Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh đối với sự phát triển của trẻ...10 1.3.2.1.. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng các phương tiện trực
Trang 1Trường đại học sư phạm hà nội 2 Khoa giáo dục tiểu học
Nguyễn Thị thu trang
Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môI trường xung quanh cho trẻ 3 – 4 tuổi ở các trường mầm non khu vực TP vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngành: Giỏo dục học
Người hướng dẫn khoa học TH.S Nguyễn Thị Xuân Lan
Hà Nội - 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo Ths
Nguyễn Thị Xuân Lan, người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô trong Ban giám hiệu và các cô của
trường mầm non Ngô Quyền, trường mầm non Hoa Sen và một số
trường khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài của tôi còn có nhiều hạn chế
và thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn
để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyến Thị Thu Trang
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn
toàn chân thực và chưa từng được công bố trên bất kì công trình nào
khác
Hà nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4Danh mục các chữ viết tắt
1 GDMN: Giáo dục mầm non
2 NXB: Nhà xuất bản
Trang 5MỤC LỤC
T r a n
g
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Cấu trúc khóa luận 4
Chương 1: Cơ sở lí luận 5
1.1 Khái niệm về môi trường xung quanh 5
1.2 Một số vấn đề về phương tiện dạy học trực quan 5
Trang 61.2.1 Khái niệm về phương tiện dạy học 5
1.2.2 Khái niệm về phương tiện dạy học trực quan 5
tuổi 6
1.3.2 Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh đối với sự phát triển của trẻ 10
1.3.2.1 Phát triển hoạt động nhận thức của trẻ 10
trẻ 13
1.3.2.3 Kích thích hứng thú nhận thức của trẻ 14
trẻ 15
1.4 Những yêu cầu để việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi đạt hiệu quả 16
Trang 7Chương 2: Thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non
2.3 Thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực
Trang 83.2 Giải pháp
Trang 9được vun trồng trong 5 năm đầu tiên” Việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non có liên quan đến việc phát triển của trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện các mặt đức- trí- thể- mĩ và lao động Chăm sóc giáo dục trẻ em từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo, đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những chủ nhân tương lai của đất nước
Trong các môn học ở mầm non, môn môi trường xung quanh là môn học giúp trẻ em tiếp cận môi trường một cách chính xác và nhanh nhất Trẻ được vận dụng những hiểu biết của mình vào tình cảnh, tình huống mới, hình thành được thói quen, phát huy được tính độc lập, chủ động sáng tạo, tính tích cực hóa trong thực tiễn
Môn môi trường xung quanh có tầm quan trọng rất lớn đối với trẻ, giúp trẻ đến với thiên nhiên phong phú, đến với xã hội, đến với con người một cách chính xác, gần gũi, giúp trẻ thêm yêu thiên nhiên và cuộc sống
Môn môi trường xung quanh là môn học đòi hỏi sử dụng nhiều các phương tiện trực quan Phương tiện trực quan sẽ giúp cho trẻ có hứng thú nhận thức, phát triển hoạt động nhận thức tích cực cần thiết cho trẻ, giúp trẻ được tiếp xúc, va chạm, nghe nhìn, quan sát, sờ, nếm, ngửi, cảm nhận sự vật hiện tượng một cách đa dạng, phong phú trong thực tế cuộc sống hàng ngày đang diễn ra xung quanh trẻ
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng các phương tiện trực quan nói chung
và việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non nói riêng chưa thực sự đạt hiệu quả cao Để góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường
mầm non, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “ Thực trạng việc sử dụng
phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho
Trang 10trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương tiện dạy học trực quan được sử dụng từ kiểu dạy học sơ khai nhất của Xôcrat và Khổng Tử để con người nhận thức thế giới Bởi lẽ họ theo thế giới hòa tan trong ta và con người có thể nhận thức được chính bản thân
họ Mối quan tâm của Khổng Tử đó là tri thức kinh nghiệm không có sẵn trong mỗi con người, nó được hình thành trong mỗi con người thông qua học tập Ông khẳng định: “ tính người ta vốn gần nhau” Khổng Tử rất coi trọng nhận thức cảm tính, con người nhận thức thế giới phải dựa vào kết quả quan sát các sự vật trực quan
Nhà sư phạm J.J.Rutxo (1712-1778) cũng kiệt liệt phê phán nhà đương thời lạm dụng lời nói Ông đã lớn tiếng “ đồ vật, đồ vật- hãy đưa ra đồ vật” Tôi không ngừng nhắc đi, nhắc lại rằng, chúng ta lạm dụng quá mức lời nói: “ bằng cách giảng giải ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên con người ba hoa”
Trên cơ sở kế thừa công trình nghiên cứu của các bậc cha ông đi trước Ngày nay phương tiện dạy học trực quan cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau Nhưng chưa ai nghiên cứu
về việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non
3 Mục đích nghiên cứu
Nhằm phát hiện thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc Tìm hiểu nguyên nhân và đưa
ra những giải pháp để nâng cao chất lượng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi nói riêng và trong dạy học ở trường mầm non nói chung
Trang 114 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi
- Đối tượng: thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3 -4 tuổi ở các trường mầm non
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tại các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc.( trường mầm non Ngô Quyền, trường mầm non Hoa Sen, trường mầm non Sao Mai, trường mầm non Hoa Hồng)
6 Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc vẫn chưa đạt kết quả cao Nếu phát hiện đúng thực trạng
và đề xuất được những biện pháp hợp lí thì sẽ nâng cao được hiệu quả của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi nói riêng và trong dạy học ở trường mầm non nói chung
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
7.2 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
7.3 Nguyên nhân và giải pháp
8 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12- Phương pháp đọc sách
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp thống kê toán học
9 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy
học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Khái niệm về môi trường xung quanh
Môi trường xung quanh bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh trẻ em, có quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của trẻ em
1.2 Một số vấn đề về phương tiện dạy học trực quan
1.2.1 Khái niệm về phương tiện dạy học
Là một tập hợp các phương tiện vật chất cần thiết mà người giáo viên
và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học
Đó là những công cụ giúp người giáo viên tổ chức, điều khiển quá trình dạy học và những công cụ giúp học sinh lĩnh hội tri thức cũng như tổ chức hoạt
động nhận thức của mình có hiệu quả
1.2.2 Khái niệm về phương tiện dạy học trực quan
Phương tiện dạy học trực quan bao gồm các thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức kỹ năng, kỹ xảo
1.2.3 Trình bày trực quan
