1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

60 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 468,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi ngôn ngữ của trẻ phát triển nghĩa là trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngà như phát âm chuẩn vốn từ phong phú, câu nói hoàn chỉnh về ngữ pháp thì trẻ sẽ có 1 ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

*********

TRẦN THỊ HUYỀN

TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TH.S HÀ KIM DUNG

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, giáo dục của nước

ta đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ nhất là việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học đặc biệt giáo dục mầm non đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội Giáo dục mầm non là nền tảng để hình thành nhân cách và những năng lực sơ đẳng cho trẻ, đặt nền móng cho những bậc học cao hơn Vì vậy phải coi trọng và quan tâm tới giáo dục mầm non nhiều hơn

Trẻ em ở lứa tuổi mầm non đang trong giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ cả về thể chất lẫn trí tuệ mà hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi thông qua hoạt động, chơi để mà học những biểu tượng sơ đẳng nhất về thế giới xung quanh Trang luật giáo dục đã nói mục tiêu của giáo dục mầm non là phát triển toàn diện cho trẻ về đức, trí, thể, mĩ Mà cơ sở đầu tiên của sự phát triển toàn diện đó là phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Ngôn ngữ là sự sang tạo kỳ diệu của con người sự tuyệt vời của ngôn ngữ đó là

nó đã trở thành phương tiện giao tiếp cơ bản nhất nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi thông tin với nhau một cách nhanh chóng nhất đầy đủ nhất,

từ đó có thể hiểu nhau thể hiện tình cảm chia sẻ giúp đỡ nhau, biểu thị mong muốn và nhu cầu với thế giới xung quanh Hơn thế nữa ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư duy, là chìa khóa vạn năng để chúng ta mở kho tàng khổng lồ của nhân loại Ngôn ngữ càng mở rộng thì tri thức thu được càng lớn đồng nghĩa với việc cá nhân ngày càng hoàn thiện, xã hội càng phát triển mạnh mẽ Bởi vậy giáo dục ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt đầu ngay từ tuổi mầm non (0-6T) đặc biệt là từ 3-5 tuổi, giai đoạn này ngôn ngữ phát triển rất nhanh về ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp Nếu bỏ qua giai đoạn này thì sự phát triển của trẻ sẽ bị

Trang 3

khó khăn Nhà giáo dục EITIKHEEVA cho rằng phát triển ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động trong trường mẫu giáo trẻ sẽ chuyển sang trường tiểu học, đây là bước ngoặt rất quan trọng của trẻ 6 tuổi 6 tuổi trr đến trường đến với thầy với bạn, trẻ phải chuyển qua và thích nghi với 1 lối sống mới với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập đồng thời trẻ cũng chuyển sang một vị trí xã hội mới Chính vì sự thay đổi đó đòi hỏi các em phải có sự chuẩn bị về mặt tâm lý, ý thức để thích nghi bước đầu với các điều kiện học tập ở trường phổ thông Điều kiện tâm lý quan trọng đó chính là ngôn ngữ của các em Khi ngôn ngữ của trẻ phát triển nghĩa là trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngà như phát âm chuẩn vốn từ phong phú, câu nói hoàn chỉnh về ngữ pháp thì trẻ sẽ có 1 phương tiện để lĩnh hội, tri thức khoa học và 1 công cụ để trẻ tham gia vào các mối quan hệ xã hội mới.

Chính bởi tầm quan trọng của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn cho nên tôi chọn đề tài “ Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Sen khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc” Để thấy được thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn từ đó có những tác động để nâng cao ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn

II Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn (5 tuổi) ở trường mầm non Hoa Sen khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc Để thấy được thực trạng biểu hiện ngôn ngữ của trẻ Trên cơ sở đó tìm ra biện pháp tác động để chuẩn bị tốt về ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi học

Trang 4

III Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) nhằm định hướng cho việc nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng biểu hiện ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn (5-6T) ở trường mầm non Hoa Sen ( thành phố Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc)

- Tìm 1 số biện pháp tác động thử nghiệm nhằm nâng cao khả năng ngôn ngữ cho trẻ

IV Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

1. Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

VI Mức độ và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ( 5-6T) ở khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

- Tìm hiểu 30 trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

Trang 5

VII Giả thuyết khoa học

Khả năng ngôn ngữ cơ bản của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc còn nhiều hạn chế Biểu hiện về ngôn ngữ giữa các trẻ

có sự chênh lệch Nếu chúng ta có những biện pháp tác động tích cực của người giáo viên thì sẽ nâng cao được vốn ngôn ngữ cho trẻ để chuẩn bị tâm lý thuận lợi cho trẻ vào lớp 1 Vì vậy vai trò của người giáo viên rất quan trọng trong việc tìm ra các biện pháp tác động cho trẻ nhằm nâng cao vốn ngôn ngữ cho trẻ

VIII Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn có ý nghĩa rất quan trọng, có tìm hiểu thì mới phát hiện ra thực trạng khả năng nắm vững ngôn ngữ của trẻ, những biểu hiện tích cực và tiêu cực của thực tiễn giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ hiện nay Trên cơ sở đó tư vấn những biện pháp tác động để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tốt hơn

IX Dự kiến công trình nghiên cứu

Phần 1 Mở đầu

Phần 2 Kết quả nghiên cứu

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng biểu hiện ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

