1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả nghệ thuật của một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được sử dụng trong tập thơ góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa (KL03765)

68 4,2K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 563,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với học sinh lớp 4, 5, đề tài này giúp cho quá trình phân tích tác phẩm của các em tìm ra cái hay, cái đẹp của thơ, từ đó bồi dưỡng các em cách cảm thụ, thưởng thức món ăn tinh thần

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

**************

NGUYỄN THU TRANG

HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA MỘT

SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TIÊU

BIỂU ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG TẬP THƠ “GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI”

CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi

Người hướng dẫn khoa học THS NGUYỄN VĂN MỲ

Hà Nội – 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này được hoàn thành với sự chỉ bảo của các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học trường ĐHSP Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Văn Mỳ

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả trong khóa luận chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thu Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã có những nhận xét quý báu, động viên, giúp đỡ em để

em hoàn thành khóa luận này trong suốt thời gian vừa qua Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới thầy Nguyễn Văn Mỳ đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thu Trang

Trang 4

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngày nay Đảng, Nhà nước cùng toàn thể nhân dân rất quan tâm đến bậc học này Bậc Tiểu học được coi là nền tảng cơ bản để học sinh có thể học lên các bậc học tiếp theo Ở bậc học này, học sinh bắt đầu được tiếp cận với hoạt động học một cách có hệ thống Các em chuyển dần từ tư duy trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng Mọi tri thức mà các em tiếp thu được đều có ý nghĩa rất quan trọng Bậc học này sẽ trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản nhất về tự nhiên, xã hội, con người, giúp các em có cái nhìn đúng đắn về thế giới khách quan Những tri thức sẽ được các em vận dụng vào học tập ở các lớp trên và giải quyết những vấn đề liên quan trong cuộc sống Đặc biệt môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học đã thu hút sự quan tâm của mọi cấp, mọi ngành Môn Tiếng Việt là công cụ để giao tiếp và tư duy của học sinh Việt Nam Nhiệm cụ cơ bản của môn Tiếng Việt là phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi trường lứa tuổi Thông qua dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy của các em Môn Tiếng Việt ở Tiểu học cung cấp những kiến thức về tiếng Việt, về văn hóa của đất nước Việt Nam và của cả các nước trên thế giới Dạy Tiếng Việt còn có ý nghĩa là bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt, đồng thời góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam mới - con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa có đạo đức, tri thức, hiểu biết, năng động và sáng tạo Như vậy, bậc Tiểu học góp phần chuẩn bị hành trang cần thiết cho các em học sinh bước vào đời

Hiện nay, các môn học ở Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng đều được xây dựng theo quan điểm tích hợp Môn Tiếng Việt giúp các

em rất nhiều trong học tập cũng như trong giao tiếp Cảm thụ văn học ở Tiểu

Trang 5

học là một vấn đề được các thầy giáo, cô giáo quan tâm Việc hình thành và rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh bậc Tiểu học cũng có nghĩa là giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp qua từng bài tập đọc trong sách giáo khoa Mỗi bài văn, bài thơ sẽ được các em tiếp nhận với những hiểu biết, cảm xúc khác nhau Các em sẽ được thấy mình như được sống trong thế giới huyền ảo của thơ văn Các em có sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật, với tác giả và càng có niềm tin, tình yêu vào cuộc sống Trí tưởng tượng của học sinh Tiểu học còn ngây thơ, đậm chất hồn nhiên Vậy nên, thế giới qua con mắt học sinh Tiểu học rất trong lành, vẹn nguyên Khi đã biết cảm nhận cái hay, cái đẹp của văn chương học sinh sẽ hứng thú hơn trong học tập, đặc biệt là trong viết văn Từ đó, thôi thúc các em học sinh say mê tự tìm hiểu vẻ đẹp các tác phẩm văn chương lớn có giá trị ở cả bên ngoài sách giáo khoa Học sinh được tiếp cận với cuộc sống qua văn chương, các em càng thêm yêu quý tiếng Việt, càng có ý thức bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt

Ở lớp 1, 2, 3 vấn đề cảm thụ văn học chỉ đặt ra ở mức học sinh biết đọc đúng và hiểu đúng nội dung bài tập đọc Ở lớp 4, 5 khả năng cảm thụ văn học của học sinh được nâng lên rõ rệt Do vậy, cần phải nuôi dưỡng và phát triển khả năng này của các em

Tuy nhiên, trong nhà trường Tiểu học lâu nay khi phân tích, bình giá thơ giáo viên và học sinh thường ít chú ý đến khai thác phương diện ngôn ngữ của bài văn, bài thơ, cụ thể là ít khi chú ý phân tích các biện pháp tu từ về ngữ

âm, ngữ nghĩa, cú pháp Đây là một thiếu sót đáng để chúng ta lưu tâm

Mỗi biện pháp tu từ đều tạo nên giá trị riêng Cái hay, cái đẹp của văn chương một phần được thể hiện qua các biện pháp tu từ Trong văn thơ, tác giả văn chương sử dụng biện pháp tu từ đều nhằm diễn đạt những mục đích nhất định Khi phân tích mà bỏ qua các biện pháp tu từ thì việc phân tích, bình giá thường nặng về cảm nhận chủ quan, thiếu cơ sở khoa học Do đó, cần phải chú ý đến các biện pháp tu từ thường gặp trong thơ văn Khi nắm rõ yếu

Trang 6

tố này thì việc cảm thụ văn học của học sinh tiểu học sẽ được định hướng và nâng cao, sự ham thích học văn của các em ngày càng được bộc lộ

Để học sinh có những kĩ năng cơ bản cảm thụ văn học thì vai trò hướng dẫn của người giáo viên cũng đóng một vai trò quan trọng Vậy nên, giáo viên phải có một tầm nhận thức, hiểu biết về các biện pháp tu từ Đó là nắm vững các kiến thức về biện pháp tu từ như: biện pháp tu từ là gì? Thế nào là nhân hóa?Ẩn dụ? Hoán dụ? Chỉ khi nào giáo viên thuần thục các biện pháp tu từ thì việc hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học mới hiệu quả Giáo viên phải đem hết vốn hiểu biết của mình để phục vụ cho công việc giảng dạy Những kiến thức cơ bản về văn học sẽ được học sinh tiếp nhận từ giáo viên, hình thành cho các em kĩ năng cảm thụ văn học Các em sẽ tiếp thu cái hay, cái đẹp của văn chương để viết văn, làm thơ và đặc biệt là để giao tiếp trong xã hội Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa rất quen thuộc với học sinh tiểu học Đây là một tập thơ hay, gần gũi, phù hợp với độ tuổi của các em không phải vì tập thơ có ngôn ngữ trau chuốt hay tập thơ được viết ra bởi một người được mệnh danh là “thần đồng” thơ Tập thơ được các em yêu thích bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng, giàu sức biểu cảm Những hình ảnh trong thơ dung dị, thân thương Một điều độc đáo là tập thơ được viết ra bởi một chú bé có tâm hồn nhạy cảm cùng với trí tưởng tượng cực kì phong phú Những vần thơ, những bài thơ đều ấm lên tình yêu, niềm tin vào cuộc sống Một thế giới qua con mắt trẻ thơ được tạo nên trong thơ Chính vì vậy, “Góc sân và khoảng trời” được đông đảo học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học yêu thích

Một trong những lý do nữa khiến tôi lựa chọn đề tài : “Hiệu quả nghệ thuật của một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được sử dụng trong tập thơ

“Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa” đó chính là tương lai tôi sẽ trở thành một giáo viên tiểu học, tôi mong muốn được làm giáo viên thật trách nhiệm, nắm vững chuyên môn và giàu lòng nhiệt tình Tôi mong muốn sẽ góp

