội dung giáo dục đạo đức

a) Giáo dục lòng nhân ái( tình thương) và những nhân tố sơ đẳng của lòng yêu nước:

Sống trong tình thương( được mọi người yêu mến và yêu mến mọi người) là hạnh phúc của trẻ thơ Giáo dục tình thương cũng đồng thời đáp ứng một nhu cầu sống của trẻ Tình thương suy cho đến cùng, cũng là gốc đạo đức của con người Vì vậy giáo dục lòng nhân ái cần đựơc coi là nhiệm vụ trung tâm của công tác giáo dục đạo đức cho trẻ

Giáo dục lòng nhân ái cho trẻ bao gồm những nội dung cơ bản sau: Giáo dục tình yêu gia đình: trẻ cần hiểu mọi người trong gia đình đều gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, cần thường xuyên sống hoà thuận và quan tâm chăm sóc lẫn nhau Trong gia đình, ai cũng làm việc hoặc học hành,

đó là những việc làm nghiêm túc có ích cho gia đình và xã hội, cần được tôn trọng (chẳng hạn không quấy rầy, vòi vĩnh khi bố mẹ đang làm việc, anh hoặc chị đang học)

Giáo dục tình yêu và thái độ quan tâm đối với mọi người yêu mến và sẵn sàng giúp đỡ cô giáo và các bạn trong lớp, kính trọng và quan tâm, giúp

đỡ người già yếu, yêu mến, nhường nhịn, chăm sóc các em nhỏ, niềm nở với mọi người

Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống yêu cây cỏ, chim muông, các súc vật có ý thức bảo vệ thiên nhiên không hành hạ, làm đau đớn các sinh vật

Trang 14

Cùng với việc giáo dục lòng nhân ái, cần chú ý từng bước nhẹ nhàng những nhân tố sơ đẳng tạo nên nền tảng ban đầu cho việc giáo dục lòng yêu nước thực sự có ý thức sau này khi trẻ đủ khôn lớn

Đối với trẻ mẫu giáo cần giáo dục tình yêu đối với Bác Hồ, biết lá cờ

Tổ quốc, quan tâm đến các ngày lễ lớn hoặc những sự kiện quan trọng trong nước hoặc ở địa phương, những thắng cảnh hoặc di tích lịch sử ở địa phương, những truyền thuyết lịch sử, những biến đổi tích cực trong đời sống địa phương Tất nhiên sự hiểu biết của trẻ ở đây còn rất nhiều hạn chế, nhưng sự đồng cảm mang ý nghĩa xã hội đó của trẻ dù còn non nớt và chưa thực sự hình thành, cũng có những tác dụng tiềm năng, tích cực đối với sự phát triển tình cảm đạo đức của trẻ

b) Giáo dục quan hệ bè bạn, xây dựng lớp đoàn kết thân ái:

Đến lứa tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu cùng chơi với nhau Một quan hệ mới giữa các trẻ bắt đầu hình thành và phát triển đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách, đến bộ mặt đạo đức của từng trẻ Đó là quan hệ bạn bè

Giáo dục quan hệ bạn bè cho lứa tuổi mẫu giáo vừa là một nhiệm vụ đức dục quan trọng vừa là một công vịêc phức tạp, tế nhị đòi hỏi cô giáo phải nắm vững nội dung cơ bản theo từng độ tuổi để có những tác động thích hợp

và kịp thời

c) Giáo dục những quy tắc lễ phép văn hoá; những tính tốt:

Giáo dục cho trẻ những quy tắc lễ phép (chào hỏi, thưa gửi, xin và cảm ơn ) những quy tắc hành vi có văn hoá ở những nơi công cộng, những cách ứng

xử tốt đẹp với mọi người

Những nhiệm vụ giáo dục đạo đức nêu trên cần kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ giáo dục những tính tốt cho trẻ Đối với trẻ mẫu giáo cần kịp thời phát triển, biểu dương, nuôi dưỡng và phát triển những tính tốt của trẻ ngay khi nó có