Chương 3 Một số tác động thử nghiệm nhằm nâng cao khả năng ngôn ngữ cho trẻ

Phần 3 Kết luận và kiến nghị

Trang 6

Sau cách mạng tháng mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết

đã vận dụng quan điểm của Mác Lê Nin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó

là xem xét ngôn ngữ với tư cách là 1 hiện tượng xã hội Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy là phương tiện giao tiếp của con người LX.Vưgotxlki trong cuốn “ Tư duy và ngôn ngữ” đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả học tập

Mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ là của cá thể

Theo ông, khi trẻ em gặp phải những lúc khó khăn trong cuộc sống trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những người này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được chuyển giao sang trẻ L.X Vưgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đổi với sự phát triển của tư duy (Vưgotxki 1997, Tư duy và ngôn ngữ)

Trang 7

Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0-6T) được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm và tiếp cận ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ với các xu hướng nghiên cứu sau

Xu hướng 1: Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ: vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Lưu Thị Lan (1996) “ Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1-6 tuổi” [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ em bắt đầu từ giai đoạn tiến ngôn ngữ (0-1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ(1-6 tuổi) Về ngôn ngữ mạch lạc của trẻ (5-6T) được rất nhiều tác giả nghiên cứu như: A.M Leusina, Nguyễn Xuân Khoa, X.L Rubinxtein A.M Leusina tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: ngôn ngữ mạch lạc là đơn vị của ngôn ngữ như 1 phương tiện giao tiếp Trẻ càng lớn thì tính hoàn cacnhr của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ

Xu hướng thứ 2: Nghiên cứu các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Tác giả EI.Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “ phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” đã đưa ra một số biện pháp hướng dẫn trẻ kể chuyện nhằm phát triển lời nói độc thoại cho trẻ gồm: Kể lại chuyện, kể chuyện theo trí nhớ, kể chuyện theo tưởng tưởng

Trang 8

Xu hướng thứ 3: Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0-6 tuổi theo từng giai đoạn lứa tuổi với các tác giả GI Liamina (1960)’ V.I Iadenco (1966), Bùi Anh Tuấn

Ở Việt Nam tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “ Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” đã phân tích đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn

Trong cuốn phương pháp phát triển lời nói của tác giả Đinh Hồng Thái đã nêu lên đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo và nêu ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Có nhiều nhà nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn nhưng tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc thì chưa có ai nghiên cứu Vì thế tôi đi tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này tại trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

1.2 Khái niệm chung về ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ và ngữ ngôn

Ngữ ngôn bao gồm một hệ thống các ký hiệu từ ngữ và hệ thống quy tắc ngữ pháp cso chức năng là một phương tiện của giao tiếp, một công cụ của tư duy

Ngữ ngôn là một hiện tượng tồn tại khác quan trong đời sống tinh thần của

xã hội, là 1 hiện tượng của nền văn hóa tinh thần của loài người Ngữ ngôn gồm

2 bộ phận là từ vựng, các ý nghĩa của từ và ngữ pháp là một hệ thống các quy tắc quy định sự ghép các từ thành câu

Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng 1 thứ ngôn ngữ để giao tiếp,

để truyền đạt, để lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử, hoặc để kế hoạch hóa hoạt động của mình

Trang 9

Ngôn ngữ là một quá trình tâm lý nó là đối tượng của tâm lý học ngôn ngữ đặc trưng cho từng người sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ thể hiện ở cách phát âm, cấu trúc của câu, sự lựa chọn của từ

Tuy ngôn ngữ và ngữ ngôn khác nhau nhưng chúng lại có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Không có một thứ tiếng (ngữ ngôn) nào lại tồn tại và phát triển bên ngoài quá trình ngôn ngữ Ngược lại quá trình ngôn ngữ không thể có được nếu không dựa vào một thứ ngữ ngôn nhất định

1.2.2 Chức năng cơ bản của ngôn ngữ

Ngôn ngữ có 3 chức năng cơ bản sau

Thứ nhất: Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người lưu truyền được từ đời này sang đời khác phần lớn dưới dạng ngôn ngữ thế hệ đi trước truyền đạt, thế hệ đi sau lĩnh hội những kinh nghiệm quý báu ấy biến thành vốn liếng riêng cho bản thân cũng đều phải sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện cơ bản

Thực vậy, mới đầu trẻ không tự nhận thức được thế giới xung quanh Để thỏa mãn nhu cầu nhận thức, trẻ đặt ra nhiều câu hỏi cho người lớn và những người xung quanh, nhờ những câu trả lời đó trẻ mở rộng dần về nhận thức những vấn đề tự nhiên, xã hội và con người còn người lớn muốn dạy trẻ điều gì phải sử dụng lời nói để giải thích, hướng dẫn kèm theo hành động mẫu của mình Nếu không trẻ sẽ chỉ bắt chước như một con khì mà không hiểu được tại sao phải như vậy

Như vậy ngôn ngữ có tác dụng xã hội hóa sự phản ánh của mỗi cá nhân và làm cho nó trở thành ý nghĩa

Trang 10

Thứ hai: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người

Trong giao tiếp con người sử dụng rất nhiều phương tiện như: lời nói, hành vi, cử chỉ, sắc thái biểu cảm, kết hợp với âm thanh của âm nhạc, màu sắc của hội họa

Trong mọi phương tiện đa dạng ấy Không ai có thể phủ nhận rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người So với lời nói thì các phương tiện khác hạn chế hơn rất nhiều vì có những cử chỉ, sắc thái biểu cảm chỉ một số người mới hiểu được còn ngôn ngữ có thể truyền đạt những thông tin,

tư tưởng, tình cảm chính xác, rõ rang và hoàn toàn xác định

Chính nhờ có ngôn ngữ trong lao động, trong sinh hoạt con người có thể dung chúng làm phương tiện chính, thường xuyên diễn đạt và làm cho người khác hiểu được những tư tưởng tình cảm, trạng thái nguyện vọng của mình Với

sự hiểu biết lẫn nhau con người có thể đồng tâm hiệp lực để cùng nhau chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội và làm cho đời sống con người ngày càng phát triển văn minh hơn

