Lêi c¶m ¬n Để hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp với đề tài Các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5, tôi đã nhận được sự cộng tác nhi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -
ĐÀO THỊ THANH
CÁC BIỆN PHÁP SỬA LỖI DÙNG TỪ, ĐẶT CÂU TRONG BÀI
TẬP LÀM VĂN VIẾT CỦA HỌC SINH LỚP 4 - 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
Th.S LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2011
Trang 2Lêi c¶m ¬n
Để hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp với đề tài Các biện pháp sửa
lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5, tôi đã
nhận được sự cộng tác nhiệt tình của thầy cô giáo và các em học sinh Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo của trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, các cô giáo và học sinh Trường Tiểu học Phù Lỗ A- Sóc Sơn- Hà Nội Đặc biệt, tôi vô cùng cảm ơn Th.S Lê Thị Lan Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi để tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Đào Thị Thanh
Trang 3Lêi cam ®oan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, căn cứ, kết quả có trong bài tập là trung thực
Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Đào Thị Thanh
Trang 4MỤC LỤC
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6 5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7 6 Phương pháp nghiên cứu 7 7 Cấu trúc khóa luận 7 NỘI DUNG 8 Chương 1 Cơ sở lí luận 8 1.1 Một số đặc điểm của từ và câu 8 1.2 Tập làm văn viết ở tiểu học 13 1.3 Phân loại các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh tiểu học 21
1.4 Kết luận 26
Chương 2 Thực trạng các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5 27 2.1 Địa điểm tiến hành điều tra 27
2.2 Phương pháp điều tra 27
2.3 Cách thức tiến hành 27
2.4 Kết quả điều tra 27
Chương 3 Nguyên nhân và các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt
câu trong bài Tập làm văn viết cho học sinh lớp 4 - 5 35
Trang 53.1 Nguyên nhân chung và biện pháp khắc phục 35
3.2 Nguyên nhân và các biện pháp sửa lỗi dùng từ 37
3.3 Nguyên nhân và các biện pháp sửa lỗi đặt câu 39
3.4 Một số biện pháp hạn chế lỗi dùng từ và đặt câu cho học sinh tiểu học lớp 4 – 5 44
KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ 52
1 Kết luận 52
2 Khuyến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới phương pháp và nội dung dạy học của bậc tiểu học với mục tiêu giáo dục toàn diện, các em học sinh được học 9 môn học trong đó môn Tiếng Việt là môn học hết sức quan trọng Nhất là đối với lớp 1,
là lớp đầu cấp, người ta thường nói “cấp 1 là nền, lớp 1 là móng” móng có chắc thì nền mới vững Ở lứa tuổi này các em bắt đầu làm quen với các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Và kĩ năng viết mỗi khi được hình thành ở các em,
nó sẽ theo các em suốt cả cuộc đời không những thế mà để các em phát triển
tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học Hiểu được nghĩa của
tiếng, từ, câu mà mình vừa viết, các em có thể nắm được kho tàng tri thức của
loài người
Để rèn kĩ năng viết cho học sinh, người giáo viên phải dạy tốt các phân môn như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết và Tập làm văn Để viết đẹp và viết đúng, người giáo viên phải chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh khi dạy Tập viết và Chính tả Còn muốn dạy cho học sinh viết đúng và hay thì chúng
ta phải đặc biệt chú ý dạy tốt hai phân môn là Luyện từ và câu và Tập làm văn Trong hai phân môn này thì Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong dạy học Tiếng Việt Nó thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, tư duy và học tập Ngoài ra, việc dạy học Tập làm văn còn có tác dụng rất lớn trong việc hình thành và phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, năng lực tư duy và khả năng nhận xét, đánh giá, bộc lộ cảm xúc của học sinh Hơn nữa, Tập làm văn còn góp phần nuôi dưỡng và phát triển mối quan tâm của các em với sự vật, hiện tượng, con người xung quanh mình Không những thế, nó còn góp phần khơi gợi ở các em lòng yêu cái đẹp và khả năng phát triển ngôn ngữ
Trang 7Trong thực tế dạy học, có rất nhiều bài văn hay của học sinh thể hiện khả năng tái hiện đời sống, tư duy linh hoạt, sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú của các em Tuy nhiên, những lỗi mà các em mắc phải khi làm một bài Tập làm văn cũng không ít, trong đó các lỗi mà học sinh thường gặp nhiều nhất chính là lỗi dùng từ, đặt câu Về phần cá nhân, chúng tôi nhận thấy rằng,
để dạy và học phân môn Tập làm văn được tốt thì việc nghiên cứu các lỗi về dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn của học sinh là công việc rất cần thiết
Nó giúp cho giáo viên cũng như các bậc phụ huynh có thể phát hiện ra những hạn chế của học sinh khi làm bài Tập làm văn, từ đó có phương pháp dạy học Tập làm văn cho các em phù hợp và hiệu quả hơn
Ở Tiểu học, ngay từ lớp 2 học sinh đã được làm quen với môn Tập làm văn qua các bài tập nhỏ về trả lời câu hỏi Tuy nhiên, phải đến lớp 4, lớp 5 các
em mới chính thức được học môn Tập làm văn thông qua việc phát triển các câu trả lời thành đoạn, thành bài văn Thêm vào đó, giai đoạn này các em đã bắt đầu tiếp thu khái niệm về một bài Tập làm văn viết, đồng thời được học tương đối có hệ thống về kỹ năng xây dựng một bài Tập làm văn viết hoàn chỉnh Có thể nói, đây chính là giai đoạn nền tảng để các em có thể học tốt môn Tập làm văn viết ở các cấp học tiếp theo
Chính vì những lí do trên, chúng tôi đã quyết định đi sâu nghiên cứu đề
tài Các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của
học sinh lớp 4 – 5
2 Lịch sử vấn đề
Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng trong dạy học Tiếng Việt
Chính vì vậy, làm thế nào để giúp học sinh viết bài Tập làm văn đạt hiệu quả
cao là một trong những vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”, Nxb Trường ĐHSP Hà Nội 1, Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh,
Trang 8Nguyễn Trí, năm 1995 và cuốn “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học (theo chương trình mới)”, Nxb Giáo dục, Nguyễn Trí, năm 2007 đã đề cập đến việc hình thành, rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh tiểu học thông qua cách luyện viết các văn bản trong môn Tập làm văn, nhưng vẫn chưa đề cập cụ thể đến các lỗi dùng từ, đặt câu và cách khắc phục
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) và Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Tiếng việt thực hành” (năm 1996) – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra một số lỗi câu sai, lấy ví dụ và chữa lại cho phù hợp với văn bản và phong cách giao tiếp Tác giả cũng đề cập đến một số lỗi sai về dùng
từ, cách chữa Tuy nhiên đây chỉ là những lỗi cơ bản chưa cụ thể và vấn đề này được tác giả xem xét trong diện rộng, chưa thật phù hợp đối với cấp tiểu học
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Trí trong cuốn “Dạy Tập làm văn ở trường tiểu học”, Nxb Giáo dục, năm 2000 cũng đề cập đến các vấn đề về lỗi sai mà học sinh tiểu học thường gặp (bao gồm lỗi dùng từ, đặt câu) trong bài Tập làm văn viết Nhưng các vấn đề này chỉ được tác giả xem xét và đưa ra phương pháp dạy học một cách khái quát mà không đưa ra được biện pháp chữa lỗi cụ thể
Tác giả Lê Phương Nga trong cuốn “Dạy học ngữ pháp ở tiểu học” ,Nxb Giáo dục, (năm 1998) đã nêu ra các lỗi câu mà học sinh tiểu học thường mắc phải và đưa ra cách chữa Có thể nói tác giả đã viết rất chi tiết, đầy đủ về lỗi câu của học sinh tiểu học Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến lỗi dùng từ ở học sinh tiểu học
Trong cuốn “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục” (năm 2002) – Nhà xuất bản Khoa học xã hội do tác giả Cao Xuân Hạo (chủ biên) cũng đã viết rất rõ
về các lỗi câu và cách khắc phục Tuy nhiên, ở đây tác giả chỉ khảo sát các lỗi câu trên các phương tiện truyền thông ở thành phố Hồ Chí Minh và cũng không đề cập đến lỗi dùng từ
Trang 9Vấn đề lỗi cấp ở bậc tiểu học cũng được đưa ra trong các bài tập nghiên cứu khoa học và các khóa luận tốt nghiệp như: “Tìm hiểu kỹ năng viết câu của học sinh lớp 4” của Đặng Thị Thu Hà; khóa luận “Tìm hiểu lỗi câu của học sinh tiểu học trong các bài tập làm văn” của Nguyễn Thị Kiên… Song mỗi khóa luận đều xem xét lỗi câu của học sinh tiểu học theo những góc độ, phương tiện khác nhau và cũng đều chưa đề cập đến lỗi dùng từ của học sinh tiểu học
Kế thừa và phát triển các thành tựu nghiên cứu trên, chúng tôi tiến hành
Các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5 để có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề này Tôi không chỉ thống
kê các loại lỗi dùng từ, lỗi câu, tìm cách sửa chữa mà còn đề xuất một số biện pháp để hạn chế lỗi dùng từ đặt câu, rèn kỹ năng dùng từ, đặt câu cho học sinh tiểu cuối cấp
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng các bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5 chúng tôi đã thống kê, khảo sát, phân tích, từ đó tìm ra các lỗi dùng từ, đặt câu mà học sinh thường mắc phải, nguyên nhân và cách chữa các lỗi đó Từ
đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng và dạy học Tiếng Việt nói chung ở Tiểu học
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5 Nguyên nhân và cách chữa các lỗi đó
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận đi sâu vào nghiên cứu các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập
làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5 Nguyên nhân và cách chữa của những lỗi sai đó Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tế ở Trường Tiểu học Phù Lỗ A (Huyện Sóc Sơn- Hà Nội)
Trang 105 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lí luận
5.2 Thực trạng các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5
5.3 Nguyên nhân và các biện pháp sửa các lỗi
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung của khóa luận bao gồm:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Thực trạng các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của
học sinh lớp 4 - 5
Chương 3 Nguyên nhân và các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài
Tập làm văn viết cho học sinh lớp 4 – 5
Trang 11
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Một số đăc điểm của từ và câu
1.1.1 Khái niệm từ và câu
1.1.1.1 Khái niệm từ
Từ là đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ Về mặt ngữ pháp, có thể hiểu từ
là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và hoạt động tự do trong câu [ 5; 16 ]
Từ có những đặc điểm:
- Có hình thức âm và ý nghĩa
- Có tính sẵn có, cố định, bắt buộc
- Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ
Từ là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ Nhưng nó lại là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu, là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất để tạo câu
Từ chứa đựng rất nhiều thông tin Trong những thông tin ngôn ngũa của từ, những thông tin về sự vật, hiện tượng… được biểu thị và những thông tin về khả năng tổ chức câu là cơ bản
Từ có hai chức năng cơ bản:
- Chức năng biểu nghĩa (biểu thị sự vật, hiện tượng…)
- Chức năng tạo câu
Tóm lại, từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt nhỏ nhất để tạo câu
1.1.1.2 Khái niệm câu
Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp tự lập và có ngữ điệu kết
Trang 12thúc mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn kèm theo thái độ của người nói hoặc biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất [ 6; 2 1 ]
Câu là đơn vị dùng từ đúng hơn là dùng ngữ mà cấu tạo bên trong quá trình tư duy thông báo, nó có nghĩa là hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp , có tính chất độc lập [ 4; 8 ]
Câu là một tập hợp từ được nối với nhau để diễn tả một ý tưởng tương đối trọn vẹn Khi nói phải ngắt giọng với câu, khi viết phải đánh dấu cuối câu bằng một trong các dấu “.”, “?”, “!” [ 7; 36 ]
Có rất nhiều định nghĩa về câu, từ những định nghĩa trên ta đi đến một định nghĩa tương đối đậy đủ về câu: Câu là một đơn vị ngôn ngữ được cấu tạo bằng một cụm từ chứa đựng một nòng cốt cú pháp nhất định, diễn tả một nọi dung thông báo hoàn chỉnh và có quan hệ với thực tế khách quan
Như vậy, câu gồm các yếu tố:
- Yếu tố hình thức: Có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài có tính chất tự lập và có một ngữ điệu kết thúc
- Yếu tố nội dung: Câu có nội dung là một tư tưởng tương đối trọn vẹn
và có thể kèm theo thái độ của người nói hay nội dung là thái độ, tình cảm của người nói
- Yếu tố chức năng: Câu có chức năng hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Nó là đơn vị thông báo nhỏ nhất
1.1.2 Quy tắc sử dụng từ
1.1.2.1 Dùng từ phải đúng âm thanh và hình thức cấu tạo
Từ là một đơn vị có nhiều bình diện, trong đó không thể thiếu mặt âm thanh và hình thức cấu tạo Trong chữ viết của ta, thú chữ theo nguyên tắc ghi
âm, âm thanh và hình thức cấu tạo của từ được ghi lại bằng các chữ cái Cho nên, khi viết văn bản cần ghi lại đúng âm thanh và hình thức cấu tạo của từ
Trang 13được sử dụng Nếu không sẽ không biểu hiện được chính xác và không làm cho người đọc văn bản lĩnh hội được chính xác nội dung, ý nghĩa
- Nghĩa của từ bao gồm cả nghĩa đen, nghĩa bóng (nghĩa chuyển đổi, nghĩa phát sinh) Đậy là hiện tượng nhiều nghĩa của từ Khi muốn sủ dụng một từ theo cách chuyển đổi ý nghĩa, cần phải dựa vào nghĩa đen, nghĩa gốc của từ, giữ được mối liên hệ với nghĩa gốc Nếu không việc dùng từ sẽ mắc lỗi
1.1.2.3 Dùng từ phải đúng về quan hệ kết hợp
- Các từ khi được dùng trong câu, trong văn bản luôn luôn có mối quan
hệ với nhau về ngữ nghĩa và ngữ pháp Chúng nằm trong mối quan hệ với những từ đi trước và những từ đi sau Các mối quan hệ này có thể có cơ sở ngay trong bản chất ngữ nghĩa - ngữ pháp của mỗi từ và nó được thể hiện ra bằng sự kết hợp giữa các từ Vì thế, khi dùng từ trong văn bản cần thiết lập cho đúng các quan hệ kết hợp của các từ, vì các quan hệ này do bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp của các từ quy định Nếu không sẽ mắc lỗi khi dùng từ
1.1.2.4 Dùng từ phải đúng phong cách ngôn ngữ
- Mỗi phong cách ngôn ngữ văn bản được sử dụng trong một phạm vi nhất định của cuộc sống xã hội và nhằm thực hiện một chức năng nhất định, hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định Do đó, mỗi phong cách văn bản đòi hỏi và cho phép việc dùng những nhóm từ nhất định, nghĩa là từ trong mỗi phong cách văn bản mang những đặc điểm nhất định Vì thế, khi dùng từ trong văn bản cần ý thức rõ về phong cách văn bản để dùng từ cho đúng và phù hợp Nếu không sẽ mắc lỗi về phong cách
Trang 141.1.2.5 Dùng từ phải đảm bảo tính hệ thống của văn bản
1.1.2.6 Dùng từ cần tránh hiện tượng lặp, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng công thức
- Văn bản trong giao tiếp cần cô đọng, vừa đủ về dung lượng Do đó trong việc dùng từ cần tránh hiện tượng thừa từ hoặc lặp từ khi không cần thiết
- Viết văn bản cũng cần tránh bệnh dùng từ sáo rỗng, công thức Dẫn đến những câu văn “đao to búa lớn” mà chung chung, nghèo nàn
1.1.3 Quy tắc thành lập câu
1.1.3.1 Cấu tạo câu của tiếng Việt
- Thành phần nòng cốt: “Nòng cốt câu” là cụm từ chủ - vị làm cơ sỏ cho câu đơn hai thành phần Chính “nòng cốt câu” giúp ta nhận diện được loại câu này
a Chủ ngữ: là một trong hai thành phần chính của câu Nó thường đứng đầu câu nêu lên người hoặc vật được nói đến trong câu
b Vị ngữ: là một trong hai thành phần chính của câu Nó nêu lên ý nghĩa nhận xét, đánh giá, miêu tả về người hoặc sự vật được nói đến ở chủ ngữ
c Thành phần phụ: ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, câu còn có các thành phần phụ khác như: Bổ ngữ, Định ngữ, Trạng ngữ… bổ sung ý nghĩa cho các thành phần cấu tạo nên câu
- Định ngữ: là thành phần phụ đi kèm danh từ và nêu lên những đặc trưng của sự vật do danh từ biểu thị
- Bổ ngữ: là thành phần phụ bằng thực từ đi kèm vị từ (động từ, tính từ)
để chỉ các đối thể chịu tác động trực tiếp hay gián tiếp của đặc trưng nêu ở vị
từ, hoặc chỉ các chủ đề gắn liền với đặc trưng nêu ở vị từ và đứng sau vị từ, hoặc chỉ các đặc trưng phụ thêm vào đặc trưng nêu ở vị từ
Thành phần phụ của câu còn có: trạng ngữ, đề ngữ, phụ ngữ câu, giải ngữ câu, liên câu
Trang 151.1.3.2 Yêu cầu về câu trong văn bản
Câu cũng như bất cứ đơn vị ngôn ngữ nào khác, trong quá trình hành chức bị chi phối bởi hai quan hệ:
- Quan hệ hướng nội
- Quan hệ hướng ngoại
1.1.3.2.1 Câu xét theo quan hệ hướng nội:
a Phải viết đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt
- Cụm danh từ: số từ, loại từ, danh từ, định ngữ, định từ chỉ định
- Cụm động từ: phụ từ chỉ thời gian, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, tính từ chỉ cách thức của hành động, phụ từ chỉ ý kết thúc
- Cụm tính từ: phụ từ chỉ mức độ, tính từ
* Trong phạm vi câu:
- Trật tự giữa hai thành phần nòng cốt: chủ ngữ trước, vị ngữ sau
- Trật tự các thành phần khác:
+ Trạng ngữ (tùy theo điều kiện khách quan và dụng ý của người nói)
có thể ở đầu, giữa, hoặc cuối
+ Đề ngữ: ở đầu câu
+ Thành phần chuyển tiếp thường đứng đầu câu: “nói tóm lại” “tóm lại”, “cuối cùng”…
Trang 16+ Phần hô và đáp: đầu và cuối câu
b Câu phải có quan hệ ngữ nghĩa phù hợp với tư duy người Việt
Tức là, các nét nghĩa trong câu không mâu thuẫn nhau, thể hiện:
- Phản ánh đúng quan hệ trong thế giới khách quan
- Quan hệ giữa các thành phần câu, các vế câu phải hợp logic
- Quan hệ giữa các thành phần đẳng lập là quan hệ đồng loại (cùng một phạm trù ngữ nghĩa)
c Câu phải có thông tin mới: đây là một yêu cầu đủ để đặt câu đúng
d Câu phâỉ đánh dấu câu phù hợp: đây là yêu cầu quan trọng để làm cho các quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa được tách bạch, rõ ràng, tránh cho người đọc có thể hiểu sai ý nghĩa của câu (“.”, “?”, “…”, “,”, “!”)
1.1.3.2.2 Câu xét theo quan hệ hướng ngoại
Do câu là một đơn vị cấu thành văn bản nên việc tạo câu chịu sự chi phối của tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung, hình thức văn bản:
- Câu đặt ra phải phục vụ cho mục đích giao tiếp của văn bản
- Phải phù hợp với quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp
- Phải phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
1.2 Tập làm văn viết ở tiểu học
1.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh tiểu học
Trẻ em là một thực thể hồn nhiên, vô tư và tiềm tàng khả năng phát triển Các em tiếp xúc với xung quanh, với xã hội và đánh giá, nhận xét mối quan hệ đó theo chuẩn mực của bản thân Tất cả hiện tại và tương lai trước mắt các em vừa đơn giản nhưng cũng hết sức bí ẩn và hấp dẫn đối với các em
Dạy Tập làm văn cho học sinh tiểu học là cần thiết, phù hợp với tâm lí của trẻ: ưa tìm tòi, thích quan sát, khám phá và nhận xét cuộc sống xung quanh
Trước khi đến trường, trẻ đã được tiếp xúc với những đoạn văn miêu tả qua lời kể chuyện hay những khúc hát ru của bà, của mẹ…Nó hấp dẫn và kích thích trí tưởng tượng của các em về thế giới xung quanh
Trang 17Bước vào lớp 1, các em tiếp tục thu nhận thêm vốn sống, tích lũy kinh nghiệm bằng việc quan sát một cách tỉ mỉ, rõ ràng những sự vật, hiện tượng xung quanh và thể hiện những nhận thức của mình cho người khác biết như: Lớp học của em gồm những ai? Đặc điểm của mỗi bạn thế nào? Cô giáo em trông thế nào?
Tuy nhiên, sang đến giai đoạn lớp 4, lớp 5 các em mới thực sự được học môn Tập làm văn theo đúng nghĩa Lúc này, các em đã có vốn sống nhất định, đã bước đầu biết phân tích mối quan hệ giữa người với người trong những môi trường khác nhau, có thể thể hiện những sự kiện mà các em đã quan sát thấy trong cuộc sống bằng ngôn từ của chính các em
Mặt khác, bước vào giai đoạn này (thời kì từ 9 đến 10 tuổi), sự cân bằng trong cơ thể trẻ đang bị phá vỡ, các em dễ xúc động cao Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến cho trẻ ở độ tuổi này có sự thay đổi đáng kể Nếu như ở giai đoạn trước, hoạt động sáng tạo mà trẻ yêu thích là vẽ thì ở giai đoạn này lại là hoạt động sáng tạo bằng lời Ở giai đoạn này, trẻ yêu thích sáng tạo văn học, điều này thể hiện qua những trang văn miêu tả của các em Những trang văn của trẻ là một thế giới trong sáng vô ngần mà ở đó ta sẽ thấy những cái vừa đơn giản vừa mới lạ, hiểu và sẻ chia những cảm xúc, những rung động, những lời đề nghị hết sức thân ái và xúc động mà đôi khi chúng ta không để ý, thờ ơ…
1.2.2 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở tiểu học
1.2.2.1 Vị trí của phân môn Tập làm văn ở tiểu học
Những lời được chúng ta nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp với nhau gọi
là ngôn bản Hoạt động lời nói gồm hai bình diện: sản sinh (tạo lập) và tiếp nhận (hiểu) ngôn bản Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản Nó có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ
đẻ Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các
Trang 18kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp Như vậy, phân môn Tập làm văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập
1.2.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn
Sản phẩm của Tập làm văn là các ngôn bản ở dạng nói và dạng viết theo các dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định, nói cách khác, mục đích của Tập làm văn là tạo lập được ngôn bản Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là giúp cho học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chương trình quy định, nói cách khác, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các bộ phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời dưới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là cung cấp cho học sinh những kiến thức và hình thành, phát triển ở các em những kĩ năng này Ở tiểu học, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lời nói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả
Ngoài các kĩ năng chung để viết văn bản, mỗi loại văn bản cụ thể đòi hỏi có những kĩ năng đặc thù Ví dụ, để viết văn bản miêu tả cần có kĩ năng quan sát, kĩ năng diễn đạt một cách có hình ảnh; để viết các văn bản kể chuyện cần có kĩ năng xây dựng cốt truyện và nhân vật, kĩ năng lựa chọn các tình tiết… Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn luyện những kĩ năng này
Trang 19Ngoài nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngôn bản, phân môn Tập làm văn đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh
Phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng: từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năng hào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân vật, cốt truyện Khả năng tư duy lôgic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn… Quá trình sản sinh văn bản cũng giúp cho học sinh có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn
Để giao tiếp phải có thái độ đúng đắn đối với đối tượng giao tiếp Phân môn Tập làm văn khi dạy các nghi thức lời nói cũng đồng thời dạy cách cư xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Để viết văn cần có hiểu biết và tình cảm với đối tượng được viết, vì vậy phân môn Tập làm văn
đã tạo cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và vạn vật xung quanh: từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời, một em bé bị ngã, một người phụ nữ đang gặp khó khăn đến một chú
gà trống, một đồ vật đã từng gắn bó… Từ đây tâm hồn và nhân cách của các
em sẽ được hình thành và phát triển
1.2.3 Chương trình phân môn Tập làm văn ở tiểu học
Ở lớp 1 chưa có tiết Tập làm văn cũng chưa có phân môn Tập làm văn riêng những kĩ năng nói được hình thành cho học sinh một cách tích hợp thông qua bước luyện nói của giờ Học vần và phần luyện nói sau bài tập đọc
Ở lớp 2 và lớp 3, mỗi tuần có một tiết Tập làm văn, ở lớp 4 và lớp 5 có hai tiết mỗi tuần (không kể các tuần ôn tập) Ở lớp 2 và lớp 3, các kĩ năng nói, viết chỉ được hình thành thông qua các bài tập thực hành Ngoài các bài tập thực hành, ở lớp 4 và lớp 5 còn có các kiến thức lý thuyết được học thành bài riêng Đó là các kiến thức về các thể loại văn chương như kể chuyện, miêu tả, các loại văn bản khác như viết thư, trao đổi ý kiến…
Trang 20Để hình thành kiến thức và kĩ năng Tập làm văn, chương trình bao gồm hai mảng lớn: luyện nói và luyện viết
Luyện nói được chia thành nói trong hội thoại và độc thoại thành cụm câu có liên kết thành đoạn bài Nói trong hội thoại có hai hình thức lớn là nói trong các tình huống theo các nghi thức ứng xử như chào, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, mời và trả lời câu hỏi Độc thoại thành đoạn bài có thể chia thành hai dạng lớn là: độc thoại giới thiệu về bản thân, gia đình, trường học, quê hương Đậy là dạng độc thoại mà sau này sẽ phát triển thành kiểu bài thuyết minh ở lớp trên Dạng thứ hai là độc thoại có các yếu tố của tường thuật (về các hoạt động đã chứng kiến, tham gia), của kể chuyện, của miêu tả Dạng độc thoại này vừa có mục đích luyện nói vừa là bước chuẩn bị cho nội dung dạy học luyện viết
Luyện viết gồm có viết lời hội thoại và viết thành đoạn bài Viết lời hội thoại có hai dạng: điền lời thoại phù hợp vào chỗ trống để hoàn chỉnh cặp thoại và viết câu trả loài câu hỏi Viết thành đoạn bài được chia thành hai mảng lớn là viết văn bản nhật dụng và văn bản nghệ thuật Các văn bản nhật dụng bao gồm: tự thuật, danh sách học sinh, mục lục sách, tin nhắn, đơn từ, báo cáo… Các văn bản nghệ thuật được dạy viết ở chương trình Tập làm văn bao gồm kể chuyện, miêu tả và một số bài yêu cầu chuyển từ kể chuyện thành đoạn hội thoại (văn bản kịch)
Viết thư được xem là hình thức trung gian giữa văn bản nhật dụng và nghệ thuật cũng được dạy ở tiểu học
Những nội dung dạy học trên được phân bố theo các lớp như sau:
Ở lớp 1, kĩ năng nói được hình thành ở cả hai dạng: hội thoại và độc
thoại Trong bài Học vần, hội thoại theo chủ đề gắn với tên gọi chứa âm vần trong bài học vần đang học Xếp các bài tập luyện nói theo chủ đề trong giờ học vần vào hội thoại chỉ là tương đối vì nhiều khi học sinh phải nói cả lời độc thoại
Trang 21Trong phần luyện tập tổng hợp học kì 2, hội thoại gắn với bài tập đọc bao gồm các đề tài luyện nói sau: hỏi nhau về trường lớp, hỏi nhau về việc làm buổi sáng, tập nói lời chào, hỏi nhau về nghề nghiệp của bố, hỏi nhau bạn
có làm nũng bố mẹ không, hỏi nhau vì sao bạn thích đi học, hỏi đáp về những con vật mà em biết, hỏi đáp về các loài cậy, trò chuyện về mưa, nói lời chào hỏi của mình, hỏi nhau bạn đã làm gì để bảo vệ các loài chim
Dạng độc thoại bắt đầu được dạy trong phần luyện tập tổng hợp học kì 2
Đó là các bài tập yêu cầu nói về một đề tài (có thể có sự hỗ trợ của tranh vẽ hoặc chỉ có đề bài) Các chủ đề độc thoại gồm: nói về quyển vở của em, nói
về ngôi nhà em mơ ước, nói về hoa sen, nói về những con vật em yêu thích, hãy kể với cha mẹ hôm nay ở lớp em đã ngoan như thế nào, kể về một người bạn tốt của em, hàng ngày từ ngưỡng cửa nhà mình em đi những đâu, em thường chơi với anh chị em những trò chơi gì, kể tên những cây được trồng ở sân trường em, kể về anh chị của em, kể về ông bà của em, nói về các con vật
em biết Ngoài ra, phần luyện nói ở lớp 1 còn có dạng bài tập đặc biệt gắn với nội dung học vần là nói câu có tiếng chứa vần đã cho Loại bài tập này chỉ yêu cầu về hình thức âm thanh mà không yêu cầu về nội dung câu nói
Ở lớp 2, nội dung dạy học Tập làm văn được chia thành 3 phần: Dạy
các nghi thức lời nói, kĩ năng làm việc và cách tổ chức đoạn bài
- Dạy các nghi thức lời nói thực chất là luyện nói lời hội thoại
- Kĩ năng làm việc thực chất là kĩ năng viết một số văn bản thông thường và một vài kĩ năng học tập
- Cách tổ chức đoạn bài là tên gọi của những bài tập Tập làm văn có tính chất tổng hợp hai kĩ năng nói, viết Chúng không chỉ là những bài tập sản sinh ngôn bản mà còn bao gồm cả những bài tập tiền sản sinh ngôn bản như những bài tập của phân môn Luyện từ và câu
Ở lớp 3, chương trình dạy học Tập làm văn bao gồm những nội dung sau:
Trang 22- Nói, viết phục vụ cuộc sống hàng ngày (sản sinh văn bản thông thường)
- Kể chuyện: kể những câu chuyện đã nghe, kể những câu chuyện trong cuộc sống hàng ngày mình đã chứng kiến hoặc trải qua
- Nói theo chủ đề: nói về quê hương, dựa vào tranh nói về cảnh đẹp của nước ta, giới thiệu về trường và hoạt động của trường, nói về thành thị hoặc nông thôn
Ở lớp 4, chương trình Tập làm văn có các nội dung nói, viết theo các
kiểu bài sau:
- Nói, viết phục vụ cuộc sống hàng ngày
- Viết bài văn kể chuyện (19 tiết)
- Viết bài văn miêu tả (30 tiết), trong đó miêu tả đồ vật 10 tiết, miêu tả cậy cối 10 tiết, miêu tả sự vật 10 tiết
Ở lớp 4, nội dung Tập làm văn có thêm cả những kiến thức lí thuyết
Đó là những kiến thức sơ giản về văn bản (kết cấu 3 phần: mở đầu, phần chính, kết thúc), đặc điểm và phương pháp làm bài theo thể loại
Ở lớp 5, chương trình Tập làm văn bao gồm những kiểu bài sau:
- Nói, viết phục vụ cuộc sống hàng ngày gồm 16 tiết
- Tả cành (19 tiết)
- Tả người (16 tiết) Ngoài ra, chương trình còn có loại bài luyện viết lời hội thoại và những bài ôn tập văn tả đồ vật, cây cối, con vật và kể chuyện đã được học ở lớp 4
Ngoại phần thực hành, chương trình Tập làm văn lớp 5 còn có cả phần
lí thuyết Đó là lí thuyết về văn tả người, tả cảnh
1.2.4 Các dạng bài tập Tập làm văn viết ở tiểu học
Bài tập Tập làm văn viết (hay còn gọi là bài tập luyện viết) ở Tiểu học được chia thành bài tập viết lời hội thoại và viết thành đoạn bài Viết lời hội thoại được chia thành hai dạng: điền lời chọn phù hợp vào chỗ trống (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, yêu cầu) và viết câu trả lời câu hỏi
Trang 23Bài tập viết thành đoạn bài gồm có bài tập viết văn bản nhật dụng và bài tập viết văn bản nghệ thuật
1.2.4.1 Bài tập luyện viết văn bản nhật dụng
Các văn bản nhật dụng được dạy viết ở tiểu học bao gồm văn bản tự thuật, danh sách học sinh, mục lục sách, đơn, nhắn tin, thông báo, điện báo, thời khóa biểu, biên bản, báo cáo
- Để điền viết những văn bản thông thường như đơn, điện báo, học sinh phải nắm chắc các mẫu và các thông tin cần điền vào các chỗ trống Trong đơn có những mục học sinh chỉ cần có thông tin (ví dụ như họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ của mình…) rồi điền hoàn toàn như mẫu Nhưng có những nội dung các em không thể viết hoàn toàn như mẫu, ví dụ phần lí do viết đơn, bày tỏ nguyện vọng, lời hứa riêng Trong điện báo, họ tên, địa chỉ người nhận, người gửi (phần người gửi có thể không ghi) phải điền đúng, chính xác, cụ thể Còn nội dung điện cần ghi tóm tắt nhưng đủ ý nhằm giúp cho người nhận điện hiểu được
- Thư cũng có thể được xem là một văn bản thông thường nhưng những nội dung trong thư phong phú hơn Đó có thể là thư thăm hỏi, thư làm quen, thư kể việc Cho nên trong các văn bản thông thường, thư tạo điều kiện cho học sinh sáng tạo, viết nhiều ý riêng của mình Để viết được một bức thư hay, học sinh cần thể hiện tình cảm tha thiết, sự quan tâm đối với người nhận thư Lời lẽ trong thư phải phù hợp với “vai” người viết
1.2.4.2 Bài tập luyện viết văn bản nghệ thuật
Hai dạng văn bản nghệ thuật được dạy trong chương trình tiểu học là kể chuyện và miêu tả:
- Kể chuyện là nói có đầu có cuối về một người, một việc nào đó nhằm nêu lên một điều gì đó có ý nghĩa Để viết bài văn kể chuyện, học sinh phải xác định được cốt truyện bao gồm những sự việc gì, diễn biến và kết thúc ra
Trang 24sao Các nhân vật trong truyện có hành động, lời nói, ý nghĩ, tình cảm như thế
nào Một bài văn kể chuyện hay phải bộc lộc được một cách tường minh chủ
ý của người kể, có cốt truyện rõ ràng, có nhân vật xác định với những đặc
điểm, tính cách rõ nét, lời kể hấp dẫn
- Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm
cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật,
cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống Một bài văn miêu tả hay
không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà
còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc, đánh gí của người viết với đối
tượng được miêu tả Bởi vì trong thực tế không ai tả để mà tả, mà thường tả
để gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể
của mình Các bài văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà
các em yêu mến, thích thú Vì vậy, qua bài làm của mình, học sinh phải gửi
gắm tình yêu thương của mình với những gì mình miêu tả
1.3 Phân loại các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học
sinh Tiểu học
1.3.1 Các lỗi về dùng từ
1.3.1.1 Lặp từ
Việc lặp đi lặp lại một từ trong câu hay trong những câu liền kề nhau
khiến cho câu văn, đoạn văn trở nên nặng nề Nó chứng tỏ sự nghèo nàn về
vốn từ của người viết và được coi là một lỗi dùng từ Lỗi lặp từ này khác với
biện pháp điệp từ, điệp ngữ để tăng thêm hiệu quả biểu đạt
Ví dụ: Qua bức thư của Lan cho tớ thấy Lan học rất giỏi
Em thích nhất là mùa hè Mùa hè có ánh nắng mặt trời chói chang,
rực rỡ Mùa hè có tiếng ve kêu râm ran trên những cành phượng đỏ
Bên cạnh dạng lỗi lặp nguyên vẹn một từ như ví dụ trên ta còn gặp hiện
tượng sử dụng trong cùng một câu những từ đồng nghĩa với nhau làm thành
Trang 25phần đồng chức thể hiện ý nghĩa liệt kê lựa chọn hay tương phản Đây cũng là lỗi lặp từ
Ví dụ: Em thấy mình ngày càng trưởng thành và lớn lên
Xuân đến, cây cối trong vườn nở rất nhiều cành hoa
Con đường đã xiên suốt từ Bắc tới Nam
1.3.1.3 Lỗi kết hợp từ
Lỗi kết hợp từ gồm các trường hợp cụ thể sau:
Các từ kết hợp với nhau không đúng với bản chất ngữ pháp của chúng, do đó câu văn sai lạc về nghĩa
Ví dụ: Em luôn chăm sóc và bắt sâu cho cây để cây không bị mắc và
chết sâu bệnh
Các từ phối hợp với nhau không đúng quan hệ ngữ nghĩa
Ví dụ: Chiếc bút mực Thiên Long trông như là bạn thân thiết của em
Có khi việc dùng thiếu hụt từ lại làm cho các từ khác kết hợp với nhau không đúng
Ví dụ: Khi già, tóc bà chuyển sang màu bạc trắng rụng xuống
Có trường hợp dùng thừa các quan hệ từ, không đúng với đặc điểm kết hợp của từ
1.3.1.4 Lỗi dùng từ không hợp phong cách
Dùng từ không hợp phong cách nghĩa là chọn từ không phù hợp với văn cảnh, hoàn cảnh giao tiếp hoặc thể loại văn bản
Ví dụ: Thân cây không to, không bé mà thon thả
Trang 26Nếu ngày sinh nhật mẹ mà có một lọ hoa thì đẹp mê ly đấy nhỉ
Câu tục ngữ rất ý nghĩa đã đi vào lòng người, giúp em tỉnh ngộ
1.3.2 Các lỗi đặt câu
1.3.2.1 Lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu
Lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu là lỗi thuộc về cấu trúc như thiếu hoặc thừa thành phần câu, không phân định các thành phần câu hoặc sắp xếp sai các thành phần câu
Những câu thiếu thành phần vị ngữ là những câu chỉ có một ngữ danh
từ (xét trong quan hệ với các câu trước và sau nó cũng không có nghĩa rõ rang nên không được xem là câu đặc biệt)
Ví dụ: Tiếng cười nói rộn rã của mọi người trên đường ra đồng
c.Câu thiếu thành phần chủ ngữ và vị ngữ
Những câu được xem là thiếu hai thành phần chính là những câu chỉ có
bộ phận trạng ngữ và cũng không nối được với câu tiếp theo sau để tạo thành một câu mới có trạng ngữ
Ví dụ: Khi những đoàn thuyền kéo nhau ra khơi
1.3.2.1.2 Câu thừa thành phần
Câu thừa thành phần là những câu có thành phần lặp lại một cách không cần thiết làm cho câu văn lan man, lủng củng
Trang 27Ví dụ: Khi chin, xoài có màu vàng, mùi thơm ngào ngạt và ăn thì rất
ngọt ngọt Em rất thích ăn xoài vì nó rất ngọt và thơm
1.3.2.1.3 Câu không phân định thành phần
Câu không phân định thành phần là những câu về cấu tạo khó xác định các bộ phận câu kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ pháp nào đó Câu không xác định thành phần có thể ngắn, có thể dài, càng dài càng lủng củng Về ý nghĩa, mối quan hệ giữa các bộ phận câu không rõ ràng, chính xác, không lôgic do đó các câu tối nghĩa và vô nghĩa Có thể liệt kê các lỗi câu không phân định thành phần như sau:
Câu không xác định được thành phần
Ví dụ: Không hôm nào mẹ em còn sót bông hoa nào để mang về
Câu sai nghĩa là những câu chứa đựng nội dung không phù hợp với hiện thực khách quan
Ví dụ: Những cây cột điện nối chằng chịt trên đường
1.3.2.2.2 Câu không rõ nghĩa
Câu không rõ nghĩa là những câu đúng về mặt cấu tạo ngữ pháp, nghĩa
là có đủ hai thành phần chính, đúng về quan hệ ngữ nghĩa, nhưng thật ra câu còn thiếu các thành phần phụ như bổ ngữ, định ngữ cần thiết phải có để phụ cho một động từ, danh từ nào đó trong câu không được thể hiện đầy đủ, gây
ra hụt hẫng cho người đọc
Ví dụ: Thỉnh thoảng lại có tiếng lộp bộp của xe đạp và xe máy
Trang 281.3.2.2.3 Câu không có sự tương hợp giữa các vế câu
Lỗi không tương hợp giữa các vế câu thường xuất hiện ở các câu ghép
có quan hệ từ Ở những câu ghép đúng, các quan hệ từ và các cặp quan hệ từ luôn có sự tương hợp với mối quan hệ ngữ nghĩa trong các vế câu Khi sự tương hợp này bị phá vỡ sẽ tạo ra các câu sai
Ví dụ: Tuy trời rất nóng nhưng cây ổi vẫn ra quả
1.3.2.2.4 Câu có thành phần không đồng chức không đồng loại
Ví dụ: Sách giáo khoa dùng để đọc hoặc làm bài tập và rất dễ bị rách
1.3.2.3 Lỗi về dấu câu
Lỗi dấu câu có thể chia thành hai loại: lỗi không dùng dấu câu và lỗi dùng dấu câu sai
1.3.2.3.1 Lỗi không dùng dấu câu
Những lỗi câu sai do không dùng dấu câu ở những chỗ cần thiết được gọi là lỗi không dùng dấu câu Thường học sinh mắc lỗi do không sử dụng dấu chấm kết thúc câu và dấu phẩy ngăn cách các thành phần câu Có những bài viết không hề dùng một dấu câu nào Việc không sử dụng dấu câu sẽ gây khó khăn cho giao tiếp, nội dung cần truyền đạt sẽ không đến được với người đọc, ý muốn diễn tả của người viết cũng khó có thể xác định được
Ví dụ: Em rất hay tưới cây để cây đỡ chết bà em và em rất thích cây xoài
1.3.2.3.2 Lỗi sử dụng dấu câu sai
Lỗi sử dụng dấu câu sai là lỗi của những câu đã sử dụng dấu câu khi không cần thiết hoặc đáng lẽ phải dùng dấu câu này lại dùng dấu câu khác (lẫn lộn chức năng của các dấu câu)
Ví dụ: Tớ được năm con mười rồi?
Mùa đông chim chóc, và ong, bướm không còn bay lượn nhiều nữa 1.3.2.4 Lỗi ngoài câu
Có những câu văn nếu xét về cấu tạo ngữ pháp thì không sai, nếu xét về nghĩa một cách cô lập tách khỏi văn bản cũng không sai nhưng đặt vào trong
Trang 29văn bản thì nó không thể đứng được Những lỗi câu đó được gọi là lỗi ngoài câu, tức là lỗi câu khi xét câu theo quan hệ hướng ngoại Các lỗi ngoài câu được chia làm ba nhóm sau:
1.3.2.4.1 Lỗi câu không phù hợp với câu khác trong văn bản
Lỗi câu không phù hợp với câu khác trong văn bản là những câu lạc chủ đề hoặc những câu lặp với câu khác trong văn bản làm cho đoạn văn lủng củng, trùng lặp, nhàm chán, không phát triển được
Ví dụ: Chiếc cặp của em có hình chữ nhật Quai cặp có màu hồng Nó
là quà sinh nhật bố tặng cho em Nó có nhiều ngăn nhỏ Mặt trước có in
hình chú mèo rất dễ thương
1.3.2.4.2 Lỗi câu không phù hợp với nhân vật giao tiếp
Ví dụ: Khi xoài chín, mẹ em vứt sang cho ông bà nội một rổ, còn lại
mẹ đem bán và để nhà ăn
1.3.2.4.3 Lỗi câu không phù hợp với phong cách
Ví dụ: Cuối bài văn viết thư kể về ước mơ của mình một học sinh có viết:
Người làm đơn Chị của em Trang
1.4 Kết luận
Qua chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu những vấn đề về đặc điểm của từ
và câu, quy tắc thành lập câu, quy tắc sử dụng từ Đây là một trong số những vấn đề rất quan trọng để thấy được những quy tắc chuẩn và các lỗi mà học sinh dễ nhầm lẫn Từ đó làm cơ sở khoa học để nghiên cứu khảo sát thực trạng các lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết của học sinh lớp 4 - 5
và tìm ra các nguyên nhân, biện pháp khắc phục Qua đó góp phần nâng cao khả năng dùng từ, đặt câu trong bài Tập làm văn viết cho học sinh lớp 4 – 5
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC LỖI DÙNG TỪ, ĐẶT CÂU TRONG BÀI TẬP LÀM VĂN VIẾT CỦA HỌC SINH
LỚP 4 - 5
2.1 Địa điểm tiến hành điều tra
Để nắm bắt được tình hình cụ thể các lỗi trong bài văn miêu tả của học sinh, chúng tôi đã tiến hành điều tra tại Trường Tiểu học Phù Lỗ A, Huyện Sóc Sơn, Hà Nội
2.2 Phương pháp điều tra
Chúng tôi đã phối hợp nhiều phương pháp khác nhau khi thu thập tài liệu và số liệu Các phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp khảo sát: đọc, chấm trực tiếp bài văn viết của học sinh lớp 4A2 và lớp 5A2
- Phương pháp thu thập tài liệu: mượn và photo các bài văn của học sinh khối lớp 4 - 5 để lấy tài liệu
- Phương pháp điều tra thực tế: thống kê các lỗi
2.3 Cách thức tiến hành
Chúng tôi đã thu các bài tập làm văn viết của học sinh, chấm và thống
kê các lỗi dùng từ, đặt câu theo chỉ số:
- Các lỗi dùng từ
- Các lỗi đặt câu
2.4 Kết quả điều tra
2.4.1 Kết quả thống kê và phân loại
Chúng tôi thực hiện điều tra ở khối lớp 4 -5 tại Trường Tiểu học Phù
Lỗ A với 150 bài tập làm văn viết của học sinh khối 4, 150 bài tập làm văn viết của học sinh khối 5 và thống kê các lỗi trong bài văn viết của học sinh được kết quả như sau:
Trang 31Ví dụ 1: Hoa cúc đẹp thế nên ong bướm bay lượn đến cây hoa cúc nhà
em rất nhiều
(Phạm Lương Huy Minh – Lớp 4A2)
Ví dụ 2: Qua bức thư của Lan cho tớ thấy Lan học rất giỏi
(Nguyễn Bích Ly – Lớp 4A4)
Từ đây cũng có thể thấy, ở khối 4, học sinh mắc các lỗi về dùng từ không đúng nghĩa, kết hợp từ và dùng từ không đúng phong cách thì ít hơn (chiếm 28,5% tổng số lỗi dùng từ) Nguyên nhân là do từ các lớp dưới, các
em đã được rèn luyện kỹ năng tích lũy từ và dùng từ thuần thục
Trang 32Bảng 2 Các lỗi dùng từ của khối 5
Nhận xét: Bảng thống kê trên cho thấy, ở khối 5, lỗi lặp từ vẫn chiếm
tỉ lệ cao hơn hẳn (70,1% tổng số lỗi dùng từ) so với những lỗi dùng từ khác, tuy nhiên về số lượng (437 lỗi) đã giảm hơn hẳn so với khối 4 (giảm 155 lỗi) Điều này cho thấy, lên lớp trên các em đã có sự tiến bộ trong việc sử dụng từ, vốn từ đã phong phú hơn từ đó đã biết cách sử dụng các từ ngữ khác để thay thế cho phù hợp, tránh được việc lặp từ gây nhàm chán Thêm vào đó, lỗi về dùng từ không hợp phong cách cũng giảm đáng kể (chiếm 5,8% tổng số lỗi dùng từ), điều này cũng cho thấy kinh nghiệm tích lũy vốn từ cũng như việc
sử dụng từ ngữ, đặt câu của các em đã phát triển
Ví dụ 1: Thân cây không to, không bé mà thon thả
Trang 332.4.1.2 Các lỗi đặt câu
Bảng 3 Các lỗi đặt câu của khối 4
Số lượng Tỉ lệ (%)
Câu không có sự tương hợp
Sử dụng dấu câu sai 285 16,8 36,0
Câu không phù hợp với câu
Nhận xét: Qua bảng trên, ta có thể thấy ở khối 4:
- Lỗi về cấu tạo ngữ pháp là lỗi mà học sinh mắc nhiều nhất (660 lỗi, chiếm 39,0 % tổng số lỗi đặt câu) Điều này chứng tỏ khả năng ngữ pháp của