TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC *********** NGUYỄN THỊ CẨM VÂN TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ PHÂN BIỆT CÁC TỪ LOẠI CƠ BẢN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ CỦA HỌC SI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
***********
NGUYỄN THỊ CẨM VÂN
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN
VÀ PHÂN BIỆT CÁC TỪ LOẠI CƠ BẢN (DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ) CỦA HỌC
SINH TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí thuyết ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học
THS LÊ BÁ MIÊN
HÀ NỘI – 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quyết định số 2957/QĐ – ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
chỉ rõ vai trò và tính chất của Giáo dục Tiểu học: Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục Phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy, giáo dục Tiểu học cần được chuẩn bị tốt về mọi mặt
để học sinh tiếp tục học lên trên
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học chính, chiếm nhiều thời gian trong tuần Trong các giờ Tiếng Việt, nhà trường đã cung cấp cho học
sinh những kiến thức về ngôn ngữ như: kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,
tu từ học – phong cách học tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt
Trong Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ cung cấp kiến
thức tiếng Việt cho học sinh, trong đó có kiến thức về ngữ pháp học
Từ loại là một địa hạt quan trọng trong ngữ pháp học nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng Đối với tiếng Việt, vấn đề từ loại rất đáng chú ý bởi nó
là một vấn đề ngữ pháp lí luận được ứng dụng ở một ngôn ngữ cụ thể thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Từ loại tiếng Việt hết sức phong phú, có thể xếp thành hai nhóm chính: nhóm thực từ và nhóm hư từ Trong thực từ, có danh từ, động
từ, tính từ, đại từ, số từ, ; trong hư từ có quan hệ từ, tình thái từ, trợ từ, Trong danh từ, động từ, tính từ lại bao gồm những loại nhỏ hơn Vì vậy, việc tìm hiểu
từ loại Tiếng Việt là rất rộng Trong khuôn khổ của khóa luận này, tôi đi vào tìm
hiểu về khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học
Trang 3Phân biệt được từ loại là vấn đề rất quan trọng trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên Phân biệt được từ loại sẽ xác định được chính xác từ loại cho các
từ trong văn bản tiếng Việt Việc xác định này sẽ hỗ trợ cho việc phân tích cú pháp các văn bản góp phần giải quyết tính đa nghĩa của từ và trợ giúp các hệ thống rút trích thông tin đến ngữ nghĩa Hệ thống bài tập về từ loại có số lượng không nhiều song vấn đề về từ loại tiếng Việt được đưa vào giảng dạy ngay từ bậc Tiểu học, trung học Cơ sở, trung học Phổ thông và lên cả đại học Các bài tập trong sách giáo khoa là cơ bản, đa số học sinh đều làm được do đó khó phân loại học sinh và phát hiện học sinh khá, giỏi Trong khi đó để dạy học đạt hiệu quả cao cần phân loại học sinh để các bài tập đưa ra không tạo sự nhàm chán hay quá khó đối với các em Qua điều tra thực tế việc nhận diện và phân biệt từ loại
cơ bản của học sinh, tôi nhận thấy còn những vấn đề tồn tại làm cho hiệu quả học từ loại của học sinh chưa cao Là một giáo viên tiểu học tương lai, tự nhận thấy tầm quan trong của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho học sinh, tôi
mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài “Tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học”, với mong
muốn được học hỏi, nâng cao tri thức cho học sinh
2 Lịch sử vấn đề
Nói đến các công trình nghiên cứu về ngữ pháp trong đó có vấn đề về từ
loại trước hết phải kể đến Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (1948) của tác giả Lê
Văn Lý với hơn 200 trang, dành nửa số trang cho vấn đề từ loại Ở đây, tác giả đưa ra các tiêu chuẩn xếp từ loại bằng xem xét khả năng phối hợp của các từ ngữ
Năm 1960, trong cuốn Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nguyễn