Thứ 3: Ngôn ngữ là công cụ của hoạt động trí tuệ, có chức năng thiết lập

và giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động trí tuệ của con người

Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể lập kế hoạch định ra mục đích cần đạt tới trước khi tiến hành bất cứ một công việc gì, ngôn ngữ giúp con người tổ chức, hướng dẫn điều chỉnh và điều khiển hoạt động của mình Điều đó đã đem lại cho con người những thành tựu vĩ đại, làm cho con người ngày càng khác xa về chất

so với động vật

1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo :

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ Điều đó khiến cho ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ phát triển

Trang 11

khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đã biết sử dụng tiếng

mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày Sự hoàn thiện tiếng mẹ

đẻ ở trẻ mẫu giáo theo các hướng: ngữ âm được hoàn thiện dần, vốn từ được

mở rộng, trẻ sử dụng tương đối đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ

1.3.1 Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi:

+ Vốn từ: Số lượng từ ngữ trẻ em lĩnh hội được từng giai đoạn 3 - 4 tuổi

khoảng từ 800 - 1926 từ [11] Trong đó phần lớn là danh từ, động từ, còn các

từ loại khác là tính từ, trạng từ, đại từ chiếm tỷ lệ thấp

Cụ thể: 3 tuổi ( 800 từ trở lên) trong đó:

50% danh từ 26% động từ 10% tính từ 6% trạng từ 4% đại từ 1,8% số từ (số đếm, một, hai…)

4 tuổi (1926 từ) trong đó:

50,2% là danh từ 27,4% là động từ 11,8% là tính từ 5,8% là trạng từ 1,9% là số từ 1,2% là liên từ Các từ trẻ sử dụng thường là tên gọi của đồ chơi, đồ dùng, con vật, cây cối, hoa lá xung quanh mà hàng ngày trẻ thường xuyên được tiếp xúc Trẻ đã

sử dụng những từ chỉ hành động, công việc của chính bản thân trẻ và mọi

Trang 12

người xung quanh như ăn, ngủ, tắm rửa, dọn, giặt, đi chợ, đi làm… hoặc các

từ chỉ hành động của các con vật mà trẻ biết như cào, cắn, nhảy, bơi, mổ, kêu…

- Theo một số kết quả nghiên cứu khác đó là nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ

em lứa tuổi mẫu giáo ở nội thành Hà Nội của Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non cho biết số lượng từ của trẻ tăng dẫn theo tháng tuổi

Cụ thể: 39 tháng tuổi: 515 từ

42 tháng tuổi: 574 từ

45 tháng tuổi: 683 từ

48 tháng tuổi 724 từ Những kết quả nghiên cứu trên đã nói lên vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi đã tăng lên đáng kể so với trẻ 25 - 36 tháng, trẻ 25 - 36 tháng chỉ có từ vài chục đến vài trăm từ (300 - 400) [35] Trẻ 3 - 4 tuổi cũng đã lĩnh hội được các loại từ phong phú, đa dạng tuy phần lớn vẫn là danh từ và động từ như trẻ ấu nhi

+ Nắm ngữ âm, ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Về phát âm của trẻ 3

tuổi hãy còn nhiều nét đặc trưng cho ngôn ngữ của trẻ thuộc lứa tuổi ấu nhi Trẻ 3 - 4 tuổi phát âm chưa được thành thạo Có thể giải thích hiện tượng này một phần là do trẻ không biết điều khiển bộ máy ngôn ngữ của mình, một phần là do thính giác ngôn ngữ của trẻ chưa phát triển đầy đủ Trong phát âm trẻ còn mắc nhiều lỗi, phát âm chưa chuẩn về dấu thanh, âm đệm, âm cuối của tiếng, của từ Đa số trẻ phát âm chưa chuẩn về thanh ngã () vì đây là thanh phát âm khó nhất trong các thanh, trẻ thường chuyển thanh ngã thành thanh

sắc Ví dụ "ngã" thành "ngá", "đĩa" thành "đía" Thanh hỏi cũng có nhiều trẻ phát âm thành thanh nặng như "ngủ" thành "ngụ"

Trang 13

Khi phát âm đệm, trẻ hay sai phạm vì âm đệm khi phát âm trẻ phải điều khiển sao cho môi dưới đặt vào răng, đầu lưỡi đặt vào lợi, gốc lưỡi ấn xuống, thân lưỡi cong lên thì mới phát âm đúng được, nhưng trẻ thường đọc lướt nên

thường phát âm không đúng Ví dụ từ "huếch hoác" trẻ phát âm thành từ

"hếch hác", từ "loắt choắt" phát âm thành "lắt chắt"

Các âm cuối, nhất là âm ch, nh trẻ thường phát âm sai:

Ví dụ: "anh" phát âm thành "ăn"

"ếch" phát âm thành"ất"

+ Nắm cơ cấu ngữ pháp:

Trẻ 3 - 4 tuổi đã nắm được ngữ pháp cơ bản để diễn đạt khá chính xác những nhu cầu cơ bản Ngôn ngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn (câu đơn) đến câu có nhiều âm tiết (câu phức)

