Những năm gần đây, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, Bộ giáo dục và Đào tạo và các trường đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi về việc cải tiến hệ thống các
Trang 1Họ và tên: TRẦN THỊ YẾN NGA
Trang 2Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của ThS Lê Thị Lan
Anh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài “Xây dựng hệ
thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn Luyện từ và câu lớp 4”
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Lan Anh và các
thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Trần Thị Yến Nga
Trang 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Trần Thị Yến Nga
Trang 4Danh mục các kí hiệu viết tắt
GV
HS LT&C SGK SGV TNKQ
TV
: Giáo viên : Học sinh : Luyện từ và câu : Sách giáo khoa : Sách giáo viên : Trắc nghiệm khách quan : Tiếng Việt
Trang 5Mục lục
Trang MỞ ĐẦU 5
Lí do chọn đề tài 8
Lịch sử vấn đề 11
Mục đích nghiên cứu đề tài 11
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 11
Các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 11
Giả thuyết khoa học 11
Các phương pháp nghiên cứu 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 Cơ sở lí luận 12
Cơ sở giáo dục 12
Cơ sở tâm lí 13
Vài nét về trắc nghiệm khách quan 15
Vài nét về dạy học phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt 4 30
Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4 33
Chương 2 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn Luyện từ và câu lớp 4 62
2.1 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 62
2.2 Quy tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 63
2.3 Quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan 65
2.4 Hệ thống các bài Luyện từ và câu lớp 4 68
2.5 Xây dựng hệ thống bài tập trắc khách quan cho một số bài trong chương trình Luyện từ và câu lớp 4 70
2.6 Hệ thống bài tập mẫu 116
KẾT LUẬN 133
Tài liệu tham khảo 134
Trang 6Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, thế kỷ của tri thức khoa học với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin Cùng với sự phát triển trên toàn thế giới, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế xã hội đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt Hiện nay, đất nước đang đòi hỏi phải có những đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Mục tiêu giáo dục của nước ta đã được đặt ra trong luật Giáo dục năm 2005:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Chương 1, điều 2) Để đạt được mục tiêu như trên, cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi mới căn bản về phương pháp giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học, môn học: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Chương 1, điều 5)
Do đó, ở tất cả các ngành nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của sự phát triển xã hội Trong xu thế đó, sự đổi mới về phương pháp dạy học đang được coi là vấn đề cấp thiết, mang tính chất thời đại, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản lý giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp Đổi mới phương pháp dạy học tức là phải biết kết hợp hài hòa, vận dụng linh hoạt các ưu điểm của phương pháp dạy học trong từng tình huống cụ thể nhất là việc kết hợp phương pháp dạy, phương háp dạy học truyền thống và hiện đại
Trang 7Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học là “giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học
sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (theo Điều 23 Luật Giáo dục – 1998) Vậy
giáo dục tiểu học đã trang bị những cơ sở ban đầu quan trọng nhất của người công dân, người lao động tương lai Đó là những con người phát triển toàn diện
có trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành tự chủ, sáng tạo
Cùng với các môn học khác, môn Tiếng Việt là một môn học trung tâm, quan trọng, chiếm nhiều thời lượng và nó có tính tích hợp cao Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi từ đó góp phần rèn luyện các thao tác tư duy Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức
sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần nhỏ trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng của con người để góp phần thực hiện những nhiệm vụ đặt ra của hệ thống giáo dục quốc dân Môn Tiếng Việt ở Tiểu học gồm bảy phân môn đó
là Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện Đó là những phân môn không thể thiếu trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm
Trang 8quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Dạy luyện từ và câu nhằm giúp học sinh mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ và câu từ đó rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của người khác giúp phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em
Để thực hiện được mục tiêu trên phân môn Luyện từ và câu nói riêng
và môn Tiếng Việt nói chung phải không ngừng đổi mới cả nội dung lẫn hình thức cũng như phương pháp giảng dạy Một trong những đổi mới của phân môn này là bên cạnh các bài tập mang tính truyền thống thì xuất hiện nhiều dạng bài tập trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm khách quan giúp cho học sinh phát huy khả năng tư duy, tính nhạy bén đồng thời kiểm tra được nhiều nội dung, đánh giá được nhiều học sinh hơn
Trên thực tế, đã có những tác giả dành thời gian, tâm huyết để nghiên cứu
về lý thuyết trắc nghiệm khách quan và xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan Trên thị trường cũng có xuất hiện một số sách tham khảo cho giáo viên và học sinh sử dụng trong dạy và học phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt lớp 4 Nhưng hầu hết những tài liệu này vẫn mang tính chung chung mà trong quá trình dạy học thì phải phù hợp với trình độ của học sinh ở mỗi vùng miền nên cần có sự biên soạn theo cách nghĩ riêng của người sử dụng
Vì những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Xây dựng hệ
thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn Luyện từ và câu lớp 4.”
