Thực tế hiện nay ở các trường mầm non hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo nói chung, mẫu giáo lớn nói riêng vẫn chưa phát huy được tính tích cực của trẻ.. Với mong
Trang 11
Lời cảm ơn
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Phạm Đức Hiếu, Thạc sĩ, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này Những ý kiến của thầy đã giúp em tìm ra cách tốt nhất để giải quyết những vấn đề khó khăn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, cùng các giáo viên trường mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên đã giúp em trong quá trình thực hiện đề tài
Do thời gian có hạn nên không tránh được những hạn chế, thiếu sót Em mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khoá luận
được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 05 năm 2011 Người thực hiện
Trần Thị Nguyệt
Trang 22
Lời Cam đoan
Tôi xin cam đoan:
1 Đề tài “Phát huy tính tích cực của trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động
hình thành biểu tượng hình dạng ” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi trên cơ sở giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, có tham khảo các tài liệu
2 Khóa luận không sao chép từ các tài liệu có sẵn nào
3 Kết quả nghiên cứu chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào
Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Người thực hiện
Trần Thị Nguyệt
Trang 33
Mục lục
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
Nội dung Chương 1 : Cơ sở lí luận 3
1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 3
1.1.1 Một số đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 3
1.1.2 Một số đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 4
1.1.3 Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ mẫu giáo lớn 4
1.1.4 Một số đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo lớn: xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic 6
1.2 Một số vấn đề về biểu tượng hình dạng và hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn 8
1.2.1 Khái niệm cơ bản về hình học và các dạng hình hình học 8
1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn về biểu tượng hình dạng 9
Trang 44
1.2.3.Đặc điểm phát triển những biểu tượng hình dạng 10
1.2.4 Nội dung hình thành 10
1.2.5 Mục tiêu của hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
cho trẻ mẫu giáo lớn 11
1.3 Một số vấn đề dạy học theo phương hướng phát huy
tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 11
1.3.1 Tính tích cực 12
1.3.2 Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 14
1.3.2.1 Những biểu hiện của tính tính tích cực nhận thức ở trẻ
mẫu giáo lớn trong quá trình làm quen với các biểu tượng toán 16 1.3.2.2 Phân loại tính tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 19
1.3.3 Sự phù hợp giữa các biểu tượng hình dạng với việc
dạy trẻ theo hướng phát huy tính tích cực 20
Chương 2: phát huy tính tích cực của trẻ
mẫu giáo lớn qua hoạt động hình thành
biểu tượng hình dạng 22 2.1 Nguyên tắc hình thành biểu tượng hình dạng 22
2.1.1 Nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với
thực tiễn cuộc sống 22
2.1.2 Phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ, chú ý đến
Trang 55
sự phát triển cá nhân 22
2.1.3 Dạy học vừa sức tiếp thu của trẻ 23
2.1.4 Dạy học dựa vào trực quan, đảm bảo sự thống nhất giữa trực quan và trừu tượng 23
2.1.5 Nguyên tắc dạy học có mở rộng 23
2.2 Phương pháp hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn 23
2.2.1 Dạy trên giờ học 24
2.2.1.1.Đối với các hình học phẳng 24
2.2.1.2 Đối với các hình khối 25
2.2.2 Dạy ngoài giờ học 28
2.3 Một số phương pháp dạy học hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 28
2.3.1 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 28
2.3.2 Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ 30
2.3.3 Thông qua các trò chơi học tập 32
2.3.4 Thông qua các giờ học khác 34
2.4 Quy trình thiết kế hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng phát huy được tính tích cực của trẻ 35
Trang 66
Chương 3: Một số giáo án thiết kế hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
lớn theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 37
3.1 Mẫu giáo án thiết kế hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ 37
3.2 Một số giáo án tham khảo 38
3.3 Lưu ý 50
Kết luận chung và kiến nghị sư phạm 52
Kết luận chung 52
Một số kiến nghị 52
Tài liệu tham khảo 54
Trang 7Các hình hình học đóng vai trò rất to lớn trong việc nhận biết hình dạng vật thể Vì vậy việc cho trẻ làm quen với các hình hình học, dạy cho trẻ nhận biết, phân biệt, nắm được một số dấu hiệu đặc trưng của các hình là rất quan trọng Mặt khác việc cho trẻ nhận biết hình dạng các vật thể còn giúp trẻ thấy được sự phong phú, đa dạng và vẻ đẹp của thế giới đồ vật xung quanh trẻ Hơn nữa kiến thức về hình dạng vật thể là phương tiện giúp trẻ định hướng dễ dàng hơn trong môi trường xung quanh trẻ nhưng
để trẻ có được những kĩ năng này cần có sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, vì vậy để việc lĩnh hội những tri thức nàymột cách hiệu quả và có hệ thống thì giáo viên phải phát huy được tính tích cực của trẻ trong hoạt động này