Trình bày trực quan là sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học Trình bày các đồ vật, tranh ảnh, trình bày vật mẫu, sử dụng phim ảnh và các phương tiện kĩ thuật
1.2.4 Các loại phương tiện trực quan
Phương tiện trực quan rất phong phú và đa dạng
- Tranh: là những tác phẩm hội họa phản ánh hình thức, đường nét, hình mảng, màu sắc phong phú
- Ảnh: là những tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình ảnh các đối tượng và phim bằng máy ảnh, sau đó in, phóng lên trang giấy
Trang 14- Mô hình: là những vật cùng hình dạng có thể phóng to hoặc thu nhỏ nhằm mô phỏng lại hình dạng, cấu tạo của vật gốc để phục vụ cho học tập
Mô hình thường nói về thế giới xung quanh ta
- Vật mẫu: là những vật có sẵn trong tự nhiên, trong đời sống xã hội xung quanh con người
- Băng ghi âm: là loại làm bằng vật liệu từ tính, ghi lại những âm thanh được phát lại nội dung đó qua máy ghi âm
- Băng ghi hình: là loại làm bằng vật liệu từ tính, ghi lại đồng thời hình ảnh và âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong đời sống và phát lại qua máy thu hình
- Phim đèn chiếu: là loại hình phim ghi lại hình ảnh các đối tượng nghiên cứu và được chiếu lên màn hình để quan sát trực tiếp
- Đĩa mềm vi tính: là loại đĩa dùng để hiển thị các thông tin bằng kênh chữ, kênh hình
- Con rối: là những vật dùng trong đời sống và dùng tay để biểu thị
1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh đối với sự phát triển của trẻ
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của trẻ 3-4 tuổi
Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ em đều rất thích hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, đặc biệt là tư duy phát triển mạnh Những hành động định hướng bên ngoài làm tiền đề cho sự hình thành định hướng bên trong để tư duy của trẻ phát triển
- Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản Đó
là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong
Trang 15đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ kiểu tư duy trực quan hành động sang kiểu tư duy trực quan hình tượng
- Việc chuyển tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng là nhờ vào:
Thứ nhất: trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, hoạt động đó được lặp đi lặp lại nhiều lần, lâu dần được nhập tâm: thành hình ảnh, thành biểu tượng trong óc Đó là cơ sở để cho hoạt động tư duy được diễn ra ở bình diện bên trong
Thứ hai: hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ
đề Loại trò chơi đó giúp trẻ hình thành chức năng ký hiệu tượng trưng của ý thức Chức năng này được thể hiện ở khả năng dùng một vật này thay thế cho một vật khác và hành động với vật thay thế như hành động với vật thật
- Loài người đã dùng kí hiệu tượng trưng, có loại gần giống với hiện thực như kí hiệu điện ảnh, có loại lại khá xa với hiện thực như ký hiệu hóa học, Nhưng tất cả những hình thái ký hiệu đó đều giống nhau ở một điểm là người ta chỉ có thể hiểu được và dùng được chúng khi biết rằng đó không phải
là hiện thực mà chỉ là những cái thay thế hiện thực
- Lúc đầu sự phát triển của chức năng ký hiệu gắn liền với hoạt động thực tiễn và về sau mới hình thành được những hệ thống ký hiệu chuyên biệt giúp con người tư duy để đi sâu khám phá bản chất của sự vật về một mặt nào
đó
- Tư duy của trẻ mẫu giáo đạt tới ranh giới của tư duy trực quan hình tượng, nhưng các hình tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với hành động Ví dụ: người ta đưa ra một bài toán cho trẻ em thuộc độ tuổi lên 3 Nội dung bài toán đó là, trước mắt các em là một thanh gỗ được đặt lên cái thành sao cho thanh gỗ có thể xoay được, một đầu thanh gỗ ở gần đứa trẻ còn đầu kia thì ở
xa nhưng lại có treo ở đấy một thứ đồ chơi khá hấp dẫn Vấn đề đặt ra là làm
Trang 16sao có thể lấy được cái đồ chơi ấy Trẻ mẫu giáo bé, đại bộ phận trẻ em cầm ngay lấy đầu thanh gỗ ở gần rồi đẩy đi đẩy lại, và tình cờ khi đầu thanh gỗ bị đẩy ra xa thì lập tức đầu kia có treo đồ chơi lại chuyển đến gần, và em bé có thể lấy đồ chơi một cách dễ dàng và ngẫu nhiên
- Tư duy của trẻ mẫu giáo bé còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan Tư duy là một quá trình phát hiện những thuộc tính bên trong và những quy luật khách quan của sự vật để tìm hiểu một vấn đề gì đó,người ta cần có thái độ khách quan, càng khách quan bao nhiêu càng dễ tiến gần đến chân lý bấy nhiêu Trẻ mẫu giáo bé mới bước tới ngưỡng cửa của tư duy trong khi thế giới nội tâm của trẻ còn chưa phân hóa thành những chức năng rõ ràng như người lớn
- Trẻ em ở tuổi mẫu giáo bé do chưa biết phân tích tổng hợp, chưa biết một sự vật bao gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể, chưa xác định được vị trí, quan hệ giữa bộ phận này với bộ phận kia trong một sự vật
Do đó, cách nhìn nhận sự vật của bé là theo lối trực giác toàn bộ có nghĩa là trước một sự vật nào đó trẻ nhận ra ngay, chộp lấy rất nhanh một hình ảnh tổng thể chưa phân chia ra thành các bộ phận Đó là cách nhìn nhận đặc trưng của trẻ 3 tuổi Ví dụ: nhiều chiếc xe đạp nhưng em bé vẫn nhận ra đâu là chiếc xe của bố
- Sự xuất hiện động cơ hành vi của trẻ: trong suốt thời kỳ mẫu giáo, ở trẻ em có một sự biến đổi căn bản trong hành vi: chuyển từ hành vi bột phát sang hành vi mang tính xã hội, hay là hành vi mang tính nhân cách Đó cũng chính là quá trình hình thành động cơ của hành vi Tuy nhiên ở lứa tuổi mẫu giáo bé thì bước chuyển này cũng mới ở vào điểm khởi đầu Thông thường trẻ không hiểu được tại sao mình hành động như thế này hoặc hành động như thế kia Trẻ hành động thường là do nguyên nhân trực tiếp như theo ý muốn chủ quan của mình hoặc do tình huống ở thời điểm đó thúc đẩy và không ý thức
Trang 17được nguyên cơ nào khiến mình hành động như vậy Dần dần trong hành vi của trẻ có một sự biến đổi quan trọng Đó là sự nảy sinh động cơ Lúc đầu, động cơ đơn giản và mờ nhạt Thường khi hành động, trẻ thường bị kích thích bởi những động cơ sau:
- Những động cơ gắn liền với ý thích muốn được như người lớn Nguyện vọng này biến thành động cơ dẫn đến việc sắm các vai trong những trò chơi đóng vai theo chủ đề Người lớn có thể dựa vào nguyện vọng đó của trẻ để thực hiện những yêu cầu giáo dục hàng ngày như khuyên trẻ: “ lớn rồi phải tự mặc lấy quần áo, tự xúc cơm ăn” hoặc “ người lớn ai lại khóc nhè”
Cứ như vậy trẻ sẽ thực hiện những yêu cầu của người lớn một cách rất nhẹ nhàng
- Những động cơ gắn liền với quá trình chơi có tác động khá mạnh mẽ thúc đẩy hành vi của trẻ Trẻ ham chơi không phải là nguyên cớ là do kết quả của trò chơi mang lại mà là quá trình chơi làm cho trẻ thích thú Khi vượt qua khỏi giới hạn phạm vi trò chơi, để làm được việc đó thì trẻ hành động rất khó khăn, nhưng nếu hành động mang tính chất vui chơi thì trẻ sẽ hành động dễ dàng hơn Động cơ này làm cho toàn bộ hành vi của trẻ mang một sắc thái riêng mà đó cũng là nét độc đáo của trẻ mẫu giáo
- Những động cơ nhằm làm cho người lớn vui lòng và yêu mến cũng bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thực hiện hành động tích cực
- Hơn nữa đây là lứa tuổi chuyển tiếp, trong khi dấu ấn của cuộc khủng hoảng ở trẻ lên 3 vẫn còn nặng nề ở một số trẻ Tuy nhiên ở cái tuổi lên 3 nên mọi cái chưa hình thành sẽ được hình thành từ đây, do đó nhà giáo dục có thể chủ động trong việc hướng sự phát triển của trẻ theo mục đích giáo dục của mình
Trang 181.3.2 Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh đối với sự phát triển của trẻ
1.3.2.1 Phát triển hoạt động nhận thức của trẻ
Để việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi đạt hiệu quả tốt, trước hết phải hiểu được đặc điểm nhận thức và sự phát triển nhận thức của trẻ về môi trường xung quanh một cách chính xác nhất
* Đặc điểm nhận thức của trẻ về môi trường xung quanh
Hoạt động học tập của trẻ mầm non mới ở dạng sơ khai, chưa phải học theo hình thức chính quy như ở trường phổ thông , nhưng chúng tiếp thu kiến thức về môi trường xung quanh và hình thành cho mình những kĩ năng nhận thức và kĩ năng xã hội theo nhiều cách khác nhau
- Trẻ học qua việc sử dụng các giác quan: trẻ nhận thức thế giới chủ yếu thông qua những tiếp xúc trực tiếp với các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ bằng cảm giác, tri giác Sử dụng thị giác, trẻ có hiểu biết về hình dáng, màu sắc, cấu tạo bên ngoài của sự vật, hiện tượng Sử dụng xúc giác trẻ có hiểu biết về độ cứng mềm, độ trơn nhẵn, thính giác giúp trẻ hiểu biết về tiếng kêu của các con vật, tiếng nước chảy, tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng động cơ và tiếng còi của các phương tiện giao thông, khứu giác và thị giác giúp trẻ phân biệt mùi, vị của các sự vật, hiện tượng Học theo cách này trẻ thu được hiểu biết về các đặc điểm bên ngoài rõ nét của sự vật, hiện tượng Theo sự phát triển của cơ thể và theo lứa tuổi, các giác quan của trẻ ngày càng trở nên tinh nhạy hơn, vì vậy hệ thống biểu tượng về thiên nhiên và xã hội mà trẻ có được nhờ sử dụng các giác quan cũng ngày càng chính xác hơn
- Trẻ học bằng thí nghiệm thực hành: trong thế giới khách quan có những lĩnh vực kiến thức mà không thể nhận biết được bằng quan sát thông thường Để có thể nhận biết các dấu hiệu đặc trưng nhưng không biểu hiện rõ
Trang 19nét các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, cách nhanh nhất và chính xác nhất đối với trẻ là thử nghiệm, thí nghiệm Như gieo hạt vào bông ẩm trẻ biết hạt đó có nảy mầm được không và nảy mầm như thế nào, gieo hạt vào các môi trường khác nhau trẻ biết mối quan hệ giữa
sự nảy mầm của hạt với các yếu tố môi trường Học bằng cách này trẻ vừa sử dụng các giác quan, vừa thực hiện các hành động tác động vào đối tượng, những biểu tượng mà trẻ thu được nhờ đó trở lên toàn diện, sâu sắc hơn
- Trẻ học qua trò chơi: thông qua các trò chơi học tập, xây dựng và vận động trẻ khám phá các sự vật, hiện tượng đa dạng ở xung quanh, chức năng
và tính chất của chúng Học qua vui chơi là phương thức học tập hiệu quả và phù hợp với trẻ mầm non vì vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ lứa tuổi này
- Trẻ học qua tương tác, chia sẻ kinh nghiệm với cô giáo, bạn bè và mọi người xung quanh Cùng nhau chơi, cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ nhận thức cũng là cách chia sẻ kinh nghiệm và giúp trẻ học hỏi lẫn nhau
- Trẻ học qua tư duy suy luận: Để giải thích các hiện tượng, để đưa ra cách giải quyết phù hợp, kịp thời những tình huống đa dạng xảy ra trong cuộc sống, trẻ cần phải huy động vốn kiến thức, kinh nghiệm có sẵn để phán đoán, suy luận, biểu tượng cùng với sự phát triển tư duy của trẻ
- Trẻ tập trung chú ý, ghi nhớ và tái hiện các sự vật, hiện tượng xung quanh khi có hứng thú và được trải nghiệm phù hợp Trẻ cần tiếp xúc với các đối tượng đa dạng, sinh động, hấp dẫn, đồng thời trẻ cũng cần sự hiểu biết, tôn trọng, khích lệ, ủng hộ từ phía bạn bè, cô giáo và mọi người xung quanh
- Việc học của trẻ sẽ hiệu quả hơn, cũng như sự phát triển nhận thức của trẻ sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nếu trẻ được tham gia vào các hoạt động học phù hợp với trình độ, khả năng của mình
Trang 20- Trẻ xuất phát từ những gia đình và cơ sở văn hóa, xã hội khác nhau, thể trạng của từng trẻ không giống nhau vì vậy chúng có những khả năng khác nhau trong học tập
* Phát triển và rèn luyện cho trẻ năng lực nhận thức và năng lực
khám phá khoa học về môi trường xung quanh
Thông qua việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh, giúp trẻ phát triển các kĩ năng:
- Quan sát: trẻ biết sử dụng phối hợp các giác quan một cách phù hợp
để tìm hiểu các sự vật, hiện tượng một cách không quen thuộc
- So sánh: trẻ xác định nhanh chóng các đặc điểm giống nhau và khác nhau, sự thay đổi và phát triển của các sự vật và hiện tượng
- Phân nhóm: trẻ biết phân loại sự vật, sự kiện, hiện tượng thành các nhóm và giải thích lí do
- Sử dụng: Trẻ biết sử dụng và bảo quản một cách thích hợp các dụng
cụ khoa học như cân, thước các loại, kính lúp, hiểm vi trong quá trình quan sát và trong hoạt động thực tiễn để nhận biết về khối lượng, kích thước, thời gian, nhiệt độ, Ví dụ: trẻ xếp các con vật theo kích thước tăng dần thì cần phải có vật thật cho trẻ
- Suy luận: trẻ phải có một vốn kiến thức nhất định, trẻ phải suy luận
ra một điều mà trẻ chưa nhìn thấy, bởi nó chưa xảy ra hoặc là nó không thể quan sát trực tiếp được
- Phán đoán: đưa ra những dự báo hợp lí hoặc ước lượng dựa trên kết quả quan sát và kinh nghiệm cũng như kiến thức của mình Ví dụ: nếu không được tưới nước thì cây sẽ bị héo khô Dự đoán có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển hiểu biết về nguyên nhân và kết quả, từ đó có thể phát triển thành khả năng nhận biết quy luật và dựa trên quy luật để dự đoán chính xác điều sẽ xảy ra
Trang 21- Sử dụng các phương pháp khoa học theo trình tự: dự đoán, thu thập
số liệu, vẽ, lập biểu đồ các kết luận và khái quát hóa
- Nhận xét, chia sẻ thông tin với mọi người bằng ngôn ngữ nói hoặc dùng hình ảnh, sơ đồ, kí hiệu sao cho người khác hiểu được ý tưởng và kết quả khám phá của mình
- Hợp tác, thỏa thuận và hoạt động trong nhóm bạn bè
- Phát triển trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ về thế giới khách quan và các phẩm chất, trí tuệ
- Hoàn thiện các quá trình tâm lí nhận thức và phát triển khả năng chú
ý, ghi nhớ có chủ định
- Từ các phương tiện trực quan đó giúp trẻ phát triển các hoạt động chính xác hơn
1.3.2.2 Phát triển trí tuệ cho trẻ
- Sự phát triển trí tuệ của trẻ bắt đầu từ đồng hóa, nghĩa là khi có kích thích thì não tiếp nhận thông tin, tiêu hóa chúng, biến chúng thành cái có nghĩa cho bản thân trong quá trình thích ứng với môi trường Qua các phương tiện trực quan sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ cần phải cho trẻ tích cực tiếp xúc với môi trường xung quanh, đồng thời tạo ra tình huống có vấn
đề, các nhiệm vụ nhận thức đa dạng để tạo ra ở trẻ động cơ học hỏi và sẵn sàng tiếp thu thông tin mới 3-4 tuổi chính là thời điểm để chúng ta dạy trẻ ,
để đưa chúng đến với những kiến thức mới Bởi vì khi đứa trẻ rơi vào trạng thái mất cân bằng, chúng sẽ không ngừng tìm kiếm bằng cách hỏi dò, quan sát
kĩ lưỡng, tìm hiểu, khám phá nguyên liệu xung quanh cho đến khi chúng tìm
ra một cách giải thích mới, phù hợp hơn
- Quan điểm của L.S Vưgôtxki: quá trình phát triển trí tuệ của trẻ chính là kết quả của việc chiếm lĩnh, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người trong hoạt động với đồ vật Trong hoạt động với đồ vật, trẻ
Trang 22học cách sử dụng các công cụ lao động và đồng thời ở chúng cũng phát triển các công cụ trí tuệ
- Hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh cần phải
có sự tham gia tích cực và chủ động của trẻ Bởi lẽ chỉ có trải nghiệm trong các hoạt động khám phá đa dạng, trẻ mới chỉ có tiếp xúc kinh nghiệm về cách thức hoạt động, khám phá khoa học
- Trong các hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh, trẻ phải là người thực hiện tích cực các hoạt động khám phá, khảo sát đối tượng: sờ, nắn, ngửi, nếm, nghe hành động thử nghiệm, hành động thực hành Trẻ cần được sử dụng các phương tiện khám phá như kính lúp, kính hiểm vi, gương cân, thước các loại, bình Trẻ cũng phải là người nêu ra giả thuyết, nêu các hành động và tự kiểm soát hành động của mình, thảo luận, chia sẻ với mọi người về quan điểm, kết luận hoặc lời giải thích về một hiện tượng nào đó Chính trong các hoạt động khám phá khoa học tích cực, các kĩ năng của trẻ sẽ có cơ hội được luyện tập và theo lứa tuổi ngày càng hoàn thiện
- Qua phương tiện trực quan trẻ sẽ có khả năng sử dụng phối hợp và phát triển các giác quan như thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác
để quan sát, nhận biết các sự vật, hiện tượng Trẻ có khả năng phân biệt, so sánh một số đặc điểm khác nhau, giống nhau rõ nét của các sự vật đơn giản Trẻ còn có khả năng chú ý trong một thời gian nhất định
Trang 23- Giúp trẻ có cơ hội lựa chọn theo hứng thú và nhu cầu, kích thích sự
tò mò, tính ham hiểu biết của trẻ
- Phương tiện trực quan còn kích thích trẻ tìm tòi, khám phá, phát hiện, nhận xét những đặc điểm tiêu biểu rõ nét của đối tượng
1.3.2.4 Giáo dục nhân cách cho trẻ
- Nhờ có phương tiện trực quan sẽ hình thành ở trẻ sự hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ Trẻ biết được mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau, biết được sự thay đổi và phát triển môi trường xung quanh trẻ
- Mở rộng, nâng cao hiểu biết của trẻ về các cách thức khám phá khoa học đa dạng
- Phương tiện trực quan sẽ giúp trẻ nhìn nhận về môi trường xung quanh một cách đa dạng
- Trẻ biết thương yêu những người thân trong gia đình như dạy trẻ về gia đình cần dạy trẻ liên hệ thực tế và cho trẻ xem thêm tranh ảnh về gia đình,
từ đó giúp trẻ hiểu rõ hơn về tình cảm gia đình
- Trẻ biết bảo vệ, chăm sóc các loại hoa, quả, động vật như dạy trẻ về thế giới thực vật thì trong quá trình cô cho trẻ đi thăm vườn rau, vườn hoa và cho trẻ xem qua tranh ảnh, video, sẽ in sâu vào tâm trí trẻ, trẻ sẽ có cái nhìn
và sự hiểu biết thực tế nhất về thế giới xung quanh trẻ
- Qua phương tiện trực quan trẻ sẽ biết cảm thụ cái đẹp, giữ gìn sự cân bằng và trật tự của môi trường Trẻ sẽ tự tin, cởi mở, sẵn sàng thay đổi, có thái độ tích cực đối với sự đổi mới, hoài nghi, phê phán những cái xấu, kiên trì, khiêm tốn
Trang 241.4 Những yêu cầu để việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanhh cho trẻ 3-4 tuổi đạt hiệu quả
- Giáo viên cần có lòng say mê khám phá khoa học, mong muốn tìm hiểu về các sự vật, hiện tượng Lòng say mê, hiểu biết của giáo viên phải được thể hiện trong mọi hành động để làm gương cho trẻ vào các hoạt động khám phá, tìm hiểu về môi trường xung quanh
- Giáo viên cần có đầy đủ đồ dùng trực quan và sử dụng đồ dùng trực quan phù hợp với trẻ Cần tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc trực tiếp với đồ dùng trực quan gần gũi nhất
- Giáo viên cần có những kiến thức cơ bản, khoa học về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nắm vững nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ khám phá khoa học
- Giáo viên có kĩ năng sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ năng tổ chức các hình thức cho trẻ khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh
- Giáo viên luôn ý thức trong việc tổ chức các phương pháp, hình thức cho trẻ khám phá khoa học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của trẻ
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH CHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
Để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3- 4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc, tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi có kết hợp với phương pháp trò chuyện và phương pháp quan sát các tiết dạy của giáo viên ở trường mầm non Ngô Quyền, mầm non Hoa Sen, mầm non Sao Mai và mầm non Hoa Hồng
Đối tượng điều tra: Ban giám hiệu và giáo viên
Tổng số phiếu phát ra: 24 phiếu ( trong đó trường mầm non Ngô Quyền
là 6 phiếu, trường mầm non Hoa Sen là 6 phiếu, trường mầm non Sao Mai là
6 phiếu, trường mầm non Hoa Hồng là 6 phiếu)
Tổng số phiếu thu lại là 24 phiếu
2.1 Thực trạng trình độ đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục
2.1.1 Thực trạng trình độ đội ngũ giáo viên
Tổng số giáo viên ở trường mầm non Ngô Quyền là 31 người, giáo viên ở trường Hoa Sen là 35 người, giáo viên ở trường mầm non Sao Mai là 33 người, giáo viên ở trường Hoa Hồng là 32 người, thực trạng trình độ được biểu diễn dưới bảng sau:
Trang 26Bảng 1: Thực trạng về trình độ giáo viên của các trường
Đại học Cao đẳng Trung cấp Trình độ
Bên cạnh đó vẫn còn nhiều giáo viên chỉ có trình độ trung cấp: trường mầm non Ngô Quyền có 25,8%, trường mầm non Hoa Sen có 60%, trường mầm non Sao Mai có 30,30%, trường mầm non Hoa Hồng có 28,1% Các giáo viên này chủ yếu là người đã có tuổi, trình độ chưa được nâng cao nên chủ yếu là cô nuôi và chăm sóc trẻ
Trang 27Bảng 2: Thực trạng xếp loại giáo viên của các trường
Giỏi cấp tỉnh Giỏi cấp
huyện
Giỏi cấp trường
Còn lại Xếp loại
và biết ứng dụng các khoa học công nghệ tiên tiến vào giảng dạy để đưa chất lượng giáo dục mầm non đạt kết quả cao
2.2.2 Thực trạng đội ngũ quản lí giáo dục
Qua điều tra, tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 3: Thực trạng đội ngũ quản lí giáo dục
Đại học Cao đẳng Trung cấp Trình độ
Trang 28phó phụ trách dinh dưỡng và 1 hiệu trưởng Đội ngũ cán bộ quản lí có trình
độ đào tạo chủ yếu là cao đẳng và đại học, không có giáo viên nào có trình độ trung cấp Điều này sẽ giúp cho việc quản lí các hoạt động giáo dục ở trường mầm non thuận lợi và đạt hiệu quả cao
2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở các trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
Khi được hỏi về việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non có tầm quan trọng như thế nào đối với trẻ?
Tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 4: Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng phương tiên trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi ở trường
mầm non
Ý kiến Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
12/24 50% 7/24 29,1% 5/24 20,83%
Từ kết quả ở bảng 4 cho thấy 50% giáo viên cho rằng việc sử dụng phương tiện trực quan là rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ 29,1% giáo viên đồng ý với ý kiến là phương tiện trực quan trong dạy học môn môi trường xung quanh cho trẻ 3-4 tuổi có vai trò quan trọng Vì trước hình ảnh, vật thật của phương tiện trực quan sẽ khơi gợi hứng thú học tập của trẻ tốt hơn, trẻ ham học hỏi, say mê khám phá Trẻ sẽ được thực hành trực tiếp, từ đó
sẽ phát triển được tư duy hình tượng và trí nhớ 20,83% giáo viên lựa chọn câu trả lời là không quan trọng Khi tìm hiểu lí do các giáo viên lựa chọn câu