Trang 7

phần tác động đến niềm yêu thích thơ ca của các em, để từ đó các em tự tìm đến thơ, đọc, hiểu thơ và cảm thụ nó Đối với học sinh lớp 4, 5, đề tài này giúp cho quá trình phân tích tác phẩm của các em tìm ra cái hay, cái đẹp của thơ, từ đó bồi dưỡng các em cách cảm thụ, thưởng thức món ăn tinh thần đầy

mộ mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Nga, Hunggari, Pháp, Đức, Thụy Điển…Khoa thực sự là niềm tự hào của nền văn học thiếu nhi nước nhà Vậy mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về thơ anh, có chăng chỉ là những nhận xét, nhận định khen ngợi tài năng thơ anh

Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh số 2 ngày 6/1/1990, tác giả Hà Văn Thủy từng đánh giá rằng: “Ba mươi năm trước thơ Trần Đăng Khoa xuất hiện như một thần đồng giữa những đứa trẻ làm thơ lúc đó Khoa bộc lộ phẩm chất đặc biệt, phẩm chất thần hay trạng…” Phẩm chất thần, trạng mà tác giả nói ở đây chính là khả năng thơ ca đặc biệt của một chú bé phản ánh thế giới riêng của mình, một cái nhìn, nghe, cảm bằng một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế Trần Đăng Khoa muốn thâu tóm toàn bộ vẻ đẹp trong cuộc sống, từ đó giới thiệu, bày tỏ hết sức chân thành những gì mình cảm nhận được để tâm hồn trẻ thơ của các em nhận được sự đồng cảm của mọi người

Trong lời giới thiệu về tập thơ “Góc sân và khoảng trời” tái bản lần thứ

Trang 8

27 của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương, thầy giáo Nguyễn Văn Đức đã viết: “Thời đánh Mỹ, thơ Trần Đăng Khoa đã chinh phục độc giả trong và ngoài nước Không mấy ai đã qua thời đó mà không lưu giữ trong tâm hồn đôi dòng thơ Khoa Người đọc thấy trong từng nụ thơ linh diệu của anh có vóc dáng dân tộc Việt Nam ngàn đời, phẩm chất con người Việt Nam muôn thuở…Có những câu thơ Khoa cô đọng quyết tâm chiến đấu và lạc quan của

cả một thời đại” (Nguyễn Văn Đức, Lời giới thiệu tập thơ “Góc sân và khoảng trời” tái bản lần thứ 27, Sở GD – ĐT Hải Dương)

Thơ Khoa thể hiện sự hồn nhiên, chân thực của trẻ thơ Chính vì vậy, các nhà thơ phương Tây đã chú ý ngay đến vẻ yêu đời của tiếng thơ Khoa khi

nó được cất lên trong chiến tranh Nhà báo Madelene rifaud đã khẳng định:

“Nói tới Việt Nam anh hùng là nhắc tới Khoa, nhà thơ thiếu nhi Việt Nam, những tiếng hát có sức mạnh hơn những quả bom”(Dẫn theo Madelene, Báo Nhân đạo chủ nhật số 181 ngày 18.8.1967, Pari) Qua thơ Khoa, bạn đọc nước ngoài cũng hiểu thêm phần nào phong vị Việt Nam, từ màu sắc đến âm thanh đều mang đặc trưng của vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ

Trần Đăng Khoa đã chinh phục được độc giả bởi nét “trẻ thơ”, hồn nhiên, yêu đời, gần gũi, chân thật Tất cả những điều ấy xuất phát từ hồn thơ tinh tế, nhạy cảm Xuân Diệu đã viết trong lời đề tựa cho tập thơ “Góc sân và khoảng trời”: “Có nhìn mảnh sân nhỏ nhà Khoa tôi mới thấy thấm thía, giác ngộ hơn nữa cái sức mạnh của nội tâm Chính nội tâm, chính tâm hồn bên trong của con người quy tụ cảnh vật bên ngoài vào một cái trục, biến vật vô tri thành ra xúc cảm, tình cảm Tôi đã bước trên sân nhà em Khoa, đi qua đi lại với thái độ trân trọng, tôi đang ở trong bầu thế giới đầu tiên của Khoa” (Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, Sở VH – TT Đồng Tháp, tái bản 1993)

Các sự vật trong thơ anh đầy sức sống và có hồn, cảm nhận rõ điều này, Vân Thanh đã nhận xét: “Thơ Khoa nắm bắt được nhiều âm thanh, hương vị

Trang 9

của cuộc sống bên ngoài, của thiên nhiên hoa cỏ, của sinh hoạt quê hương đồng nội Em biết lắng nghe, nhìn kĩ những gì đã xảy ra quanh mình Cảnh vật dưới ngòi bút của Khoa có hình nét và có cả tâm hồn…Thế giới loài vật trong thơ Khoa thật đa dạng với những nét độc đáo Chỉ có trong mắt trẻ thơ mới có những nhận xét đến kì lạ” (Uỷ ban KH – XH Nhà thơ Việt Nam hiện đại, Nxb KH – XH Hà Nội, 1984)

Đúng như tập thơ đầu tay của anh, tuổi thơ Khoa gắn bó khăng khít với góc sân và khoảng trời Khoa đã nhìn, đã cảm, đã nghe, đã đưa vào thơ những hình ảnh, âm thanh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam: một mảnh vườn, một góc sân, những tiếng gà, tiếng ếch nhái…bình dị mà vẫn thú vị bất ngờ bởi Khoa đã thổi vào chúng vẻ hồn nhiên, tinh nghịch của tâm hồn cậu bé lớn lên cùng những trò chơi chăn trâu, thả diều, bắt cá…nhưng nếu thiếu sự độc đáo, mới lạ, vẻ riêng của mình thì có lẽ thơ Khoa không thể có sức sống lâu bền như vậy

Chính vì lẽ đó, vấn đề cá tính sáng tạo trong thơ Khoa đã được đề cập đến với nhiều ý kiến khác nhau Lại Nguyên Ân và Trần Đình Sử nghiên cứu đưa ra quan điểm của mình về thơ Khoa hồi nhỏ không có cá tính sáng tạo Trần Đình Sử cho rằng: “Khoa làm thơ vào lúc còn rất bé, nghĩa là vào lúc cá tính còn chưa hình thành Thế mà thơ lại hay Nghĩa là có thể thơ hay khi chưa hình thành cá tính sáng tạo” (Lại Nguyên Ân - Trần Đình Sử, Trần Đăng Khoa trước con đường hình thành một cá tính thơ, Báo Văn nghệ 15/3/1986) Cùng bàn về vấn đề này, Lại Nguyên Ân viết: “Ở cậu bé này nếu ta nói đến cá tính chỉ là hai cá tính phổ quát, tức là một cá thể người nói chung với hành vi

và ý nghĩ lặp lại các chuẩn mực mà môi trường giáo dục xung quanh đang truyền thụ và định hướng để hình thành nên được các em chứ chưa phải là hành vi và ý nghĩa thực thụ của mình” (Lại Nguyên Ân – Trần Đình Sử, Trần Đăng Khoa trước con đường hình thành một cá tính thơ, Báo Văn nghệ ngày 15/3/1986) Nói tóm lại, Lại Nguyên Ân cho rằng trong thơ Trần Đăng Khoa

Trang 10

hồi nhỏ “chỉ lặp lại những hành vi chuẩn mực”, những tình cảm chung chung của hoàn cảnh đưa lại chứ chưa có cái riêng của mình Khác với hai nhà phê bình trên, Phạm Xuân Nguyên đưa ra ý kiến khẳng định: “Tôi cho rằng: rõ ràng Khoa đã có một cá tính thơ từ những bài thơ viết lúc nhỏ, song có điều nhà thơ đang đứng trên con đường hình thành cá tính thơ của mình” ( Phạm Xuân Nguyên, Trên con đường hình thành một cá tính thơ, Báo Văn nghệ ngày 9/8/1986)