Trang 92 Lịch sử vấn đề
2.1.Trên thế giới
Các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII - XVIII tại Châu Âu Sang thế kỉ XIX đầu thể kỉ XX, các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đã được chú ý
Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ra tiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet Vào đầu thế kỷ XX, E Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ như là phương pháp "khách quan và nhanh chóng" để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn khác
Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến
Năm 1974, ở miền Nam đã tổ chức thi tú tài bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan
Tác giả Nguyễn Như An dùng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong việc thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lí của sinh viên
Trang 10đại học sư phạm” năm 1976 và đề tài “Vận dụng phương pháp test và phương pháp kiểm tra truyền thống trong dạy học tâm lí học” năm 1978 Tác giả Nguyễn Hữu Long, cán bộ giảng dạy khoa tâm lí, với đề tài: “Test trong dạy học”
Những năm gần đây, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, Bộ giáo dục và Đào tạo và các trường đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi về việc cải tiến hệ thống các phương pháp kiểm tra, đánh giá của sinh viên trong nước và trên thế giới, các khoá huấn luyện và cung cấp những hiểu biết cơ bản về lượng giá giáo dục và các phương pháp trắc nghiệm khách quan Theo xu hướng đổi mới của việc kiểm tra đánh giá, Bộ giáo dục và đào tạo đã giới thiệu phương pháp trắc nghiệm khách quan trong các trường đại học và bắt đầu những công trình nghiên cứu thử nghiệm Các cuộc hội thảo, các lớp huấn luyện đã được tổ chức ở các trường như: Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Cao đẳng sư phạm Hà Nội,
Tháng 4 năm 1998, trường Đại học sư phạm Hà Nội - Đại học quốc gia Hà Nội có tổ chức cuộc hội thảo khoa học về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học và tiến hành xây dựng ngân hàng trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá một số học phần của các khoa trong trường Hiện nay, một số khoa trong trường đã bắt đầu sử dụng trắc nghiệm khách quan trong quá trình dạy học như: Toán học, Vật Lí … và một số bộ môn đã
có học phần thi bằng phương pháp trắc nghiệm như môn tiếng Anh
Ngoài ra, một số nơi khác cũng đã bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong quá trình kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh Một số môn đã có sách trắc nghiệm khách quan như: Toán học, Văn học, Vật Lí, Hoá học, Sinh học, Tâm lí học, …
Ở nước ta, thí điểm thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được tổ chức đầu tiên tại trường đại học Đà Lạt tháng
7 năm 1996 và đã thành công
Trang 11Như vậy, phương pháp trắc nghiệm khách quan đã rất phổ biến ở các nước phát triển, trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với kết quả tốt và được đánh giá cao Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan còn rất mới mẻ và hạn chế nhất là trong các trường phổ thông Để học sinh phổ thông có thể làm quen dần với phương pháp trắc nghiệm khách quan, hiện nay, Bộ giáo dục và Đào tạo đã đưa một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan lồng ghép với câu hỏi tự luận trong các SGK một số môn học ở trường phổ thông trong những năm tới sẽ hoàn thành công việc này ở bậc trung học phổ thông Khi công việc đó thành công sẽ hứa hẹn một sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp trắc nghiệm khách quan ở Việt Nam
Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để làm đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông và làm đề thi tuyển sinh đại học sẽ đảm bảo được tính công bằng và độ chính xác trong thi cử Vì vậy, bắt đầu từ năm học 2006
- 2007 Bộ giáo dục và Đào tạo có chủ trương tổ chức thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đối với các môn: Vật Lí, Hoá học, Sinh học, Tiếng Anh
Trên đây là một số nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan Từ những gợi
ý của người đi trước, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4”
3 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn
Luyện từ và câu lớp 4 góp phần hỗ trợ cho việc dạy học và kiểm tra, đánh giá
chất lượng học tập của học sinh
Trang 124 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phân môn Luyện từ
và câu lớp 4
Phân môn Luyện từ và câu lớp 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài làm cơ sở xây dựng hệ thống
bài tập
5.2 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4 phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng kết
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp hệ thống
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận
1.1 Cơ sở giáo dục học
Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao nhất, chúng ta phải đảm bảo cho hoạt động của thầy và hoạt động của trò thống nhất với nhau Vì vậy, một mặt phải phát huy đúng mức vai trò tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của trò Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ qua lại chặt chẽ giữa những tác động bên ngoài của giáo viên, biểu lộ trong việc trình bày tài liệu chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh, với sự căng thẳng trí tuệ
“bên trong” của các em, mới tạo nên được cơ sở của sự học tập có kết quả
A.Đixtervec đã viết trong tác phẩm “Hướng dẫn việc đào tạo của giáo viên Đức: “Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kị một người nào Sự phát triển và sự giáo dục Bất cứ ai muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng sự hoạt động của bản thân bằng sức lực của chính mình, bằng sự cố gắng của bản thân Anh ta chỉ có thể nhận được từ bên ngoài sự kích thích mà thôi Vì thế hoạt động tự lực là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục.” [10;35]
Học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể của hoạt động học phải tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình dưới sự hướng dẫn của thầy Tuy nhiên tri thức do học sinh tìm ra dễ mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Vì vậy, người thầy cần tổ chức để trò được thể hiện, trình bày sản phẩm của mình ở tập thể lớp học, trao đổi thảo luận với bạn để tăng thêm tính khách quan khoa học trong tri thức do họ tìm ra Trên
cơ sở ý kiến của thầy, của bạn, trò tự kiểm tra, đánh giá, sửa chữa sai sót, rút kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề
Trang 14Để thể hiện đầy đủ vai trò chủ thể của mình khi tham gia quá trình học, các em phải có sự hứng thú rõ rệt với tri thức thu nhận được, có ý thức trách nhiệm với việc học của mình và phải tham gia tích cực trong suốt quá trình học Người học phải tự tham gia nhiệm vụ học tập bằng tất cả khả năng, tất cả tri thức và kinh nghiệm sống mình đã tích lũy được Như vậy, trong quá trình dạy học hiện đại học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể nhận thức, nhưng chỉ khi nào học sinh thực hiện tốt vai trò chủ thể thì các em mới tiếp thu một cách có ý thức và có hiệu quả sự tác động sư phạm của thầy
để chiếm lĩnh tri thức và biến chúng thành tài sản cá nhân
Tóm lại, hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của học sinh luôn song song tồn tại, nếu thiếu một trong hai thì không còn gọi là dạy học, không còn gọi là quá trình dạy học
Sự thống nhất biện chứng thể hiện ở mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, dựa vào nhau phụ thuộc lẫn nhau giữa hoạt động dạy và hoạt động học, đòi hỏi xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa thầy và trò Trong đó, việc tôn trọng vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình dạy học là rất có ý nghĩa và sẽ thúc đẩy học sinh Chủ động tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri thức mới
Dạy học Luyện từ và câu giúp cho học sinh nắm kiến thức trên cơ sở tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi nghiên cứu chứ không phải bị động chờ thầy giáo truyền thụ cho Làm được như thế không những các em nắm kiến thức một cách bền vững và sâu sắc mà còn giúp các em biết phương pháp, có kĩ năng và thói quen nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo những phẩm chất quan trọng của con người hiện đại
1.2 Cơ sở tâm lí
Tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học lứa tuổi có vai trò rất quan trọng đối với việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng, thể hiện ở mối quan hệ chặt chẽ đó là không có kiến thức về quá trình tâm lí ở
Trang 15con người nói chung và ở trẻ em nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển lời nói, rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp cho học sinh Rất nhiều kết quả của tâm lí học được vận dụng trong dạy học ngữ pháp ở tiểu học như: các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo…giáo viên cần nắm được khái niệm ngữ pháp được hình thành ở trẻ em
ra sao, đặc điểm phát triển tư duy của học sinh tiểu học qua hai giai đoạn, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy,…Tâm lí học cung cấp những số liệu cụ thể về quá trình nắm ngữ pháp, tiếp thu khái niệm khoa học, cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập
Đặc biệt các khái niệm, đặc điểm, cấu tạo…từ và câu như các khái niệm khoa học khác đều là kết quả hoạt động nhận thức; mang tính trừu tượng cao trong khi ở lứa tuổi học sinh tiểu học tư duy kinh nghiệm, tư duy cụ thể vẫn chiếm ưu thế (giai đoạn lớp 1, 2, 3); tư duy trừu tượng bắt đầu phát triển
và vẫn phải dựa trên tư duy cụ thể (giai đoạn lớp 4, 5) mỗi khái niệm đều hàm chứa một tập hợp đặc trưng Nắm được khái niệm phải nắm được các đặc trưng của nó với các mỗi quan hệ của nó trong hệ thống Vì vậy, nắm khái niệm về từ và câu là quá trình lâu dài và phức tạp đối với học sinh tiểu học, có thể nói là việc khó đối với các em Quá trình truyền thụ, giúp học sinh nắm vững các vấn đề về từ và câu cũng không đơn giản Và người giáo viên cần dựa vào tâm lí học, sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu của tâm lí học lứa tuổi (đặc điểm bậc tiểu học, đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh tiểu học những tiền đề phát triển tâm lí học sinh tiểu học, dấu hiệu bản chất và không bản chất của các khái niệm…) trong quá trình hình thành khái niệm về
từ và câu giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm khoa học trên cơ sở khoa học,
có như vậy mới đem lại hiệu quả dạy học như mục tiêu đề ra
Trang 161.3 Vài nét về trắc nghiệm khách quan
1.3.1 Khái niệm về trắc nghiệm
a Khái niệm trắc nghiệm
Theo từ điển Tiếng Việt : “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” có nghĩa là suy xét, chứng thực
“Trắc nghiệm” theo Tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”
Lý luận về trắc nghiệm có rất nhiều cách hiểu khác nhau trong đó có một số cách hiểu sau:
Theo Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”
Theo Trần Bá Hoành: “Trắc nghiệm là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý….)”
Theo A Petropxi (1970) cho rằng: “Trắc nghiệm là bài tập làm trong thời gian ngắn mà việc thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng, chất lượng có thể coi là dấu hiệu của sự hoàn thiện một số chức năng tâm lý”
Theo Gronlund, 1981: “Trắc nghiệm là công cụ hay quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ một cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể nào đó”
Cho tới ngày nay người ta vẫn hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng kí hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời
Trên đây là một số ý kiến của một số tác giả trong và ngoài nước, qua đó
ta thấy được nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau thuộc về bản chất của câu hỏi trắc nghiệm Đa số các nhà tâm lý học hiện nay đều có xu hướng xem trắc
Trang 17nghiệm là một phương pháp dạy học dùng những bài tập ngắn để kiểm tra, đánh giá khả năng hoạt động nhận thức, năng lực trí tuệ và kĩ năng của học sinh
Chúng tôi đồng tình với khái niệm của Gronlund (1981): “Trắc nghiệm
là công cụ hay quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ một cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể nào đó”
Trắc nghiệm gồm hai loại: trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận Trong khóa luận này chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về trắc nghiệm khách quan
b Phân loại trắc nghiệm
Trắc nghiệm là một hành động để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành trong các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với môn học hoặc trong các kì thi cuối cấp, tuyển sinh
Hiện nay, việc phân loại câu hỏi trắc nghiệm vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng theo ý kiến của tác giả Phó Đức Hoà và một số nhà nghiên cứu khoa học khác thì câu hỏi trắc nghiệm được phân ra làm hai loại: trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra trong đó nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề và các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án phù hợp