Trang 15

biểu hiện manh nha Ngược lại cần tìm ra nguyên nhân và kiên quyết ngăn chặn, uốn nắn khi thấy ở trẻ bắt đầu xuất hiện một tính xấu nào đó Một số tính tốt cần đặc bịêt cần chú ý rèn luyện cho trẻ là: tính tự lập; tính mạnh dạn; tính ngăn nắp; tính kỉ luật;

Cuối cùng, cần chú ý là giáo dục những quy tắc hành vi, những nét tính cách cho trẻ phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, không làm cho trẻ mất đi cái ngây thơ, hồn nhiên của lứa tuổi Một nền tảng đạo đức tốt khiến trẻ càng dễ hoà mình vào cuộc sống xung quanh, tạo nên cái thoải mái, hạnh phúc của tuổi thơ, tuyệt nhiên không làm cho trẻ thêm xét nét, lo hãi, sống mất hồn nhiên “già trước tuổi”

1.2.4 Phương pháp giáo dục đạo đức:

* Khái niệm và sự phân loại:

Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động, cách thức tổ chức hoạt động cho trẻ của nhà giáo dục nhằm hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức cộng sản theo mục đích giáo dục

Các phương pháp giáo dục gây nên một tác động tổng hợp phức tạp lên trẻ, ít khi chúng đựơc sử dụng riêng lẻ, tách rời nhau Do sự phát triển của lí luận, người ta tập hợp và phân loại các phương pháp giáo dục để xem xét vấn đề phương pháp có hệ thống hơn, song đó cũng chỉ là những quy ước Trong lí luận

và thực tiễn sư phạm hiện nay, người ta phân loại các phương pháp giáo dục đạo đức thành hai nhóm chủ yếu:

1) Nhóm các phương pháp hình thành các khái niệm, niềm tin gồm có: Phương pháp giải thích và thuyết phục, phương pháp nêu gương

2) Nhóm các phương pháp rèn luyện kĩ năng kĩ xảo và thói quen hành

vi là phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn gồm các hình thức luyện tập và thực hành trong cuộc sống (rèn luyện)

Trang 16

- Bên cạnh hai nhóm phương pháp giáo dục cơ bản ở trên, người ta còn sử dụng nhóm phương pháp hỗ trợ, đó là các phương pháp động viên và đánh giá gồm các phương pháp khen ngợi và chê trách, nhận xét và phê bình

* Tổ chức hoạt động thực tiễn giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo Việc tổ chức kinh nghiệm đạo đức thực tiễn thể hiện trong các hình thức luyện tập và rèn luyện Luyện tập là đặt trẻ vào những tình huống

do giáo viên tạo ra để trẻ phải hành động phù hợp với các tiêu chuẩn và quy tắc hành vi

Còn rèn luyện là thực hành trong cuộc sống những khái niệm, tiêu chuẩn, quy tắc hành vi

cơ của hành động, sự cần thiết và lợi ích của hành động để thuyết phục trẻ về tính đúng đắn của các quy tắc đạo đức

Nêu gương là một phương pháp đạo đức được sử dụng nhiều đối với trẻ mẫu giáo Cơ sở tâm lí của phương pháp này là khuynh hướng bắt chước được thể hiện rõ ở trẻ, là nguyện vọng muốn hành động để được khen ngợi Những tấm gương của các bạn đựơc cô khen ngợi, tấm gương của chính giáo viên đều

có ý nghĩa giáo dục quan trọng Thái độ, cử chỉ nhẹ nhàng, lịch thiệp, vui vẻ của

cô giáo; một cử chỉ nhường nhịn của một em nhỏ, tính cẩn thận sắp xếp đồ dùng của một em khác đều có tác động trực tiếp đến các trẻ nêu gương giúp ta có thể giáo dục trẻ bằng những hành động và việc làm cụ thể, có sức tác động một cách trực quan dễ hiểu Những tấm gương của người lớn trong hoạt động xã hội và

Trang 17

trong cuộc sống, những tấm gương trong các tác phẩm nghệ thuật cũng có tác động mạnh mẽ đến trẻ em

2) Bên cạnh các nhóm phương pháp cơ bản ở trên, trong quá trình giáo dục đạo đức cũng cần phải sử dụng các phương pháp hỗ trợ