Theo nghiên cứu của E.A.Arkin, trong 1000 tình huống giao tiếp của trẻ, tác giả đã thống kê được: 40% câu đơn âm tiết; 38% câu hai âm tiết; 17% câu

3 âm tiết; 4% câu 4 âm tiết; chỉ có 2% câu 5 âm tiết

Tuy nhiên trong ngôn ngữ của trẻ 3 - 4 tuổi còn chưa hoàn chỉnh về ngữ pháp, trẻ vẫn còn nói câu cụt, câu thiếu thành phần trong nhiều tình huống giao tiếp Các từ dùng trong câu còn chưa chính xác Lời nói còn chưa mạch lạc

1.3.2 Đặc điểm pháp triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi:

+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ tăng 1300 - 2000 từ trong đó danh từ, động từ

vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác tuy đã xuất hiện trong ngôn ngữ của trẻ nhưng còn ít và đôi khi trẻ sử dụng chưa chính xác

+ Phát âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:

Trang 14

Trẻ 4 - 5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi) Trẻ nói

rõ hơn, dứt khoát hơn, ít ngọng hơn, song vẫn hay sai thanh ngã, âm đệm và

+ Việc nắm ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3 - 4 tuổi Câu

nói của trẻ dài hơn, ít câu cụt hơn Khi nói câu chưa đúng, chưa chuẩn về ngữ pháp, trẻ biết sửa nhưng không biết vì sao phải sửa Trẻ đã sử dụng các câu phức hợp nhiều hơn mẫu giáo bé, trẻ biết sử dụng các câu có liên từ Kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở nội ngoại thành Hà Nội cho thấy trong 1035 câu nói của trẻ 4 - 5 tuổi có 751 câu đúng (chiếm 72,59%), 284 câu sai (chiếm 27,41%), 472 câu đơn (62,83%), 297 câu phức (37,17%)

Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống Khi giao tiếp với mọi người xung quanh trẻ thường gắn liền ngôn ngữ của mình với các sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ - Ví dụ bé H

(45 tháng tuổi), khi nhìn thấy anh (chị) lớp 1 cắp sách đi học, liền đòi mẹ "Mẹ ơi! mua sách, cặp cho H đi học" Bé Mai đi qua đường nhìn thấy người bán đồ chơi cho trẻ em liền đòi mẹ "Mẹ ơi! mua cho con con thiên nga kia"

Vào cuối 4 tuổi, khoảng 45 - 48 tháng, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết

nối kết giữa tình huống hiện tại với quá khứ thành một " văn cảnh" Ví dụ"H

có ôtô, hôm qua bố H mua cho đấy!" - H đã nói với bạn của mình như vậy…

Trang 15

Trẻ cũng đã bắt đầu hiểu và tự tiến hành những cuộc nói chuyện về các

sự vật xa hơn mà trẻ tưởng tượng, hình dung thấy trong óc, đây chính là loại ngôn ngữ ngữ cảnh Lúc này trẻ đã biết dùng ngôn ngữ mô tả lại những gì trẻ quan sát thấy, hoặc xảy ra trong đời sống hàng ngày của trẻ cho mọi người nghe

1.3.3 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi:

+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) tăng lên đáng kể Trẻ

có khoảng 3000 - 4000 từ vào cuối tuổi [35] Trẻ mẫu giáo lớn đã thường xuyên sử dụng khoảng 1033 từ [37] Trong đó loại từ được tích luỹ khá phong phú không những về danh từ, động từ mà cả về đại từ, tính từ, liên từ … Danh

từ và động từ vẫn chiếm ưu thế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng nhiều hơn Có thể nói rằng trẻ đã nắm được các loại từ có trong tiếng mẹ đẻ và đủ để trẻ có thể diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày ý nghĩa của từ với trẻ cũng phong phú hơn và khả năng nắm bắt nghĩa của từ phát triển hơn … Các từ chỉ tính chất không gian (rộng lớn, mênh mông…);

từ chỉ tốc độ (nhanh, chậm dần); từ chỉ màu sắc (xanh nhạt, phơn phớt hồng…) đã được trẻ sử dụng chính xác Trẻ đã hiểu và biết dùng các từ chỉ khái niệm thời gian (hôm qua, ngày mai, ngày kia), từ đồng nghĩa (bố mẹ - ba

má, tầu hoả - xe lửa…),từ có tính chất gợi cảm, có hình ảnh và mang sắc thái khác nhau (nắng chói chang, đi nhè nhẹ, lung linh - cười tủm tỉm); các từ chỉ mức độ, sắc thái khác nhau (be bé, bé tí, bé xíu, bé con, bé tí tị tì ti, đỏ chon chót, đỏ choét…)

Ngoài ra các loại từ khác như đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ cũng được trẻ dùng nhiều hơn các lứa tuổi khác

+ Nắm ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:

Trang 16

Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói cơ quan phát

âm đã trưởng thành mà trẻ có thể phát ra những âm chuẩn, kể cả những âm

khó của tiếng mẹ đẻ như "uềnh càng", "khúc khuỷu"… Chỉ có trong trường

hợp bộ máy phát âm bị tổn thương, hay do chịu ảnh hưởng của lời nói ngọng của những người lớn trong địa phương, trẻ mẫu giáo lớn mới phạm nhiều lỗi trong nắm ngữ âm của tiếng mẹ đẻ hoặc một số âm khó, xa lạ với trẻ thì trẻ

có thể phát âm sai Ví dụ "quét trầu" trẻ nói thành "quyết trầu"

Trẻ mẫu giáo lớn cũng đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể Trẻ thường dùng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến Ngược lại, khi giận

dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh Khả năng ấy được thể hiện rõ khi trẻ kể những câu chuyện mà mình yêu thích cho người khác nghe