Trắc nghiệm tự luận là bài kiểm tra (truyền thống) Trong đó nhà sư phạm đưa ra một hoặc vài yêu cầu đôi khi là bài toán nhận thức và đòi hỏi người học phải phân tích các yêu cầu hoặc giải quyết bài toán
Phương pháp trắc nghiệm có thể được phân loại theo sơ đồ dưới đây:
Trang 18Điền khuyết
Ghép
đôi
Nhiều
lựa chọn
Quan sát
Trắc nghiệm tự luận (Essay Tests)
Vấn đáp
Trắc nghiệm khách
quan (Objective Tests)
Viết Các loại trắc nghiệm
Đúng
- sai
Trả lời ngắn
Tiểu luận
Giải đáp vấn đề
Hình 1 Sơ đồ phân loại trắc nghiệm trong giáo dục
Trang 191.3.2 Khái niệm trắc nghiệm khách quan
a Khái niệm trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan cũng có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau trong đó có một số ý kiến sau:
Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra, trong đó nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp
án phù hợp
Trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay
mô hình và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một từ, cụm từ, đôi khi là các con số….Trắc nghiệm khách quan mang tính quy ước vì bài trắc nghiệm được chấm bằng cách đếm số lần học sinh trả lời đúng Do đó hệ thống cho điểm là khách quan và không phụ thuộc vào người chấm
Và cũng có ý kiến cho rằng: “Trắc nghiệm khách quan là phương pháp
mà người ta dùng những bài tập ngắn có kèm theo câu trả lời để thực hiện các mục đích xác định”
1.3.3 Phân loại trắc nghiệm khách quan
Tùy quan điểm của mỗi tác giả có thể phân loại trắc nghiệm khách quan theo những cách khác nhau với những tên gọi khác nhau
Nhiều quan điểm thống nhất và đưa ra bốn loại trắc nghiệm khách quan sau:
a Trắc nghiệm đúng – sai
Câu trắc nghiệm đúng sai bao gồm:
- Phần 1: Là một câu hỏi hoặc một phát biểu, còn gọi là phần đề
- Phần 2: Là phương án chọn lựa đúng – sai, phải – không phải, đồng ý – không đồng ý
- Yêu cầu: Chọn một trong hai phương án trả lời
Ví dụ 1:
Trang 20Viết vào □ chữ Đ trước câu chỉ đúng nghĩa của từ hiền lành :
□ a, Hiền và giàu lòng thương người
□ b, Hiền và tốt với mọi người, không làm hại ai
□ c, Phúc hậu, hay thương người
□ d, Ăn ở tốt với mọi người trong gia đình
tư duy, ít khả năng phân biệt trình độ học sinh
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Câu viết phải ngắn gọn, rõ ràng, câu hỏi phải xếp chính xác là đúng hay sai + Đặt ra một mệnh đề và yêu cầu người học xác định mệnh đề đó đúng hay sai, không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, không nên trích nguyên câu trong SGK,…
- Nguyên tắc khi xây dựng dạng câu đúng, sai:
+ Tránh sử dụng các từ ngữ có tính giới hạn đặc thù mang tính ám thị Khi ý của đề là chính xác thì nên tránh dùng những từ “nói chung”, “thường thường”, “thông thường”, “rất ít khi”, “có khi”, “một vài”, “có thể” để tránh cho đối tượng tham gia dựa vào những từ này đưa ra đáp án “đúng” từ đó đoán đúng câu trắc nghiệm
Trang 21+ Trong một câu chỉ có một vấn đề trọng tâm hoặc một ý trọng tâm, không thể xuất hiện hai ý (phán đoán) hoặc nửa câu đúng, nửa câu sai
+ Câu nên trắc nghiệm khả năng lí giải, chứ không chỉ là trắc nghiệm trí nhớ Càng không nên chép lại những câu trong tài lệu giảng dạy, để tránh cho học sinh thuộc lòng sách máy móc mà không hiểu gì
+ Câu nên hỏi những điều quan trọng, nội dung có giá trị chứ không phải là những chi tiết vun vặt, không quan trọng
+ Tránh những điều chưa thống nhất
b Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn là loại câu thông dụng nhất, còn gọi là câu
đa phương án, loại câu này gồm 2 phần là phần câu dẫn và phần câu lựa chọn:
- Phần câu dẫn là một câu hỏi hay một câu lơ lửng tạo cơ sở cho sự lựa chọn
- Phần lựa chọn gồm nhiều phương án trả lời Người trả lời sẽ lựa chọn một phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất hoặc không có liên quan gì đến trong
số các phương án cho trước Những phương án còn lại là những phương án gây nhiễu
Ví dụ 2:
Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng
1 Câu sau có bao nhiêu tiếng?
Nhờ bạn giúp đỡ, lại có chí học hành, nhiều năm liền, Hanh là học sinh tiên tiến
Trang 22- Hạn chế:
Có thể khuyến khích sự đoán mò của người học
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Phần dẫn phải diễn đạt rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu Phần câu dẫn đôi khi là câu hỏi hoặc câu nhận định chưa hoàn chỉnh
+ Các phương án trả lời có cùng một cách viết, gần giống nhau để tăng độ nhiễu
+ Các phương án nhiễu cần được diễn đạt sao cho hợp lí và cảm giác có độ tin cậy cao
+ Các phương án lựa chọn được sắp xếp ngẫu nhiên, không theo một trình
tự logic nào cả
c Trắc nghiệm điền khuyết
Những câu hỏi và bài tập dạng này có chứa những chỗ trống để HS điền những cụm từ này hoặc do HS tự nghĩ ra hay nhớ ra hoặc được cho sẵn trong những phương án có nhiều lựa chọn
Ví dụ 3:
Chọn từ thích hợp để điền vào chỗ (…) trong đoạn văn sau sao cho đúng:
Tự tin, tự trọng, tự ái, tự ti, tự kiêu, tự hào
“Ai cũng khen bạn Minh, lớp trưởng lớp em là con ngoan, trò giỏi Minh phụ giúp bố mẹ nhiều việc nhà, luôn đi học đúng giờ, làm bài đầy đủ, chưa bao giờ để ai phiền trách điều gì Cô chủ nhiệm lớp em thường bảo Minh là một học sinh có lòng… Là học sinh giỏi nhất trườn nhưng Minh không …… Minh giúp đỡ các bạn học kém rất nhiệt tình và có hiệu quả, khiến các bạn hay mặc cảm, ……nhất cũng dần dần thấy …… hơn vì học hành tiến bộ Khi phê bình, nhắc nhở những bạn mắc khuyết điểm, Minh có cách góp ý rất chân tình nên không làm bạn nào …… Lớp 4A chúng em rất
…… về bạn Minh.”
Trang 23+ Thường dùng để kiểm tra ở mức độ biết và hiểu đơn giản
+ Đôi khi khó đánh giá đúng nội dung câu trả lời khi HS viết sai chính tả hoặc khi câu trắc nghiệm gợi ra nhiều hướng đáp án đúng
+ GV thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu từ SGK
+ Việc chấm bài mất nhiều thời gian
+ Tính khách quan kém, có thể chịu tác động bởi yếu tố chủ quan của GV
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Không nên để quá nhiều chỗ trống trong mỗi câu, nên bố trí chỗ trống ở giữa hoặc cuối câu không nên đặt ở đầu câu
+ Các phương án trả lời là các từ, cụm từ, các con số cho trước có thể tương đương hoặc không tương đương với số lượng ô trống Nếu các từ, cụm từ không cho trước thì đó phải là các từ, cụm từ có nghĩa trong thực tế
ở bảng truy bằng số mục của bảng chọn), đối chiếu không hoàn toàn (số mục
ở bảng truy ít hơn số mục ở bảng chọn)
Ví dụ 4:
Trang 24Tìm thủ đô các nước bằng cách nối?