Khen ngợi và chê trách những hành động của trẻ hay của những người xung quanh trẻ là phương pháp giáo dục đựơc sử dụng để giúp trẻ hiểu rõ các hành động nào là tốt, xấu; đúng, sai hiểu rõ yêu câu của các quy tắc đạo đức, cùng những nét tính cách đẹp Khen ngợi gây cho trẻ lòng mong muốn làm điều tốt và thể hiện hành động, hành vi Còn chê trách gây cho trẻ cảm xúc hối hận, giúp ngăn ngừa những hành động xấu Khen ngợi phải kịp thời công bằng, vừa biểu lộ yêu cầu vừa biểu lộ tôn trọng đối với khả năng của trẻ Khen ngợi vừa phải căn cứ vào kết quả vừa căn cứ mức cố gắng của trẻ Khi chê trách phải tìm hiểu rõ động cơ của hành động để đánh giá trẻ chính xác, chê trách phải nhằm mục đích ngăn ngừa xảy ra các hành động xấu là chủ yếu

Nhận xét và phê bình là các phương pháp giáo dục cần thiết Nhận xét được áp dụng khi các hành vi còn dễ sửa chữa, không có tác hại đến bản thân trẻ cũng như đến các em khác (chẳng hạn nhận xét một em đùa nghịch lúc xếp hàng

đi dạo, một em rung rinh ghế ngồi trong bữa ăn ) Còn phê bình được sử dụng khi hành vi đã lặp lại nhiều lần, khó sửa chữa cô giáo phải phê bình để thể hiện

sự đánh giá những hành động xấu

Cưỡng bức với tư cách là một phương pháp giáo dục được áp dụng khi tất

cả các phương pháp giáo dục khác đã sử dụng không đem lại kết quả Một vài

em cá biệt nào đó vẫn không thay đổi theo chiều hướng tốt, trẻ vẫn nói tục, trêu chọc bạn, không tuân theo yêu cầu của người lớn, vi phạm nội quy Cưỡng bức

là phương pháp giáo dục đồng thời cũng là biện pháp chừng phạt Cô giáo bắt trẻ không đựơc chơi hay ở gần cô, nếu trẻ cản trở bạn, trêu trọc bạn, cướp đồ chơi của bạn Cưỡng bức luôn đi với giải thích để các em luôn hiểu rõ vì sao bị phạt,

Trang 18

thuyết phục các em về tính cần thiết phải thực hiện những quy tắc chung của mọi người Song tuyệt đối không trừng phạt các em về thể xác như bắt nhịn ăn, đánh đập, đe doạ, nhốt trẻ vào trong một nơi không thích hợp

3) Hệ thống các phương pháp đựơc kết hợp khi sử dụng cho phù hợp với trẻ em ở từng độ tuổi Mỗi phương pháp đều có tác động riêng, không có phương pháp nào là vạn năng, là thích hợp với mọi hoàn cảnh khi tiếp xúc với trẻ Giáo viên phải biết kết hợp đúng đắn các phương pháp khác nhau Khi sử dụng luôn chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, các đặc điểm cá nhân, trình độ đựơc giáo dục của mỗi trẻ em và của toàn lớp

1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn:

1.3.1 Đặc điểm sinh lí:

Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước Về số lượng: chiều cao trung bình cao từ 4- 6 cm đạt 105,5- 125,5cm;

về cân nặng tăng khoảng 15,7kg Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng

Về hệ thần kinh, trẻ 5-6 tuổi, cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh tăng rõ rệt Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian 15- 20 phút Đồng thời ở lứa tuổi này vai trò của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng Tư duy ngày càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát hoá của từ đã có bước nhảy vọt gần như ở người lớn ở chỗ, sự khái quát hoá được thể hiện theo hoạt động với đồ vật Vì thế, tư duy bằng hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong thần kinh cấp cao của trẻ Ở lứa tuổi này trẻ có thể học đọc và học viết Ngoài ra, do sự phát triển của hệ thần kinh nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ cũng giảm xuống còn 11 giờ trong ngày