+ Nắm cơ cấu ngữ pháp:

Với điều kiện sống và giáo dục tốt, trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo( 5 - 6 tuổi) đã có thể sử dụng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, mặc dù quá trình đó diễn ra một cách không có ý thức, khác với quá trình học ngữ pháp một cách có ý thức ở trường phổ thông Điều đó được thể hiện trong câu nói của trẻ có cấu trúc ngữ pháp phức tạp và nội dung biểu hiện cũng phong phú hơn nhiều so với lứa tuổi trước

Chẳng hạn: Trẻ 3 tuổi có tỷ lệ câu đơn là: 72,55%, câu phức là: 27,44% Nhưng trẻ 5 tuổi tỷ lệ câu đơn là: 62,13%, câu phức là: 37,84%

Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ (5 - 6 tuổi) còn được quyết định bởi tính tích cực của trẻ đối với ngôn ngữ Những trẻ em tích cực giao tiếp, tích cực tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của

Trang 17

ý thức thì không những hiểu từ ngữ và nắm ngữ pháp một cách sâu sắc mà còn sáng tạo ra những từ ngữ, những cách nói chưa hề có trong ngôn ngữ của người lớn

Chẳng hạn cháu nói: "Con vịt ngã lộn phèo" hay cháu dùng từ ngữ rất lạ

để nói về màu đỏ "Đỏ choen choét" Tính tích cực cao đối với ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn còn biểu hiện ở chỗ trẻ thích "sáng tác" thơ ca Nhìn chung,

thì trẻ mẫu giáo chưa thể sáng tác thơ ca theo đúng nghĩa được, nhưng ở một

số trẻ do tiếp xúc sớm với những âm hưởng thơ ca nên cũng đã bắt đầu làm thơ vào cuối tuổi mẫu giáo

Chẳng hạn: Cháu Thuý Giang đã làm bài thơ "Cái vườn" Đây là bài thơ

cháu làm đầu tiên khi cháu mới gần 6 tuổi:

"Cái vườn nho nhỏ

Cô gió đến chơi

Cô đưa võng đỏ

Ru chú mặt trời"

Cháu Ngô Thị Bích Hiền cũng đã làm bài thơ "Ông mặt trời" ngay từ lúc

cháu mới 5 tuổi:

Ông mặt trời óng ánh Toả nắng hai mẹ con Bóng em và bóng mẹ

Đi lon ton trên đường Ông mỉm cười nhìn em

Em mỉm cười nhìn ông

"Ông ở trên trời nhé Cháu ở dưới này thôi"

Trang 18

Tuy nhiên ở một số trẻ còn nói năng lộn xộn, không rõ ràng, dài dòng, không mạch lạc… Nguyên nhân chủ yếu là do vốn từ của trẻ còn nghèo, chưa biết sử dụng các từ liên kết, chưa diễn đạt đúng trình tự lôgíc của sự việc… Điều đó cho thấy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có sự khác biệt cá nhân thể hiện rõ trong ngôn ngữ hơn bất cứ lĩnh vực nào khác của sự phát triển tâm lý trẻ

Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo được thể hiện qua nói đúng cấu trúc câu của tiếng Việt Lời nói có nội dung thông báo đầy đủ, lôgíc, có hình ảnh, diễn đạt rõ ràng khi nói, viết, biết ngắt câu, giọng nói có sắc thái biểu cảm [22]

Như vậy, ngôn ngữ được coi là mạch lạc khi có đủ những yếu tố sau:

 Các câu phải đúng ngữ pháp và có nghĩa

 Nội dung thông báo phải đầy đủ, khúc chiết, chính xác và hợp lý và

có chủ đề nhất định

 Có sử dụng các phép liên kết một cách hợp lý

Trang 19

 Các hành động ngôn ngữ được thực hiện trong các câu phải dung hợp nhau và thực hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

 Có sắc thái biểu cảm trong lời nói

Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện trình độ phát triển tương đối cao không những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy nữa Đây chính

là hình thức cao nhất của ngôn ngữ, là kỹ năng khó nhất, phải đến tuổi mẫu giáo lớn kỹ năng này mới thể hiện rõ

Tóm lại, trong các độ tuổi của mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ được phát triển dần về các mặt: Vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp và xuất hiện dần kiểu ngôn ngữ mạch lạc Đến cuối tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trẻ đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt

là nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương tiện cú pháp và về phương diện tu từ, trẻ nói năng mạch lạc và thoải mái Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ trong phong

cách sinh hoạt và ở một mức độ nào đó là phong cách nghệ thuật (tức là nói năng có văn hoá)

Tuy nhiên, trong thực tế còn khá nhiều trẻ em nói năng chưa đúng, phát âm ngọng, dùng từ sai, nói câu què câu cụt, ngôn ngữ chưa mạch lạc Điều này đáng để cho các nhà giáo dục phải suy nghĩ Cần phải có cách dạy dỗ đúng

đắn để khi "tốt nghiệp" trường mẫu giáo, trẻ đã nắm vững được tiếng mẹ đẻ,

nếu không trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm tháng học tập phổ thông và trong bước đường trưởng thành sau này i

Trang 20

1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn

Đây là giai đoạn cuối cùng của trẻ em lứa tuổi “mầm non” tức là lứa tuối trước khi đến trường phổ thông