Tài Cẩn đã khảo sát về một trong những từ loại quan trọng bậc nhất của tiếng Việt hiện đại: từ loại danh từ Trong cuốn này, Nguyễn Tài Cẩn đã nêu rõ đặc điểm của danh từ, xem xét đoản ngữ có danh từ làm trung tâm (danh ngữ) Sau
Trang 4đó ông đề cập đến các phạm trù từ vựng ngữ pháp quan trọng bậc nhất trong nội
bộ từ loại danh từ
Năm 1978, Đái Xuân Ninh trong Hoạt động của từ tiếng Việt đã để một
phần trong chương 2 nói về lịch sử vấn đề cùng những nhận xét, đánh giá xác đáng việc phân định từ loại tiếng Việt từ những bước đầu tiên cho đến thời điểm tác giả viết cuốn tài liệu này
Tới năm 1986, tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từ
loại) quan tâm đến các vấn đề:
1) Bản chất và các đặc trưng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại 2) Hệ thống các từ loại tiếng Việt
3) Từ loại là các phạm trù của tư duy
Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại nghiên
cứu các vấn đề: khái niệm về từ loại, đối tượng, tiêu chí, mục đích phân định từ loại Đặc biệt, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống từ loại cơ bản, ranh giới giữa từ loại cơ bản với từ loại không cơ bản
Đến năm 2004 trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, khi nghiên cứu về từ loại
tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đưa ra ba tiêu chuẩn để phân định từ loại tiếng Việt: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp Ngoài ra, khi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hai lớp lớn: thực từ và hư từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh từ, động
từ tính từ
Và gần với đề tài chúng tôi nghiên cứu là cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb
Giáo dục, 2007, tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung đã dành ra một chương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm là tiêu chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loại tiếng Việt Theo tác giả, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
Trang 5Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) Đồng thời tác giả có sự lí giải cho cách sắp xếp nêu trên
Ngoài những tài liệu trên, Luận văn thạc sĩ của giảng viên Lê Thị Lan Anh
(Đại học Sư phạm Hà Nội II-2006) cũng nghiên cứu về từ loại qua đề tài Từ loại tiếng Việt và việc dạy từ loại cho học sinh tiểu học Bên cạnh việc đề cập đến
các đặc điểm của từ loại tiếng Việt luận văn còn đưa ra những biện pháp nhằm giải quyết một số vấn đề về phương pháp dạy học tiếng Việt
Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc (sinh viên Trần Thị Hoa, K30B-
GDTH, Đại học Sư Phạm Hà Nội II) trình bày về một số đặc điểm của ba từ loại
cơ bản: danh từ, động từ, tính từ, đồng thời tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh tiểu học qua một số bài tập
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về từ loại, liên quan đến từ loại tiếng Việt đã trình bày hết sức chi tiết về đặc điểm của từ loại tiếng Việt Song những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà chưa được thực nghiệm ở trường Tiểu học, hai cuốn Luận văn thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệp lại nghiên cứu hai khía cạnh là phương pháp dạy từ loại và khả năng xác định từ loại của học sinh tiểu học Bên cạnh việc kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình
đó, chúng tôi mạnh dạn tiến hành điều tra thực nghiệm một khía cạnh khác Đó
là khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh tiểu học
3 Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau:
Tìm hiểu thực tế khả năng nhận diện, phân biệt từ loại cơ bản của học sinh Trên cơ sở đó nhận định đúng thực trạng đối tượng học sinh, đồng thời đưa
ra một số đề xuất nhằm giải quyết thực trạng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 6- Tìm hiểu lí thuyết về từ loại cơ bản
- Trên cơ sở lí luận đã có, tiến hành khảo sát thực tế đối tượng học sinh, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm giải quyết thực trạng trên
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Điều tra, thống kê, phân loại, so sánh, phân tích ngôn ngữ học và thực nghiệm sư phạm
Quá trình nghiên cứu đề tài được tiến hành tuần tự theo các bước sau:
- Đọc lí thuyết có liên quan đến đề tài
- Thống kê tư liệu điều tra được
- Xử lí tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại và so sánh
- Viết khóa luận và tóm tắt
5 Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khả năng nhận diện và phân biệt từ loại danh từ, động từ, tính từ của học sinh tiểu học lớp 4, 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Như chúng tôi đã trình bày trước đó, tìm hiểu về từ loại là một đề tài rộng
Vì vậy, trong khuôn khổ của khóa luận này, chúng tôi chỉ đề cập nghiên cứu một khía cạnh nhỏ là “Tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học”
6 Dự kiến cấu trúc luận văn
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Trang 7Phần mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Mục đích nghiên cứu – Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu
6 Dự kiến cấu trúc luận văn
Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề về từ loại cơ bản và việc học từ loại cơ bản của học sinh tiểu học
1 Khái niệm về từ loại
2 Việc dạy và học từ loại cơ bản ở Tiểu học
Chương 2: Khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh tiểu học
1 Khả năng hiểu khái niệm từ loại cơ bản (trên phương diện lí thuyết)
2 Khả năng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn xác định từ loại cơ bản
3 Khả năng nhận diện từ loại trong hệ thống các từ rời
4 Khả năng nhận diện từ loại cơ bản trong lời nói
5 Khả năng kết hợp các từ loại cơ bản
6 Khả năng kết hợp từ để chuyển loại các từ loại cơ bản
7 Khả năng đặt câu với các từ loại cơ bản
Kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỪ LOẠI CƠ BẢN VÀ VIỆC HỌC TỪ LOẠI CƠ
BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
1 Khái niệm về từ loại
Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữ pháp, theo
bản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên – Từ loại tiếng Việt hiện đại)
Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại (Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung
– Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1)
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt – 2008 (Nguyễn Văn Xô) định nghĩa: “Từ
loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát như: danh từ, động từ, tính từ ”
1.2 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt
1.2.1 Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng cho rằng: tiếng Việt
cơ cấu theo một lối khác hẳn so với các ngôn ngữ phương Tây (không có sự biến đổi hình thái) do đó không có từ loại, mà tùy thuộc vào vị trí trong câu mà có tính chất nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc tính khác nhau
1.2.2 Thừa nhận sự tồn tại của phạm trù từ loại Tuy nhiên trong nhóm này có những khác biệt trong việc phân định, phân loại:
Trang 9- Chức vụ cú pháp (Phan Khôi): Một từ có thể thuộc về nhiều từ loại khác nhau
- Khả năng kết hợp (Nguyễn Tài Cẩn)
Khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ
Khả năng làm thành tố phụ của ngữ
1.3 Tiêu chí phân định từ loại
Trong tiếng Việt người ta dựa vào ba tiêu chí sau đây để phân chia thành các từ loại:
1.3.1 Ý nghĩa khái quát
Ý nghĩa khái quát là ý nghĩa phạm trù có tính chất khái quát hóa cao: nó là kết quả của quá trình trừu tượng hóa nghĩa của hàng loạt cái cụ thể: danh từ chỉ
sự vật; động từ chỉ hoạt động, trạng thái; còn tính từ chỉ đặc điểm, tính chất
đó
Trang 10- Danh từ thường làm chủ ngữ Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải kết
hợp với từ “là” (Ví dụ: Tôi là sinh viên.)
- Động từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất khả
năng kết hợp với đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, chứ, hãy, đừng, chớ
- Tính từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, tính từ mất khả
năng kết hợp với đã, đang, sẽ, cũng, vẫn, cứ, rất, lắm, quá
1.4 Kết quả phân loại
Hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm những
từ loại sau đây:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ; số từ; đại từ
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ nghiên cứu trên ba lớp: danh từ, động
từ, tính từ - ba từ loại cơ bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học
A Danh từ
Về ý nghĩa ngữ pháp, danh từ là thực từ có ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ
“vật” hiểu rộng), được dùng làm tên gọi các “vật”
Về khả năng kết hợp, danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ lượng
(Những, các ) ở trước, và các từ chỉ định (này, nọ ) ở sau nghĩa là có khả năng
Trang 11Sự phân biệt danh từ riêng với danh từ chung căn cứ vào cách gọi tên của chúng Danh từ riêng là tên gọi cụ thể của từng cá thể, còn danh từ chung là tên gọi của từng lớp sự vật đồng nhất về một phương diện nào đó
Về nghĩa, danh từ riêng không mang nghĩa, chúng là tên gọi của từng người, tên địa danh, tên sách báo, tên gọi tổ chức Về nguyên tắc, đây là mối quan hệ một – một giữa tên gọi và vật được gọi tên, do đó yêu cầu của việc đặt tên riêng là phân biệt được từng vật cụ thể Trong sự phân tích nghĩa của câu, danh từ riêng thuộc về kiểu nghĩa kinh nghiệm
Danh từ chung là mảng từ lớn và đa dạng cần được xem xét ở một số dạng khác nhau Cụ thể là:
2 Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp là cần thiết không chỉ do ý nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản thân lớp con này Những danh từ chung không mang đặc điểm ý nghĩa và ngữ pháp của danh
từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với nó và được gọi là danh từ không tổng hợp
Danh từ tổng hợp chỉ chung nhiều sự vật đồng nhất xét ở một phương diện
nào đó, như: cây cối, bạn bè, nhà cửa, xe cộ, đường xá
Danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất, hoặc thông qua từng
cá thể sự vật như là đại diện cho cả lớp, như: bụi cây, bạn tôi, xe máy
Cả danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp đều có thể xem xét ở các phương diện sau đây
3 Danh từ vật thể, danh từ chất thể, danh từ trừu tượng, danh từ tập thể, danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
3.1 Danh từ vật thể
Danh từ chỉ vật thể bao gồm 4 lớp con
- Danh từ chỉ đồ vật: bàn, ghế, ao, nhà, bát, đũa
Trang 12- Danh từ chỉ thực vật: cỏ, lúa, nhãn, bưởi
- Danh từ chỉ động vật: cá, bò, trâu, chim
- Danh từ chỉ người: học sinh, sinh viên, công nhân
3.2 Danh từ chất thể
Danh từ chất thể chỉ các chất thuộc cả ba thể là: thể rắn, thể lỏng, thể khí,
như: đá, nước, hơi, khói
3.3 Danh từ trừu tượng
Danh từ trừu tượng gồm các danh từ chỉ các vật thể tưởng tượng, như:
thần, thánh, ma, quỷ, tiên, bụt ; và các danh từ chỉ khái niệm trừu tượng, như: lí luận, trí tuệ, tư tưởng
3.4 Danh từ tập thể
Danh từ tập thể là danh từ chỉ những vật khác nhau về loại cụ thể nhưng thường đi kèm với nhau thành một tập hợp hoàn chỉnh, và mỗi tập hợp này làm
thành một “đơn vị rời” đếm được như: bầy, lũ, bọn, đám, đàn
3.5 Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết
Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết có khả năng kết hợp với một số loại từ
riêng, như: bão, chớp, lũ, lụt, gió, mưa, sấm
Ví dụ: ánh chớp, cơn bão, cơn gió, cơn mưa, tiếng sấm, tiếng sét
4 Danh từ đơn vị
Trong số các danh từ vật thể có thể tách ra những từ sẵn chứa trong mình
ý nghĩa “đơn vị rời” có thể đo đếm được, chúng tập hợp lại dưới cái tên chung là danh từ đơn vị
Đặc điểm chung của danh từ đơn vị là dễ dàng đứng trực tiếp sau số từ chính xác, bao gồm hai lớp con:
- Danh từ đơn vị khoa học là những khái niệm trừu tượng chỉ đơn vị đo
lường do các nhà khoa học nghiên cứu và quy ước đặt ra, như: mét, lít, gam
Trang 13- Danh từ đơn vị dân gian là tên gọi các vật chứa hay các hành động tạo
lượng do nhân dân quy ước lấy làm đơn vị như: thùng (gạo), bát (cơm), mâm (cỗ), bó (rơm)
5 Danh từ đếm được và danh từ không đếm được
5.1 Danh từ đếm được
Danh từ đếm được là những danh từ có khả năng xuất hiện trực tiếp sau số
từ chính xác, gồm hai nhóm con:
5.1.1 Danh từ đếm được tuyệt đối
Danh từ đếm được tuyệt đối là danh từ dễ dàng xuất hiện trực tiếp sau số
từ chính xác, gồm các nhóm con:
- Danh từ chỉ đơn vị đại lượng quy ước khoa học, như: mét, lít, sào, mẫu
- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội như: nước, tỉnh, xã, đoàn, đội, nghề, môn
- Danh từ chỉ không gian như: nơi, chốn, xứ, vùng, miền, khoảnh
- Danh từ chỉ đơn vị thời gian: dạo, khi, hồi, lúc
- Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh: màu, mùi, tiếng
- Danh từ chỉ chức vụ: nhà văn, nghệ sĩ, giám đốc
- Danh từ chỉ lần của sự việc: lần, lượt, phen, chuyến
- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: tài năng, trí tuệ
5.1.2 Danh từ đếm được không tuyệt đối
Danh từ đếm được không tuyệt đối là những danh từ vốn không đếm được, nhưng trong một số trường hợp sử dụng khá quen thuộc chúng có thể xuất hiện trực tiếp sau số từ chính xác
Ví dụ: Làng này có ba ao, năm giếng
Đồng hồ ba kim, bàn bốn chân
5.2 Danh từ không đếm được
Trang 145.2.1 Danh từ không đếm được là danh từ chất thể
Các danh từ chất thể như: muối, dầu, hơi không có khả năng trực tiếp
đứng sau số từ chính xác Chúng có thể đo đếm được thông qua các loại đơn vị thích hợp biểu thị bằng danh từ đơn vị quy ước và một số loại từ thích hợp
Ví dụ: hai tấn thóc, hai xe sắt, hai lít dầu, hai thùng dầu
5.2.2 Danh từ không đếm được là danh từ tổng hợp
Các danh từ tổng hợp như: áo quần, binh lính, xe cộ không có khả năng
trực tiếp đứng sau số từ chính xác Chúng chỉ có thể đo đếm được thông qua các danh từ đơn vị quy ước, một số danh từ tập thể thích hợp dùng làm danh từ đơn
vị
Ví dụ: hai bộ quần áo, hai tấn quần áo, hai chục kilomet đường xá
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, từ loại danh từ trước hết được chia thành hai loại: danh từ chung và danh từ riêng Danh từ chung được chia thành năm nhóm: từ chỉ người, từ chỉ vật, từ chỉ hiện tượng, từ chỉ khái niệm và
từ chỉ đơn vị Cách phân loại này được các nhà biên soạn sách lựa chọn để phù hợp với tư duy, nhận thức của học sinh tiểu học
* Ta có thể tóm tắt các nội dung về danh từ bằng sơ đồ sau:
Trang 15B Động từ
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình
Về khả năng kết hợp, động từ thường kết hợp với các từ: đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ
Ví dụ: Mai anh ấy sẽ đi Hà Nội
Cũng giống như danh từ, động từ có khả năng đảm nhiệm nhiều chức năng
cú pháp khác nhau Nhưng chức năng cú pháp điển hình là làm vị ngữ Trong cấu tạo câu, nó có vị trí trực tiếp đứng sau chủ ngữ Do đó, chức năng vị ngữ của động từ làm thành một tiêu chuẩn đối lập động từ và danh từ trong tiếng Việt
Khi làm chủ ngữ, động từ mất khả năng kết hợp với các từ: đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ
Động từ được phân chia thành hai lớp con: lớp động từ không độc lập và lớp động từ độc lập
Thời Tiết
Trang 16Động từ không độc lập là những động từ về ý nghĩa, biểu thị quá trình chư đầy đủ, chưa trọn vẹn; chúng chỉ tình thái vận động ở lúc bắt đầu hay kết thúc quá trình; hoặc ý nghĩa quá trình không trực tiếp gắn với hành động hay trạng thái cụ thể (có thể nói là “trống” nghĩa); về khả năng kết hợp và đảm nhiệm chức năng cú pháp, do đặc điểm ý nghĩa, lớp động từ này khi làm thành phần câu, thường đòi hỏi kết hợp với thực từ hay tổ hợp thực từ để khỏi “trống” nghĩa
Lớp động từ không độc lập thường bao gồm một số nhóm sau đây:
1.1 Nhóm động từ tình thái
Động từ tình thái thường biểu thị các ý nghĩa tình thái (có tính chất quá trình) khác nhau:
- Ý nghĩa tình thái về sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải
- Chỉ ý nghĩa tình thái về khả năng: có thể, không thể, chưa thể
- Chỉ ý nghĩa tình thái về ý chí: định, toan, nỡ, dám
- Chỉ ý nghĩa tình thái mong muốn: mong, muốn, ước, mong muốn, mong ước, ước muốn
- Chỉ ý nghĩa tình thái tiếp thụ, chịu đựng: bị, mắc, phải, được
- Chỉ ý nghĩa tình thái đánh giá, nhận định: cho, xem, thấy
- Chỉ quan hệ biến hóa: thành, hóa, hóa ra, hóa thành, trở thành
- Chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc, thôi
- Chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu: giống, khác, như, tựa, in, hệt
Trang 17- Chỉ quan hệ diễn biến trong không gian: gần, xa, ở, gần gụi
2 Động từ độc lập
Động từ độc lập là những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành động hoặc trạng thái) Động từ độc lập có đầy đủ khả năng kết hợp và chức năng cú pháp của động từ Tuy vậy, động từ độc lập cũng có thể phân chia thành một số nhóm nhỏ dựa theo hai tiêu chí sau:
2.1 Các nhóm động từ độc lập phân loại theo phụ từ đi kèm:
- Nhóm động từ chỉ hành động: gồm những động từ kết hợp được với hãy, đừng, chớ và với lắm, quá và không kết hợp được với rất, hơi, khá: viết, đánh,
Những động từ không kết hợp được với xong: thấy, hiểu, mỏi, biết
2.2 Các nhóm động từ phân loại theo các thực từ đi kèm:
- Nhóm động từ không đòi hỏi thực từ đi kèm (động từ nội động): nói, cười, khóc, ngồi, đứng, bò, ngủ, càu nhàu, hậm hực thường chỉ các hành động
cơ thể (vận động sinh lí) hoặc chỉ trạng thái tâm lí
- Nhóm động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tượng tác động (động từ
ngoại động): đánh (giặc), trồng (cây), viết (thư), xây (nhà), đá (bóng)
- Nhóm động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng phát/nhận và đối tượng được lợi hay bị thiệt do tác động của hành động nêu ở động từ (động từ
ngoại động): cho (em) (một cái kẹo), gửi (bạn) (một bức thư)
Trang 18- Nhóm động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng sai khiến và nội
dung sai khiến (động từ khiên động, thuộc lớp động từ ngoại động): nhờ (bạn) (xách nước), bảo (con) (học), cử (người) (tiếp khách)
- Nhóm động từ có thực từ đi kèm chỉ hướng dời chuyển, hoặc hướng nối kết của hành động nêu ở động từ; hoặc chỉ đích dời chuyển của hành động, hoặc
nêu đối tượng bị tác động dời chuyển: lăn vào, chạy ra, đi xuống; buộc vào, cởi tháo ra; chạy ra phố, đi xuống chân núi; buộc vào cột, kéo thuyền ra; đùn cát lên, đẩy xe vào nhà, lên gác
Tính từ có khả năng đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu: khi
làm vị ngữ, tính từ không cần đến từ “là” Ví dụ: Bạn tôi rất xinh
ĐT quan hệ Có phụ từ đi
kèm
ĐT tình thái
Trang 191 Căn cứ vào ý nghĩa và khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ,
có thể tách ra một nhóm các tính từ chỉ những đặc điểm tính chất tuyệt đối Những tính từ này không có khả năng kết hợp được với các phụ từ chỉ mức độ
Ví dụ: công, tư, riêng, chung, đực, cái, trống, mái (tính từ không có mức độ) Xanh lè, đỏ chói, vàng ối, đen kịt, to bự, thấp tè, cao vút, mỏng dính, thơm phức (tính từ mức độ cao)
Các tính từ còn lại (chiếm đa số các tính từ) đều chỉ các đặc điểm có mức
độ và do đó kết hợp được với các phụ từ chỉ mức độ
Ví dụ: đẹp, xinh, to, gầy, béo, thấp, cao
2 Căn cứ vào ý nghĩa và khả năng có các thành tố phụ đi sau lại có thể tách tính từ ra thành hai tiểu loại:
- Các tính từ chỉ đặc điểm “về chất” Ví dụ: đẹp, tốt, xấu, thông minh, ngoan ngoãn, giỏi, ngu, đần, đỏ, xanh, vàng Những tính từ này thường có thành tố phụ đi sau với ý nghĩa phương diện thể hiện của phẩm chất: xấu người, đẹp nết, giỏi về toán, xanh vỏ, đỏ lòng, tốt gỗ
- Các tính từ chỉ các đặc điểm “về lượng” Ví dụ: cao, thấp, nông, sâu, dài, ngắn, nặng, nhẹ, to, nhỏ Các tính từ này thường có thể có thành tố phụ định lượng đi sau (gồm số từ + từ chỉ đơn vị đo lường) Ví dụ: rộng tám mét, dài mười phân, nặng ba tạ, xa hàng trăm cây số
* Một số lưu ý về việc phân tách hai từ loại động từ và tính từ
Trong ngôn ngữ Ấn – Âu, chỉ có động từ có khả năng làm vị ngữ còn danh
từ và tính từ không có khả năng làm vị ngữ Còn ở tiếng Việt, tính từ và động từ lại có nhiều điểm chung để đối lập với danh từ Trong thực tế tiếng Việt không
phải chỉ có tính từ mới có khả năng kết hợp với: rất, quá, lắm, cực kì, vô cùng (yêu lắm, rất ghét, giận vô cùng ) và không chỉ có động từ mới kết hợp được với: hãy, đừng, chớ Nhập động từ và tính từ thành một từ loại là vị từ (theo
một số tài liệu của Cao Xuân Hạo, Lê Biên ) góp phần giải quyết khó khăn
Trang 20trong việc phân biệt hai loại từ này về khả năng kết hợp Song chúng tôi không đưa ra hệ thống từ loại tiếng Việt với sự gộp chung này khi mục đích đề tài chúng tôi là hướng đối tượng học sinh tiểu học Với đối tượng học sinh này, cuối cùng vẫn phải phân loại và tách vị từ ra thành động và tính từ để các em có thể
dễ dàng hơn trong việc sử dụng từ; nhập để rồi lại tách thêm một lần gây khó cho học sinh lứa tuổi này
2 Việc dạy và học từ loại cơ bản ở Tiểu học
2.1 Nội dung dạy từ loại cơ bản ở Tiểu học
Về từ loại, ở Tiểu học chỉ học các khái niệm danh từ, động từ, tính từ, danh từ riêng, danh từ chung, tính từ chỉ tính chất chung không có mức độ, tính
từ chỉ tính chất có xác định mức độ, đại từ chỉ ngôi Ở chương trình cải cách giáo dục, nội dung kiến thức về từ loại nằm trong phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp học sinh được học ngay từ lớp 2 Đến chương trình Tiếng Việt 2000, theo sự tăng dần độ khó của kiến thức, ở học kì I (lớp 4) học sinh mới chính thức được học các khái niệm về danh từ, động từ, tính từ Cụ thể:
Lớp 2: Các em có thể nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động
Lớp 3: Các em nhận biết được từ chỉ tính chất, nhận biết cách dùng một số cặp từ nối
Lớp 4: Hình thành khái niệm sơ giản về danh từ, động từ, tính từ
Lớp 5: Hình thành các khái niệm sơ giản về đại từ, quan hệ từ
Các bài Luyện từ và câu đề cập đến cách phân loại các từ loại cơ bản Cách phân loại này dựa vào các tiêu chí: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp Tuy nhiên ở tiểu học, sách giáo khoa Tiếng Việt 4 mới chỉ giới thiệu một tiêu chí trong cách phân loại nêu trên - tiêu chí về ý nghĩa khái quát Theo tiêu chí này:
* Danh từ là những từ chỉ sự vật
Trang 21Để giúp học sinh hiểu rõ hơn khái niệm sự vật sách giáo khoa nêu ra 5 nội hàm của khái niệm này Sự vật gồm:
- Người: ông, bà, cha, mẹ, công nhân, nông dân
- Vật (đồ vật, con vật, cây cối ): sông, núi, mèo, chó
- Hiện tượng (cái xảy ra trong không gian, thời gian mà người ta nhận
thấy): mưa, sấm, sét
- Khái niệm (chỉ các đối tượng có tính chất trừu tượng hoặc thuộc tư
duy): cuộc sống, cái đẹp
- Đơn vị: con, cái, cơn
Sau khi đưa ra các khái niệm về danh từ sách giáo khoa dành riêng một tiết đề cập đến vấn đề phân chia danh từ thành danh từ riêng và danh từ chung
Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật Ví dụ: núi, sông, xe, cặp, sách, vở
Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật Hay nói cách khác, danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng vật, từng địa phương Danh từ riêng
luôn luôn được viết hoa Ví dụ: Hà Nội, Nguyễn Thị Cẩm Vân, (núi) Bà Đen
* Động từ là những từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật Ví dụ: lau nhà, rửa bát, ăn cơm, thái thịt
* Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt
động, trạng thái Ví dụ: vui, đẹp, xấu, cao, thấp, gầy, béo
Sách giáo khoa giới thiệu một số cách thể hiện mức độ tính từ như sau:
- Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy từ tiếng đã cho
Ví dụ: Đỏ: đỏ chói, đỏ lòm, đỏ lòe
Đo đỏ, đỏ đắn
- Thêm các từ rất, lắm, quá, vô cùng, cực kì vào trước hoặc sau tính từ
Ví dụ: cao: rất cao, cao lắm, cao quá
- Tạo ra phép so sánh:
Trang 22So sánh ngang bằng
So sánh hơn kém
So sánh tuyệt đối
2.2.Việc dạy học từ loại cơ bản ở Tiểu học
Thực tế cho thấy việc học các kiến thức ngữ pháp tiếng Việt là rất quan trọng đối với học sinh, bởi qua học tập về ngữ pháp giúp cho học sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, việc học tập ngữ pháp hiện nay được tiến hành một cách có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệ thống các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình
Dạy học từ loại cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thức của học sinh Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc đoạn văn cho trước để tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể Các bước này
có thể chia thành hai hướng là dạy lí thuyết và dạy thực hành từ loại
Do ngữ pháp là một môn khó (hiện nay là Luyện từ và câu) cho nên giáo viên vẫn có những hạn chế nhất định trong việc tổ chức tiết dạy sao cho đạt yêu cầu chuyên môn, đúng đặc trưng phân môn và đạt hiệu quả dạy học cao Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là về mặt kiến thức Giáo viên có những khó khăn khi xác định đơn vị từ và xác định từ loại Cụ thể:
Xác định đơn vị từ (phân tách từ): Trước khi đi vào xác định từ loại thì khâu đầu tiên đó là phải phân tích đúng đơn vị từ Một bộ phận giáo viên không chắc chắn trong việc xác định đơn vị từ, nhiều khi còn nhầm lẫn giữa từ và cụm
từ, nhầm lẫn giữa từ ghép với hai từ đơn
Một thực tế là giáo viên tiểu học không thích dạy kiến thức ngữ pháp trong đó có kiến thức về từ loại Nhiều giáo viên không nắm chắc về kiến thức từ
Trang 23loại: các tiêu chí phân định từ loại, hệ thống từ loại, các tiểu loại của từng từ loại
và đặc biệt là sự chuyển di từ loại; vẫn có tư tưởng phân định từ loại của những năm 50 thế kỉ trước: phân định từ loại chủ yếu dựa vào ý nghĩa của từ loại Họ
dễ xác định sai từ loại của các từ như: những suy nghĩ, niềm vui, sự đau khổ, rất Tây, người đàn bà thép
Về phía học sinh cũng ít hứng thú học môn này do đây là một môn khó và khô khan Những điểm khó của môn học muốn trở nên dễ với học sinh thì giáo viên phải không ngừng bồi dưỡng kiến thức cho mình, đồng thời đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp và tạo được hứng thú học tập cho học sinh
Trang 24Chương 2 KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ PHÂN BIỆT TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC
SINH TIỂU HỌC
Để tìm hiểu về khả năng nhận diện và phân biệt từ loại của học sinh tiểu học, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát qua các phiếu bài tập Do thời gian nghiên cứu có hạn cũng nhưng phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát trên hai đối tượng học sinh lớp 4 và lớp 5 qua các mặt sau
1 Khả năng hiểu khái niệm từ loại cơ bản (trên phương diện lí thuyết)
mà em biết
PHIẾU BÀI TẬP 2 Động từ là những từ có ý nghĩa gọi tên gì? Em hãy nêu một số động từ mà
em biết
PHIẾU BÀI TẬP 3
Trang 25Tính từ là những từ có ý nghĩa gọi tên gì? Em hãy nêu một số tính từ mà
em biết
1.2.2 Thống kê, phân loại phiếu bài tập
Đây là phần tìm hiểu khả năng hiểu khái niệm từ loại cơ bản của học sinh nên chúng tôi chỉ xem xét kết quả trả lời câu hỏi về khái niệm danh từ, động từ, tính từ (ý thứ nhất của câu hỏi) còn phần lấy ví dụ (ý thứ hai của câu hỏi) chúng tôi sẽ trình bày ở phần 2 – khả năng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn xác định từ loại cơ bản
Trang 26Với câu hỏi như vậy các em có thể đưa ra khái niệm danh từ, động từ, tính
từ theo cách hiểu của mình, không nhất thiết phải nêu chính xác từng từ từng chữ như trong sách giáo khoa Thông qua việc chấm các phiếu bài tập của học sinh, thống kê và phân loại theo bảng, chúng tôi dễ dàng nhận thấy khả năng hiểu khái niệm từ loại cơ bản của học sinh tiểu học
Qua phiếu bài tập 1, chúng tôi nhận thấy đa số học sinh nêu đúng khái niệm danh từ với 73,53% học sinh lớp 4 và 91,43% học sinh lớp 5 Trong số học sinh trả lời sai của lớp 4, có 1 học sinh nhầm khái niệm danh từ với khái niệm động từ, 1 học sinh định nghĩa danh từ là từ chỉ nắng, mưa, gió, rét và có 7 em chưa nêu được khái niệm Số học sinh nêu khái niệm chưa chính xác hoặc nêu sai của lớp 5 chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ là 8,57% Như vậy, có thể thấy phần lớn học sinh tiểu học đều nắm được khái niệm danh từ
Phiếu bài tập 2, đa số học sinh lớp 4 nêu đúng khái niệm động từ (64,71%), số học sinh nêu sai khái niệm chiếm 29,41% Đối với học sinh lớp 5,
số lượng học sinh trả lời đúng (17 em) và chưa chính xác (16 em) tương đương nhau Điều này có thể do học sinh lớp 4 mới được học nên nhớ rõ khái niệm hơn học sinh lớp 5
Phiếu bài tập 3, ở cả hai lớp, số lượng học sinh trả lời đúng khái niệm tính
từ đều ít hơn số học sinh trả lời sai và chưa chính xác Cụ thể là: ở lớp 4, học sinh trả lời đúng chiếm 44,12%, học sinh trả lời sai và chưa chính xác chiếm 55,88%; ở lớp 5, học sinh trả lời đúng chiếm 40%, học sinh trả lời sai và chưa chính xác chiếm 60% Như vậy là đa số học sinh nắm chưa rõ khái niệm tính từ
Đối với động từ và tình từ, học sinh cả hai lớp nêu chưa chính xác khái niệm là do các em chỉ nhớ được một đặc điểm của chúng như động từ là từ chỉ hoạt động còn tính từ là từ chỉ đặc điểm Một số em nêu sai khái niệm là do nhầm hai khái niệm động từ và tính từ với nhau
1.3 Đánh giá chung