Về hệ vận động, trẻ 5- 6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm

cơ như người lớn Còn việc tiếp thu những thói quen vận động còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là luyện tập phù hợp

Trang 19

Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ 5- 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất: huyết sắc tố: 80-90%, hồng cầu 4,5-5 triệu đơn vị, bạch cầu: 7-10 nghìn, tiểu cầu 200- 300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên

Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích luỹ được khá phong phú

Vì thế, trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn đã có thể hiểu phần lớn các nội dung câu chuyện mà trẻ được nghe và thể hiện chúng khá sinh động khi tham gia các tiết kể lại chuyện hay đóng kịch Trẻ hiểu nội dung nên dễ dàng tiếp nhận các bài học rút ra từ câu chuyện cũng như tự mình hiểu được trong câu chuyện nhân vật nào đáng khen, nhân vật nào đáng chê, đáng khen, đáng chê ở điểm nào, cần phải học tập ai và phê bình ai

Khi mới bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chưa hiểu biết gì mấy gì về bản thân mình và những phẩm chất của mình Nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành động khác… Ý thức bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa

Trang 20

Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá về mình như thế nào

Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác (cử chỉ, phẩm chất) còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của nó đối với người này Trẻ mẫu giáo thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như là những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân Nhưng do tình cảm còn chi phối mạnh nên không cho phép nó dùng thước đo ấy để đánh giá hành vi của những người khác cũng như của chính mình một cách khách quan Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được kĩ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được thể hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Ở đây tấm gương của người lớn tác động rất mạnh đến trẻ

Vì thế, giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn đã dễ dàng hơn rất nhiều vì trẻ đã lớn hơn, hiểu biết hơn, ý thức và tự ý thức cũng phát triển Trẻ không còn phụ thuộc nhiều vào người khác nữa, trẻ đã biết tự suy nghĩ về hành động của bản thân cũng như của người khác và đánh giá chúng một cách khá chính xác

Ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ nét Điều đó thúc đẩy các hành động định hướng bên trong (tức là các quá trình tâm lí) phát triển mang tính chủ định rõ ràng

Tuổi mẫu giáo lớn là thời kì trẻ đang phát tiến vào bước ngoặt với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vai trò chủ đạo trong

Trang 21

suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh

để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi

Bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm

lí trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông

Một mặt quan trọng của trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí cho việc học tập là làm sao cho trình độ phát triển ý chí của trẻ đủ sức để có thể điều chỉnh hành vi của mình tuân theo nội quy của nhà trường và thực hiện những yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra, tự giác tuân theo quy định nơi công cộng

Những hoạt động trí tuệ như quan sát, trí nhớ, tư duy… cần phải được đạt tới một mức độ nhất định để có thể lĩnh hội các tri thức khoa học một cách dễ dàng

Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí cho việc học tập ở trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung Đó là những động cơ xã hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xác lập và duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi

Chính vì thế khi giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn người ta đã chú ý

để giáo dục trẻ các quy tắc, lễ nghi, phép lịch sự cần có cũng như trang bị cho trẻ một số kĩ năng cần thiết… để trẻ tự tin bước vào một môi trường mới với hoạt động chủ đạo mới

1.4 Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi:

Văn học thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tác văn học nói chung, vì thế, nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của sáng tác nghệ thuật ngôn từ

Trang 22

Nhưng do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên nó có những đặc điểm được nhấn mạnh

Trước hết tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn học dành cho thiếu nhi Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to lớn trong việc giáo dục toàn bộ nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ Nhà văn Tô Hoài- người có nhiều kinh nghiệm trong sáng tác cho các em đã khẳng định tầm quan trọng của chức năng này: “Nội dung một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người Nói thì thừa, cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính và có giá trị đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy.”