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực trong xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục Điều 5 Luật giáo dục năm 2005 ghi rõ “Phương pháp giáo duc phải phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, kĩ năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Tính tích cực biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu, thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, huy động cao các chức năng tâm lí, nhằm đạt
Trang 88
được mục đích đưa ra với chất lượng cao Nâng cao tính tích cực, tính độc lập trong hoạt động nhận thức là một yêu cầu cơ bản để đào tạo ra những con người tự chủ, năng động, sánh tạo Như vậy có thể coi tính tích cực là
điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trẻ
Thực tế hiện nay ở các trường mầm non hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo nói chung, mẫu giáo lớn nói riêng vẫn chưa phát huy được tính tích cực của trẻ Trong trường mầm non vẫn còn tồn tại kiểu dạy học trong đó trẻ họat động một cách thụ động, giáo viên vẫn là trung tâm, giáo viên chưa áp dụng phương pháp dạy học tích cực Chính
điều này làm giảm đáng kể tính tích cực của trẻ và làm giảm chất lượng tiếp thu bài học của trẻ
Với mong muốn phát huy tính tích cực của trẻ trong giờ học, nâng cao chất lượng dạy và học trong trường mầm non, chúng tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu của mình là “Phát huy tính tích cực của trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về tính tích cực của trẻ, đề xuất quy trình phát huy tính tích cực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong quá trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
3.2 Đề xuất quy trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng phát huy tính tích cực của trẻ
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và hệ thống hoá các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu 4.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
4.3 Phương pháp quan sát
Trang 99
Nội dung Chương 1 : Cơ sở lí luận
1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.1.1 Đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Những chỉ số phát triển bình thường của giai đoạn này như sau:
Chiều cao Bé nam: 99cm
Bé nữ: 98cm Cân nặng Bé nam: 15kg
Bé nữ: 14kg
Sự phát triển của hệ xương: Xương của trẻ đã dần cứng cáp hơn khi trẻ
lên 3 tuổi, song do quá trình can-xi hoá chưa hoàn chỉnh nên xương của trẻ 5 tuổi có tính đàn hồi và tương đối mềm Đáng nói hơn là có sự phát triển của cơ bắp, tới 5 tuổi trẻ trở nên dẻo dai hơn
Nhờ có sự phát triển của hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ xương, trẻ có thể thực hiện thành thạo các động tác đòi hỏi sự phối hợp của các bộ phận trên cơ thể như: thể dục nhịp điệu, múa hát kết hợp
Thời kì này, những động tác của trẻ đang định hình đến độ chính xác:
bé trai thật sự hiếu động còn bé gái đã biết làm duyên và khá điệu đà Đồng thời bé cũng có thể làm những vệ sinh cá nhân thành thạo hơn nhiều
Thời kì này, đôi tay của trẻ cũng trở nên linh hoạt rất nhiều Trẻ có thể thực hiện động tác hoàn chỉnh và tinh tế
Như vậy, đây là thời kì cơ thể của trẻ phát triển mạnh mẽ Để phát triển thể chất cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện về hình dáng cũng như như củng cố, phát triển các chức năng quan trọng của cơ thể trẻ thì cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường Sự kết hợp này có thể thông qua một số hình thức ở trường mầm non như: thể dục buổi sáng, trò chơi vận động, dạo chơi
Trang 1010
cũng như trong sinh hoạt hàng ngày như: đi trên đường cao, thấp, bước qua rãnh nước Thông qua các hình thức này, các kĩ năng được củng cố và phát triển và các tố chất: sức bền, dẻo, linh hoat được hình thành
1.1.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh ở độ tuổi
này, tim của trẻ có trọng lượng nặng gấp 5 lần lúc mới sinh Tim trẻ đập nặng gấp 5 lần lúc mới sinh Tim trẻ đập chậm hơn so với các lứa tuổi trước nhưng
vẫn còn khá nhanh so với người lớn
Thành phần máu của trẻ 5-6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất, huyết sắc tố 80-90%, hồng cầu 4,5-5 triệu đơn vị, bạch cầu 7-10 nghìn, tiểu cầu 200-300 nghìn
Hệ thần kinh: Sự hoạt động của trẻ ở 5-6 tuổi là thời kì phát triển nhanh
rõ nhất trong cả đời người Kết cấu thần kinh ở não có xu thế sớm trưởng thành Song ở lứa tuổi này do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa ổn
định nên nếu trẻ làm gì đơn thuần và kéo dài và đơn thuần sẽ bị mệt mỏi
Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa đầy đủ như
ở người lớn Vì vậy trẻ phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ lượng o-xy cần thiết Càng nhỏ, nhịp thở càng nhanh và nông (khoảng 20-25 lần trên một phút)
Như vậy ở thời kỳ này các cơ quan và hệ cơ quan của trẻ phát triển mạnh nên người lớn cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, rèn luyện cơ thể trẻ giúp cho các cơ quan và hệ cơ quan phát triển Đây chính là điều kiện giúp trẻ cảm nhận và khám phá môi trường xung quanh
1.1.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn
Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày
Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở mẫu giáo lớn theo các hướng sau:
- Về mặt ngữ âm: do tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi người lớn nói, mặt khác các cơ quan phát âm đã trưởng
Trang 1111
thành tới mức trẻ phát âm tương đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ
đẻ (như: uềnh oàng, khúc khuỷu ) khi nói năng
- Về ngữ điệu: trẻ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu truyện mà trẻ kể
- Về vốn từ và ngữ pháp
Từ 5-6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ, đây cũng là giai
đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ,
động từ giảm đi ( chỉ còn khoảng 50%) nhường chỗ cho tính từ và các từ loại khác tăng lên
- Sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc
Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi mẫu giáo lớn đó là kiểu ngôn ngữ giải thích ở độ tuổi này trẻ có nhu cầu giải thích cho các bạn cùng độ tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều chuyện khác, giải thích cho người lớn những điều mà trẻ cần họ hiểu Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất
định, phải nêu bật được những điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết với sự vật và hiện tượng hợp lý, có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ,
do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc
Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và với những người xung quanh, đặc biệt với sự phát triển trí tuệ của trẻ
Tuy nhiên trên thực tế trẻ mẫu giáo lớn vẫn còn nhiều em còn mắc các tật nói ngọng, nói câu không đủ thành phần, dùng từ sai Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn là một trong những nhiệm vụ quan trọng để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý
Đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ hiểu được mình là người như thế nào có những phẩm chất gì, những người xung quanh mình đối xử với mình ra sao và
Trang 1212
tại sao mình lại có những hành động này hay hành động khác ý thức bản ngã hay tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự đánh giá thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa
ở tuổi mẫu giáo lớn sự tự ý thức còn được thể hiện ở sự phát triển giới tính của trẻ Trẻ biết được mình là trai hay gái và điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với giới tính
ý thức bản ngã xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp với các quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cánh đậm nét hơn trước
ý thức bản ngã xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện hành động một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định
Do sự xác định ý thức bản ngã được rõ ràng hơn và các quá trình tâm lý không chủ định chuyển dần sang các quá trình tâm lý mang tính chủ định, làm cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui chơi và cuộc sống
1.1.4 Một số đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo lớn: xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic
Tư duy trực quan sơ đồ tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là
điều kiện cần thiết để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuân khổ của việc tìm hiểu những sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng để
đạt tới tri thức khái quát
Tư duy trực quan sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã bị mất đi các chi tiết rườm rà mà
Trang 13Tư duy trực quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn đứa trẻ đến ngưỡng của tư duy trìu tượng, sẽ cho trẻ em hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát mà sau này
sự hình thành khái niệm sẽ được tiến hành chủ yếu dựa trên đó Độ tuổi mẫu giáo lớn còn xuất hiện kiểu tư duy lôgic điều này giúp trẻ hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng từ ngữ hay các kí hiệu khác khi giải những bài toán tư duy độc lập
Một số nghiên cứu cho thấy rằng trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội
được một số khái niệm đơn giản trong điều kiện được dạy dỗ đặc biệt, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi Điều đó giúp trẻ thay đổi khá nhiều trong tư duy của chúng, biểu hiện nảy sinh các yếu tố tư duy lôgic, tất nhiên là phải có sự dạy
dỗ đặc biệt
Cuối tuổi mẫu giáo trẻ lĩnh hội được các chuẩn (về màu sắc lấy chuẩn 7 màu trong quang phổ, về âm thanh lấy chuẩn 7 nốt trong một thang nhạc (ở phương Tây) hay 5 nốt (ở Châu á) ) Nhờ đó trẻ em tách biệt được trong số các biến dạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính vô cùng đa dạng xung quanh với các chuẩn Nhờ đó mà tư duy của trẻ chuyển dần sang một giai
đoạn cao hơn
Như vậy chúng ta cần hiểu rằng trong thang bậc phát triển tâm lý chung thì tư duy lôgic đứng cao hơn tư duy trực quan hình tượng song như thế hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta phải cố gắng thúc đẩy trẻ em chuyển sang hiểu tư duy lôgic Tư duy hình tượng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo ngay cả trong nghiên cứu của các nhà khoa học Chúng ta cần phải phát triển
Trang 141.2 Một số vấn đề về biểu tượng hình dạng và hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.1 Khái niệm cơ bản về hình hình học và các dạng hình hình học
- Khái niệm: Hình hình học là một tập hợp các điểm [5;81]
Như vậy hình hình học được cấu tạo từ tập hợp các điểm, do đó một
điểm cũng được coi là một hình hình học
Trong khi nghiên cứu hình hình học, phân ra hai mức độ tư duy:
+ Mức độ thứ nhất (đơn giản): Các hình hình học được xem xét toàn bộ (nguyên) và chúng được phân chia theo hình dạng
Ví dụ: Nếu cho các cháu xem hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật và nói tên gọi tương ứng thì sau một thời gian các cháu có thể nhận ra các hình này không bị nhầm lẫn
ở mức độ này các cháu chỉ nhận biết và gọi tên các hình chứ chưa có sự phân tích các hình
+ Mức độ thứ 2: Có sự phân tích các hình mà các cháu xem, trong khi phân tích trẻ đã phân chia các hình theo những tính chất của chúng Tuy nhiên những tính chất đó chưa thật hoàn chỉnh Chẳng hạn như hình vuông có 4 cạnh
Trang 15 Ngoài giờ học cho trẻ làm quen với một số hình khác: Hình thoi, hình bình hành, hình thang, các dạng khác nhau của tam giác
1.2.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn về biểu tượng hình dạng
Khả năng nhận biết, phân biệt các hình hình học bằng các hoạt động của tay
và mắt của trẻ theo đường bao được tiến triển hoàn thiện:
+Trẻ đã chủ động sờ mó bằng cả hai tay, cầm nắm vật bàng các đầu ngón tay, biết đưa mắt quan sát theo đường bao của vật, phần chủ yếu đặc trưng cho hình dạng của vật Đó là điều kiện giúp trẻ khảo sát đầy đủ, đúng
Ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thị giác, xúc giác và ngôn ngữ đã tạo điều kiện giúp trẻ thu nhận các kiến thức về hình dạng chính xác hơn, giúp trẻ củng cố nhớ lâu điều mà mình cảm giác
được Lời nói còn giúp cho nhận thức của trẻ được tổng quát hơn
Trẻ có thể hiểu được các tính chất đơn giản của các hình hình học, có thể phân biệt được các hình các vật theo các nhóm phù hợp và gọi tên được các
Trang 161.2.3 Đặc điểm phát triển những biểu tượng hình dạng
Sự phát triển các biểu tượng hình dạng ở trẻ nhỏ là một quá trình phức tạp, chỉ số cho sự phát triển trí tuệ của trẻ chính là việc phất triển ở trẻ khả năng nhận biết hình dạng các vật, nhóm các vật theo hình dạng, nắm được các hình học và có khả năng sử dụng các hình chuẩn vào việc xác định hình dạng của vật trong môi trường xung quanh
Quá trình tri giác của trẻ cũng hoàn thiện hơn, óc suy luận phán đoán của trẻ chính xác và lôgic hơn Trẻ nhận biết hình dạng và chi tiết của các vật
đúng hơn Nhiều trẻ có khả năng tạo ra nhiều hình dạng mới từ những hình mà trẻ biết
Ví dụ: Từ hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật mà trẻ có thể tạo ra được các phương tiện giao thông hay những ngôi nhà…
Trình độ khảo sát của trẻ đã cao hơn trước, trẻ chủ động sờ mó vật bằng hai tay, cầm nắm các vật bằng đầu ngón tay, biết đưa mắt quan sát theo đường bao của vật Đó là điều kiện giúp trẻ khảo sát đầy đủ, đúng
1.2.4 Nội dung hình thành
Mở rộng và làm phong phú hơn biểu tượng về các hình hình học cho trẻ
-Dạy trẻ biện pháp khảo sát các khối cầu khối vuông, khối trụ và khối chữ nhật nhằm giúp trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng của cá hình khối như: Cấu tạo về mặt bao quanh khối, số lượng các mặt, các góc của chúng và hình dạng của mặt khối
-Dạy trẻ so sánh khối cầu và khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật nhằm giúp trẻ thấy được sự giống và khác nhau giữa chúng
Trang 1717
-Luyện tập cho trẻ xác định hình dạng của những vật xung quanh trẻ trên cơ
sở so sánh hình dạng của chúng với các hình đã biết [5;87]
1.2.5 Mục tiêu của hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn
-Kiến thức:
+ Trẻ biết cách khảo sát các hình khối, nắm được các dấu hiệu đặc trưng của các hình khối như mặt bao, số lượng các mặt, hình dạng các mặt
+Trẻ biết cách so sánh, phân biệt các hình khối theo dấu hiệu của chúng
+Trẻ biết vận dụng những hiểu biết về hình dạng vào thực tiễn, biết xác định hình dạng của các vật xung quanh
-Kĩ năng:
+Phát triển khả năng tri giác
+Phát triển các quá trình tâm lí cho trẻ: Ghi nhớ, chú ý…
+Phát triển vốn từ
-Giáo dục:
+Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học một cách tích cực, chủ động
1.3 Một số vấn đề dạy học theo phương hướng phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Điều 4: Luật Giáo dục Việt Nam 2005 đã nêu rõ nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và chuyên ngành phương pháp giảng dạy nói riêng: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ
động của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê tự học và ý chí vươn lên"
Như vậy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục mầm non trong quá trình dạy học Vì vậy nó luôn là vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn dạy học được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu trao đổi và bàn luận
Trang 1818
1.3.1 Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong tự nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, tạo nền văn hoá ở mỗi thời đại, chủ động cải tiến môi trường tự nhiên và cải tạo xã hội
Khi bàn về tính tích cực, Ph.Ăngghen cho rằng: Tính tích cực là đặc tính chung của mọi sinh vật sống, là sự tự vận động của sinh vật sống Tính tích cực không chỉ là nguồn gốc duy trì hay biến đổi các mối quan hệ có ý nghĩa sống còn của sinh vật sống với thế giới xung quanh mà còn mang đến cho sinh vật sống khả năng tự điều chỉnh thích nghi với thế giới xung quanh
ấy
Phát triển học thuyết Mac - Ăng ghen, V.L Lênin cho rằng tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể với đối tượng xung quanh, là khả năng của con người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh các nhu cầu năng lực của
họ thông qua các mối quan hệ xã hội
Như vậy, dưới góc độ triết học thì tính tích cực có nguồn gốc từ yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong đó có yếu tố bên trong giữ vai trò quyết
định tính tích cực là một đặc tính của sinh vật sống luôn luôn vận động và phát triển đi lên tính tích cực chính là thái độ cải tạo và biến đổi của chủ thể
đối với khách thể, vì thế nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thế giới hiện thực khách quan và biến đổi cải tạo nó
Trong một số từ điển ngôn ngữ, từ điển tâm lý học của các nước, thuật ngữ tích cực được xem xét gắn liền với hoạt động, với hành động bên trong của chủ thể Nó là điều kiện thúc đẩy, tạo ra hoạt động hay là biến đổi hoạt
động Tính tích cực bao hàm tính chủ động, tính chủ định có ý thức của chủ thể, nó đối lập với tính bị động Tính tích cực thể hiện tính ổn định của hoạt
động, thể hiện ý chí và tính độc lập của chủ thể với môi trường bên ngoài
Trang 19Từ góc độ chức năng và vai trò của chủ thể đối với thế giới bên ngoài, các tác giả V.Ia.Roma nov, X.Đ.Xmiôv cho rằng tính tích cực chính là tính chủ động của chủ thể, tính tích cực thể hiện chức năng chỉ bảo hoạt động của con người
Quan điểm cuối cùng là xem tính tích cực của nhân cách là khả năng của con người tiến hành việc cải tạo thế giới mang ý nghĩa xã hội trên cơ sở tiếp thu sự giàu có của nền văn hoá vật chất và tinh thần, được thể hiện trong
sự sáng tạo trong giao tiếp, trong các hành động ý chí
Trên cơ sở phân tích những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng, tính tích cực là phẩm chất quan trọng của nhân cách, là thái độ cải tạo, biến
đổi của chủ thể đối với thế giới xung quanh Tính tích cực gắn liền với hoạt
động, là thuộc tính của sự tự vận động của hoạt động Tính tích cực luôn mang tính chủ động, nó đối lập với tính bị động, động cơ, nhu cầu và hứng thú hoạt
động chính là nguồn gốc bên trong của tính tích cực, là động lực thúc đẩy con người hoạt động tính tích cực cần phải được định hướng đúng đắn, phải nhằm phục vụ cho những mục đích tốt đẹp, cao cả thì hoạt động của con người mới
có giá trị đích thực, mới đem lại lợi ích cho bản thân và xã hội Nói tính cách này được giáo dục ngay từ bé bằng cách tạo ra những tình huống để trẻ em tự tìm cách thoả mãn đòi hỏi của mình, đôi khi người lớn có thể mách bảo, nhưng tránh lối làm thay tạo cho trẻ thói ỷ lại, thụ động chờ đợi, kết quả của mỗi lần tự làm như vậy sẽ động viên trẻ hăng hái tự lập, giải quyết các nhu cầu của mình và dần dần chủ động tham gia vào công việc chung của gia đình, tập thể Để duy trì liên tục tính tích cực cần có sự theo dõi và đánh giá của
Trang 20động và trong hoạt động học tập tính tích cực thực chất là tính tích cực nhận thức
1.3.2 Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Khái niệm tính tích cực nhận thức được đề cập đến trong Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết như là "Thái độ tích cực của trẻ đối với sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, sự ham muốn vượt ra ngoài những phạm vi đã biết, sự mong mỏi mở rộng phạm vi hiểu biết và sử dụng chúng một cách sáng tạo trong lý luận và thực tiễn Tính tích cực nhận thức có mối quan hệ chặt chẽ với óc quan sát, với năng lực phân tích những khía cạnh cũng như các mối quan hệ đặc thù trong các hiện tượng và sự kiện”.[10; 12]
Lứa tuổi mẫu giáo đã xuất hiện tính tích cực ở bình diện cao nhất - tính tích cực của hoạt động trí tuệ, tính tích cực được thể hiện trong hoạt động và mức độ phát triển của tính tích cực được đánh giá bằng khả năng lĩnh hội hành động của trẻ từ nhỏ đến lớn Những mức độ thể hiện tính tích cực của trẻ: các hành động bắt chước người lớn không có ý thức, các hành động bắt chước người lớn và bạn bè một cách có ý thức, hành động độc lập và sáng tạo
V.X Mu khina, Nguyễn ánh Tuyết và một số tác giả khác cho rằng tính tích cực nhận thức của trẻ thể hiện lòng ham hiểu biết muốn khám phá những điều mới lạ của thế giới tự nhiên và cuộc sống xã hội, sự phát triển tính ham hiểu biết của trẻ trong thời kỳ mẫu giáo tăng lên mạnh mẽ về số lượng và
sự biến đổi về chất ở những câu hỏi của trẻ em, so với trẻ mẫu giáo bé và nhỡ,
Trang 2121
ở trẻ mẫu giáo lớn có những câu hỏi hướng vào sự tiếp thu tri thức chiếm ưu thế, hơn thế nữa trẻ em thường quan tâm tới những nguyên nhân của sự vật, hiện tượng muôn hình, muôn vẻ, những mối liên hệ giữa chúng
A.U.Orokina, A.k.Bodrenko và nhiều nhà tâm lý - giáo dục mầm non xem xét tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo như là khả năng giải quyết nhiệm vụ nhận thức với hậu quả cao bằng việc cố gắng nỗ lực huy động ở mức cao các chức năng tâm lý nhận thức, đặc biệt là chức năng tư duy (một số thao tác tư duy như so sánh, phân cách, khái quát hoá…) Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo được các tác giả này xem xét như là một năng lực tư duy phức tạp, đòi hỏi sự căng thẳng của trí tuệ, đặc biệt là các thao tác tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và nó được thể hiện bằng hứng thú đối với sự vật, hiện tượng xung quanh và lòng mong muốn biểu hiện nhiều hơn nữa
về chúng, có kĩ năng đưa ra kết luận, hệ thống hoá và thiết lập được mối quan
hệ cốt lõi của một số sự vật, hiện tượng xung quanh Tính tích cực nhận thức
được biểu hiện bằng các kĩ năng như kĩ năng phân tích và tổng hợp thông tin nhận được, kĩ năng so sánh và tìm sự giống nhau, khác nhau của các đồ vật, sự kiện của cuộc sống xung quanh và năng lực vận dụng chúng khi giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn, sự phát triển tính tích cực nhận thức gắn liền với sự lĩnh hội những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng phong phú cũng như các chuẩn mực xã hội và các quy tắc hành vi
Khi nghiên cứu tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi, E.I Kozakova tập trung chú ý vào các thao tác tư duy trong quá trình nhận thức Bà coi tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo như
là một năng lực tư duy phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực căng thẳng của trí tuệ, của các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát lại)
Trong một số nghiên cứu khác, tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo được hiểu như là khả năng theo dõi sự chỉ dẫn bằng hành động, bằng lời nói của cô giáo, phân tích nội dung của nhiệm vụ, chia nhỏ chúng thành các
Trang 22Trên cơ sở phân tích, so sánh, khái quát những công trình nghiên cứu khoa học trong nước và thế giới về tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo, chúng ta thấy rằng tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo như là một phẩm chất tâm lý cá nhân của trẻ trong hoạt động nhận thức, thể hiện thái độ tích cực nhận thức của trẻ đối với hiện thực xung quanh Đó là năng lực trí tuệ phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực cao của các chức năng tâm lý, đặc biệt là các chức năng nhận thức khi giải quyết những nhiệm vụ nhận thức đã đặt ra trong hoạt
động của mình Nó vừa là mục đích, vừa là điều kiện, vừa là kết quả của hoạt
động nhận thức nói riêng, của sự phát triển nhân cách của đứa trẻ nói chung
1.3.2.1 Những biểu hiện của tính tính tích cực nhận thức ở trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình làm quen với các biểu tượng toán
Như đã phân tích ở trên, tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo nói chúng, của trẻ mẫu giáo lớn nói riêng như là một phẩm chất tâm lý của cá nhân của trẻ trong hoạt động nhận thức, trong đó chứa đựng cả các yếu tố nhận thức, tình cảm, ý chí Do vậy khi xem xét những biểu hiện của tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình hình thành các biểu tượng toán, chúng ta phải dựa trên những yếu tố này, ngoài ra còn phải dựa vào các hành vi bên ngoài của đứa trẻ (hành động, cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ…) Trong quá trình hình thành các biểu tượng toán có thể nhận biết tính tích cực nhận thức của trẻ bằng các dấu hiệu sau đây:
Trang 23- Trẻ hay đặt ra những câu hỏi và có những thắc mắc đối với giáo viên,
đối với người lớn xung quanh và yêu cầu giải thích cặn kẽ: Đây là hình gì ? Có mấy cạnh? Những vật nào có hình dạng giống hình này? Nếu đứa trẻ học thụ
động, không hứng thú thì nó sẽ không đưa ra những câu hỏi và nó cũng không có phản ứng gì nếu câu hỏi không được trả lời
- Trẻ chú ý quan sát, chú ý lắng nghe cô nói và theo dõi những gì cô làm
- Trẻ hay dơ tay phát biểu, nhiệt tình bổ ý kiến vào câu trả lời của các bạn và thích tham gia vào các hoạt động
- Thông qua sự quan sát của mình, người giáo viên có thể xác định
được những biểu hiện cảm xúc hứng thú nhận thức ở trẻ như: cảm xúc vui sướng, hài lòng khi được người khác giải đáp những câu hỏi, những thắc mắc của mình, khi tự mình tìm ra những câu trả lời đúng hay những thành công khác trong hoạt động Ngoài ra ta có thể thấy được sự giận dỗi, nỗi thất vọng nếu người khác không thoả mãn trí tò mò của trẻ khi trẻ gặp những thất bại trong hoạt động Những cảm xúc này thể hiện qua những phản ứng lời nói, qua nét mặt, cử chỉ…
Thứ hai: Tính tích cực nhận thức của trẻ còn được thể hiện thông qua dấu hiệu nói lên khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ trong hoạt động làm quen với các biểu tượng toán
Kĩ năng nhận thức của trẻ mẫu giáo là khả năng của trẻ thực hiện các hành động nhận thức một cách thành thạo dựa trên sự tổng hợp những tri thức
và kĩ xảo đã biết Trong kĩ năng bao giờ cũng phụ thuộc vào vốn hiểu biết của trẻ về lĩnh vực ấy
Trang 24- Trẻ biết vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích luỹ được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc giải quyết các tình huống mới
- ở trẻ đã có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như độc lập, tự tin trả lời câu hỏi của cô, tự mình tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống
do cô tự đưa ra và biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất Tự kiểm tra kết quả trong hoạt động chơi hay học của mình
Thứ ba: Biểu hiện của ý chí trong tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn:
- Trẻ có sự tập trung chú ý, ít sao nhãng trong hoạt động làm quen với các biểu tượng toán
- Trẻ có sự nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Sự phản ứng của trẻ khi cô đưa ra tín hiệu báo hết giờ học: phản ứng không hài lòng khi phải kết thúc công việc, cố gắng cho đến khi hoàn thành sản phẩm, hoàn thành các bài tập, trò chơi
- Tất cả những biểu hiện về tính tích cực nhận thức của trẻ 5-6 tuổi không rời rạc, riêng rẽ với nhau mà chúng gắn liền với nhau và nằm trong một tổng thể thống nhất Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo, trong đó có trẻ
Trang 2525
5-6 tuổi được thể hiện ở các mức độ khác nhau trong các hoạt động của chúng Giáo viên mầm non cần biết được các cấp độ tính tích cực nhận thức của trẻ từ đó xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung cũng như các phương tiện nhằm đạt mục tiêu giáo dục đã đặt ra
1.3.2.2 Phân loại tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Dựa vào những biểu hiện của tính tích cực nhận thức, một số tác giả đã
đưa ra tính tích cực nhận thức bên ngoài và tính tích cực nhận thức bên trong
để đánh giá trẻ có tích cực hay không, tuy nhiên sự tích cực hoạt động này là tiền đề thúc đẩy trẻ tích cực nhận thức
- Tính tích cực nhận thức bên trong: Thể hiện đầu tiên (mức độ thấp)
của tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo phải kể đến khả năng thực hành của trẻ Chúng ta cần xem trẻ thể hiện các yêu cầu của cô có đúng không? Vì trong quá trình thực hành đó trẻ đang tích cực tái hiện, bắt chước lại người lớn, có nghĩa là nó đang tích cực lĩnh hội, nhập tâm kiến thức cũng như kĩ năng cần thiết mà giáo viên đang dạy cho trẻ
- Trẻ tiến hành các thao tác trí tuệ như tri giác đối tượng, tư duy, khám phá và phát hiện ra cái mới lạ, cái khác biệt, sự thay đổi…của đối tượng một cách chính xác, tinh tế, nhạy bén…Đây là một biểu hiện rất cao của tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Trang 2626
Mức độ cao nhất của tính tích cực nhận thức bên trong là khả năng vận dụng những kiến thức và khả năng sáng tạo ra cái mới của trẻ, đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thì việc vận dụng những kiến thức và tích cực sáng tạo đòi hỏi các yêu cầu sau:
+ Trẻ biết vận dụng tri thức của mình (kể cả tri thức lẫn kĩ năng để giải quyết trong một tình huống mới, một hoàn cảnh mới)
+ Trẻ tìm ra không phải là một mà là nhiều cách khác nhau cho một bài tập, một hoàn cảnh…
+ Trẻ biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất, nhanh nhất, tốt nhất trong một vài biện pháp đã đưa ra trong bài tập, trong tình huống
Như vậy tính tích cực nhận thức là một năng lực trí tuệ phức tạp đòi hỏi phải có sự nỗ lực về trí tuệ, đòi hỏi đến các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp và khái quát) Giáo dục tính tích cực nhận thức cho trẻ mẫu giáo lớn
đúng lúc, kịp thời là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi có sự quan tâm
đúng mức của cô giáo ở trường mầm non
1.3.3 Sự phù hợp giữa các biểu tượng hình dạng với việc dạy trẻ theo hướng phát huy tính tích cực
Làm quen với các biểu tượng toán là một trong hai môn phát triển nhận thức cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non Biểu tượng về hình dạng là một trong những biểu tượng toán cần hình thành ở trẻ Với trẻ 5-6 tuổi các biểu tượng về hình học phẳng đã được hình thành, giáo viên cần hình thành cho trẻ những biểu tượng về hình khối, giúp trẻ nhận biết, so sánh, phân biệt với các hình khối khác Các dạng hình khối tồn tại trong cuộc sống trẻ muôn hình muôn vẻ đa dạng và phong phú Trẻ có thể bắt gặp hình khối ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đồ vật mà trẻ tiếp xúc
Với nội dung phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nên khi được giáo viên hướng dẫn thì trẻ sẽ rất hứng thú và tích cực tham gia vào các hoạt động
do giáo viên tổ chức Bằng những phương pháp đa dạng, phương tiện trực quan
Trang 27Như vậy, hoạt động hình thành các biểu tượng hình dạng luôn phù hợp với việc dạy trẻ theo hướng phát huy tính tích cực
Trang 282.1.1 Nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn cuộc sống
Sau khi lĩnh hội các tri thức xong, trẻ cần đượcthực hành ngay để củng
cố biểu tượng mới Khi biểu tượng đã được hình thành ổn định cô cần tạo
điều kiện cho trẻ được vận dụng vào các hoạt động thực tế xung quanh chúng
Ví dụ : Sau khi cho trẻ nhận biết và gọi tên các hình :Tròn, vuông, tam giác, chữ nhật thì cô cho trẻ dùng các hhình xếp thành các đồ vật mà cháu thích
Xếp hình xong cô hỏi trẻ đã xếp được những đồ vật gì ? Đồ vật đó xếp bằng những hình gì ?
2.1.2 Phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ, chú ý đến sự phát triển cá nhân
Trẻ cần được chủ động tìm tòi suy nghĩ trong quá trình hình thành các biểu tượng mới.Khi lòng say mê được gợi mở thì trẻ muốn tự tìm ra câu trả lời đúng Vì vậy hệ thống câu hỏi phù hợp của giáo viên sẽ giúp trẻ dễ dàng phát huy tính tích cực chủ động của mình
Ví dụ: Các con hãy suy nghĩ xem để tạo được một chiếc ô tô chở khách chúng mình có thể dùng những hình nào ?
Trang 2929
2.1.3 Dạy học vừa sức tiếp thu của trẻ
Khi hướng dẫn trẻ hình thành biểu tượng hình dang phải căn cứ vào mức
độ hiểu biết và vốn kinh nghiệm đã tích lũy được để lựa chọn nội dung, yêu cầu và cách hướng dẫn cho phù hợp
Ví dụ: Mẫu giáo bé dạy trẻ nhận biết hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật Mẫu giáo nhỡ dạy trẻ phân biệt sự giống và khác nhau giữa hình vuông với hình chữ nhật, giữa hình tam giác với hình vuông hoặc hình chữ nhật dựa vào tính chất của đường bao, kích thước và số lượng cạnh mỗi hình Mẫu giáo lớn dạy trẻ nhận biết khối vuông, khối cầu, khối trụ, khối chữ nhật
2.1.4 Dạy học dựa vào trực quan, đảm bảo sự thống nhất giữa trực quan và trừu tượng
Dựa vào trực quan, trẻ dễ huy động các giác quan khác tìm hiểu, quan sát,
so sánh và rút ra kết luận Khi đó các khái niệm toán học trừu tượng được thể hiện qua các đồ dùng trực quan cụ thể, trở thành các biểu tượng toán đơn giản phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ
Ví dụ : Khi hình thành biểu tượng hình vuông, nếu chỉ nghe cô miêu tả bàng lời nói thì trẻ không thể biết hình vuông là hình như thế nào Nhưng nếu trẻ được quan sát hình vuông sau đó cho trẻ gọi tên thì trẻ sẽ biết hình vuông
là hình như thế nào và sẽ nhớ lâu hơn biểu tượng hình vuông
mở rộng cho trẻ biết về hình bình hành, hình thoi, hình thang
2.2 Phương pháp hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn đã nắm được một số tính chất sơ đẳng của hình học phẳng,
Trang 3030
với các hình khối, trẻ đã phân biệt, nhận biết được các khối như: khối cầu, khối trụ,khối vuông, khối chữ nhật theo khối mẫu và theo tên gọi của khối Việc hình thành biểu tượng về hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn cần hướng vào việc củng cố, ôn luyện những kiến thức, kĩ năng mà trẻ đã thu được ở các lớp dưới.Tuy nhiên, việc dạy trẻ nhận biết và so sánh các hình học cần dựa vào các dấu hiệu cơ bản như: số lượng góc, cạnh của các hình, hình dạng và số lượng của mỗi khối…qua đó trẻ nhận biết được các hình hình học trong đó như những hình chuẩn để dựa vào đó mà so sánh hình dạng các vật
Để trẻ nhận thấy được những đặc điểm đặc trưng của hình cũng như thấy những dấu hiệu giống và khác nhau của các khối cần tiến hành so sánh, đối
chiếu từng cặp một với hình gần giống nó
Ví dụ: Khối cầu và khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật…
2.2.1 Dạy trên giờ học
Trong chương trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn hiện nay gồm các bài :
Bài 1:Trẻ nhận biết phân loại khối cầu, khối trụ
Bài 2: Trẻ nhận biết phân biệt khối vuông, khối chữ nhật
Bài 3: Ôn nhận biết, phân biệt các hình khối: khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật
Ngoài ra vẫn còn tiến hành luyện tập, ôn lại các hình hình học phẳng
2.2.1.1 Đối với các hình học phẳng