Giai đoạn này những cấu tạo tâm lí trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn những chức năng tâm lý đó

sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ nhưng vẫn còn nhiều trẻ phát âm ngọng, dùng từ sai Chủ yếu là

do trẻ học lỏm của người lớn hay bắt chước Do đó ở gia đình hay ở lớp mẫu giáo cần coi trọng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục mầm non

Trẻ bắt đầu ý thức về giới tính của mình những đánh giá nhận xét bắt đầu mang sắc thái giưois tính Trẻ thường nói: “ Con trai mà lại khóc à” hay “ con gái

mà lại đánh nhau à” Trẻ bắt đầu nhận biết mình là người thế nào có những đặc điểm gì Trẻ bắt đầu đánh giá người khác nhưng bị xúc cảm tình cảm chi phối mạnh Trẻ biết điều khiển hành vi của mình theo mục đích đã định Sự tập trung tính bền vững của chú ý tăng lên, nhu cầu nhận thức mạnh hoạt động vui chơi không thỏa mãn nhu cầu, trẻ phải tìm đến một hoạt động jmới đó là hoạt động học tập Vì vậy việc chuẩn bị sẵn sang về mặt tâm lí cho trẻ đến trường phổ thông là mọt việc làm rất quan trọng

1.5 Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi:

Chúng ta biết rằng, tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy,

để tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn… Cho nên việc phát triển tiếng mẹ đẻ cho trẻ em ở tuổi mầm non là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà ở độ tuổi

Trang 21

mẫu giáo lớn thì nhiệm vụ đó phải được hoàn thành Nếu một đứa trẻ 5 - 6 tuổi mà nói năng ấp úng, phát âm ngọng líu ngọng lô, vốn từ nghèo nàn tới mức không đủ để diễn đạt những điều mình cần nói, không sử dụng được ngữ pháp để nói mạch lạc cho người khác hiểu được mình và hiểu được người khác nói, thì có thể liệt đứa trẻ đó vào loại chậm phát triển Và như vậy, cần phải có biện pháp phù hợp để kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ cả về vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp và ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Chỉ chú ý phát triển một hoặc một số mặt nào đó thì chúng ta vẫn chưa hoàn thành nhiệm vụ này

1.5.1 Phát triển vốn từ:

Có thể nói rằng, đến 5 tuổi trẻ đã tích luỹ được vốn từ khá phong phú, không những danh từ, động từ mà cả tính từ, liên từ… đủ để giao tiếp với những người xung quanh Việc phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ là cung cấp

từ mới cho trẻ mà cần giúp trẻ mở rộng nghĩa của từ mà trẻ đã biết Chẳng hạn

nếu trước đây trẻ hiểu từ "ngủ" là để chỉ một người nào đó đang ngủ (em bé, ông bà, bố mẹ…) thì giờ đây cần giúp trẻ hiểu một cách khái quát hơn: Ngủ là

từ chỉ tất cả những sinh vật đang ngủ (em bé ngủ, con mèo ngủ…) Tương tự như vậy, cùng một từ "ăn" diễn đạt cho nhiều đối tượng (Em bé đang ăn, con gà

đang ăn, con mèo đang ăn…)

1.5.2 Rèn phát âm và sử dụng ngữ điệu thích hợp:

- Việc luyện tập cho trẻ phát âm đúng và dùng ngữ điệu đúng thích hợp được diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động của trẻ Trước hết là trong giao tiếp hàng ngày của trẻ với người lớn, với bạn bè Trong cuộc sống hàng ngày người lớn cần thường xuyên giao tiếp bằng ngôn ngữ với trẻ Khi giao tiếp với trẻ, người lớn phải phát âm rõ ràng, phát âm đúng để trẻ bắt chước,

Trang 22

uốn nắn, tập cho trẻ phát âm đúng các âm tiết của tiếng mẹ đẻ, nhất là những

âm khó như uềnh oàng, khúc khuỷu…, những âm khó phân biệt dẫn đến nói ngọng: l - n, ch - tr, s - x, p - ph…

Trong giao tiếp hàng ngày, người lớn không chỉ rèn luyện cho trẻ phát

âm đúng mà cần tập luyện cho trẻ biết sử dụng ngữ điệu đúng, thích hợp với hoàn cảnh, tâm trạng cụ thể (Dùng ngôn ngữ êm dịu, nhẹ nhàng, tình cảm để biểu thị tình cảm yêu thương của trẻ, ngôn ngữ thô mạnh khi giận dữ…)

- Trong việc tổ chức cho trẻ chơi, trong hoạt động học tập và đặc biệt trong khi kể chuyện cho trẻ nghe và khi trẻ kể chuyện cho người khác nghe chúng ta cần dạy trẻ phát âm đúng và sử dụng những ngữ điệu thích hợp Người lớn kể chuyện cho trẻ nghe phải có giọng kể hấp dẫn, phát âm chuẩn,

rõ, biết sử dụng ngữ điệu thích hợp để diễn tả tính cách nhân vật Trẻ sẽ tập trung chú ý cao độ vào ngôn ngữ kể chuyện của người lớn trên cơ sở đó trẻ học được cách phát âm, dùng ngữ điệu thích hợp và kể lại chuyện theo sự sáng tạo của mình Khi kể lại chuyện, người lớn cần uốn nắn cho trẻ cách phát