+ Thông tin có tính giàn trải, không nhấn mạnh được những điều quan trọng hơn
- Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi:
+ Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan đến nhau, sắp xếp nội dung của hai dãy một cách rõ ràng, mang tính đồng nhất + Thông tin ở hai cột không nên bằng nhau, nên có thông tin dư ở một cột
để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn Thứ tự các câu của hai cột không khớp với nhau để gây khó khăn trong việc lựa chọn và ghép đôi
+ Các mục được ghép không nên quá nhiều và các thông tin ở bảng chọn nên ngắn hơn các thông tin ở bảng truy
+ Sắp xếp các mục trả lời theo một trận tự lôgíc
+ Lời chỉ dẫn cần chỉ rõ cơ sở cho việc đối chiếu cặp đôi giữa các tiên đề và các câu trả lời
+ Bài trắc nghiệm ghép cột phải được đặt trên cùng một trang giấy
Trang 251.3.4 Ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan
a Ưu điểm
- TNKQ cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức
cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống khuynh hướng học tủ
- TNKQ tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài
- TNKQ đảm bảo tính khách quan Khi cho điểm trong kiểm tra truyền thống, cùng một bài làm có thể được đánh giá khác nhau, có thể điểm số chênh lệch khá lớn tùy thuộc vào người chấm Chấm bài TNKQ sẽ tránh được sai lệch và hạn chế
- Các câu hỏi, đáp án được quy định về số lượng, nội dung và đã chuẩn hóa nên
dễ dàng sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp và xử lý kết quả
- TNKQ nếu được sử dụng thích hợp có thể gây hứng thú và tính tích cực học tập cho học sinh Là một hình thức kiểm tra, một dạng bài tập mới, so với các hình thức kiểm tra và dạng bài tập truyền thống TNKQ có thể được nhiều học sinh ưa thích Việc chấm bài được nhanh gọn, học sinh có thể sớm biết kết quả bài làm của mình, HS có thể tự đánh giá bài làm của mình và đánh giá bài làm của nhau
b Hạn chế
- Các bài tập TNKQ chủ yếu rèn trí nhớ máy móc khó phát triển tư duy và đánh giá quá trình suy nghĩ dẫn tới kết quả làm bài trắc nghiệm Đây là nhược điểm lớn nhất của TNKQ
- Trắc nghiệm kiến thức không cho GV biết tư tưởng, nhiệt tình, thái độ, hứng thú của HS với vấn đề được nêu ra
- Khó soạn các câu hỏi, đòi hỏi nhiều thời gian và công phu, GV phải có chuyên môn sâu sắc
Trang 26- Các câu trắc nghiệm có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự luận
- Tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này so với các câu hỏi khác và HS cần nhiều thời gian để đọc câu hỏi
- Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật trắc nghiệm đang được sử dụng ngày càng phổ biến, mở rộng phạm vi tác dụng bằng những loại hình thích hợp Vì nhược điểm nói trên khó có thể khắc phục một cách triệt để nên trắc nghiệm không phải là phương pháp thay thế phương pháp truyền thống mà cần phải sử dụng phối hợp một cách hợp lí giữa chúng
1.3.5 Vai trò của trắc nghiệm khách quan trọng dạy học
Trắc nghiệm khách quan được dùng trong kiểm tra đánh giá đã mang lại hiệu quả cao hơn so với các phương pháp kiểm tra đánh giá khác như:
- Phạm vi kiến thức rộng, bao quát tránh được việc học lệch, học tủ của học sinh
- Đánh giá chính xác mức độ nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
- Các thông tin phản hồi lại của học sinh nhanh chóng do việc kiểm tra trên máy vi tính Sau khi kiểm tra thì sẽ biết được ngay kết quả đạt được
Hiện nay, với quan điểm tích cực dạy học tích cực (lấy người học làm trung tâm) thì trắc nghiệm khách quan được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
- Sử dụng vào việc lập kế hoạch giảng dạy: trắc nghiệm khách quan được sử dụng nhằm mục đích kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh sau một năm học đồng thời nhằm giúp nhà trường tìm được những yếu kém trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học
- Sử dụng trong việc tự học của học sinh: học sinh được giao những bài tập
về nhà sau mỗi buổi học nhằm tạo cho học sinh thói quen học bài cũ một cách mới không còn thụ động như trước nữa Mặt khác, tạo hứng thú cho các em trong việc tìm kiếm và lĩnh hội kiến thức
Trang 27- Sử dụng trong khâu học bài mới: giáo viên có thể cho học sinh làm câu hỏi trắc nghiệm khách quan, cho học sinh lựa chọn phương án nào đúng nhất
và phát hiện thêm học sinh tại sao lại chọn câu đó Do đó, học sinh phải tìm tòi tài liệu mới trả lời được Do vậy, giáo viên phải có sự khéo léo dẫn dắt học sinh hướng vào bài mới và đây là biện pháp rất có hiệu quả
- Sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện và nâng cao: sau mỗi bài, mỗi chương đều nên có những bài kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan
sẽ giúp học sinh nhớ kiến thức lâu hơn mà không phải học vẹt như trước đây
Như vậy, để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả thì phải đổi mới phương pháp kiếm tra đánh giá: một trong những phương pháp đạt hiệu quả là
sử dụng trắc nghiệm khách quan Mặt khác, trắc nghiệm khách quan còn có thể sử dụng ở các khâu trong quá trình dạy học và mang lại hiệu quả cao
1.3.6 Vấn đề sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong trường Tiểu học hiện nay
Vấn đề sử dụng câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá học sinh Tiểu học đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của hầu hết các giáo viên Mốt số giáo viên thì chưa có phản ứng tích cực vì ngại không muốn thay đổi phương pháp truyền thống Nhưng đa số các giáo viên đã mạnh dạn bước đầu làm quen, tiếp nhận và tỏ ra hứng thú với phương pháp mới Thực tế ở mỗi trường, mỗi chuyên môn đều có những giáo viên giàu kinh nghiệm đi tiên phong trong công tác viết, sưu tầm, tuyển chọn các câu hỏi trắc nghiệm hay, đúng tiêu chuẩn cho việc dạy và học ở đơn vị mình
Đối với học sinh ban đầu các em chưa quen với phương pháp học tập mới này nên kết quả thu được còn thấp Dưới sự giúp đỡ của giáo viên thì sau một thời gian hầu hết các em đã có sự tiến bộ đáng kể và tỏ ra hào hứng với phương pháp mới này, một số em còn tự tìm hiểu và tự đặt ra những câu hỏi mang tính sáng tạo
Trang 28Nhận định và xem xét đúng những điều đó, Phòng giáo dục và đào tạo
đã chỉ đạo các cấp trong việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan, giáo viên đã mạnh dạn hơn trong việc sử dụng phương pháp này Có trường