Mười bảy năm sau, PGS – TS Trần Đăng Suyền cho rằng: “Quả là thời

kì niên thiếu, Trần Đăng Khoa đã tạo được một thế giới nghệ thuật thơ của mình Đặc sắc, một mình riêng một góc trời” (Trần Đăng Suyền, Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời kì niên thiếu, Tạp chí Văn học số 4/2003)

Những bài nghiên cứu, nhận định, những lời nhận xét đó chỉ nêu ra mà chưa ai đi sâu khai thác nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa, đặc biệt là tập thơ

“Góc sân và khoảng trời” Đề tài khóa luận: “Hiệu quả nghệ thuật của một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được sử dụng trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa” không phải là một đề tài mới vì trước đó PGS – TS Trần Đăng Suyền đã có bài: “Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu” nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở một số bài viết ngắn trong đó có những nhận xét khái quát: “Thời kì này không ít những em nhỏ làm thơ Nhưng Khoa vượt lên hẳn trở thành một hiện tượng độc đáo không chỉ vì đến tận bây giờ vẫn còn dồi dào sức lực đeo đẳng nghiệp thơ mà ở số lượng nhất

là chất lượng sáng tác, tạo được một thế giới nghệ thuật của riêng mình” (Trần Đăng Suyền, Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu, Tạp chí Văn học số 4/2003) Vì vậy, một lần nữa với mong muốn hiểu sâu thủ pháp nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa và hy vọng rằng mình sẽ có một số đóng góp nhỏ khi tìm hiểu tập thơ “Góc sân và khoảng trời” thông qua việc tìm hiểu một số thủ pháp nghệ thuật trong đó

Trang 11

III Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu một số thủ pháp tu

từ tiêu biểu trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa như: nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ và so sánh

Phần II: Nội dung

Chương 1: Những cơ sở hình thành thần đồng thơ Trần Đăng Khoa Chương 2: Hiệu quả nghệ thuật của một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được sử dụng trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa

Trang 12

cú hẳn là ít ỏi Vậy mà bé Khoa đã làm được thơ – làm được rất nhiều thơ Điều quan trọng để tôn vinh bé Khoa lên làm thần đồng chính là ở chỗ những bài thơ đó rất lạ, rất hay Lạ và hay ở mức những em bé cùng lứa tuổi với Trần Đăng Khoa dù có làm thơ, có nổi tiếng cũng không thể đạt “cỡ” Trần Đăng Khoa Các nhà thơ người lớn đã thành danh lại càng không thể viết như

em Khoa, cháu Khoa được nữa Hiện tượng Trần Đăng Khoa không chỉ là hiện tượng của riêng Việt Nam mà còn là hiện tượng hiếm hoi của thế giới” [11;11] Vậy điều gì đã làm nên thần đồng thơ ấy? Có thể lý giải điều đó ở một số điểm sau:

1.1 Quê hương

Trần Đăng Khoa sinh ngày 26 tháng 4 năm 1958 tại làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Chính vùng quê miền đồng bằng chiêm trũng nghèo khó đã ươm mầm cho tài năng thơ Khoa nảy nở Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Làng quê đã tạo nên thơ Khoa

từ màu sắc đến linh hồn” Quả thật, đọc “Góc sân và khoảng trời” ta có thể thấy rõ được điều đó Chẳng phải những vần thơ hay nhất, những hình ảnh đẹp nhất trong tập thơ đều là những câu thơ, những hình ảnh viết về cảnh vật

và con người nông thôn đó sao? Tập thơ in đậm dấu ấn tuổi thơ – tuổi thơ làng quê, tuổi thơ của một thời chiến tranh Ở đây hồn thơ tuổi thơ xôn xao trong từng câu chữ Và hồn thơ ấy gắn bó với “Góc sân và khoảng trời” – nơi chôn rau cắt rốn của Khoa Cho nên, chúng ta hiểu vì sao tập thơ có tựa đề

“Góc sân và khoảng trời” Nghĩa là hồn thơ này không phải từ trên trời rơi

Trang 13

xuống, hồn thơ ấy gắn chặt với quê hương, đất nước mình Hay nói khác đi,

nó gắn với hiện thực đời sống xung quanh Đúng như thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về kinh nghiệm làm thơ văn: “Điều đầu tiên phải có gì trong trí trước đã…” tức là văn thơ là sản phẩm của những gì mà ta quan sát, lắng nghe, cảm nhận được Chính vì thế, khi đọc “Góc sân và khoảng trời” ta thấy cả một thế giới những sự vật gần gũi, quen thuộc của làng quê chứ không phải một thế giới xa lạ, viển vông, không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng vu vơ Ta có thể đọc được trong thơ Khoa hình ảnh một luống khoai, những hàng chuối mật, những luống cà:

“Vườn em có một luống khoai

Có hàng chuối mật với hai luống cà”

(Vườn em)

Đi dạo một vòng quanh góc sân và khoảng trời ấy, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng gợi cho Khoa những rung động và khiến tâm hồn Khoa cất lên những vần thơ Đây là một đám ma bác giun sau vườn:

“ Bác Giun đào đất suốt ngày Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà

Họ hàng nhà kiến kéo ra Kiến con đi trước, kiến già theo sau

… Đám ma đưa đến là dài Qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà

Kiến Đen uống rượu la cà Bao nhiêu kiến Gió bay ra chia phần…”

(Đám ma bác Giun)

Và đây là một cánh đồng chiều với cánh diều tuổi thơ:

Trang 14

“Cánh diều no gió Sáo nó thổi vang Sao trời trôi qua Diều thành trăng vàng

… Trời như cánh đồng Xong mùa gặt hái Diều em - lưỡi liềm

Ai bỏ quên lại”

(Thả diều) Khoa đã miêu tả một không gian tuyệt vời, thơ mộng của cánh đồng quê Cách diều cùng tiếng sáo đã tạo nên nét thanh bình, thư thái trong cảnh vật thiên nhiên và tâm hồn người dân Và cánh diều càng trở nên thân thương hơn khi được ví với những hình ảnh quen thuộc xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống của người nông dân: ánh trăng, chiếc thuyền, hạt cau, lưỡi liềm…

Tâm hồn Khoa luôn hòa hợp với thiên nhiên, với quê hương nên anh bắt được rất tài, rất nhạy thần sắc của nó Hương đồng nội như thấm sâu vào tâm hồn Khoa, Khoa có thể cảm nhận một cách tinh vi những mùi vị đặc trưng của làng quê:

“Mùi bùn đang ngấu Mùi phân đang hoai”

(Hương đồng) Quê hương với tất cả những con người, những sự vật rất đỗi quen thuộc

đã cho Khoa những ý nghĩ sâu xa, lay động nhất:

“Mái gianh ơi hỡi mái gianh Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”

(Về thăm cô Bưởi)

Có yêu quê, hiểu quê mới thấm thía và có cảm nhận tinh tế, sâu sắc đến

Trang 15

vậy Có thể nói, chính quê hương đã chắp cánh cho thơ Khoa bay cao, bay xa Qua những vần thơ đó, người đọc không chỉ thấy hình ảnh một nông thôn Việt Nam, mà còn thấy được một tình yêu sâu nặng của Khoa dành cho quê hương với cách viết đầy sáng tạo

1.2 Gia đình

Lớn lên trong một gia đình mọi người đều yêu thơ văn nên Khoa cũng yêu thơ văn từ nhỏ Ảnh hưởng trực tiếp từ người mẹ, người bà – một kho văn hóa dịu dàng với những truyện cổ tích, những bài ca dao, những chuyện Nôm, các làn điệu chèo…Trần Đăng Khoa đã lớn lên bằng nguồn sữa mẹ, và hồn thơ em phong phú dạt dào nhờ nguồn sữa thơ ca dân gian Theo lời kể của mẹ Khoa: “Từ lúc nó hơi biết nó đã bắt tôi đọc ca dao Nó lại bảo kể chuyện cổ tích, chuyện nọ xọ chuyện kia, chuyện nào nó cũng thích Nó chỉ khỏe hỏi vặn, chả có sức đâu mà giải thích cho nó” Và tối nào mẹ Khoa cũng kể Thơ

ca dân gian, những câu chuyện cổ tích đã ngấm sâu vào con người Khoa, nên hồn thơ đó in đậm dấu ấn của chúng là điều tự nhiên

Trần Đăng Khoa làm thơ khi mới biết ít chữ, sức đọc chẳng được mấy Vốn liếng chủ yếu trông cậy vào năng khiếu và những gì gia đình cung cấp cho em qua những khúc hát ru, những trò chơi dân gian, những câu chuyện của bà, của mẹ Ta có thể thấy trong “ Góc sân và khoảng trời” gần một nửa các bài thơ được viết theo thể thơ lục bát – thể thơ dân gian, rất nhiều bài thơ

có kết cấu lặp vòng và ý thơ được sáng tạo từ những câu thơ dân gian Người xưa thường trò chuyện tâm tình với con trâu như người bạn:

“Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”

Bởi thế Khoa cũng viết về con trâu đen lông mượt như là trò chuyện tâm tình với người bạn:

“Trâu ơi ăn cỏ mật Hay là ăn cỏ gà

Trang 16

… Trâu ơi, uống nước nhá Đây rồi nước mương trong”

(Con trâu đen lông mượt)

Và ta nhiều lần bắt gặp hình tượng con cò của thơ ca dân gian trong thơ Khoa Đây vẫn là con cò lặn lội bờ sông:

“Trong giấc mơ em

Có gặp con cò Lặn lội bờ sông”

(Tiếng võng kêu) Đây là hình ảnh con cò đi đón cơn mưa:

“Khi cơn mưa đen rầm đằng đông Khi cơn mưa đen rầm đằng tây Khi cơn mưa đen rầm đằng nam, đằng bắc

Em thấy Con cò Trắng muốt Bay ra đón cơn mưa…”

(Con cò trắng muốt) Như vậy, từ những khúc hát ru, những câu chuyện được mẹ và bà kể Khoa đã có một kho tư liệu quý báu làm chất liệu cho những sáng tác của mình Và điều quan trọng hơn là Khoa đã biết sử dụng chúng một cách sáng tạo, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc

Ngoài mẹ và bà thì anh Minh – anh cả của Khoa là giáo viên cấp hai (sau là nhà thơ sinh hoạt và làm việc ở hội văn học nghệ thuật Quảng Ninh) cũng đã tác động đến Khoa rất nhiều Khoa luôn được anh động viên “Em cố học đi, biết chữ thì tha hồ mà đọc” Học xong lớp vỡ lòng (lớp 1) bấy giờ Khoa đã bắt đầu đọc sách và được anh Minh cho vài quyển làm tủ sách riêng

Trang 17

Việc gia đình Khoa có sách và đặt báo là một hiện tương rất đặc biệt so với bà con cùng thời đó Anh Minh lại có tài xuất khẩu thành thơ Mỗi khi đội sản xuất hợp tác xã muốn phát động một phong trào gì đấy thường nhờ anh đặt mấy bài thơ cổ động dễ nhớ, dễ thuộc Anh thường đáp ứng chẳng mấy khó khăn Anh Minh đã trở thành một tấm gương để Khoa học hỏi và ganh đua Nhà thơ đã bí mật viết rất nhiều và độc giả đầu tiên là bé Giang Những bài thơ Khoa viết xong đều đọc cho bé Giang nghe, bé Giang thuộc thơ của anh

và lại đọc cho lũ trẻ trong xóm nghe Bởi vần điệu dễ thuộc, dễ nhớ bọn trẻ thích thú nghe và thuộc rất nhiều thơ Khoa Và điều đó càng làm Khoa tích cực làm thơ hơn Những người thân trong gia đình luôn là nguồn cảm hứng để Khoa sáng tác, và có rất nhiều bài thơ khiến ta phải xúc động như: Mẹ ốm, Khi mẹ vắng nhà, Dặn em…Gia đình thân yêu là cái nôi nuôi dưỡng cho mầm thơ Khoa lớn lên từng ngày

1.3 Thời đại

Những năm tháng chiến đấu oanh liệt thống nhất đất nước đã tạo nên tính chất sử thi của nền văn học hiện đại Không khí chung của thời đại vang dội vào trang thơ của thiếu nhi Trong những năm 60 – 70 của thế kỉ này xuất hiện một số tác giả nhỏ tuổi làm thơ và lập tức được công nhận là thơ hay Và trong dàn đồng ca ấy Khoa ở vị trí trung tâm

Thế giới trẻ thơ của Khoa và các bạn cùng thời có biết bao niềm vui nhưng cũng thật khốc liệt, trong hoàn cảnh chiến tranh với những suy nghĩ và việc làm đến quá sớm, chính vì thế thơ Khoa không chỉ xuất hiện những cảnh vật gần gũi với các em mà còn có cả tiếng súng, tiếng bom, những hy sinh, mất mát và cả những tiếng thét căm hờn Thiên nhiên trong thơ Khoa là một thiên nhiên rõ dấu ấn của thời đại “Hạt gạo làng ta” cho chúng ta một hình ảnh nông thôn cần lao vất vả:

“Có bão tháng Bảy

Có mưa tháng Ba

Trang 18

Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng Sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ”

Một nông thôn đang đổi mới:

“Có lời mẹ hát Ngọt bùi hôm nay”

Và một nông thôn gian khổ chiến đấu dồn tất cả sức người, sức của:

“Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa”

Đáng lẽ tuổi thơ là tuổi yêu thương, của sự nâng niu chiều chuộng, nhưng tuổi thơ trong bom đạn thì sớm biết, sớm từng trải niềm căm thù và không phải niềm căm thù bản năng mà là một tình cảm có chỉ dẫn lý chí, một nhận thức có phân tích Do vậy đi sâu được vào bản chất của sự vật Nhưng không làm theo cách của người lớn mà vẫn giữ nguyên vẹn giọng điệu trẻ con Những gì em viết là tình cảm trí tuệ của tâm hồn ngây thơ trong sáng, viết hồn nhiên ca ngợi với tất cả niềm tin vào chiến thắng

Trong nhiều trường hợp có thể nói sự bừng nở tài năng thơ ở tuổi thiếu niên cùng đồng nghĩa với sự thăng hoa của một đời nghệ sĩ Khoa đã viết những điều xúc động nhất, sâu sắc nhất, những rung cảm sâu sắc nhất để rồi sau này tiếp tục làm thơ cũng khó lòng vượt qua được chính mình thời thơ ấu

1.4 Tài năng bẩm sinh

Có thể nói, ngoài cơ sở hình thành tài năng thơ ca Trần Đăng Khoa là quê hương, gia đình, thời đại còn thấy dấu hiệu của tài năng bẩm sinh Có nhiều bài thơ Khoa như buột miệng nói ra Trong một buổi chiều nấu cơm trước cảnh con bướm vàng dập dờn bay lượn, Khoa thích thú reo lên:

“Con bướm vàng Con bướm vàng

Trang 19

Bay nhẹ nhàng Trên bờ cỏ…”

(Con bướm vàng)

Khi đó Khoa không có ý thức làm nghệ thuật mà chỉ ghi lại những điều chợt nhìn thấy, ghi lại bằng chất giọng đầy trẻ thơ Chỉ có điều tính trẻ thơ ấy khác các trẻ thơ khác ở chỗ Trần Đăng Khoa có một sự rung cảm, một cái nhìn tinh tế, độc đáo Trong bài “Đêm Côn Sơn”, Khoa có một câu thơ mà khiến ai cũng phải ngạc nhiên:

“Ngoài thềm rơi cái lá đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”

Khoa đã bao lần khiến người ta phải thốt lên: “Tại sao một cậu bé lại có thể làm thơ hay đến thế?” Điều đó có thể được lý giải, bởi Khoa có một tài năng bẩm sinh, có một khả năng quan sát tinh tế và một trái tim yêu thương Tuy vậy, để trở thành một thần đồng thơ, ngoài tài năng thiên bẩm Khoa cũng phải bền bỉ phấn đấu tích lũy ngay từ nhỏ Mặc cho người đời coi Khoa

là thần đồng, Khoa cũng chỉ khiêm tốn nhận mình là một người làm thơ nên

có nhiều kĩ năng, kĩ xảo mà thôi Trần Đăng Khoa làm thơ từ hồi còn học lớp

vỡ lòng (lớp 1 bây giờ) theo lối bắt chước những gì đã đọc được và viết theo thể nhật kí, ghi chép các sự việc diễn ra hàng ngày Được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của các nhà thơ lão thành như Xuân Diệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận…cùng vốn liếng văn học tích lũy được trong sách vở, Khoa đã vượt qua những ấu trĩ ban đầu, bổ sung thêm cho hành trang của mình những kiến thức bổ ích Xuân Diệu đã nhận xét: “Cậu bé Trần Đăng Khoa có khiếu học được cái tốt, tiếp thu tất cả những cái gì tốt đẹp của người khác, lấy cái đó từ trong ca dao, truyền thuyết, thơ ca của các tác giả và biến những cái đó thành của riêng mình Những cuốn sách mà người anh đã chọn cho em đã giúp em rất nhiều nhưng một điều không kém phần quan trọng là sự tự nhận thức thế giới thông qua quan sát trực tiếp” Vì vậy, Khoa luôn khiến ai tiếp chuyện

Trang 20

cũng phải ngạc nhiên vì những hiểu biết tường tận về văn chương nghệ thuật của mình

Với tài năng thiên bẩm và sự nỗ lực học hỏi của bản thân, Trần Đăng Khoa đã viết lên những vần thơ đầy tính nghệ thuật, đầy cảm nhận sâu sắc về cuộc sống khiến tất cả mọi người đều bị hấp dẫn và không khỏi thán phục tài năng của cậu bé

Trang 21

CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG TẬP THƠ

“GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI” CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

Mỗi bài văn, bài thơ hay đều chứa đựng trong đó những nét riêng với sức hấp dẫn mạnh mẽ Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên

sự độc đáo của tác phẩm, nhưng cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ là các phương tiện, các biện pháp tu từ Theo Đinh Trọng Lạc thì: “Biện pháp tu từ

là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói, các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh” [8;142] Hay biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm một mục đích tu từ nhất định Nó đối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lý trí Sau đây là một số quan niệm về một số biện pháp tu

từ cụ thể

2.1 Khái niệm

2.1.1 Biện pháp tu từ nhân hóa

Theo Đinh Trọng Lạc thì: “Nhân hóa (còn gọi là nhân cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ tâm tư, thái độ của mình một cách kín đáo” [8;63]

Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 (chương trình mới) định nghĩa về phép tu từ nhân hóa như sau: Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật…bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người, biểu thị những suy nghĩ, tình cảm của con người

Trang 22

Như vậy, cả hai quan niệm trên về biện pháp tu từ nhân hóa đều có những điểm chung: Nhân hóa là một biện pháp tu từ trong đó người ta sử dụng những động từ, tính từ chỉ hoạt động, thuộc tính của con người cho đối tượng không phải là người nhằm diễn tả một cách sinh động, có hình ảnh những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa đúng văn cảnh thì câu văn, câu thơ càng trở nên sinh động, hấp dẫn Biện pháp tu từ nhân hóa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm – cảm xúc

2.1.2 Biện pháp tu từ ẩn dụ

Theo Đinh Trọng Lạc: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B

có tên gọi được chuyển sang dùng cho A” [8;52]

Trong “Vẻ đẹp ngôn ngữ văn học qua các bài tập đọc lớp 4 – 5”, Đinh Trọng Lạc cũng nêu ra định nghĩa như sau: “Ẩn dụ tu từ là tên gọi thứ hai có giá trị tu từ (tức là có khả năng gợi hình, gợi cảm…) của một sự vật A mà tên gọi thứ hai này là kết quả của việc so sánh ngầm giữa sự vật đó (A) với một

sự vật khác B dựa trên sự tương đồng (giống nhau) giữa hai sự vật” [9;95] Theo Hữu Đạt thì: “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận ví dụ khi tiếp nhận với phép ẩn dụ thì phải dùng năng lực liên tưởng

để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy, thực chất của ẩn dụ là dùng tên gọi này biểu diễn sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc” [4;19]

Trong sách giáo khoa ngữ văn 6 (chương trình mới) nêu định nghĩa về

ẩn dụ như sau: Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với

nó nhằm tăng sức gợi tình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Như vậy, chúng ta có thể quan niệm rằng ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa tu từ trong đó một từ, một ngữ vốn được dùng để biểu thị đối tượng B

Trang 23

được chuyển sang biểu thị đối tượng A trên cơ sở giữa B và A có nét giống nhau nào đó

2.1.3 Biện pháp tu từ hoán dụ

Trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt”, Đinh Trọng Lạc nêu định nghĩa về hoán dụ như sau: “Hoán dụ là định danh thứ hai dựa trên mối liên hệ hiện thực giữa khách thể có tên gọi được chuyển sang dùng cho khách thể được định danh” [7;66] Và trong “Vẻ đẹp ngôn ngữ văn học qua các bài tập đọc lớp 4 – 5” thì: “Hoán dụ tu từ là tên gọi thứ hai có giá trị tu từ (tức có khả năng gợi hình, gợi cảm…) của một sự vật (A) với một sự vật khác (B) dựa trên sự gần nhau giữa hai sự vật” [9;98]

Hữu Đạt thì định nghĩa như sau: “Hoán dụ là cách tạo tên gọi mới cho đối tượng dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận toàn thể nhằm diễn tả nội dung thông báo mà người nói muốn đề cập” [4;20]

Theo sách giáo khoa ngữ văn 6 (chương trình mới): Hoán dụ là tên gọi

sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của sự vật, hiện tượng, khái niệm khác

có mối quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật Như vậy, các quan niệm trên về hoán dụ đều có những nét giống nhau

Ta cũng có thể hiểu về hoán dụ như sau: Hoán dụ là biện pháp chuyển nghĩa

tu từ trong đó một từ, một ngữ dùng biểu thị đối tượng B chuyển sang biểu thị đối tượng A trên cơ sở giữa hai đối tượng có nét gần gũi đi đôi với nhau trong thực tế khách quan

2.1.4 Biện pháp tu từ điệp ngữ

Cũng vẫn theo Đinh Trọng Lạc thì điệp ngữ là lặp đi lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý, mở rộng ý, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc mạnh trong lòng người đọc

Chúng ta cũng nên hiểu về điệp ngữ như sau: Điệp ngữ là cách dùng lặp

đi lặp lại từ ngữ nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo và tạo nên sắc thái biểu cảm nhất định trong câu

Trang 24

2.1.5 Biện pháp tu từ so sánh

Đinh Trọng Lạc định nghĩa về biện pháp tu từ so sánh như sau: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất nhau hoàn toàn mà chỉ một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” Cần phân biệt so sánh lý luận, trong đó cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Tác giả Hữu Đạt cho rằng: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định tìm ra sự giống nhau và khác biệt nhau giữa chúng”

Theo sách giáo khoa Ngữ văn 6 (chương trình mới): So sánh là đối chiếu

sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Như vậy, các quan điểm trên đều có nét giống nhau, chúng ta cũng có thể hiểu về biện pháp tu từ so sánh như sau: So sánh là đem đối chiếu hai sự vật, hai đối tượng, hai đặc điểm khác loại, khác phạm trù nhau nhưng có một nét chung giống nhau nào đó nhằm diễn đạt một cách hình ảnh và biểu cảm hơn về sự vật, hiện tượng đó Sử dụng biện pháp tu từ so sánh sẽ góp phần làm tăng sức thông báo, chức năng biểu cảm – cảm xúc cho thơ văn

Khi đọc “Góc sân và khoảng trời” ta thấy ngôn ngữ trong tập thơ rất giàu hình ảnh và có sức gợi cảm lớn Tập thơ được các em học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu học rất yêu thích Điều làm nên cái hay, cái đẹp cho tập thơ này chính là cách tác giả sử dụng các biện pháp tu từ đan xen, pha trộn với nhau một cách khéo léo Một số biện pháp tu từ nổi bật làm nên sự hấp dẫn của tập thơ đó là: Nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, so sánh

Trang 25

2.2 Hiệu quả nghệ thuật của một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được sử dụng trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa

2.2.1 Biện pháp tu từ nhân hóa

Dưới con mắt trẻ thơ và một trái tim yêu thương, tất cả mọi vật đều là sinh thể có cuộc sống, ý nghĩ, tình cảm như con người Vì vậy mà nhân hóa là biện pháp nghệ thuật bao trùm trong “Góc sân và khoảng trời” Với tài năng bẩm sinh và óc quan sát tinh tường, Khoa đã thật tài tình, khéo léo nhân hóa mọi vật khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên trước những gì tưởng chừng như quen thuộc mà đầy mới mẻ, có đôi khi người đọc lại như được chứng kiến cái vốn dĩ của nó

Hãy xem cách Khoa gọi trăng trong bài “Trăng sáng sân nhà em”: “Ơi ông trăng sáng tỏ” Cách xưng hô nghe thật dễ thương Trăng được nhân hóa trở nên gần gũi, thân thiết Từ một vật vô tri, vô giác, trăng trở thành một con người Ánh trăng tỏa sáng khiến “Con chim quên không kêu, Con sâu quên không kêu” Tại sao quên? “Quên” là động từ chỉ dùng cho con người vậy mà được Khoa nhắc tới : “Con chim quên…Con sâu quên…” Con chim, con sâu sao giống những đứa trẻ quá

Cách trò truyện của Khoa nghe thật dễ mến, đặc biệt là đối với trăng Trăng “nhoẻn miệng cười” khi nhìn thấy xôi, Khoa nhảy múa trăng cũng nhảy múa theo Hình ảnh “trăng thập thò ngoài cửa” trong bài “Trông trăng” rất ấn tượng Trăng hồn nhiên quá! Bất chợt ta nhớ đến câu thơ của Bác viết về trăng giữa đêm xuân khi đang bàn việc nước:

“Trăng vào cửa sổ đòi thơ”

Trăng trong thơ Bác và trăng trong thơ Khoa đều có hồn, nhưng Khoa là một em bé nên trăng qua cách nhìn của Khoa vừa giống như ông bụt hiền hậu lại vừa có tính cách hồn nhiên, tinh nghịch và đáng yêu như trẻ con:

“Ông trăng cười những lợi

Trang 26

Răng chẳng còn chiếc nào”

Mà trầu mày đã ngủ…”

(Đánh thức trầu) Cây trầu được Khoa nhân hóa trở nên sống động, thân thương Khoa còn thức mà trầu đã ngủ Để hái mấy lá trầu cho bà, Khoa đánh thức một cách trầu thật âu yếm, nhẹ nhàng, và giải thích cho trầu hiểu Ta thấy Khoa ngoan ngoãn, còn trầu thật đáng yêu

Đọc bài thơ “Buổi sáng nhà em”, ta thấy rõ hơn tâm hồn trẻ thơ của Khoa Bắt đầu một ngày mới:

“Ông trời nổi lửa đằng đông

Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay”

Sáng thức dậy, nhìn xung quanh ta thấy rằng mỗi buổi sáng nào ở làng quê Việt Nam lại chẳng như nhau: Mặt trời lên tỏa ánh nắng, tiếng người nói chuyện và í ới gọi nhau đi làm, tiếng lợn ủn ỉn, tiếng gà cục tác, tiếng gió trong lá cây rì rào, rì rào…Tất cả những âm thanh ấy trở nên gắn bó quen thuộc với mỗi chúng ta Trong thơ Trần Đăng Khoa “Buổi sáng nhà em” là bài thơ với nhiều hình ảnh nhân hóa tạo nên tính cách sinh động cho từng nhân vật mà đời thường là những thứ vô tri, vô giác Nhờ biện pháp nhân hóa

mà một bức tranh giàu cảm xúc như đang hiện ra rõ ràng về đường nét và hình khối trước mắt người đọc Ông trời sau một đêm say giấc đã bắt đầu ngày mới với công việc “nổi lửa” Bà sân thì “vấn chiếc khăn hồng” Rồi tiếp

đó có cậu mèo dậy rửa mặt Mụ gà dường như lắm mồm “Cục tác như điên”

Trang 27

làm thằng gà trống “huyên thuyên” một hồi Đọc lên ta thấy mụ gà quả là đanh đá, lắm điều, cả thằng gà trống huyên thuyên chẳng kém phần Nhìn xa một chút thì cái na đã “tỉnh giấc”, đàn chuối thì “vỗ tay cười”, chị tre bận

“chải tóc” Tất cả những hình ảnh trên thật sống động Khoa quan sát sau đó dùng trí tưởng tượng để gán cho trời, sân, gà…một cái tên chỉ người và mỗi

sự vật có hành động rất người Nàng mây điệu đà bận “áo trắng”, ghé vào gương để ngắm nghía dung nhan của mình “Bùng boong”…tiếng hát của bác nồi đồng Rồi loẹt quoẹt, loẹt quoẹt…bà chổi “lom khom” quét nhà Đọc toàn bài thơ chúng ta thấy một bức tranh sinh hoạt hiện lên rất sống động, giàu sức gợi Ta chợt nhớ đến “Mỗi sớm mai về” của nhà thơ Huy Cận:

“Mỗi sớm mai về Gió lo dậy trước Tay gió vuốt ve Mát rờn mặt nước

… Con sông tỉnh giấc Uốn mình vươn vai

… Hàng cây dậy theo

Gà mái giục luôn Hợp tác! Hợp tác!

… Mèo ta ngơ ngác Meo meo, meo meo”

Sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa tạo hiệu quả tu từ cao trong thơ Trong bài thơ “Sao không về Vàng ơi” thì hình ảnh chú chó Vàng hiện lên thật đáng yêu Hôm nay, đi học về Khoa không thấy người bạn nhỏ của mình

Trang 28

đâu cả Tiếng bom Mỹ làm chú chó sợ mà bỏ đi Bao nhiêu kỉ niệm về Vàng được gợi lại Vàng gắn bó với Khoa Mỗi lần đi học về là Vàng “rối rít” chạy

ra đón Hành động này thật giống với những em bé đón anh đi xa về Sau đó

“Cái đuôi mừng ngoáy tít”, chú ta lại còn “khịt khịt mũi, rung râu”, “nhún chân sau”, “bắt tay”, rồi “tất bật” đưa vội Khoa vào nhà Chú chó Vàng với Khoa gần gũi lắm, thân thiết lắm Là con vật thật đấy nhưng Khoa trò chuyện tâm tình đầy xúc động Vậy mà hôm nay Vàng đã bỏ đi Khoa thấy buồn và trống vắng quá Những hành động, cử chỉ của Vàng được tái hiện lại rất giống với con người nhờ biện pháp tu từ nhân hóa Qua đó, suy nghĩ, tình cảm của Khoa được bộc lộ Ta chợt nhớ đến chú chó Bấc trong “Tiếng gọi nơi hoang dã” (Jack London) Bấc cũng được nhân hóa và có tính cách giống như con người Bấc khôn ngoan, dạn dày, từng trải Chú ta học thuộc những luật lệ của thế giới nguyên thủy để mà tồn tại Còn Vàng của Trần Đăng Khoa thì lại khác Dường như Vàng trẻ con, tinh nghịch, hồn nhiên hơn nhiều Hay cậu Vàng trong tác phẩm “Lão Hạc” (Kim Lân) được nhân hóa bởi Lão Hạc coi con chó đó là đối tượng trò chuyện và gọi bằng cái tên thân thiết: cậu Vàng Còn chú chó Vàng và Khoa thân thiết như những người bạn Chúng ta thấy con mắt trẻ thơ bao giờ cũng có cái nhìn âu yếm, ngây thơ hơn hẳn người lớn Điều đó khiến ta có sự đồng cảm với Khoa Tình cảm của Khoa đối với chú chó thật sâu sắc

Nếu như “Sao không về Vàng ơi?” là lời tâm tình của Khoa thì trong bài

“Mưa”, với biện pháp tu từ nhân hóa Khoa đã khéo léo tạo dựng một bức tranh trước và trong cơn mưa rất có hồn:

“Sắp mưa Sắp mưa

… Mối trẻ Bay cao

Trang 29

Mối già Bay thấp…”

Hai tiếng “sắp mưa” vang lên như gieo vào lòng người sự chờ đợi, niềm vui hồn nhiên của con trẻ Vạn vật reo vui chào đón cơn mưa Và kìa, vũ khúc mưa đang bắt đầu Họ hàng nhà mối lũ lượt bay cao, bay thấp Gà con “rối rít” như đứa trẻ tìm chỗ ẩn nấp Hãy xem những hình ảnh tiếp sau đây thật độc đáo, giàu sức gợi:

“Ông trời Mặc áo giáp đen

Ra trận Muôn nghìn cây mía Múa gươm

Kiến Hành quân Đầy đường…”

Những hình tượng đầy sức sáng tạo Trời là một hiện tượng siêu nhiên

và khi cơn mưa kéo đến phủ kín trời là một màu mây đen, gió thổi ào ào qua những ngọn cây, các con vật vội vã tìm chỗ trú ẩn Thế nhưng trong thơ Khoa mọi vật đều có hồn Ông trời với tấm giáp đen xông pha trận mạc, mía vẫy lá cùng gió như đang “múa gươm” Kiến hành quân đông đúc như hỗ trợ trời trong chiến trận Không khí của đoàn quân “thiên nhiên” này thật khẩn trương, rộn rã và cũng rất hào hùng Tất cả như đang hiển hiện trước mắt người đọc Có lần nhà thơ Xuân Diệu hỏi Khoa về hình ảnh “Ông mặt trời mặc áo giáp đen ra trận” thì được trả lời: “Cháu nghĩ đến hình ảnh Thánh Gióng” Thiên nhiên qua con mắt trẻ thơ giống hệt như con người với khí thế

vô cùng dũng mãnh Phải chăng hồn dân tộc từ hàng nghìn năm đã ngấm vào hồn con trẻ để tạo nên những vần thơ hay với hình ảnh đẹp Khung cảnh sắp mưa không chỉ có hình ảnh ông trời, mía múa gươm, kiến hành quân, mà có

Trang 30

“cỏ gà rung tai” để nghe âm thanh của đất trời đang chuyển đổi và:

“Bụi tre Tần ngần

Gỡ tóc Hàng bưởi

Đu đưa

Bế lũ con”…

Cây cối là những vật vô tri, vô giác giờ trở nên rất con người với những trạng thái, hành động sinh động Bụi tre “tần ngần” như nghĩ ngợi xa xôi điều

gì đó, rồi chậm rãi đưa tay “gỡ tóc” đã bị gió thổi tung Hàng Bưởi đu đưa “bế

lũ con” – những quả Bưởi “đầu tròn, trọc lóc”, thật đáng yêu

Những cảnh vật được Khoa thổi hồn trở nên đầy sức sống Nếu như sấm trong các truyện cổ tích được tôn là thần với những nét oai phong, dữ tợn, giọng nói thì vang trời, lở đất thì sấm trong thơ Khoa không chút xa lạ mà sấm gần gũi qua cách nói của Khoa:

“Sấm Ghé xuống sân Khanh khách Cười…”

Hình như Sấm đang đi đó đây, thấy cậu bé Khoa đang mải miết ngắm mưa nên ghé vào thăm Tiếng sấm qua sự tưởng tượng của Khoa trở thành tiếng cười của những đứa trẻ tinh nghịch Bạn đọc thấy sấm không có gì là ghê ghớm cả, trái lại sấm gần gũi, đáng yêu như tất cả mọi người vậy

Cái sân khấu trời mưa của Khoa càng sinh động, hấp dẫn hơn khi có thêm hình ảnh:

“Cây dừa Sải tay Bơi

Trang 31

Ngọn mùng tơi Nhảy múa…”

Hình như tất cả cũng giống Khoa đang chờ đợi mưa tới Tất cả reo vui, sẵn sàng đón mưa Cây cối cũng mang đầy tâm trạng Mỗi loài cây như có cách biểu hiện niềm vui riêng của mình Không gian trở nên náo nhiệt, vui tươi lạ thường Lá dừa bay bay trong gió Những cánh dừa trông giống cánh tay đứa trẻ đang sải ra bơi bơi Cả khoảng không kia được Khoa nghĩ là một dòng sông mênh mông và cây dừa – đứa trẻ tập bơi Một hình ảnh thật ngộ nghĩnh Kìa, ngọn mùng tơi trước gió như một em bé Lá mùng tơi chuyển động được Khoa liên tưởng tới những bài múa mà Khoa được học ở lớp Ngọn mùng tơi được Khoa thổi hồn nên “nhảy múa” tự nhiên Khi cây đến, thì cây lá hả hê vui mừng vì được tắm mát Biện pháp nhân hóa được sử dụng trong bài thơ trên đem lại hiệu quả tu từ rất đắt “Mưa” là một bài thơ hay với nhiều hình ảnh sống động, để lại ấn tương sâu sắc trong lòng người đọc Qua đây, chúng ta thấy Khoa có con mắt nhìn và óc tưởng tượng thật là tinh tế Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” còn có rất nhiều bài thơ sử dụng thành công biện pháp tu từ nhân hóa Bài thơ “Đám ma bác Giun” là một minh họa Ngay từ tiêu đề bài thơ cũng khiến cho ta cảm thấy bị thu hút bởi tò mò Con giun, cái kiến có tâm hồn đâu nhưng Khoa đã nhân hóa chúng, đem lại tâm hồn, tính cách rất riêng cho chúng:

“Bác Giun đào đất suốt ngày Trưa nay chết dưới bóng cây sau nhà

Họ hàng nhà Kiến kéo ra Kiến con đi trước, kiến già theo sau”…

Cái bác Giun hiền lành, chăm chỉ ấy không còn nữa thế là đám ma của bác cử hành khá long trọng, đông đúc kẻ đưa với đầy đủ các lễ nghi cần thiết Nào thì đi trước là kiến con, tiếp đến là kiến già Kiến Đất thì cầm hương Kiến Cánh khoác áo tang tóc khóc người đã mất Kiến Lửa đốt đuốc, Kiến

Trang 32

Kim chống gậy, Kiến Càng nặng vai Đám ma đi qua rất nhiều nơi “qua những vườn chuối, vườn khoai, vườn cà” Họ hàng nhà kiến đưa đám với lòng cảm thương vô hạn Nhưng còn một số thành phần có hành động chẳng đẹp mắt chút nào: Kiến Đen kiếm cớ để uống rượu “la cà”, Kiến Gió cơ hội

“chia phần”…Một xã hội loài vật hiện lên sống động thông qua bút pháp nhân hóa tài tình Bài thơ gây ấn tượng mạnh đối với độc giả Hàn Anh Trúc trong

“Truyện văn” đã có nhận xét khá hay về bài thơ như sau: “Bài thơ “Đám ma bác Giun” rất trẻ con nhưng cái hồn xã hội như được nhập vào đó vừa như huyền ảo, vừa ngụ ngôn, vừa như màn kịch nhỏ, nhưng không mất đi cái dí dỏm thông minh và tinh tế để đạt mức thần đồng”

Biện pháp tu từ nhân hóa đóng vai trò quan trọng trong tập thơ nói chung cũng như trong từng bài thơ nói riêng Nhiều hình ảnh độc đáo, để lại

ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc nhờ biện pháp tu từ nhân hóa Khi

“Gửi bạn Chilê” Khoa viết:

“Ao trường vẫn nở hoa sen

Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu”

Một hình ảnh đẹp hiện lên: “chú dế mèn vuốt râu” Dế là con vật nhưng Khoa đã nhân hóa khiến cho chú dế mang phong thái, tính cách của con người Sen nở hoa còn chú ta ung dung tự tại ngắm cảnh thêm điệu bộ “vuốt râu” thật là hay Không chỉ đơn giản là hình ảnh chú dế mèn ngồi vuốt râu mà còn ẩn chứa trong đó biết bao điều đáng nói Trong gian khổ khó khăn, lửa đạn của kẻ thù giăng đầy thì cũng chẳng thể nào làm nhụt ý chí con người Việt Nam Nhân dân Việt Nam kiên cường, anh dũng trong trong đấu tranh và vẫn có những phút ung dung thư thái đến tuyệt vời Hai câu thơ trên tiêu biểu cho cái “không sợ” của nhân dân Việt Nam đối với giặc Mĩ qua con mắt trẻ

em Những vần thơ Khoa viết đã át đi tiếng bom đạn của kẻ thù

“Bài hát gọi cây lúa” thì lại là lời tâm tình của Khoa Khoa hát ru cho những cây lúa nhanh lớn, nhiều bông, trĩu hạt Chính sự trò chuyện của Khoa

Trang 33

dành cho cây lúa đã khiến cây lúa từ vật vô tri trở nên có hồn Lúa như im lặng nghe lời Khoa hát Những câu hát vang lên: “Hãy là đòng, lúa ơi” “hãy trổ nào, lúa ơi”, “yên lòng nào, lúa ơi”, “hãy chín nào, lúa ơi”…Lúa giống như một em bé được anh chăm sóc bằng những câu hát dịu dàng đưa nôi Một tâm hồn thơ ấu cộng với trí tưởng tượng vô cùng phong phú của Khoa đã tạo ra những hình ảnh sinh động, đáng yêu, diễn đạt trọn vẹn tình cảm của người viết Biện pháp tu từ nhân hóa khiến tập thơ “Góc sân và khoảng trời” trở nên gần gũi, thân thiết đối với học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu học Đọc thơ Khoa, các em học sinh sẽ được rèn luyện vốn ngôn ngữ, trí tưởng tượng, niềm say mê văn học bởi “Góc sân và khoảng trời” là một thế giới tuổi thơ hồn nhiên với nhiều hình ảnh lung linh, ngộ nghĩnh

2.2.2 Biện pháp tu từ ẩn dụ

Ẩn dụ là biện pháp tu từ được Trần Đăng Khoa sủ dụng phổ biến trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” Biện pháp tu từ ẩn dụ khéo léo đã tạo nên một nét hấp dẫn riêng cho tập thơ

“Góc sân và khoảng trời” được Khoa sáng tác khi còn rất nhỏ Những vần thơ của Khoa giản dị, hồn nhiên Đó là thế giới đa cảm của một tâm hồn giàu trí tưởng tượng mà Khoa đem chia sẻ với tất cả mọi người Có lẽ nhiều người yêu thơ Khoa bởi cái dung dị, tự nhiên, chân thật ở từng ý thơ Điều khiến mọi người ngạc nhiên bởi một chú bé tại sao lại có những cách diễn đạt thơ hay đến như vậy Bài thơ “Trông trăng” có một chi tiết khiến độc giả ngạc nhiên rồi mỉm cười với chính sự tưởng tượng kì lạ của chú bé Khoa:

“Em nhảy, trăng cũng nhảy Mái nhà ướt ánh vàng”

Tuổi thơ của Khoa gắn với góc sân, khoảng trời quen thuộc Từ “Góc sân và khoảng trời” ấy Khoa nhìn ra thế giới xung quanh và khám phá biết bao điều thú vị Trăng đối với Khoa như một người bạn thân thiết Trăng nghịch ngợm, nhí nhảnh Trăng hồn nhiên, vô tư Trăng trong con mắt trẻ nhỏ

Trang 34

bao giờ cũng quyến rũ lạ lùng Hình ảnh của trăng thật sống động Tất cả như đang hiển hiện rất rõ ràng: một chú bé vui đùa cùng trăng Trăng – người, người – trăng như giao hòa, đan quyện vào nhau Bất ngờ Khoa có cách nói rất gợi cảm: “Mái nhà ướt ánh vàng” Một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác thật hay Ánh trăng thường được cảm nhận bằng mắt nhưng Khoa lại đem cảm nhận ánh trăng theo một cách riêng: xúc giác Ta thấy ánh trăng như mềm hơn, mượt mà hơn, mát lạnh hơn Tấm lụa trăng trải đầy không gian rộng lớn Mặt nước đẫm ánh vàng Cây cỏ đẫm ánh vàng Mái nhà đẫm ánh vàng Ta thấy đường nét, hình khối của trăng hiện lên rất rõ Và hình như ánh trăng trong thơ Khoa ta cũng có thể cầm được, chạm vào được Cách dùng từ “ướt”

để diễn tả ánh trăng thật đắt và mấy ai có thể sáng tạo được như vậy?

Trong bài “Nghe thầy đọc thơ”, Khoa khéo léo sử dụng tu từ ẩn dụ:

“Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà”

Đó chính là cảm xúc của Khoa khi nghe thầy đọc thơ Tiếng thơ vang xa dội vào lòng người Sức mạnh của “tiếng thơ” thật lớn: “đỏ nắng xanh cây quanh nhà” Ta bắt gặp một ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, từ thính giác “tiếng thơ” chuyển sang thị giác (đỏ nắng, xanh cây) đã làm nổi bật cái hay, cái đẹp của thơ khi được truyền tải qua giọng đọc của người thầy Bình thường thì đỏ, xanh là những tính từ chỉ màu sắc nhưng “đỏ nắng, xanh cây” thì lại là động

từ Tiếng thơ đã tác động đến nắng và cây Tiếng thơ vang lên thì dường như màu nắng, màu lá cây bị chuyển: nắng đỏ lên, cây xanh thêm Bạn đọc dường như cũng cảm nhận được sự chuyển đổi đang diễn ra trước mắt mình Tâm hồn Khoa thật nhạy bén, tinh tế Tiếng thơ còn vang xa, vang mãi Tiếng thơ chất chứa bao nỗi niềm sâu lắng “Nghe thầy đọc thơ” ta thấy như cuộc sống đang dội về:

“Nghe trăng thở động tàu dừa Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời”

Ngày đăng: 17/07/2015, 07:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  trăng  trong  thơ  Trần  Đăng - Hiệu quả nghệ thuật của một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu được sử dụng trong tập thơ góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa (KL03765)
nh ảnh trăng trong thơ Trần Đăng (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w