âm đúng các âm khó sử dụng ngữ điệu thích hợp trong những tình huống cụ thể

1.5.3 Rèn trẻ nói đúng ngữ pháp:

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì cung cấp, phát triển vốn từ cho trẻ là rất quan trọng, song việc luyện tập cho trẻ biết nói đúng cấu trúc câu trong tiếng mẹ đẻ, không nói câu què, câu cụt, nói nhát ngừng, nói lộn ngược vị trí

từ trong câu còn quan trọng hơn nhiều

Vì vậy trong giao tiếp hàng ngày hay trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ người lớn phải tập cho trẻ nói đúng cấu trúc câu: Có chủ ngữ, có

vị ngữ, sử dụng trạng từ, bổ ngữ phù hợp Do trẻ chưa ý thức một cách đầy đủ

Trang 23

về vị trí xã hội, về chuẩn mực hành vi nên nhiều khi trẻ còn nói trống không (thiếu chủ ngữ) với mọi người, khi ấy người lớn cần phải nghiêm túc, yêu cầu trẻ nói lại một cách đầy đủ

Cần phải tạo nhiều tình huống, cơ hội để trẻ giao tiếp, bộc lộ những ý muốn, hiểu biết của mình với người lớn, bạn bè bằng lời nói của chính trẻ, quan sát trẻ nói với nhau, qua đó sửa sai uốn nắn câu cho trẻ

1.5.4 Phát triển ngôn ngữ mạch lạc:

Trong quá trình giao tiếp và trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động để kích thích trẻ nói năng mạch lạc người lớn cần tạo điều kiện để trẻ nói rõ ràng, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý, nêu bật được các ý cần nhấn mạnh để người nghe hiểu một cách dễ dàng Cụ thể như cần cho trẻ mô tả lại trường mầm non hay công viên trước khi xây dựng nó Hoặc tập cho trẻ kể sáng tạo chuyện cổ tích sau khi nghe cô giáo kể, hướng dẫn trẻ dùng ngữ điệu để nhấn mạnh, làm nổi bật tính cách, nội dung câu chuyện, sắp xếp các ý theo lôgíc cốt chuyện Cần tạo điều kiện cho trẻ tự nhận xét, đánh giá bạn trong khi học khi chơi …Ví dụ như nhận xét bạn đóng vai, nhận xét tranh vẽ của bạn, vì sao cháu lại thích bức tranh này … Trong khi dạy nói cho trẻ thì sự kiên trì của người lớn là rất cần thiết Để tập cho trẻ nói năng mạch lạc theo một trình tự lôgíc, dễ hiểu người lớn phải biết lắng nghe trẻ nói, tập cho trẻ sắp xếp lại (nói lại) những điều cần nói theo một mạch lôgíc mặc dù có thể người lớn đã hiểu

ý trẻ định nói là gì

Ngôn ngữ mạnh lạc còn được trẻ thể hiện ở chỗ trẻ nói năng văn hoá tức

là nói tự tin, thoải mái, vừa đủ nghe, không hét, không quát to, không nói tục chửi bậy…Vì vậy, một mặt người lớn phải gương mẫu về lời ăn tiếng nói khi giao tiếp với trẻ và giao tiếp với nhau để làm gương cho trẻ noi theo Mặt

Trang 24

khác phải nghiêm khắc uốn nắn kịp thời khi trẻ nói năng tục tằn, thô lỗ không chuẩn mực, giúp trẻ biết có những lời nói thể hiện sự tôn trọng, lễ phép với người lớn, dịu dàng với em nhỏ, không nói leo, không nói dối, nói tục chửi bậy, không gây ồn ào làm ảnh hưởng đến mọi người xung quanh mình

Trang 25

Chương 2 Thực trạng biểu hiện ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

2.1 Vài nét khái quát về khách thể nghiên cứu

Trong thời gian 10 tuần thực tập tại trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc Tôi đã có điều kiện được tiếp xúc trò chuyện với các phụ huynh và các cháu ở khu vực này phần lớn các phụ huynh ở đây là gia đình cán bộ công chức, học có điều kiện chăm sóc con cái Con cái của họ cũng rất ngoan và thông minh, nhanh nhẹn, các cô giáo ở đây rất nhiệt tình, năng động, họ chăm sóc nuôi dạy trẻ rất chu đáo Đa phần các giáo viên đều có trình độ, với các phương pháp giảng dạy tiên tiến mỗi lớp đều có máy tính, đàn và đồ dùng phong phú Nó ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của trẻ, giúp trẻ có điều kiện học tập, lĩnh hội kiến thức tốt hơn Ở lớp mẫu giáo lớn tôi chủ nhiệm có cô giáo rất nhiệt tình năng động, trang thiết bị dạy học đầy đủ, phòng học sạch sẽ thoáng mát, trẻ rất nhanh nhẹn hoạt bát Trong các giờ học trẻ chăm chú nghe giảng, tích cực hoạt động, thưa gửi lễ phép, các hoạt động đàm thoại, tiến hành dễ dàng vì ngôn ngữ của trẻ rất phát triển, các cháu trả lời câu hỏi rõ ràng rành mạch đặc biệt rất ít trẻ phát

âm sai chữ “ L-N” trẻ phát âm tương đối chuẩn Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số trẻ vẫn chậm nói, giao tiếp còn kém

Những thực trạng trên có ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, để tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ tôi đã tiến hành dự giờ

và ghi rõ những biểu hiện của ngôn ngữ của trẻ

Trang 26

2.2.1 Thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

Để tìm hiểu thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn Tôi đã sử dụng các khái niệm ngôn ngữ cơ bản “ tiến hành khảo sát 30 cháu lớp mẫu giáo lớn 5 tuổi”

Cách tiến hành

+ Tôi chuẩn bị các học liệu lien quan đến việc khảo sát

+ Tôi đưa ra các từ và yêu cầu trẻ trả lời và thực hiện theo yêu cầu của cô

Câu hỏi 1: Hãy nhìn các hình có ngôi sao vẽ trên tờ giấy Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên tờ giấy có ngôi sao ở phía trên