đã tổ chức các kì thi định kì theo tháng dưới hình thức trắc nghiệm để việc rèn luyện của các em thêm hiệu quả Giáo viên cần áp dụng các câu hỏi trắc nghiệm ở nhiều mức độ khác nhau như: 10 phút, 15 phút, 35 phút….dao động
từ một phần trắc nghiệm đến toàn bộ là trắc nghiệm tùy theo thời gian và mục đích cụ thể
Khi giáo viên biết sử dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp này thì sẽ cải tạo được một cách đáng kể tình hình học tập của học sinh theo hướng tích cực, khắc phục dần những nhược điểm của phương pháp và dần dần đưa phương pháp này thành phương pháp dạy học truyền thống
1.3.7 So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
- Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra, trong đó nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án phù hợp
- Trắc nghiệm tự luận là bài kiểm tra trong đó nhà sư phạm đưa ra một hoặc nhiều yêu cầu đôi khi là bài toán nhận thức và đòi hỏi người học phải phân tích các yêu cầu hoặc giải quyết các bài toán
- Cả hai hình thức vẫn ít nhiều mang tính chủ quan
- Kết quả đánh giá của trắc nghiệm hay tự luận luôn đủ độ tin cậy
Trang 29b Khác nhau
Tiêu chuẩn đánh giá Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận
Tính đại diện của nội
dung
Bao quát toàn diện với nhiều câu hỏi
Phạm vi kiểm tra chỉ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể
Chuẩn bị câu hỏi Tốn nhiều thời gian, khó
Những yếu tố làm sai Khả năng đọc hiểu, phán
đoán
Khả năng viết, các cách thể hiện
Chất lượng của bài Được xác định phần lớn do
kỹ năng của người soạn thảo
Tùy thuộc phần lớn vào
kỹ năng của người chấm bài
Kết quả đánh giá - Tốt ở mức độ hiểu, biết,
áp dụng, phân tích
- Không thích hợp ở mức
độ tổng hợp, đánh giá, so sánh
- Không thích hợp ở mức độ nhận biết
- Tốt ở mức độ hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, phê phán, suy luận
hiểu, phân tích ý kiến của người khác Khả năng bật nhanh
Khuyến khích tổng hợp, diễn đạt ý kiến của bản thân Thể hiện tư duy logic của bản thân
Bảng: So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Trang 30Qua bảng so sánh trên ta thấy sự khác nhau rõ rệt nhất giữa hai phương pháp là ở tính khách quan, công bằng, chính xác Do đó cần nắm vững bản chất, ưu nhược điểm của từng phương pháp để có thể sử dụng mỗi phương pháp hữu hiệu, đúng lúc, đúng chỗ
1.3.8 Vài nét về bài tập trắc nghiệm khách quan
Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học nên việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học là rất cần thiết vì:
Thứ nhất, theo chương trình đổi mới giáo dục, trong hệ thống bài tập ngoài các bài tập truyền thống cón có các bài tập trắc nghiệm khách quan Sự
có mặt của các bài tập trắc nghiệm khách quan không chỉ góp phần làm phong phú hình thức, số lượng các loại bài tập mà nó còn là cơ hội để mỗi HS sớm làm quen với một phương pháp đang sử dụng phổ biến trên thế giới nhưng còn mới mẻ ở nước ta Đó là phương pháp kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan
Thứ hai, các bài tập trắc nghiệm khách quan phủ kín nội dung kiến thức, kĩ năng, mục tiêu cần kiểm tra, đảm bảo tính khách quan và thực hiện được mục tiêu của môn học
Thứ ba, đối với các môn học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng, các bài tập được xây dựng trong vở bài tập không phải luôn phù hợp với mọi đối tượng học sinh ở các vùng miền Cho nên các bài tập do các giáo viên xây dựng
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đó có bài tập trắc nghiệm khách quan
1.4 Vài nét về dạy học phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt 4
1.4.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
1.4.1.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức
Trang 31năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho HS có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em
1.4.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học
a Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em
Nhiệm vụ này bao gồm các công việc sau:
a.1 Dạy nghĩa từ: Làm cho HS nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ
của học sinh những từ mới và những từ mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau
a.2 Hệ thống hóa vốn từ Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có
hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy từ được nhanh chóng và tạo tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi Công việc này hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo…, tức là kĩ năng liên tưởng để huy động vốn từ
a.3 Tích cực hóa vốn từ: Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng
từ trong lời nói và lời viết của HS, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được học
Trang 32sinh dùng thường xuyên Tích cực hóa vốn từ tức là dạy học sinh biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình
a.4 Dạy cho học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu, phù
hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp
b Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
Trên cơ sở vốn ngôn ngữ có được trước khi đến trường, từ những hiện tượng cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em Luyện từ và câu trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp
Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh
1.4.2 Cơ sở và nội dung của các nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu
a Nguyên tắc giao tiếp
- Cơ sở: cơ sở của nguyên tắc này là chức năng xã hội của ngôn ngữ (ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người)
- Nội dung nguyên tắc:
+ Xây dựng nội dung nguyên tắc dạy học dưới hình thức các bài tập Luyện
từ và câu để học sinh tiến hành hoạt động giao tiếp, từ đó hình thành năng lực giao tiếp
+ Mọi quy luật cấu trúc và hoạt động của từ, câu chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động, những kinh nghiệm ngôn ngữ và kinh nghiệm sống đã có ở học sinh
+ Bảo đảm sự thống nhất giữa lí thuyết ngữ pháp và thực hành ngữ pháp với mục đích hình thành năng lực giao tiếp cho học sinh
Trang 33+ Trình bày các khái niệm ngữ pháp một cách đơn giản và chú trọng dạy hệ thống quy tắc ngữ pháp
b Nguyên tắc tích hợp
- Cơ sở: tính hệ thống và thống nhất của các đơn vị, bình diện ngôn ngữ trong
sử dụng
- Nội dung nguyên tắc:
+ Luyện từ và câu không thể tách rời, các bộ phận của chương trình luyện từ
và luyện câu cùng phải được nghiên cứu trong sự gắn bó thống nhất
+ Luyện từ và câu phải được tiến hành mọi nơi, mọi lúc trong các hoạt động khác, trong tất cả các môn học, trong tất cả các phân môn khác của giờ tiếng Việt
+ Học sinh phải kết hợp cả nghe, đọc, nói, viết từ, câu
+ Các ngữ liệu đưa ra xem xét trong giờ Luyện từ và câu phải tiêu biểu + Nắm chắc mục đích của tài liệu trực quan để sử dụng phù hợp với từng bước lên lớp, từng nhiệm vụ dạy học
d Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống của từ, câu trong dạy học Luyện từ và câu
- Cơ sở: giá trị của từ và cách dùng từ phụ thuộc vào những từ khác trong hệ thống Giá trị của câu và sự phụ thuộc của câu vào ngữ cảnh
- Nội dung nguyên tắc:
+ Đối chiếu từ với hiện thực trong việc giải nghĩa từ, đặt từ trong các hệ thống (hàng dọc, hàng ngang, phong cách xã hội) để xem xét và sử dụng + Đặt câu trong ngữ cảnh, trong văn bản để xem xét
Trang 34e Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa nội dung và hình thức ngữ pháp trong dạy học Luyện từ và câu
- Cơ sở: bản chất của khái niệm ngữ pháp và những khó khăn của học sinh trong việc lĩnh hội chúng
- Nội dung nguyên tắc: phải để học sinh xác lập quan hệ giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp khi nhận diện và sử dụng một đơn vị ngữ pháp
1.5 Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4
Phân môn luyện từ và câu lớp 4 (62 tiết- 32 tiết học kì 1 và 30 tiết học kì 2) bao gồm các nội dung sau:
- Mở rộng vốn từ (19 tiết):
Phần này mở rộng và hệ thống hóa từ ngữ theo chủ điểm của từng đơn vị
họ, cụ thể là:
+ Ở học kì 1 (9 tiết), từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ điểm:
Nhân hậu- Đoàn kết (tuần 2 và 3); Trung thực – Tự trọng (tuần 5 và 6);Ươc mơ
(tuần 9); Ý chí – Nghị lực (tuần 12 và 13); Đồ chơi- Trò chơi (tuần 15 và 16)
+ Ở học kì 2 (10 tiết), từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa theo các chủ
điểm: Tài năng (tuần 19); Sức khỏe (tuần 20); Cái đẹp (tuần 22 và 23); Dũng
cảm (tuần 25 và 26); Du lịch- Thám hiểm (tuần 29 và 30); Lạc quan- Yêu đời
(tuần 33 và 34)
a Cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ (5 tiết)
Phần này cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo
của từ: Cấu tạo của tiếng (tuần 1: 2 tiết), Từ đơn và từ phức (tuần 3: 1 tiết),
Từ ghép và từ láy (tuần 4:2 tiết)
* Từ loại (9 tiết): phần này cung cấp một số kiến thức sơ giản về các từ loại
cơ bản của tiếng Việt: Danh từ (tuần 11 và 12 : 2 tiết)
* Câu (26 tiết): phần này cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công cụ và
cách sử dụng các kiểu câu: Câu hỏi (tuần 13, 14 và 15 :4 tiết), Câu kể (tuần 16,
Trang 3517, 19, 20, 21, 22, 24, 25 và 26 : 12 tiết, bao gồm các kiểu câu : Ai làm gì?, Ai
thế nào?, Ai là gì?), Câu khiến (tuần 27, 29 : 3 tiết), Câu cảm (tuần 30: 1 tiết), Câu cảm (tuần 30 : 1 tiết), Thêm trạng ngữ cho câu (tuần 31, 32, 33, 34 : 6 tiết)
* Dấu câu (3 tiết): phần này cung cấp kiến thức về công dụng và luyện tập sử
dụng các dấu câu: Dấu hai chấm (tuần 2: 1 tiết), Dấu ngoặc kép (tuần 8: 1 tiết),
Dấu chấm hỏi (tuần 13- học cùng Câu hỏi), Dấu gạch ngang (tuần 23:1 tiết)
1.5.1 Nội dung dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 4
a Mục đích, yêu cầu
- Giúp học sinh mở rộng và hệ thống hóa vốn từ, cung cấp một số hiểu biết sơ giản về từ và câu
- Rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu
- Bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp và thích học tiếng Việt
b Nội dung dạy học
Phần này chúng tối thâu tóm toàn bộ kiến thức từ ngữ, ngữ pháp lớp 4 để
có cái nhìn bao quát lượng kiến thức học sinh cần nắm vững
+ Học sinh được học mở rộng vốn từ theo các chủ điểm: Nhân hậu- Đoàn kết,
Trung thực – Tự trọng, Ước mơ, Ý chí – Nghị lực, Trò chơi – Đồ chơi, Tài năng, Sức khỏe, Cái đẹp, Dũng cảm, Du lịch – Thám hiểm, Lạc quan – Yêu đời
b.2 Cung cấp các kiến thức sơ giản về từ
*Cấu tạo của tiếng
+ Mỗi tiếng có ba bộ phận là âm đầu, vần và thanh
Trang 36+ Tiếng nào cũng phải có vần và thanh Có tiếng không có âm đầu
*Cấu tạo của từ
+ Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau Đó là từ ghép Từ ghép có các loại:
Từ ghép tiếng có nghĩa phân loại; từ ghép có nghĩa tổng hợp
+ Phối hợp những tiếng có âm hay vần lặp lại nhau Đó là từ láy Từ láy có các loại: Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu; từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần; từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần
* Từ loại
Danh từ
+ Danh từ là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơn vị
+ Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật
+ Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật nhất định
+ Khi viết, danh từ riêng luôn được viết hoa
- Khi viết tên người và tên địa lí Việt Nam, ta cần viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành cái tên đó
+ Các bộ phận tạo thành tên người Việt Nam là họ, tên đệm (tên lót) và tên + Các bộ phận tạo thành tên núi, sông, làng, phố…Việt Nam (gọi chung là tên địa lí) cũng do các tiếng tạo thành
- Khi viết tên người, tên địa lý nước ngoài, ta viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó Nếu bộ phận tạo thành tên gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có dấu gạch nối
Trang 37- Có một số tên người, tên địa lí nước ngoài viết giống như tên riêng Việt Nam Đó là những tên riêng được phiên âm theo âm Hán – Việt
và các đặc điểm khác của người, sự vật, hiện tượng…
- Tính tình, phẩm chất, màu sắc, kích thước và các đặc điểm khác của người,
sự vật, hiện tượng…được tính từ biểu thị đều có những mức độ khác nhau Có một số cách thể hiện mức độ sau:
+ Tạo ra các từ ghép hoặc các từ láy với tính từ đã cho
+ Thêm các từ rất, quá, lắm…vào trước hoặc sau tính từ
+ Tạo ra phép so sánh: So sánh ngang bằng; so sánh hơn, kém; so sánh tuyệt đối
b.3 Cung cấp các kiến thức sơ giản về câu
Câu hỏi và dấu chấm hỏi
- Câu hỏi dùng để hỏi về những điều chưa biết
- Phần lớn các câu hỏi là để hỏi người khác, nhưng cũng có những câu hỏi để
tự hỏi mình
- Câu hỏi thường có các từ nghi vấn ai, gì, nào, sao, không…Khi viết, cuối
câu hỏi có dấu chấm hỏi (?)
- Nhiều khi, ta có thể dùng câu hỏi để thể hiện thái độ khen – chê; sự khẳng định, phủ định
- Khi hỏi chuyện người khác cần giữ phép lịch sự, cụ thể là:
+ Cần thưa gửi, xưng hô cho phù hợp với quan hệ giữa mình và người được hỏi
Trang 38+ Cần tránh những câu hỏi tò mò hoặc làm phiền lòng người được hỏi
Câu kể
- Câu kể là những câu dùng để:
+ Kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc
+ Nói lên ý kiến hoặc tâm tư, tình cảm của mỗi người
+ Khi viết, cuối câu kể có dấu chấm
- Câu kể Ai làm gì?
+ Câu kể Ai làm gì? thường gồm hai bộ phận:
Bộ phận thứ nhất là chủ ngữ, trả lời cho câu hỏi Ai (con gì, cái gì)?
Bộ phận thứ hai là vị ngữ, trả lời cho câu hỏi Làm gì?
+ Câu kể Ai là gì? vị ngữ nêu lên hoạt động của người của con vật (hay đồ
vật, cây cối được nhân hóa) Vị ngữ có thể là: động từ và động từ kèm theo một số từ ngữ phụ thuộc (cụm động từ)
+ Trong câu kể Ai làm gì? chủ ngữ nêu tên người hoặc con vật (hay đồ vật,
cây cối được nhân hóa) có hoạt động được nói đến ở vị ngữ
Chủ ngữ thường do danh từ hoặc cụm danh từ tạo thành
- Câu kể Ai thế nào?
+ Câu kể Ai thế nào? gồm hai bộ phận:
Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai (cái gì, con gì)?
Vị ngữ trả lời cho câu hỏi: Thế nào?
+ Vị ngữ của câu kể Ai thế nào? chỉ đặc điểm, trạng thái của sự vật (người,
vật, con vật) được nói đến ở chủ ngữ
Vị ngữ thường do tính từ, động từ (hoặc cụm tính từ, cụm động từ) tạo thành
+ Chủ ngữ của câu kể Ai như thế nào? chỉ sự vật (người, vật, con vật) có đặc
điểm, trạng thái được nêu ở chủ ngữ
Chủ ngữ thường do danh từ, đại từ (hoặc cụm danh từ) tạo thành
- Câu kể Ai là gì?
Trang 39+ Câu kể Ai là gì? gồm hai bộ phận:
Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai (cái gì, con gì)?
Vị ngữ trả lời cho câu hỏi: Là gì (là ai, là con gì)?
Câu kể Ai là gì? được dùng để giới thiệu hoặc nêu nhận định về một người,
một vật nào đó
+ Trong câu kể Ai là gì?:
Vị ngữ được nối với chủ ngữ bằng từ là
Vị ngữ thường do danh từ (hoặc cụm từ) tạo thành
+ Chủ ngữ trong câu kể Ai là gì? chỉ người hay vật được giới thiệu, nhận định Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai? hoặc Con gì?, Cái gì?
Trong câu kể Ai là gì? chủ ngữ thường do danh từ (hoặc cụm danh từ) tạo thành
Câu khiến
- Câu khiến dùng để yêu cầu, đề nghị, mong muốn…của người nói, người viết
với người khác Khi viết, cuối câu khiến có dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm
- Muốn đặt câu khiến, ta có thể dùng một trong các cách sau:
Thêm các từ hãy, đừng, chớ, nên, phải vào trước động từ
Thêm các từ lên, đi, thôi, nào….vào cuối câu
Thêm các từ đề nghị, xin, mong…vào đầu câu
Dùng giọng điệu phù hợp với câu khiến
- Khi nêu yêu cầu, đề nghị, ta phải giữ phép lịch sự
Câu cảm
- Câu cảm là câu dùng để bộc lộ cảm xúc vui mừng, thán phục, đau xót ngạc nhiên,…của người nói
- Câu cảm thường có các từ ngữ: ôi, chao, chà, ồ, a, à, trời
Khi viết, cuối câu cảm thường có dấu chấm than (!)
Thêm trạng ngữ cho câu
Trang 40- Trạng ngữ là thành phần phụ của câu xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích của sự việc nêu trong câu
Trạng ngữ trả lời các câu hỏi: Khi nào?, Ở đâu?, Vì sao?, Để làm gì?
- Trạng ngữ có thể đứng đầu câu, cuối câu hoặc chen giữa chủ ngữ và vị ngữ
- Để làm rõ nơi chốn diễn ra sự việc nêu trong câu, ta thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn vào câu
Trạng ngữ chỉ nơi chốn trả lời cho câu hỏi Ở đâu?
- Để xác định thời gian diễn ra sự việc nêu trong câu, ta có thể thêm vào câu
những trạng ngữ chỉ thời gian như: buổi sáng, buổi chiều, hôm nay, hôm qua,
tháng này, tháng trước, lúc 7 giờ, khi tan học,…
Trạng ngữ chỉ thời gian trả lời cho các câu hỏi Bao giờ?, Mấy giờ?, Khi nào?
- Để giải thích nguyên nhân của sự việc hoặc tình trạng nêu trong câu, ta có thể thêm vào câu những trạng ngữ chỉ nguyên nhân
+ Trạng ngữ chủ ngữ trả lời cho các câu hỏi Vì sao?, Tại sao?, Tại đâu?,
Nhờ đâu?, Do đâu?,…
+ Trạng ngữ bắt đầu bằng từ nhờ ngụ ý nguyên nhân dẫn đến kết quả tốt
Trạng ngữ bắt đầu bằng các từ tại, tại vì ngụ ý nguyên nhân dẫn đến kết quả xấu Khi không cần phân biệt kết quả tốt hay xấu thì dùng các từ vì, do, bởi, bởi vì…
- Để nói lên mục đích tiến hành sự việc nêu trong câu, ta có thể thêm vào câu những trạng ngữ chỉ mục đích Trạng ngữ chỉ mục đích trả lời cho các câu hỏi