Để thực hiện tốt chức năng giáo dục, tác phẩm văn học phải thực sự là người bạn đồng hành, người đối thoại với các em Nhà văn không thể nói với các

em bằng những lời giáo thuyết khô khan mà phải bằng hình tượng nghệ thuật, bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng để khơi gợi, dẫn dắt các em tìm hiểu và khám phá thế giới Các em phải biết phân biệt cái hay, cái dở; cái cao quý, cái thấp hèn trong cuộc sống Văn học phải mang lại cho trẻ thơ cái đẹp, cái cao quý, cái chân, thiện Tuy nhiên, cũng không nên cực đoan chức năng giáo dục của văn học dành cho thiếu nhi Không nên nghĩ rằng sau khi đọc một tác phẩm là ngay lập tức các em có thể trở thành người tốt hay người xấu Những ảnh hưởng của văn học tới các em là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nó tác động một cách từ từ nhưng giá trị nhân văn của nó thì có thể tạo nên sức mạnh., ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và phát triển nhân cách của con người

Nếu tính giáo dục là một đặc trưng có tính chất sống còn của văn học thiếu nhi thì khả năng khơi gợi, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ cũng

là một đặc điểm không thể thiếu trong văn học viết cho các em Hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải đặc biêt quan tâm tới đặc

Trang 23

điểm tâm lí của lứa tuổi thiếu nhi Chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữa văn học thiếu nhi và văn học cho người lớn Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâm hồn trong sáng dạt dào cảm xúc và trí tưởng tượng phong phú Các em cảm nhận thế giới bằng cái nhìn “vật ngã đồng nhất”, bầu bạn với hết thảy vạn vật xung quanh Chính vì vậy mà tưởng tượng là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm văn học viết cho các em Muốn vậy, nhà văn viết cho các em phải thực sự hòa nhập với cuộc sống của trẻ thơ, hiểu và sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng với trẻ thơ trong sáng tác

Văn học viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non do đối tượng phục vụ chủ yếu

là những “bạn đọc” còn chưa biết đọc, biết viết nên ngoài những tiêu chí chung của văn học nó còn có những đặc điểm được nhấn mạnh, phù hợp với tâm sinh lí đặc thù của lứa tuổi này Có thể kể ra một số đặc trưng cơ bản sau:

Hồn nhiên và ngây thơ vốn là bản tính của trẻ thơ và những sáng tác của các em thực sự cuốn hút người đọc chính bởi sự hồn nhiên, ngây thơ, trong trẻo của các em Ví dụ:

Hôm nay trời nắng chang chang Mèo con đi học chẳng mang thứ gì

Ngắn gọn và rõ ràng

Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng của tác phẩm mà còn thể hiện trong cả câu văn, câu thơ Văn xuôi thường thể hiện bằng câu đơn, ngắn, ít

Trang 24

khi dùng câu phức hợp Nhan đề của tác phẩm bao giờ cũng cụ thể, thường đúc kết ngay ý nghĩa giáo dục, có khi là tên nhân vật chính, hoặc một câu hỏi mang

tính định hướng, ví dụ: Bó hoa tặng cô, Cái bát xinh xinh, Ai đáng khen nhiều

hơn, Bài học tốt… Truyện thường có kết cấu theo kiểu đối lập, tương phản rất rõ

ràng, giúp trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện

và có thể kể lại một cách dễ dàng Ví dụ: Chú dê đen, Ai đáng khen nhiều hơn,

Ba cô gái, Bác Gấu đen và hai chú thỏ…

Dạng phổ biến của thơ viết cho các em là thể thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, rất gần với đồng dao, một thể loại văn học dân gian phù hợp với trẻ thơ, câu thơ ngắn, vui nhộn; các em vừa đọc, vừa chơi, dễ thuộc, dễ nhớ Ví dụ:

Cây dây leo

Bé tí teo

Ở trong nhà Lại bò ra Ngoài cửa sổ

Và nghển cổ Lên trời cao Hỏi: “Vì sao?”

Cây trả lời:

- Ra ngoài trời Cho dễ thở…

(Xuân Tửu- Cây dây leo)

Bên cạnh đó, truyện thường có kết cấu đối lập tương phản với hai loại nhân vật thiện- ác, tốt- xấu (kiểu kết cấu của cổ tích) phù hợp với lối tư duy cụ thể của trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện và

có thể kể lại một cách dễ dàng Ví dụ: Chú dê đen, Ai đáng khen nhiều hơn, Ba

cô gái, Bác gấu đen và hai chú thỏ…

Trang 25

Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu:

Những hình ảnh đẹp, rực rỡ cùng với vần điệu và nhạc điệu vui tươi làm cho tác phẩm thêm sinh động, có sức hấp dẫn và lôi cuốn sự chú ý của các em

Có thể nói vần là một yếu tố không thể thiếu trong thơ viết cho các em (điều này rất khác với thơ viết cho người lớn, nhiều khi vần không phải là yếu tố thật quan trọng) Thơ không chỉ có vần mà còn phải có cách gieo vần thật phù hợp với sự tiếp nhận của các em Ví dụ:

Bắp cải xanh Xanh mát mắt

Lá cải sắp Sắp vòng tròn Búp cải non Nằm ngủ giữa

(Phạm Hổ- Bắp cải xanh)

Chữ cuối của câu thứ nhất (xanh) được lặp lại trong chữ đầu của câu thứ hai; chữ cuối của câu thứ ba (sắp) được lặp lại ở chữ đầu cảu câu thứ tư gợi lên hình dáng của cây bắp cải với những lá xanh xen kẽ, cuộn vòng tròn…

Bài thơ Mời vào của Võ Quảng như một hoạt cảnh vui không chỉ vì sự

xuất hiện ngộ nghĩnh của các nhân vật cùng vơi các sự kiện mà còn bởi sự kết hợp của các thanh trắc, thanh bằng tạo nên nhạc tính của bài:

- Cốc, cốc, cốc!

- Ai gọi đó?

- Tôi là thỏ

- Nếu là thỏ Cho xem tai

- Cốc ,cốc, cốc!

Trang 26

- Ai gọi đó?

- Tôi là nai

- Thật là nai Cho xem gạc…

Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trong sáng và dễ hiểu

Đặc biệt là có nhiều từ tượng hình, tượng thanh, nhiều động từ , tính từ miêu tả, tính từ chỉ màu sắc… tạo nên sắc thái vui tươi, vừa khêu gợi, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ, vừa tác động mạnh đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của trẻ Ví dụ:

Hoa cà tim tím Hoa mướp vàng vàng Hoa lựu chói chang

Đỏ như đốm lửa Hoa vừng nho nhỏ Hoa đỗ xinh xinh Hoa mận trắng tinh Rung rinh trước gió…

(Thu Hà- Hoa kết trái)

Nhờ hàng loạt các tính từ miêu tả ( chói chang, nho nhỏ, xinh xinh), các từ tượng hình (đốm lửa, rung rinh…) và các tính từ chỉ màu sắc (tim tím, vàng vàng, đỏ, trắng tinh), bài thơ đã vẽ lên một bức tranh thật sinh động về mảnh vườn, giúp trẻ có thể hình dung về các loài hoa với những màu sắc và hình dáng rất cụ thể

Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện

Đây cũng là một đặc điểm khá nổi bật trong sáng tác cho trẻ em lứa tuổi mầm non Khác với thơ viết cho người lớn, hầu hết là thơ tâm trạng, bao gồm hệ thống những cảm xúc, nỗi niềm, suy tưởng… thơ cho các em có thể “kể” lại

Trang 27

được Ngoài những truyện thơ như Mèo đi câu cá, Nàng tiên ốc, Bồ câu và

ngan,… những bài thơ ngắn cũng đều kể lại một sự việc, một hiện tượng, ví dụ: Dán hoa tặng mẹ, Chiếc cầu mới, Chú bò tìm bạn, Chiếc xe chữa cháy, Bướm

em hỏi chị, Mời vào, Gạch đỏ… Xin dẫn một bài cụ thể:

Mặt trời rúc bụi tre Buổi chiều về nghe mát

Bò ra sông uống nước Thấy bóng mình, ngỡ ai

Bò chào: “Kìa anh bạn Lại gặp anh ở đây!”

Nước đang nằm nhìn mây Nghe bò cười nhoẻn miệng Bóng bò chợt tan biến

Bò tưởng bạn đi đâu

Cứ ngoái trước nhìn sau

Nếu yếu tố truyện trong thơ giúp các em có thể nhanh chóng nắm bắt được tác phẩm để từ đó liên hệ, phát hiện và cảm nhận được những vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống, thì yếu tố thơ trong truyện lại như một chất xúc tác làm cho câu chuyện có thêm sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ Mỗi câu chuyện viết cho các em là những bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc Chất thơ của truyện sẽ

Trang 28

làm cho những bài học ấy không bị khô khan, cứng nhắc Những truyện như

Giọng hát chim Sơn Ca, Hoa Mào gà, Giọt nước Tí Xíu, Chú Đỗ con, Bồ Nông

có hiếu, Cây gạo… chẳng khác gì những bài thơ bằng văn xuôi, những bài thơ

ca ngợi cuộc sống, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và ca ngợi những tình cảm cao đẹp của con người Cùng với chất thơ bay bổng, ý nghĩa của câu chuyện có thể

sẽ còn theo các em mãi trong suốt cuộc đời

Ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng:

Một trong những chức năng cơ bản của văn học là chức năng giáo dục

Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh mẽ tới tâm hồn và nhận thức của con người Nhất là với lứa tuổi mầm non, văn học, đặc biệt

là thơ càng có sự tác động nhanh nhạy Tuy nhiên, lứa tuổi này chỉ có thể “đọc” tác phẩm văn học một cách gián tiếp, tư duy logic lại chưa phát triển nên hầu như chưa có khả năng suy luận, phán đoán Chính vì thế, mỗi một tác phẩm văn

học phải đem đến cho trẻ một ý nghĩa giáo dục cụ thể, rõ ràng

1.5 Văn học thiếu nhi đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn:

Giáo dục đạo đức cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở trường mầm non Giáo dục đạo đức cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo phải được coi là một quá trình rèn luyện có mục đích nhân cách trẻ Ma-ca-ren-cô gọi thời kì mẫu giáo là thời kì hình thành cá nhân ở giai đoạn đầu tiên Vì vậy, giáo dục đạo đức cho trẻ trở thành một nhiệm vụ quan trọng ở trường mầm non, nó hình thành phẩm chất đạo đức, tạo nền móng nhân cách của mỗi con người

Phẩm chất đạo đức mang 3 yếu tố cơ bản: những tình cảm đạo đức, những thói quen hành vi đạo đức và những ý niệm đạo đức Ý niệm đạo đức

là những ý niệm về tốt, xấu, về sự trung thực, sự khiêm tốn , tính cần cù, tình bạn, lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm… Để hình thành những phẩm chất đạo đức này, văn học nghệ thuật là một phương tiện hữu hiệu

Trang 29

Từ xa xưa ông cha ta đã từng tâm niệm: “văn dĩ tải đạo”, với chức

năng này, trong các phương pháp tạo ra ý niệm, tình cảm, đạo đức văn học có một vị thế đặc biệt

Bác Hồ của chúng ta khi sinh thời đã rất quan tâm đến việc giáo dục

đạo đức cho tuổi thơ, Bác đã dạy thiếu niên nhi đồng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng

bào,… Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” Đây chính là nội dung, nền tảng đạo

đức chân chính của con người ở mỗi thời đại, nó đòi hỏi sự nghiệp “trồng

người” của chúng ta phải hướng tới

Những quan nịêm giáo dục đạo đức truyền thống ấy đã đựơc đưa vào những tác phẩm văn học và được trẻ em yêu thích Vì vậy, chúng ta cần đọc

và kể cho trẻ nghe những tác phẩm văn chương có giá trị đích thực, chứa đựng những nội dung giáo dục đạo đức cao cả, phù hợp với lứa tuổi mà tâm hồn tình cảm đang trong như suối tận nguồn Ở trường mẫu giáo, khi tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghe, đọc, kể diễn cảm và sự dẫn dắt của cô giáo, những ấn tượng nghệ thuật mà trẻ thu nhận đựơc sẽ hình thành ở các em những phẩm chất đạo đức bền vững Không ai có thể phủ nhận vai trò của cái

đẹp trong giáo dục đạo đức bởi “thông qua cái đẹp vươn tới nhân tính ”-

(V.G.Bielinxki, nhà nghiên cứu văn học Nga thế kỉ XIX) Vì vậy, cái đẹp phải đựơc coi là phương pháp cơ bản nhằm khơi gợi những tình cảm đạo đức cho trẻ

Ngôn ngữ thể hiện cái tinh hoa của dân tộc, của Tổ quốc Từ ngôn ngữ toàn dân, bằng sức sáng tạo của người nghệ sĩ, vẻ đẹp lóng lánh của ngôn ngữ nghệ thuật đã truyền đến cho các em tình yêu Tổ quốc, yêu tiếng mẹ đẻ

Qua vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước những hành động tình cảm cao quý của con người thể hiện trong tác phẩm giáo dục trẻ tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, ý thức giữ gìn bảo vệ cây xanh, có cách đối xử hiền từ với mọi sinh vật trên trái đất, xác lập hành vi, thái độ của con người đối với các hiện tượng

Ngày đăng: 17/07/2015, 07:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm- Trịnh Dân- Nguyễn Thị Hoài- Đinh Văn Vang(2005), “ Giáo dục học mầm non”, tập 2, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm- Trịnh Dân- Nguyễn Thị Hoài- Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2005
4. Hà Minh Đức( Chủ biên- 2007), “ Lí luận Văn học”, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Văn học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
5. Hà Nguyễn Kim Giang (2009), “Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học”, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2009
6. Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi (2010), “Từ điển thuật ngữ văn học”, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2010
9. Lã Thị Bắc Lý(2006), “ Giáo trình Văn học Trẻ em”, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Trẻ em
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2006
10. Lã Thị Bắc Lý(2009), “ Văn học thiếu nhi”, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thiếu nhi
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2009
11. Đào Thị Mi(2000), “ Văn học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non”, Đại Học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non
Tác giả: Đào Thị Mi
Năm: 2000
12. Nguyễn Văn Tuân(1997), “ Sự hình thành các giá trị đạo đức ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”, Đại Học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành các giá trị đạo đức ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Năm: 1997
13. Nguyễn Thị Ánh Tuyết(2007), “ Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non”, Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Năm: 2007
19. Tạp chí Giáo dục Mầm non( số 2,3,4), Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008) 20. Khoá luận tốt nghiệp của các khoá K31- GDMN và K32- GDMN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục Mầm non
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
2. Hướng dẫn thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007) Khác
3. Phạm Thị Châu- Nguyễn Thị Oanh- Trần Thị Sinh(2006), Giáo Dục Học Mầm Non, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Khác
7. Ngô Công Hoàn(2006), Giá trị đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức cho trẻ em lứa tuổi Mầm non, NXB ĐHSP Khác
8. Lê Thu Hương (Chủ biên) (2009), Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề trẻ 5-6 tuổi, NXB Giáo dục Khác
14. Nguyễn Thị Ánh Tuyết(2006), Giáo trình Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em dưới 6 tuổi, NXB Giáo dục Khác
15. Nguyễn Thị Thu Trang(2008), Phương pháp giáo dục trẻ em từ 0-6 tuổi, NXB Lao động- Xã hội Khác
16. Tuyển tập chuyện kể trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung Ương 1 Khác
17. Tuyển chọn bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề, Viện chiến lược và chương trình giáo dục – trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục Mầm non(2008), NXB Giáo dục Khác
18. Nguyễn Công Uẩn( Chủ biên)(2000), Tâm lí học đại cương, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2:  Nhận  thức  của  giáo  viên  về  vai  trò  của  các  tác  phẩm  văn  học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ: - Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường mầm non khu vực Thành phố Vĩnh Yên - vĩnh Phúc
ng 2: Nhận thức của giáo viên về vai trò của các tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ: (Trang 36)
Bảng 5: Thực trạng việc khai thác tác dụng của tác phẩm văn học - Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường mầm non khu vực Thành phố Vĩnh Yên - vĩnh Phúc
Bảng 5 Thực trạng việc khai thác tác dụng của tác phẩm văn học (Trang 39)
Bảng 6: Thực trạng về kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo - Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi ở các trường mầm non khu vực Thành phố Vĩnh Yên - vĩnh Phúc
Bảng 6 Thực trạng về kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w