Câu hỏi 2 : Hãy nhìn các hột chuỗi với những sợi dây các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên hình có sợi dây xuyên qua

Câu hỏi 3: Hãy nhìn những chiếc thuyền trong bức tranh các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên chiếc thuyền xa nhất

Câu hỏi 4: Hãy nhìn xem những bông hoa

Cháu vẽ một dấu cộng lên trên bông hoa ở chính giữa

Câu hỏi 5: Hãy nhìn những hình vuông với những bong bong tròn các cháu hãy

vẽ một dấu cộng lên trên hình vuông có bong bong tròn xung quanh

Câu hỏi 6: Hãy nhìn những quả bong và các cây Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên quả bong ở trên cao nhất

Câu hỏi 7: Hãy nhìn những cái chai, cốc và thìa Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên món đồ ở giữa những cái cốc

Câu hỏi 8: Hãy nhìn mấy bạn nữ đang đến trường học Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên hình bạn nữ đi đến gần cửa nhất

Trang 27

Câu hỏi 9: Hãy nhìn những con vịt đang đi Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên con vịt thứ nhì

Câu hỏi10: Hãy nhìn những nhóm thú vật vẽ một chữ thập lên trên nhóm mà có nhiều con thỏ

Câu hỏi 11: Hãy nhìn cái ghế và các đồ chơi Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên đồ chơi ở đằng sau chiếc ghế

Câu hỏi 12: Hãy nhìn hình của những chiếc nhà và những bạn trai Các cháu hãy

vẽ một dấu cộng lên trên hình có bạn trai đang ở trong nhà

Câu hỏi 13: Hãy nhìn bạn búp bê và những đồ chơi Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên đồ chơi ở phía bên phải búp bê

Câu hỏi 14: Hãy nhìn những củ cà rốt và chú thỏ Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên củ cà rốt ở phía bên trái chú thỏ

Câu hỏi 15: Hãy nhìn các đồ chơi Các cháu hãy vẽ một dấu cộng lên trên đồ chơi ở kề bên chiếc máy bay

Tương tự với một số từ khác tôi cũng cho trẻ làm như trên

Qua tiến hành đo nghiệm tại lớp 5 tuổi với tổng số 30 trẻ tôi thu được kết quả sau

Bảng 1: Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua bài tập

Trang 29

Từ kết quả trên cho thấy mức độ hiểu từ ở trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen không đồng đều có nhiều khái niệm được đa số trẻ hiểu đúng nhưng lại có một số khái niệm trẻ hiểu sai

Trong 40 khái niệm ngôn ngữ có 13 khái niệm (32,5%) số trẻ trả lời đúng chiếm

tỉ lệ rất cao từ 90%-100% có 17 khái niệm (42,5%) có số trẻ trả lời đúng từ 70% trở xuống Có 4 khái niệm (10%) đó là “ trong nhà”, “nhiều nhất”, “ cúi xuống” không có trẻ trả lời đúng với kết quả tối đa là 100%

Trẻ đạt được kết quả này là do các khái niệm ngôn ngữ đó đơn giản gần gũi với trẻ

Đa phần số trẻ hiểu chưa đúng các khái niệm ngôn ngữ: “ mỗi, đối diện, bên phải, bên trái, kề bên, kia Các khái niệm này cần trẻ phải căn cứ vào 1 vị trí cụ thể, 1 đồ vật cụ thể mới suy ra được khái niệm trong đó khái niệm “ mỗi” ( có 6 trẻ chiếm 20% trả lời đúng)

Bảng 2 Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn theo mức độ tăng dần

độ hiểu từ trung bình, mức độ hiểu từ thấp

- mức độ hiểu từ cao chiếm tỉ lệ 23,3%

Trang 30

- mức độ hiểu từ trung bình chiếm tỉ lệ 30%

- mức độ hiểu từ thấp chiếm tỉ lệ 46,7%

Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn đã có sự khác biệt so với cá lứa tuổi trước Trẻ mẫu giáo lớn có được số lượng từ khá phong phú và mức độ hiểu từ cũng đã tăng lên Vì trẻ càng lớn thì khả năng nhận thức của trẻ càng phát triển do trẻ được tiếp xúc, hoạt động nhiều với thế giới đồ vật với tự nhiên và xã hội

Tuy nhiên ở trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen thì mức độ hiểu từ chưa đạt vì mức độ hiểu từ thấp vẫn chiếm tỉ lệ 46,7% Trẻ vẫn chưa nắm vững được từ ngữ để bước vào trường phổ thông dễ dàng được Nguyên nhân chủ yếu

là do trẻ chưa được tham gia nhiều vào các hoạt động học tập, giáo viên chưa có những biện pháp tôt để cung cấp vốn từ và nâng cao khả năng hiểu từ của trẻ

Biểu đồ1: Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn Trường Mầm Non Hoa Sen

45

Ngày đăng: 17/07/2015, 07:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua bài tập - Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Bảng 1 Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua bài tập (Trang 27)
Bảng 2. Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn theo mức độ tăng dần - Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Bảng 2. Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo lớn theo mức độ tăng dần (Trang 29)
Bảng 4: Thực trạng sử dụng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi trường  mầm non Hoa Sen - Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Bảng 4 Thực trạng sử dụng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi trường mầm non Hoa Sen (Trang 35)
Bảng 5: Khả năng nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi C - Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Bảng 5 Khả năng nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi C (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm